Sơ lược về hoàn cảnh, người sáng lập và phát triển Nho giáo: Nói đến Nho giáo thì việc đầu tiên không thể không nhắc tới: đó là Khổng Tử.Người ta bình luận khen tặng Khổng Tử ra sao đều
Trang 1Mục lục:
I Mở đầu 2
II Nội dung 2
1 Ảnh hưởng của Nho giáo tới văn hóa làng xã người Việt 4
1.1 Sơ lược về hoàn cảnh, người sáng lập và phát triển Nho giáo 4
1.2 Những triết lý Nho giáo 6
1.3.Tư tưởng Nho giáo tác động như thế nào tới văn hóa làng Việt 11
1.4 Tích cực và tiêu cực của tác động, truyền bá Nho giáo tới văn hóa làng xã người Việt 13
2 Ảnh hưởng của Đạo giáo tới đời sống văn hóa làng xã người Việt 14
2.1 Sơ lược về Đạo giáo 15
2.2 Những luân lý trong Đạo giáo 15
2.3 Tác động của truyền bá Đạo giáo tới văn hóa làng xã Việt thời Bắc thuộc 17
2.4 Những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của Đạo giáo 18
3 Ảnh hưởng của đạo Phật tới đời sống văn hóa làng xã người Việt 18
3.1 Thời gian hình thành và người sáng lập 18
3.2 Giáo lý đạo Phật 18
3.3 Ảnh hưởng giáo lý đạo Phật tới đời sống văn hóa làng Việt 21
3.4 Những tác động tích cực và tiêu cực của đạo Phật 22
III.Kết luận 23
Trang 2ĐỀ BÀI: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG LỊCH SỬ CỦA QUÁ TRÌNH TRUYỀN BÁ, TIẾP THU HỆ TƯ TƯỞNG TRONG THỜI KÌ BẮC THUỘC TỚI ĐỜI SỐNG
VĂN HÓA LÀNG XÃ NGƯỜI VIỆT.
I.Mở đầu:
Trong hơn một nghìn năm đô hộ nước ta, các triều đại phương Bắc đã tích cực thựchiện mọi biện pháp nhằm tăng cường đàn áp nhân dân ta về quân sự, đồng hóa về xã hội,biến đất nước ta thành quận huyện của Trung Quốc Trong đó, cụ thể Trung Quốc đãtruyền bá nhằm đồng hóa người dân Giao Chỉ, Cửu Chân thành người Hán Trong quátrình truyền bá, “giáo hóa”, người Việt có chịu nhiều tác động, tiếp thu nhiều hệ tư tưởng,làm ảnh hưởng đến văn hóa làng xã người Việt Xong, trong cuộc đấu tranh lâu dài, phứctạp để bảo vệ văn hóa truyền thống thời Bắc thuộc, nhân dân ta đã biết tiếp thu có chọnlọc những tinh hoa văn hóa ngoại nhập phù hợp với đặc tính, tâm hồn Việt Nam để làmphong phú văn hóa truyền thống Trong các nhóm làng Việt cổ vẫn được nhân dân ta bảotồn và phát triển văn hóa bản địa, nội sinh đã tích lũy qua hàng ngàn năm trước đó Trên
cơ sở ý thức dân tộc và tinh thần tự cường nhưng không bảo thủ đóng kín, nhân dân ta đãbiết kết hợp giữa truyền thống và cách tân sao cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, đã tiếpthu tư tưởng của các văn hóa ngoại nhập Một sự tiếp cận có ý thức, sự dung hợp
II Nội dung:
Làng là một đơn vị cộng cư có một vùng đất chung của cư dân nông nghiệp, mộthình thức tổ chức xã hội nông nghiệp tiểu nông tự cấp tự túc , mặt khác là mẫu hình xãhội phù hợp, là cơ chế thích ứng với sản xuất tiểu nông, với gia đình – tông tộc giatrưởng, đảm bảo sự cân bằng và bền vững của xã hội nông nghiệp ấy Khi nghiên cứu vềvăn hóa làng và làng văn hóa, một số nhà nghiên cứu đã nêu bật những đặc trưng làngViệt Nam Đó là: Ý thức cộng đồng làng; ý thức tự quản - quyền quản lý làng xã được thểhiện trong các hương ước của làng; tính đặc thù độc đáo rất riêng của mỗi làng trong tậpquán, văn hóa, ngôn ngữ ứng xử
Trang 3Khoảng giữa thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên, gần như là cùng một lúc, ởhai nền văn minh bậc nhất thế giới Ấn Độ và Trung Quốc có một sự phát triển mạnh mẽvăn hóa vật chất cũng như tinh thần “Thời đại trục” đó đã sản sinh nhiều trào lưu tưtưởng - tôn giáo trong đó có Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo Ba trào lưu tư tưởng trêntrải qua biến cố thăng trầm của lịch sử đã chứng tỏ sức sống lâu bền và từ quê hương,chúng lan tỏa trên một khu vực rộng lớn của Châu Á, đóng vai trò quan trọng trong lịch
sử tư tưởng nhiều dân tộc, trong đó có Việt Nam Nho giáo và Đạo giáo được những viênquan đô hộ người Hán du nhập, còn Phật giáo được những nhà sư Ấn Độ cũng như TrungQuốc đưa vào Dần dần, chúng cắm rễ trong đời sống tinh thần và hòa lẫn vào nền vănhóa bản địa người Việt Thời kỳ Bắc thuộc là một khoảng thời gian rất dài với nhiều biến
động và nhiều luồng tư tưởng, trong phạm vi bài tiểu luận này chỉ xin đề cập đến sự tác động của ba luồng tư tưởng Nho, Đạo,Phật tới những đặc trưng làng việt Nam Mỗi
một hệ thống triết học - tôn giáo , bao giờ cũng đồng thời là một hệ thống giá trị Hệthống này bao gồm ba loại giá trị : Giá trị phổ biến, giá trị nhóm và giá trị cá nhân Giá trịphổ biến là giá trị nhân loại hay đa phần nhân loại thừa nhận Giá trị nhóm là giá trị củanhóm xã hội, trong đó có nhà tư tưởng sáng tạo ra hệ thống, thừa nhận Nhưng một khicác hệ thống đó được truyền bá từ nơi này đến nơi khác thì cấu trúc của chúng không cònnguyên vẹn nữa Những điều kiện xã hội – văn hóa ở nơi mà các hệ thống này du nhậpđến sẽ làm biến đổi cấu trúc của chúng Một hiện tượng thường xảy ra là các giá trị phổbiến được giữ lại, còn các giá trị nhóm thì biến đổi cho phù hợp với tình hình nhóm xãhội ở vùng đất mới (…) Nhưng qua thời gian, kết cấu nhóm – xã hội mà nhóm quan trọngnhất là giai cấp cũng biến chuyển Vì vậy chỉ có các giá trị phổ biến trong các hệ thống tưtưởng tôn giáo là có sức sống lâu dài hơn cả (7) Người Việt Nam khi tiếp thu các luồng
tư tưởng thường có khuynh hướng tiếp thu các giá trị phổ biến, các giá trị này luôn tồn tại
và được thừa nhận trong các điều kiện lịch sử xã hội khác nhau Vì vậy, chúng ta ít thấy
có sự xung đột mạnh mẽ giữa các hệ thống lý luận, thậm chí ngay cả những người cầm
quyền đôi khi cũng phải dung hòa, sử dụng những ưu điểm khác nhau của các hệ thống tưtưởng du nhập này Các giá trị tinh thần ấy khi đưa vào đời sống đều có tác động sâu sắc
Trang 41
Ảnh hưởng của Nho giáo tới văn hóa làng xã người Việt :
1.1 Sơ lược về hoàn cảnh, người sáng lập và phát triển Nho giáo:
Nói đến Nho giáo thì việc đầu tiên không thể không nhắc tới: đó là Khổng Tử.Người ta bình luận khen tặng Khổng Tử ra sao đều không thể gọi là quá lời, trước đâyhơn 2000 năm, đại sử học gia Tư Mã Thiên khi đi thăm Khúc Phụ quê hương của Khổng
Tử từng cảm khái viết: “Khổng Tử áo vải, truyền hơn 10 đời, được các học trò coi là tổng
sư, từ thiên tử, vương hầu đến thứ dân đều coi ông là bậc chí thánh”
Năm1982, một học giả Mỹ viết “Hành vi cao quý và tư tưởng lý luận đạo đức củaKhổng Tử, không chỉ ảnh hưởng tới Trung Quốc mà còn ảnh hưởng tới trần nhân loại”Khổng Tử là người nước Lỗ thời Xuân Thu tên là Khâu, tự là Trọng Ni Từ thiếu niên đến
30 tuổi, Khổng Tử chuyên cần học tập và tập luyện nắm vững các tri thức về lễ nghi, âmnhạc, xạ tiễn, ngự xạ, thư, số là sau ngành tri thức căn bản thời ấy Sau đó ông đi giảngdạy bốn phương, nghiên cứu học vấn trong vài chục năm rồi san định, biên soạn các sáchđược đời sau gọi là lục kinh như Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu
Khổng Tử sống trong thời kỳ thay đổi lớn, biến động lớn Từ lâu, thiên tử nhà Chu
đã mất hết uy quyền, quyền lực rơi vào tay các vua chư hầu, cục thể xã hội biến chuyểnthay đổi nhanh chóng, người ta mỗi người chọn cho mình những thái độ sống khác nhau
Là một triết nhân thái độ của Khổng Tử hết sức phức tạp, ông vừa hoài cổ, vừa sùngthượng đổi mới Trong tâm trạng phân vân, dần dần ông hình thành tư tưởng lấy nhânnghĩa để giữ vững sự tồn tại chung và khai sáng hệ thống tư tưởng lớn nhất thời Tiên Tần
là học phái Nho giáo tạo ảnh hưởng sâu sắc tới xã hội Trung Quốc
Hệ thống tư tưởng Nhân và Nghĩa của Khổng Tử, bất kể hàm nghĩa phong phú sứctạp đến đâu, nói cho cùng cũng chi và thiết lập một trật tự nghiêm cẩn của bậc đế vương
và thành lập một xã hội hoàn thiện Hệ thống tư tưởng của ông ảnh hưởng tới hơn 2500năm lịch sử Trung Quốc
Khổng Tử tuy sáng lập ra học thuyết Nhân Nghĩa Nho gia nhưng không được cácquân vương thời Xuân Thu coi trọng mà phải do các hậu học như Tử Cống, Tử Tư, Mạnh
Tử, Tuân tử truyền bá rộng về sau Trải qua nhiều nỗ lực của giai cấp thống trị và các sĩ
Trang 5đại phu triều Hán, Khổng tử và tư tưởng Nho gia của ông mới trở thành tư tưởng chínhthống Đổng Trọng Thư đời Hán hấp thu nhân cách hoàn thiện và học thuyết nhân chínhcủa Khổng Tử, phụ hội thêm Công Dương Xuân Thu lợi dụng âm dương bổ sung thayđổi lý luận trở thành học thuyết thiên nhân hợp nhất cùng với học thuyết chính trị củaTuân Tử, khoác tấm áo thần học cho Nho học.
Từ đời Hán đến đời Thanh, Khổng học chủ yếu dùng hình thức kinh truyện để lưutruyền Đường Thái Tông sau khi hoàn thành toàn diện thống nhất quốc gia, liền cho kinhhọc gia Khổng Dĩnh Đạt chú giải, hiệu đính lại năm kinh Nho gia là Dịch, Thi, Thư, Tàtuyên, Lễ ký thành bộ Ngũ kinh chính nghĩa gần như tổng kết toàn diện kinh học từ đờiHán đến đó Ngũ kinh chính nghĩa trở thành sách giáo khoa dùng cho thi cử đời Đường.Khổng học càng được giai cấp thống trị tín nhiệm, Đường Thái Tông nói rất rõ “Nay trẫmyêu thích nhất là đạo của Nghiêu Thuấn và đạo của Chu Không coi như chim thêm cánh,như cá gặp nước, không thể không có được” Từ đó, Khổng Tử với đế vương, với chínhphủ các triều đại đều có quan hệ như Đường Thái Tông hình dung
Khi lịch sử phức tạp của Trung Quốc tiến vào thời kỳ phát đạt - thời kỳ nhà Tống,
vị hoàng đế khai quốc là Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn lập tức chủ trì nghi lễ longtrọng tế tự Khổng Tử để biểu dương lòng thiếu đễ, vua còn thân chủ trì khoa thi tiến sĩ
mà nội dung hoàn toàn theo Nho học Đối với Nho học mới bột hưng ở thời Tống, chúng
ta thường gọi đó là Lý học
Nội dung và kết cấu của Lý học hết sức rộng lớn, bắt đầu từ Hàn Dũ đời nhàĐường, trải qua nỗ lực của Tôn Phục, Thạch Giới, Hồ Viên, Chu Đôn Di, Thiệu Ung,Thương Tái, Trình Di, Trình Hạo đời Bắc Tống cho đến Chu Hi đời Nam Tống là ngườitập đại thành hoàn chỉnh hệ thống tư tưởng Lý học Lý học trình Chu nhấn mạnh Nhân,
Lễ, Nghĩa, Trí, Tín như lễ trời (thiên lý) dùng học thuyết Khổng Mạnh làm nguồn gốc,hấp thu thêm các học thuyết tư tưởng của Phật giáo, Đại giáo cung cấp sự nhu yếu cho
xã hội quân chủ chuyên chế Chu Hi tập chú giải thích các kinh điển Nho gia như Luậnngữ, Mạnh Tử trở thành những sách giáo khoa bắt buộc của sĩ tử trong xã hội phong kiến
và là tiêu chuẩn pháp định trong khoa cử của chính phủ Điều ấy xem ra xa với chủ
Trang 6trương thiện lương, trí tuệ, ngoan cường của Khổng Tử ở thời Xuân Thu, góp phần tạonên một hình ảnh Khổng Tử khác mang màu sắc vì yêu cầu giữ thiên lý mà diệt mất nhânđục, đạo mạo bàn xuông dẫn đến tiêu diệt cá tính, thậm chí hư ngụy, giả dối nữa.
Ngoài Lý học của Trình Chu có địa vị chi phối, phái Công học của Trần Lượng,Diệp Thích, phái Tâm học của Vương Dương Minh cũng đều tôn sùng Khổng Tử, hấp thumột phần tư tưởng cơ bản của ông Những học thuyết này đều được lưu truyền rộng rãi
và tạo ảnh hưởng sâu sắc trong xã hội văn hoá Trung Quốc
Do vì Nho học được các sĩ đại phu tôn sùng, được các vương triều đua nhau đềxướng nên Nho học thuận lợi thẩm thấu trong mọi lĩnh vực trong mọi giai tầng xã hội, từrất sớm nó đã vượt qua biên giới dân tộc Hán, trở thành tâm lý của cộng đồng dân tộcTrung Quốc, là cơ sở văn hoá của tín ngưỡng và tập tính
1.2 Những triết lý Nho giáo:
Chúng ta tìm hiểu vì Nho giáo khi nó đã tồn tại hơn 2000 năm, luôn được cải biếnđược bổ sung và mang các bộ mặt khác nhau qua các thời kỳ Nhiều học giả đã tốn rấtnhiều giấy mực để sưu tâm, trích dẫn và bàn cãi chung quanh những câu chữ trong sách
vở của Nho giáo từ trước tới nay Việc làm ấy thường dẫn đến những nhận định chủ quan,giản đơn và phiến diện Muốn khen hay chê người ta đều có thể trích dẫn những lời lẽ rấthấp dẫn từ trong kho sách của Nho giáo Nhưng khi để ý rằng Khổng Tử - người sáng lập
ra Nho giáo - khi đề ra những điều căn bản trong học thuyết của Nho giáo cũng đang ởtâm trạng phân vân, mâu thuẫn, vừa hoài cổ, vừa sùng thường, và bối cảnh xã hội lúc ấycũng là lúc giằng co, giành giật giữa chế độ nô lệ và chế độ phong kiến Sau này khi Nhohọc được cải biến để phục vụ ý đồ của giai cấp thống trị thì nó càng chứa đựng nhiềumâu thuẫn Vì thế không thể tìm hiểu Nho học theo lối trích dẫn, kinh viện vì nó chỉ càngdẫn ta vào ngõ cụt Để tìm hiểu Nho học không thể không xem xét trên giác độ phươngpháp duy vật lịch sử Chúng ta không phân tích những sự kiện tư tưởng bằng bản thân tưtưởng mà phải tìm hiểu tư tưởng gắn liền với những điều kiện xã hội cụ thể trong đó nó
đã nảy sinh, phát triển và suy tàn
Trang 7Không thể có một thứ Nho giáo chung cho các thời đại, một thứ Nho giáo nhấtthành, bất biến ở khắp mọi nơi.
Khi Khổng Tử đề ra học thuyết của ông và đi chu du thiên hạ để mong được sửdụng thì ông đã thất bại Điều đó không có nghĩa rằng xã hội Đông Chu đã xấu hơn xãhội thời Ngũ đế tam vương mà chỉ có nghĩa rằng những tư tưởng của ông muốn bảo vệnền chuyên chính của quý tộc chủ nô không còn phù hợp nữa với xã hội và uy thế chínhtrị đang đang dần dần thuộc về tầng lớp địa chủ mới
Khi học thuyết của Khổng Tử được đặt lên vị trí độc tôn thì không có nghĩa rằngvua nhà Hán đã có đạo đức, nhân nghĩa hơn nhà Tần mà chỉ vì chế độ trung ương tậpquyền của nhà Hán đang đòi hỏi một hệ tư tưởng thích hợp với nền kinh tế tiểu nông và
bộ máy phong kiến quan liêu của nó
Khi Nho giáo đã mang hình thức duy tâm tư biên với Lý học đời Tống thì khôngphải lịch sử đã tạo ra mấy nhân vật “lỗi lạc” mà chỉ vì giai cấp phong kiến đã suy tàn đãcần thiết phải đổi mới các hệ tư tưởng cũng suy tàn như nó Nho giáo lúc đó hầu như đãkiệt sức và được bổ sung bằng giáo lý của Phật, Lão
Những tư tưởng triết học bản thể luận và những tư tưởng biến dịch của vũ trụ cóthể xem Khổng Tử đứng trên quan điểm triết học của Kinh Dịch Theo tư tưởng của kinhnày thì uyên nguyên của vũ trụ, của vạn vật là thái cực Thái cực chứa đựng một năng lựcnội tại mà phân thành lưỡng nghi Sự tương tác giữa hai thế lực âm - dương mà sinh ra tứtượng Tứ tượng tương thôi sinh ra bát quái và bát quái sinh ra vạn vật Vậy là sự biến đổi
có gốc rễ ở sự biến đổi âm - dương
Những tư tưởng triết học về chính trị - đạo đức của Nho gia được khảo sát chủ yếutrong sách “luận ngữ” Ngoài ra, còn có thể bổ cứu thêm trong Ngũ kinh: “Thi, Thư, Lễ,Dịch và Xuân Thu” và các sách khác như “đại học”, “Trung dung”
Qua hệ thống kinh điển có thể thấy hầu hết là các kinh, các sách viết về xã hội,chính trị - đạo đức là những tư tưởng cốt lõi của Nho giáo
Trang 8Quan điểm về chính trị - đạo đức của Nho gia được thể hiện ở những tư tưởng chủyếu sau:
Một là: Xã hội là một tổng thể những quan hệ xã hội giữa con người với con
người nhưng Nho gia coi những quan hệ chính trị - đạo đức là những quan hệ nền tảngcủa xã hội, đề cao vai trò của những quan hệ ấy và thâu tóm những quan hệ này vào barường mối chủ đạo (gọi là tam cương) Trong đó quan trọng nhất là quan hệ vua - tôi, cha
- con và chồng - vợ Nếu xếp theo “tôn ti trên - dưới” thì vua ở vị trí cao nhất, còn nếuxếp theo chiều ngang của quan hệ thì vua - cha - chồng xếp ở hàng làm chủ ”… Điều nàyphản ánh tư tưởng chính trị quân quyền và phụ quyền của Nho gia
Để giải quyết đúng đắn các quan hệ xã hội, mà trước hết là mối quan hệ “tamcương”, Khổng Tử đã đề cao tư tưởng “chính danh” Để thực hiện chính danh, Khổng Tửđặc biệt coi trọng “Nhân trị” chức không phải “pháp trị”
Hai là: Xuất hiện trong bối cảnh lịch sử quá độ sang xã hội phong kiến, một xã
hội đầy những biến động loạn lạc và chiến tranh Lý tưởng của Nho gia là xây dựng một
“xã hội đại đồng” Đó là một xã hội có trật tự trên dưới, có vua sáng tôi hiền, cha từ con thảo, trong ấm - ngoài êm; trên cơ sở địa vị và thân phận của mỗi thành viên từ vuachúa, quan lại đến thứ dân.Có thể nói đó là lý tưởng của tầng lớp quý tộc, thị tộc cũ cũngnhư của giai cấp địa chủ phong kiến đang lớn lên
-Đối với quan hệ vua - tôi, Khổng Tử chống việc duy trì ngôi vua theo huyết thống
và chủ trương “thượng hiền” không phân biệt đẳng cấp xuất thân của người ấy Trongviệc chính trị vua phải biết “trọng dụng người hiền đức, tài cán và rộng lượng với những
kẻ cộng sự ”
Trong việc trị nước cũng như tu thân, học đạo sửa mình để đạt được đức nhân,
“lễ” được Khổng Tử rất mực chú trọng Lễ ở đây là những quy phạm nguyên tắc đạo đức.Ông cho rằng do vua không giữ đúng đạo vua, cha không giữ đúng đạo cha, con khônggiữ đúng đạo con nên thiên hạ vô đạo Phải dùng lễ để khôi phục lại chính danh
Trang 9Về đạo cha con, Khổng Tử cho rằng con đối với cha phải lấy chữ hiếu làm đầu vàcha đối với con phải lấy lòng tự ái làm trọng Trong đạo hiếu của con đối với cha mẹ, dùrất nhiều mặt, nhưng cốt lõi phải ở tâm thành kính “Đời nay hễ thấy ai nuôi được cha mẹthì người ta khen là có hiếu Nhưng loài thú vật như chó, ngựa người ta cũng nuôi đượcvậy Cho nên, nuôi cha mẹ mà chẳng kính trọng thì có khác gì nuôi thú vật đâu.”
Còn Mạnh Tử, ông kịch liệt lên án những ông vua không lấy điều nhân nghĩa làmgốc, chỉ vui thú lợi lộc riêng, tà dâm bạo ngược, dùng sức mạnh để đàn áp dân; ông gọi
đó là “bá đạo” và thường tỏ thái độ khinh miệt: “kẻ hại nhân là tặc, kẻ hại nghĩa làtàn”.Người tàn tặc là một kẻ thất phu Nghe nói giết tên Trụ, chứ chưa nghe nói giết vuaTrụ
Ba là: Nho giáo lấy giáo dục làm phương thức chủ yếu để đạt tới xã hội lý tưởng
“đại đồng” Do không coi trọng cơ sở kinh tế và kỹ thuật của xã hội, cho nên, nền giáodục dục Nho gia chủ yếu hướng vào việc rèn luyện đạo đức con người Trong bảng giá trịđạo đức của Nho gia thì chuẩn mực gốc là “Nhân” Những chuẩn mực khác như: Lễ,nghĩa, Trí, Tín, Trung, Hiếu đều là những biểu hiện của Nhân Chữ Nhân trong triết họcNho gia được Khổng Tử đề cập với ý nghĩa sâu rộng nhất Nó được coi là nguyên lý đạođức cơ bản, quy định bản tính con người và những quan hệ giữa người với người từ tronggia tộc đến xã hội Nó liên quan đến các phạm trù đạo đức chính trị khác như một hệthống triết lý chặt chẽ, nhất quán tạo thành bản săc riêng trong triết lý nhân sinh của ông
Theo ông, đạo sống của con người là phải “trung dung”, “trung thứ” nghĩa là sốngđúng với mình và sống phải với người Xã hội thời xuân thu là thời kỳ đang trải quanhững biến động lịch sử sâu sắc, Khổng Tử đã chủ trương dùng nhân đức để giáo hoá conngười, cải tạo xã hội Người có đức nhân là người làm được năm điều trong thiên hạ
“cung, khoan, tín mẫu, huệ” Cung thì không khinh nhờn, khoan thì được lòng người, tínthì người tin cậy, mẫu thì có công, huệ thì đủ khiến được người Người có nhân theoKhổng Tử là người “trước làm những điều khó, sau đó mới nghĩ tới thu hoạch hết quả”
Trang 10Như vậy, nhân là đức tính hoàn thiện, là cái gốc đạo đức của con người, nên
“nhân” chính là đạo làm người Đạo làm người hết sức phức tạp, phong phú nhưng chungquy lại chỉ là những điều sống với mình và sống với người là “mình muốn lập thân thì cũnggiúp người lập thân, mình muốn mình thành đạt thì cũng giúp người thành đạt”, “việc gì mìnhkhông muốn chớ đem cho người”
Người muốn đạt đức nhân phải là người có “trí” và “dũng” Nhờ có trí, con ngườimới có sự sáng suốt, minh mẫn để hiểu biết đạo lý, xét đoán được sự việc, phân biệt đượcphải trái, thiện ác, để trau dồi đạo đức và hành động hợp với “thiên lý” Nhưng ngườimuốn đạt “nhân” chỉ có “trí” thôi chưa đủ, mà cần phải có dũng khí nữa Người nhân códũng phải là người có thể tỏ rõ ý kiến của mình một cách cao minh, có thể hành động mộtcách thanh cao, khi vận nước loạn lạc, khi người đời gặp phải hoạn lạn Người nhân códũng mới tự chủ đựoc mình, mới quả cảm xả thân vì nhân nghĩa Khi cơn thiếu thốn cựckhó không nao núng làm mất nhân cách của mình, khi đầy đủ sung túc không ngảnghiêng xa rời đạo lý
Bốn là: Vấn đề bản tính con người Việc giải quyết những vấn đề chính trị – xã
hội đòi hỏi Nho gia cũng như nhiều học thuyết khác của Trung hoa thời cổ phải đặt ra vàgiả quyết vấn đề bản tính con người Trong Nho gia không có sự thống nhất quan điểm
về vấn đề này nhưng nổi bật là quan điểm của Mạnh Tử Theo ông “bản tính người vốn làthiện” Thiện là tổng hợp những đức tính vốn có của con người từ khi mới sinh như,Nhân, Lễ, Nghĩa
Mạnh Tử thần bí hoá những giá trị chính trị - đạo đức đến mức coi chúng là tiênthiên Do quan niệm bản tính con người là thiện nên Nho gia đề cao sự giáo dục để conngười trở về đường thiện với những chuẩn mực đạo đức sẵn có
Đối lập với Mạnh Tử coi tính người là thiện, Tuân Tử lại coi bản tính con ngườivốn là ác Mặc dù bản thân con người ác, nhưng có thể giáo hoá thành thiện Xuất phát từquan điểm đó về tính người, Tuân tử đã chủ trươngđường lối trị nước kết hợp Nho gia vớipháp gia
Trang 11So với các học thuyết khác, nho gia là học thuyết có nội dung phong phú và mangtính hệ thống hơn cả; hơn thế nữa nó còn là hệ tư tưởng chính thống của giai cấp thống trịTrung Hoa suốt hai ngàn năm của xã hội phong kiến.
Để trở thành tư tưởng chính thống, Nho Gia đã được bổ sung và hoàn thiện quanhiều giai đoạn lịch sử trung Đại; Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh nhưng tiêu biểu hơn
cả là dưới triều đại hán và Tống, gắn liền với tên tuổi của các bậc danh Nho như ĐổngTrọng Thư (thời Hán), Chu Đôn Di, Trương Tải, Trình Hạo, Trình Di (thời Tống)
1.3.Tư tưởng Nho giáo tác động như thế nào tới văn hóa làng Việt:
Thuyết “thiên mệnh”, “đạo trời” : Gắn quyền lực của giai cấp thống trị với thầnquyền Song, người Việt đã vận dụng chính tư tưởng này để chống lại chủ nghĩa bànhtrướng Hoa Hạ (“Nam quốc sơn hà nam đế cư – Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”); gắnmệnh trời với lòng dân, làm giảm tính thần bí và tăng sự dân chủ
Thuyết “nhân chính”: Nền chính trị của bậc vương giả cai trị bằng đạo đức
“Nhân” là mối quan hệ tốt đẹp giữa con người và con người, “nghĩa” là trách nhiệm của