BÀI 8 BÀI 8 HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM VỚI CÔNG TÁC DẠY NGHỀ VÀ HỖ TRỢ VIỆC LÀM NÔNG DÂN I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1 Thuận lợi Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế dù có nhiều cách nhìn, cách đánh giá khác nhau, nh[.]
Trang 1BÀI 8 HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM VỚI CÔNG TÁC DẠY NGHỀ
VÀ HỖ TRỢ VIỆC LÀM NÔNG DÂN
I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1 Thuận lợi
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế dù có nhiều cách nhìn, cách đánh giá khác nhau, nhưng đang là xu thế khách quan, ảnh hưởng đến tất cả các nền kinh tế trên thế giới, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
Dưới góc độ thị trường lao động, quá trình toàn cầu hóa và gia nhập WTO có những đặc trưng cơ bản:
- Tự do hoá thương mại tạo ra sự dịch chuyển lao động rất lớn giữa các nước,
hình thành thị trường lao động quốc tế Nhờ có toàn cầu hóa với những đặc trưng như
tự do hóa thương mại, tự do hóa đầu tư, tự do hóa tiền tệ và tài chính… nên đã tạo ra
“dòng chảy” về vốn và công nghệ, dịch vụ giữa các nước với xu hướng ngày càng gia
tăng Để sử dụng có hiệu quả nguồn đầu tư nước ngoài, các nước đang phát triển bắt buộc phải nâng cao trình độ về mọi mặt, đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản
lý, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động xã hội Điều này đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
- Toàn cầu hóa và gia nhập WTO tạo ra cơ hội cho người lao động và tạo ra cơ hội cho các nước sử dụng tốt hơn tiềm năng nhân lực của mình cho phát triển kinh tế Quá trình tự do hóa thương mại sẽ tạo ra bình quân giá cả các nhân tố sản xuất giữa các quốc gia (lao động, vốn) Nhờ đó, thu nhập của lao động cũng sẽ tương đương nhau giữa các nước công nghiệp và các nước đang phát triển, các nước nông nghiệp
như Việt Nam Như vậy, các nước đang phát triển dư thừa lao động, đặc biệt lao động
không có tay nghề, lao động trong các ngành sử dụng công nghệ thấp, lao động nông thôn, lao động nữ… sẽ được hưởng lợi nhiều hơn
- Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế cho phép các nước đang phát triển tham gia ngày càng nhiều hơn vào các định chế quốc tế, nhờ vậy các quan hệ buôn bán, thương mại được mở rộng và tiếp thu những thành tựu mới nhất về khoa học công nghệ để nâng cao năng lực của nền kinh tế Các sản phẩm, trong đó có sản phẩm nông nghiệp của các nước đang phát triển có cơ hội được tham gia vào thị trường tiêu dùng thế giới
và lao động nông nghiệp ở các nước đang phát triển cũng có điều kiện tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế theo hướng chuyên môn hoá
- Sự tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, sẽ tăng nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực trong nước Xu thế chuẩn hóa, quốc tế hóa các tiêu chuẩn lao động và điều kiện làm việc Điều này dẫn đến sự hội nhập về hình thành nguồn nhân lực, lao động nông nghiệp và nông thôn cũng phải tuân thủ các yêu cầu sản xuất quốc tế (tiêu chuẩn chế biến nông, lâm sản phẩm…) hội nhập về tiền lương, tiền công, hội nhập về điều kiện lao động và các thể chế lao động của Việt Nam với các nước khác
2 Khó khăn
Bên cạnh những cơ hội mà toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế mang lại, quá trình này cũng tạo ra những thách thức không nhỏ đối với các nước đang phát triển Ngoài việc nền kinh tế dễ bị ảnh hưởng, bị tác động của những biến động kinh tế thế giới đối
Trang 2với các nước đang phát triển, toàn cầu hóa còn có nguy cơ làm tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm nước mà các nước nghèo có nguy cơ càng nghèo hơn nếu không
tận dụng được cơ hội Trong hội thảo cấp cao lần thứ IV của “Dự án Tổng kết 20 năm
đổi mới ở Việt Nam” vào tháng 6/2006 tại Hà Nội, GS Jomo Kwame Sundaram - Trợ
lý Tổng thư ký về phát triển kinh tế của Liên hợp quốc đã nêu: “20% những người
giàu nhất trên thế giới chiếm tới 86% mức tiêu dùng cá nhân, trong khi 20% những người nghèo nhất chỉ chiếm 1% (UN-2005); 1% người giàu chi tiêu nhiều hơn 50% dân số còn lại trên thế giới (UNDP-2003)” Báo cáo “Phát triển con người” năm
1999 của UNDP đã chỉ rõ: “các nước phát triển với số dân khoảng 1,2 tỷ người, chiếm
1/5 dân số thế giới nhưng chiếm 86% GDP toàn cầu, 4/5 thị trường xuất khẩu, 1/3 đầu
tư trực tiếp nước ngoài và khống chế 75% hệ thống viễn thông thế giới Trong khi đó, các nước nghèo cũng chiếm 1/5 dân số thế giới nhưng chỉ chiếm 1% mỗi lĩnh vực nêu trên” Tại Đại hội đặc biệt của Liên hợp quốc ở Giơnevơ tháng 6 năm 2001 cũng nêu
rõ: “Chênh lệch về thu nhập bình quân đầu người của nước giàu nhất (Thụy sĩ
-40800 USD) so với nước nghèo nhất (Etiôpia - 100 USD) hiện nay là 408 lần, trong khi đó hồi đầu thế kỷ XX, sự chênh lệch này không quá 10 lần”.
Trong xu thế đó, sự cạnh tranh giữa các quốc gia trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế ngày càng quyết liệt hơn, gay gắt hơn và lợi thế về tài nguyên, vị trí địa lý sẽ không còn có ý nghĩa như trước mà vũ khí cạnh tranh có hiệu quả nhất chính là chất lượng nguồn nhân lực và việc sử dụng nguồn nhân lực tốt nhất Do đó, các nước ngày càng chú trọng đầu tư để phát triển nguồn nhân lực của nước mình, trong đó có nhân lực trong ngành nông nghiệp Người lao động nông nghiệp và nông
thôn không thể làm việc theo kiểu “tự nhiên” nữa mà cũng phải tuân thủ các “luật
chơi” của thị trường Với những lý do đó, việc đào tạo, nâng cao tay nghề cho nông
dân và lao động nông thôn là rất cần thiết
II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DẠY NGHỀ VÀ HỖ TRỢ VIỆC LÀM NÔNG DÂN THỜI KỲ ĐỔI MỚI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
1 Thực trạng công tác dạy nghề và hỗ trợ việc làm nông dân
1.1 Tổng quan lao động việc làm ở nông thôn
Năm 2008, dân số nước ta là 85,45 triệu người, trong đó ở nông thôn là 62,17 triệu người, chiếm 72,7% dân số cả nước
Lực lượng lao động ở nông thôn là 34,85 triệu người, chiếm 74,6% số dân trong
độ tuổi lao động cả nước
Cơ cấu của lao động nông thôn (nói chung) như sau:
• Theo độ tuổi:
- 15 - 24 tuổi: 22,72%
- 15 - 29 tuổi: 33,66%
• Theo học vấn:
- Không biết chữ: 4,48%
- Chưa tốt nghiệp tiểu học: 13,91%
- Tốt nghiệp tiểu học: 31,72%
- Tốt nghiệp THCS: 35,57%
- Tốt nghiệp PTTH: 14,32%
So với khu vực thành thị, trình độ học vấn của người lao động ở khu vực nông
Trang 3thôn thấp hơn rất nhiều Nếu như ở thành thị, tỷ lệ lao động có trình độ học vấn từ tiểu học trở xuống chỉ chiếm khoảng 28% thì tỷ lệ này ở khu vực nông thôn là gần 50% Ngược lại, ở thành thị số lao động có trình độ học vấn trung học phổ thông chiếm gần 45%, trong khi đó tỷ lệ này ở khu vực nông thôn là khoảng 14% (chỉ bằng 30% so với
ở khu vực thành thị)
Bảng 1: Cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo trình độ học vấn
Đơn vị %
Chưa biết đọc, biết viết 3.63 4.43 1.14 1.24 4.48 5.48 Chưa TN tiểu học 11.95 12.54 6.20 6.57 13.91 14.52 Tốt nghiệp tiểu học 29.05 29.32 21.17 21.26 31.72 31.99 Tốt nghiệp PTCS 33.30 32.92 26.64 26.01 35.57 35.20 Tốt nghiệp THPT 22.06 20.79 44.84 44.92 14.32 12.81
(Nguồn: Thống kê lao động việc làm năm 2006)
• Theo trình độ chuyên môn kỹ thuật (CMKT): Theo kết quả điều tra lao động việc làm năm 2006, trong số lao động nông thôn, số người không có CMKT chiếm gần 83% và số người có CMKT chiếm trên 17% Xét trong tổng lực lượng lao động, tỷ lệ lao động có CMKT ở khu vực nông thôn thấp hơn so với lao động có CMKT nói chung của cả nước (17% so với 26%) và thấp hơn nhiều so với lao động ở khu vực thành thị (17% so với 51%) Như vậy có thể nói, chất lượng lao động ở nông thôn (dưới góc độ CMKT) ở nước ta chưa cao Điều này ảnh hưởng đến việc tiếp thu những tiến bộ về khoa học và công nghệ vào trong sản xuất nông nghiệp của lao động nông thôn
Có thể thấy được sự khác biệt về CMKT giữa lao động ở khu vực thành thị, nông thôn; giữa lao động nam và lao động nữ như sau:
Bảng 2: Cơ cấu lao động chia theo trình độ CMKT
Đơn vị %
- Không có CMKT 73.98 78.38 48.40 53.92 82.68 86.49
- CNKT không có bằng 10.98 8.77 16.68 14.36 9.05 6.91
- Sơ cấp/có chứng chỉ
- Cao đẳng, đại học trở 5.71 5.55 16.05 15.77 2.19 2.17
Trang 4(Nguồn: Thống kê lao động việc làm năm 2006)
• Theo ngành kinh tế:
- Công nghiệp, xây dựng ở nông thôn: 14,60%
- Dịch vụ nông nghiệp và nông thôn: 15,01%
Trong số lao động không làm nông nghiêp ở nông thôn (lao động phi nông nghiệp):
- 89,80% hoạt động trong các hộ gia đình
- 10,20% trong các cơ sở sản xuất kinh doanh ở nông thôn
Qua cơ cấu nêu trên, cho thấy, lao động trong nông thôn nước ta chủ yếu vẫn là lao động nông nghiệp và chủ yếu là lao động trong gia đình Số lao động làm việc trong các cơ sở sản xuất kinh doanh (làm công ăn lương) và là chủ sản xuất nhỏ vẫn chiếm tỷ lệ nhỏ trong lao động nông thôn Tuy nhiên, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn nói chung, lao động nông nghiệp nói riêng, lao động phi nông nghiệp có xu hướng tăng lên và đa dạng hóa; đồng thời lao động nông nghiệp kiêm ngành nghề cũng có xu hướng ngày càng tăng, lao động thuần nông ngày càng giảm cả
về số lượng và tỷ trọng Mặc dù vậy, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của lao động nông thôn nói chung, nông nghiệp nói riêng vẫn còn thấp và xu hướng tăng còn chậm Xét trong tương quan với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho thấy tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và ngành nghề ở nông thôn nhanh hơn so với tốc độ chuyển dịch
cơ cấu về trình độ lao động
Ở nông thôn Việt Nam do sự đa dạng hóa ngành nghề còn hạn chế, tỷ lệ sử dụng thời gian làm việc chưa cao Người lao động nông thôn sau thời kỳ nông nhàn, thường không có việc làm ổn định, một bộ phận phải di chuyển ra các vùng đô thị để kiếm việc làm Mặt khác, ngay trong thời kỳ thời vụ, do thiếu các kiến thức về khoa học, công nghệ, nên năng suất lao động không cao, sử dụng không hiệu quả thời gian lao động Hiện nay tỷ lệ sử dụng thời gian lao động trong nông thôn nước ta mới đạt trên 62% Phấn đấu đạt mục tiêu đến năm 2010 tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn lên 85% và giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống còn 50%
Thiếu việc làm, việc làm không đầy đủ là vấn đề bức xúc hiện nay ở nông thôn nước ta, nếu không có biện pháp khắc phục, rất dễ nảy sinh các hiện tượng tiêu cực xã hội như cờ bạc, nghiện hút ở nhóm lao động trẻ Một trong những giải pháp để nâng cao hiệu quả lao động trong nông thôn, đó là triển khai các hoạt động dạy nghề cho nông dân và lao động nông thôn
1.2 Thực trạng đào tạo nghề ở nông thôn
Trong thời gian gần đây, do có sự quan tâm, chỉ đạo của Chính phủ, sự cố gắng của các cấp, các ngành, dạy nghề đã từng bước được đổi mới và phát triển, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nhân lực kỹ thuật trực tiếp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Có thể nêu một số kết quả đã đạt được:
- Hệ thống dạy nghề đã bắt đầu được đổi mới, chuyển từ hệ thống dạy nghề trình
độ thấp với hai cấp trình độ đào tạo sang hệ thống dạy nghề với ba cấp trình độ đào tạo: sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề; coi trọng dạy nghề trình độ cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Trang 5- Mạng lưới các cơ sở dạy nghề được phát triển theo quy hoạch rộng khắp trên toàn quốc, đa dạng về hình thức sở hữu và loại hình đào tạo Trong vòng 6 năm (2001-2006), số trường dạy nghề tăng từ 156 trường lên 262 trường; số trung tâm dạy nghề tăng từ 150 trung tâm lên 599 trung tâm và đã phát triển được 2.052 cơ sở dạy nghề
và một số cơ sở khác tham gia dạy nghề trên phạm vi toàn quốc Đến năm 2008, cả nước có 242 trường trung cấp nghề và 616 trung tâm dạy nghề Số lượng cơ sở dạy nghề tư thục tăng nhanh, đã có một số cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài
- Quy mô đào tạo nghề tăng nhanh, giai đoạn 2001-2006 dạy nghề cho 6,7 triệu người (tăng bình quân hàng năm 6,5%), trong đó dạy nghề dài hạn đạt 1,14 triệu người (tăng bình quân 15%/năm; dạy nghề ngắn hạn đạt 5,46 triệu người (tăng bình quân gần 6%/năm)
Trong số lao động được đào tạo nghề, số nông dân được dạy nghề là 1,8 triệu người, bình quân 300.000 người/năm; dạy nghề cho bộ đội xuất ngũ là 0,3 triệu người
và cho hàng ngàn người khuyết tật; thí điểm và triển khai dạy nghề cho hàng ngàn thanh niên dân tộc thiểu số nội trú Riêng năm 2006, đã dạy nghề cho 1,34 triệu người, tăng gần 2 lần so với năm 2001 Dạy nghề không chỉ đáp ứng nhu cầu cho các doanh nghiệp mà còn góp phần dạy nghề tại chỗ cho nông dân, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp và nông thôn
- Cơ cấu ngành nghề trong đào tạo nghề đã từng bước được điều chỉnh theo cơ cấu ngành nghề trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Các cơ sở dạy nghề đã mở thêm nhiều nghề đào tạo mới mà thị trường lao động có nhu cầu Cùng với việc đào tạo các nghề phục vụ cho các khu công nghiệp, khu chế xuất các cơ sở dạy nghề đã tổ chức đào tạo các nghề phục vụ cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
và giải quyết việc làm cho người lao động
- Dạy nghề đã gắn với giải quyết việc làm, tự tạo việc làm Ở các vùng nông thôn, nhiều người sau khi học nghề, bồi dưỡng tay nghề đã tự tạo việc làm, lập cơ sở sản xuất, mở trang trại
- Hình thức đào tạo nghề đã được đa dạng hóa, phù hợp với đặc điểm của lao động nông thôn
Mặc dù đào tạo nghề cho lao động nông thôn một số năm gần đây đã được chú trọng, nhưng do tốc độ tăng dân số nhanh, số người bước vào độ tuổi lao động ở nông thôn vẫn trên 1 triệu người/năm, nên tỷ lệ lao động nông thôn được đào tạo nghề còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Số lao động nông thôn được dạy nghề dài hạn ở các trường dạy nghề trong vùng còn ít; đại đa số tự học, mang tính chắp vá, tự phát hoặc qua các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư ngắn ngày
Ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số trình độ nghề nghiệp thấp hơn rất nhiều so với mặt bằng chung, hầu hết nông dân chưa qua đào tạo nghề Cho đến nay về cơ bản, người dân nông thôn ở các vùng này vẫn duy trì phương pháp sản xuất tự cung tự cấp, phân tán, kỹ thuật canh tác lạc hậu, năng suất cây trồng, vật nuôi thấp
Đến nay, số lao động làm việc trong các làng nghề tăng lên, chất lượng và trình
độ tay nghề có nhiều tiến bộ, trong đó đáng chú ý là nhiều nghệ nhân có tay nghề cao, kinh nghiệm phong phú đã trở thành những thầy dạy nghề cho lực lượng lao động trẻ
Trang 6Do tác động của khoa khọc - kỹ thuật và yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và xuất khẩu nên máy móc, thiết bị, công nghệ mới và một số ngành nghề mới đã được đưa vào các làng nghề góp phần quan trọng vào việc nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động Nhiều công việc trước đây làm thủ công nay đã được cơ khí hóa, điện khí hóa vừa nâng cao trình độ người lao động vừa làm tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, tăng chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm Công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng lao động trong các làng nghề có nhiều tiến bộ hơn so với trước Nhiều mô hình đào tạo nghề xuất hiện, đó là đào tạo tại chỗ trong các làng nghề, đào tạo tập trung của các Trung tâm dạy nghề cho thanh niên, phụ nữ, các trường dạy nghề của Nhà nước, dạy nghề trong các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp… Việc học nghề trong các làng nghề ở nông thôn, không chỉ là nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp và nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông thôn mà còn là khôi phục truyền thống văn hóa làng xã (gắn với các hoạt động nghề nghiệp) Tuy nhiên công tác đào tạo nghề trong các làng nghề vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế Tỷ
lệ lao động qua đào tạo nghề (chủ yếu là ngắn hạn) mới đạt khoảng 10%, trong đó có khoảng 1% là nghệ nhân hoặc lao động có trình độ cao; 9% còn lại là lao động chưa qua đào tạo hoặc bồi dưỡng có hệ thống Trình độ sản xuất và trình độ CMKT của lao động nông thôn còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất hàng hoá lớn
Có thể thấy trong thời gian qua, dạy nghề cho nông dân và lao động nông thôn đã tiến bộ nhưng chưa đồng đều, chưa bền vững Chưa có sự quy hoạch và kế hoạch đào tạo mà vẫn mang tính tự phát hoặc tính phong trào Hệ thống cơ sở đào tạo nghề, nhất
là các trung tâm dạy nghề còn chưa đồng đều và còn hạn chế về quy mô và chất lượng
2 Những vấn đề đặt ra đối với công tác dạy nghề và hỗ trợ việc làm nông dân
Như đã nêu trên, hiện nay trình độ lao động nông nghiệp, nông thôn nước ta về
cơ bản còn nhiều hạn chế; kỹ thuật canh tác lạc hậu của nền sản xuất nhỏ, tự cấp tự túc, quy mô nhỏ, phân tán manh mún, chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất hàng hóa, quy mô lớn Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề trong lao động nông thôn vẫn còn thấp Mặc dù, những năm gần đây công tác dạy nghề và hỗ trợ việc làm cho nông dân đạt được một số tiến bộ nhất định nhưng chưa đều, còn mang nặng tính tự phát, thiếu bền vững
Nguyên nhân của tình hình trên có nhiều song chủ yếu là do:
- Hệ thống đào tạo nghề ở nông thôn còn mỏng
- Các cơ sở đào tạo nghề chủ yếu tập trung vào khu vực thành thị
- Tập trung vào hai vùng chính là vùng đồng bằng Sông Hồng và vùng Đông Nam bộ Các vùng cao như Tây Bắc, Tây Nguyên hệ thống các trường dạy nghề còn quá mỏng
- Các trung tâm dạy nghề đã phát triển tương đối mạnh ở các quận huyện, nhưng
cơ sở vật chất, trang thiết bị còn nghèo nàn, ở vùng núi, vùng sâu, chưa có các trung tâm dạy nghề
Công tác đào tạo nghề cho nông nghiệp, nông thôn và hỗ trợ việc làm nông dân chưa được các ngành, các cấp quan tâm đúng mức và đầu tư thoả đáng, cụ thể là: Thiếu quy hoạch, kế hoạch đào tạo lao động nông nghiệp, nông thôn trong chiến lược
10 năm, kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm; thiếu kinh phí; thiếu cơ sở đào tạo, thiếu giáo trình, cán bộ giảng dạy Hệ thống trường quản lý của Bộ Nông nghiệp và
Trang 7Phát triển nông thôn vừa ít về số lượng, vừa thiếu về cơ sở vật chất kỹ thuật, chương trình, cán bộ và kinh phí nên không thể đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề cho nông dân và thợ thủ công ở nông thôn Một số lớp do Trường Cán bộ Quản lý nông nghiệp phía Nam mở tại Tiền Giang (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) hoặc các Trung tâm dạy nghề các tỉnh mở tại các huyện cho đối tượng thanh niên nông thôn học nghề tại các khu công nghiệp, khu chế xuất vùng Đông Nam bộ khá thành công (như ở huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp) cũng mới chỉ mang tính chất tự phát, thí điểm và còn tồn tại nhiều vấn đề Trong khi đó, hệ thống trường dạy nghề nói chung chưa có nội dung, chương trình hoàn chỉnh cho công tác đào tạo nghề cho nông nghiệp và nông thôn
III HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM VỚI CÔNG TÁC DẠY NGHỀ VÀ HỖ TRỢ VIỆC LÀM NÔNG DÂN
1 Những cơ sở pháp lý
Trong những năm qua, trước những đòi hỏi khách quan của sự nghiệp đổi mới, hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, những yêu cầu bức xúc về lao động và việc làm của nông dân, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách về dạy nghề và hỗ trợ việc làm, đồng thời khẳng định vị trí và vai trò của Hội Nông dân Việt Nam trong công tác dạy nghề và hỗ trợ việc làm nông dân Có thể nêu một số văn bản sau:
- Chỉ thị số 59/CT-TW, ngày 15/12/2000 của Bộ Chính trị (khóa VIII), xác định:
“Hội Nông dân Việt Nam phải là thành viên tích cực của các chương trình kinh tế - xã
hội nông thôn; tổ chức dạy nghề tại chỗ cho nông dân, động viên khuyến khích, hỗ trợ hội viên, nông dân khôi phục, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, đào tạo nguồn nhân lực, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ ở nông thôn nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, giải quyết việc làm tại chỗ, tăng thu nhập, cải thiện đời sống”.
- Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 5 (khóa IX) về CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn, chỉ rõ: “Về lao động việc làm dành vốn ngân sách nâng cấp
các cơ sở dạy nghề của Nhà nước, đồng thời có cơ chế, chính sách khuyến khích xã hội hóa, phát triển các hình thức dạy nghề đa dạng, bảo đảm hàng năm đào tạo nghề cho khoảng 01 triệu lao động, đưa tỷ lệ được đào tạo nghề lên khoảng 30% vào năm 2010”.
- Nghị quyết số 120/1999/NQ-HĐBT, ngày 14/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng
(nay là Chính phủ) xác định “Giải quyết việc làm cho người lao động là trách nhiệm
của Nhà nước, của các ngành, các cấp, các tổ chức xã hội, của người lao động Nhà nước tạo những tiền đề cần thiết thông qua cơ chế, chính sách, pháp luật và hỗ trợ một phần tài chính để khuyến khích các tổ chức chính trị - xã hội, các đơn vị kinh tế
và người lao động giải quyết việc làm và tự tạo việc làm mới”.
- Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP, ngày 18/6/2000 của Chính phủ về một số chủ trương và chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
đã xác định “Thực thi các biện pháp toàn diện để phát triển nguồn nhân lực nông
thôn, phát triển các loại hình dạy nghề cho nông dân, nông thôn”.
- Quyết định số 02/2001/NĐ-CP, ngày 9/01/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành bộ Luật Lao động và Luật Giáo dục và dạy nghề
- Quyết định số 50/1999/QĐ-TTg, ngày 29/3/1999 của Thủ tướng Chính phủ
yêu cầu “Đẩy mạnh đào tạo nghề ngắn hạn, trong đó dạy nghề tại chỗ cho nông dân
Trang 8chiếm tỷ trọng đáng kể”.
- Nghị định số 39/2003/NĐ-CP, ngày 18/4/2003 của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của bộ Luật Lao động và Luật Giáo dục về dạy nghề
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X nhấn mạnh: “chú trọng đào tạo nghề, tạo
việc làm cho nông dân nhất là những nơi đất nông nghiệp bị chuyển đổi do đô thị hoá và công nghiệp hoá”.
- Luật Dạy nghề (năm 2006) có hiệu lực từ tháng 7 năm 2007, trong đó có quy định đa dạng hóa các hình thức dạy nghề và đối tượng dạy nghề
2 Những hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam với công tác dạy nghề và hỗ trợ việc làm nông dân
2.1 Hình thành hệ thống Trung tâm dạy nghề và hỗ trợ việc làm nông dân trên phạm vi cả nước trực thuộc Hội Nông dân Việt Nam
- Hệ thống các Trung tâm Dạy nghề và hỗ trợ việc làm nông dân của tổ chức Hội
đã được thành lập và bước đầu hoạt động có hiệu quả Đến nay, đã hình thành trên các vùng và một số tỉnh, thành trong cả nước với 47 trung tâm trực thuộc Hội Nông dân Việt Nam quản lý, điều hành đang được hoàn thiện cả về cơ sở vật chất, kỹ thuật, đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên… Những năm qua Hội Nông dân Việt Nam đã phối hợp với các ngành chức năng bồi dưỡng hàng nghìn tập huấn viên, báo cáo viên chuyên môn phục vụ công tác dạy nghề, bồi dưỡng nâng cao trình độ kiến thức chuyên nghiệp, kỹ thuật khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư cho cán bộ, hội viên nông dân trong cả nước Hoạt động của các trung tâm bám sát vào nhiệm vụ chính trị và chuyên môn trên cơ sở các định hướng về chức năng, nhiệm vụ và nhu cầu thực tế trên từng địa bàn Hệ thống trung tâm đã tổ chức thực hiện các hoạt động dạy nghề và hỗ trợ việc làm bằng các hình thức trực tiếp và phối hợp với các cơ quan chức năng, các tổ chức và cá nhân khác Quy mô ngành nghề đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở các trung tâm dạy nghề của Hội không ngừng mở rộng, nhiều nghề mới đã được mở ra, phù hợp với sự phát triển của kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn mới
- Thực hiện đa dạng hóa hình thức dạy nghề cho lao động nông thôn, bao gồm: Liên kết với các trường dạy nghề để dạy tập trung chuyên môn cao, dài hạn; dạy nghề ngắn hạn, hội thảo đầu bờ, dạy tại chỗ, lấy nông dân dạy nông dân, chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng, các cơ sở dạy nghề, tham gia các chương trình, dự án mục tiêu về dạy nghề của Nhà nước và các tổ chức khác… tùy theo đặc điểm, điều kiện của từng nhóm đối tượng lao động để tổ chức các hình thức dạy nghề cho phù hợp Hàng năm có hàng vạn lao động nông thôn trong độ tuổi được dạy nghề ngắn hạn và được cấp chứng chỉ nghề
- Các hình thức dạy nghề của hệ thống Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ việc làm nông dân đã thể hiện được tính thực tiễn và phù hợp với đặc điểm của nông nghiệp, nông thôn nước ta Thông qua việc áp dụng linh hoạt các quy trình của công tác chuyên môn để tổ chức dạy nghề từ tập huấn ngắn ngày, dài ngày đến việc dạy nghề ngắn hạn, dài hạn Địa điểm tổ chức các lớp học rất đa dạng và linh hoạt, tổ chức ngay tại trung tâm, tổ chức phối hợp với các đơn vị khác hoặc tổ chức tại cơ sở thuộc địa bàn dân cư Tính riêng qui mô đào tạo của các cơ sở dạy nghề thuộc Hội Nông dân Việt Nam, trong năm 2008 đã dạy nghề cho 180.000 người, trong đó trình độ trung cấp
Trang 9nghề là 1.012 người, sơ cấp nghề là 32.800 người, dạy nghề thường xuyên là 146.188 người dưới các hình thức dạy nghề truyền thống, bồi dưỡng kèm cặp nghề, phổ cập nghề, cầm tay chỉ việc, lấy nông dân sản xuất kinh doanh giỏi dạy nông dân; dạy nghề lồng ghép với các chương trình, dự án
- Hàng năm, các trung tâm đã tiến hành dạy nghề theo hướng chuyển đổi nghề tại chỗ cho hàng vạn lao động nông nghiệp, trong đó bao gồm cả những lao động nông nghiệp ở những vùng có đất canh tác được Nhà nước chuyển đổi mục đích sử dụng Kết quả là phần lớn số lao động nông nghiệp được dạy nghề tại chỗ đã có thêm việc làm mới, tăng thu nhập cho gia đình
2.2 Thực hiện xã hội hóa dạy nghề và hỗ trợ việc làm cho nông dân
Hội Nông dân Việt Nam đã chủ động thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác dạy nghề Hoạt động được tiến hành theo hướng, các trung tâm của Hội kết hợp với các Bộ, ngành, các doanh nghiệp, chính quyền các địa phương để đào tạo nghề và giới thiệu việc làm theo nhu cầu của đối tác với hình thức đa dạng, nội dung thiết thực, chủ yếu kết hợp với các hình thức sau:
- Các trung tâm Dạy nghề và hỗ trợ việc làm nông dân của Hội Nông dân Việt Nam đã đẩy mạnh thực hiện việc cung ứng lao động cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh và các công ty xuất khẩu lao động Trên cơ sở nắm bắt các thông tin về thị trường lao động, các trung tâm đã chủ động bàn bạc, ký hợp đồng với các đối tác có nhu cầu sử dụng lao động để làm việc trong nước hoặc xuất khẩu Thường xuyên xây dựng mối quan hệ tin cậy với người lao động và người sử dụng lao động để tư vấn cho họ các chính sách, chế độ về lao động và việc làm, tư vấn hướng nghiệp cho người lao động, cách thức tiếp cận, tìm việc làm phù hợp với năng lực, sở trường của người lao động
- Phối hợp với các ngành, các địa phương, các tổ chức quốc tế, tham gia thực hiện các chương trình, dự án mục tiêu quốc gia, quốc tế về lao động và việc làm, các
dự án nâng cao chất lượng lao động trong nông nghiệp với sự hỗ trợ về vốn của các chương trình dự án trong nước và quốc tế… Thông qua các hình thức phối hợp tham gia, các trung tâm của Hội và Hội Nông dân các cấp đã đào tạo, giới thiệu hàng trăm ngàn lao động nông thôn có cơ hội tiếp thu, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và chế biến nông sản hàng hóa Đã có hàng vạn lao động nông nghiệp được
hỗ trợ về vốn, kiến thức để chuyển đổi nghề, tự tạo thêm việc làm và tăng thu nhập Sau khi học nghề, đại bộ phận lao động tham gia chương trình đã tìm được việc làm ổn định, chủ yếu trong các doanh nghiệp, các khu công nghiệp, khu chế xuất hoặc tự mình đứng ra tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo nghề mới ngoài nông nghiệp
có thu nhập cao hơn Sau 3 năm thực hiện chương trình phối hợp, các Trung tâm Dạy nghề của Hội phối hợp với Hội Nông dân các cấp đã dạy nghề và chuyển đổi nghề cho hàng ngàn lao động từ thuần nông sang các ngành nghề khác
- Các Trung tâm Dạy nghề của Hội còn phối hợp với các cơ quan chức năng, các Viện khoa học thuộc một số bộ, ngành mở các lớp tập huấn nghiệp vụ chuyển giao tiến
bộ khoa học - kỹ thuật trong sản xuất và chế biến nông sản, tổ chức hàng ngàn cuộc hội thảo đầu bờ cho hàng triệu lượt hội viên, nông dân
3 Định hướng và giải pháp nâng cao vai trò Hội Nông dân Việt Nam trong công tác dạy nghề và hỗ trợ việc làm nông dân những năm tới
3.1 Định hướng và giải pháp chung
Trang 10Qua các số liệu thống kê cho thấy:
- Đến năm 2009 dân số nước ta đạt khoảng 86 triệu người, trong đó dân số sống
ở nông thôn khoảng 62 triệu người, chiếm hơn 72%
- Đến năm 2019 dân số sẽ đạt gần 95 triệu người, trong đó dân số ở nông thôn là 65,9 triệu người, chiếm 69%
- Đến năm 2010 lực lượng lao động sẽ là 46 triệu người và đến năm 2020 là gần
54 triệu người
- Phải đào tạo nghề, chuyển đổi cho trên 10 triệu lao động nông thôn
Như vậy có thể thấy nhu cầu về đào tạo nghề cho nông dân và lao động nông
thôn nước ta trong thời gian tới là rất lớn
Định hướng chung phát triển dạy nghề cho nông dân và lao động nông thôn là:
- Phát huy nội lực, huy động mọi nguồn lực để phát triển các cơ sở đào tạo nghề, nâng cao năng lực đào tạo cho người lao động
- Mở rộng quy mô và loại hình đào tạo phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động và nguyện vọng học tập suốt đời của người lao động Xã hội hoá là một xu hướng chủ đạo đối với đào tạo nghề trong thời gian tới nhằm khuyến khích các đối tác
xã hội tham gia đào tạo nghề
- Gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động và với giải quyết việc làm, nhất là giải quyết việc làm tại chỗ nhằm chuyển dịch cơ cấu lao động ngay tại nông thôn, góp phần tăng thu nhập của người dân nông thôn và thực hiện xoá đói giảm nghèo
Trên cơ sở những định hướng chung, một số giải pháp cơ bản để phát triển dạy nghề cho nông dân và lao động nông thôn trong thời gian tới là:
3.1.1 Về cơ chế chính sách
Những chính sách cụ thể đối với người học nghề
Chính sách đối với các cơ sở dạy nghề có tham gia dạy nghề cho nông dân
Chính sách quy định trách nhiệm của các doanh nghiệp, các cơ sở công nghiệp phải dạy nghề cho lao động nông thôn khi thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho phát triển công nghiệp hoặc các mục đích công cộng khác…
(Những chính sách này phải nằm trong tổng thể chính sách về dạy nghề và chính sách về lao động - việc làm nói chung)
3.1.2 Mở rộng mạng lưới và nâng cao năng lực của các cơ sở dạy nghề
Song song với việc rà soát, đánh giá phân loại hệ thống các trường dạy nghề hiện
có, cần mở rộng mạng lưới các trung tâm dạy nghề ở các huyện, thị nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nghề ngắn hạn tại chỗ cho lao động nông thôn
Các cơ sở dạy nghề, nhất là các trung tâm dạy nghề cần phải nghiên cứu nhu cầu của thị trường lao động, nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương để điều chỉnh danh mục nghề đào tạo, chương trình đào tạo cho phù hợp
Hỗ trợ đầu tư nâng cao năng lực các trung tâm dạy nghề quận, huyện bằng nhiều nguồn vốn và hình thức khác nhau
3.1.3 Triển khai các hình thức dạy nghề và thực hiện xã hội hoá về dạy nghề
Tổ chức các lớp dạy nghề tại chỗ, đối tượng học nghề là người dân trong độ tuổi lao động tại địa bàn (thôn, bản, xã…) Người dạy là những người có tay nghề, những thợ giỏi đang làm việc tại các cơ sở sản xuất kinh doanh, trong các doanh nghiệp trong