1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ban tin so 4

29 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 416,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam ở đâu trong nền kinh tế tri thức tiÕc th¬ng thÇy hiÖu trëng Nguyễn Hoàng Tứ Thầy Nguyễn Thành Lê (1956 2008) Mặc dù bị bệnh hiểm nghèo và phải điều trị với thời gian dài nhưng giảng viên, cán[.]

Trang 1

tiÕc th¬ng thÇy hiÖu trëng

Nguyễn Hoàng Tứ

Thầy Nguyễn Thành Lê (1956 - 2008)Mặc dù bị bệnh hiểm nghèo và phải điều trị với thời gian dài nhưng giảng viên, cán bộ viên chức vàhọc sinh-sinh viên trường Cao đẳng Thương mại không khỏi bàng hoàng và đau xót khi nhận được tin thầyNguyễn Thành Lê, Bí thư Đảng uỷ, Hiệu trưởng nhà trường đã từ trần lúc 15h05 ngày 27/10/2008

Sinh ngày 10/6/1956 tại thôn Độc Lập, xã Vũ Ninh, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình trong một giađình nông dân nghèo Lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị quân thù xâm lược, theo tiếng gọi thiêng liêng

của tổ quốc "tất cả vì Miền Nam ruột thịt" Tháng 4/1974 nhập ngũ và vào chiến đấu tại chiến trường Khu 5;

tháng 5/1977 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam; tháng 10/1977 là học viên trường Trung họcthương nghiệp (nay là trường Cao đẳng Thương mại); sau khi tốt nghiệp được giữ lại trường và công tác chođến nay Đã trải qua các cương vị giảng viên, Bí thư Đoàn trường, phó trưởng phòng, trưởng phòng, chủ tịch

Công đoàn cơ sở và phó Hiệu trưởng; tháng 3/2000 được Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) quyết định đề bạt Hiệu trưởng, Đảng uỷ Quận Thanh Khê quyết định công nhận Bí thư Đảng uỷ; đã

trải qua các lớp đào tạo Cử nhân kinh tế, Thạc sĩ kinh tế, cao cấp lý luận chính trị Trải qua gần 35 năm thamgia đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc cùng với sự phát triển của trường, được khen tặngHuy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng ba, nhiều năm liền đạt giáo viên dạy giỏi câp cơ sở, cấpBộ; năm 2005 được công nhận chiến sĩ thi đua cấp toàn quốc, được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chươnglao động hạng ba và nhiều bằng khen giấy khen của chính quyền, đoàn thể các cấp

Hơn 20 năm làm việc với thầy, tôi đã tích luỹ được những kinh nghiệm quý báu trong công việc, trongđối nhân xử thế Sự nghiêm khắc và yêu cầu cao trong công việc của thầy đã rèn luyện cho cấp dưới nếpnghĩ, nếp làm đầy trách nhiệm và đạt hiệu quả cao nhưng không vì thế mà trở nên xa cách Điều lớn nhất tôihọc ở thầy là tinh thần tự học để nâng cao năng lực chuyên môn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và luôn đề caochữ "TÂM" trong mỗi việc làm

Điếu văn tại lễ truy điệu thầy đã nói lên tấm lòng của giảng viên, cán bộ viên chức và học sinh-sinh

viên của nhà trường đối với thầy: "Dẫu biết rằng quy luật sinh ly-tử biệt không ai tránh khỏi, nhưng giờ đây đứng trước vong linh của đồng chí, chúng tôi ngậm ngùi thương tiếc tiễn đưa đồng chí về nơi an nghỉ cuối cùng Những đóng góp lớn lao, lý tưởng chính trị vững vàng và tấm gương trong sáng của đồng chí chính là niềm tự hào để lại cho người thân và cho mỗi chúng tôi Nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó đến đây đồng chí đã hoàn thành; trách nhiệm với gia đình, với vợ con đã trọn vẹn Vì vậy mong đồng

Trang 2

chí hãy thanh thản ra đi vào cõi vĩnh hằng Chúng tôi xin hứa sẽ tiếp tục thực hiện nhiệm vụ mà đồng chí và tập thể đã vạch ra"

Kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 năm nay vắng bóng thầy, tất cả giảng viên, cán bộ viên chức

và học sinh-sinh viên của trường đều hướng về quê hương thầy-Thái Bình-nơi thầy vừa nằm xuống

Nhớ ngày tiễn đưa thầy về nơi yên nghỉ cuối cùng, trong giây phút vĩnh biệt, trời mưa to lắm, quyệnvới nước mắt của người thân; tôi nghe rất rõ những lời chia tay nghẹn ngào: "vĩnh biệt anh"; "vĩnh biệtbạn" Riêng tôi, gửi cho thầy nắm đất quê hương với lòng tiếc thương thầy Hiệu trưởng!

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM ĐẠI HỘI X CỦA ĐẢNG VÀO VIỆC GIẢNG DẠY LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Hồ Công Huân

Bộ môn Lý luận chính trị

Lời mở đầu:

Mặc dù về mặt thời gian thì Đại hội X của

Đảng đã đi qua hơn ½ chặng đường

(4/2006-9/2008) Thế nhưng, những vấn đề cơ bản mà Đại

hội nêu ra vẫn còn giữ nguyên giá trị của nó.

Toàn Đảng và toàn dân tộc Việt Nam đang ra sức

phấn đấu để biến những chủ trương, đường lối,

chính sách đã được nêu ra trong Đại hội thành

hiện thực, góp phần xây dựng một nước Việt Nam

“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân

chủ, văn minh”.

Để cùng cụ thể hoá nhiệm vụ chung đó,

chúng tôi-đội ngũ giảng dạy các môn lý luận

chính trị (trước đây là các môn khoa học

MácLênin và Tưởng Hồ Chí Minh) đã mạnh dạn

kế thừa (có bổ sung) những vấn đề được nêu ra

trong bài viết của GS.TS Vũ Văn Hiền (Giám đốc

trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận

chính trị), với mong muốn giúp đội ngũ cán bộ

giảng viên thấy rõ hơn tầm quan trọng của việc

vận dụng các quan điểm của Đại hội X vào công

tác giảng dạy lý luận chính trị trong trường học.

Vận dụng các quan điểm của Đại hội X

vào việc giảng dạy các môn lý luận chính trị là

việc làm có ý nghĩa hết sức to lớn Có thể nói, tất

cả các lý luận cơ bản nhất của toàn bộ hệ thống

khoa học MácLênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh

đều được vận dụng vào việc xây dựng, hoàn thiện

Nghị quyết của Đại hội X Vì thế, hầu như tất cả

các quan điểm lớn của Đại hội X đều mang trong

đó những luận cứ khoa học của các bộ môn Triếthọc, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoahọc, Tư tưởng Hồ Chí Minh và Chính trị học Bêncạnh đó, có những quan điểm của Đại hội về một

số lĩnh vực cụ thể có liên quan trực tiếp và chủyếu đến từng môn khoa học cụ thể của lý luậnMácLênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và Chính trịhọc Xuất phát từ những lý do cụ thể đó, trong lĩnhvực nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị, chúng

ta có điều kiện để tiếp cận, khai thác, làm giàuthêm sự sâu sắc và phong phú cũng như những độtphá về mặt lý luận của Nghị quyết Đại hội X

Với ý nghĩa đó, chúng tôi mạnh dạn nêumột số nhóm vấn đề có tính gợi mở sau:

Thứ nhất, chủ đề của Đại hội X là “nâng cao

năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, pháthuy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diệncông cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tìnhtrạng kém phát triển” Chủ đề của Đại hội với 4mệnh đề đã thể hiện đầy đủ, ngắn gọn, súc tích và

có tính khái quát cao, nêu rõ cả mục tiêu, động lựcphát triển của cách mạng nước ta và của thời đại;đồng thời khẳng định quyết tâm của toàn Đảng,toàn dân ta trong nhiệm kì tới là kiên quyết thoátkhỏi nghèo” Chủ đề của Đại hội cũng là nhữngvấn đề lý luận-thực tiễn mà các môn học lý luậnchính trị đều có thể khai thác làm sâu sắc hơn

Thứ hai, về 20 năm đổi mới đất nước (thành

tựu và các bài học kinh nghiệm)

Trang 3

- Về thành tựu: Trong khi hệ thống XHCN tan

rã, Đảng cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu mất

quyền lãnh đạo đất nước, nhưng Đảng ta, đất nước

ta không những đứng vững mà còn phát triển,

thoát khỏi khủng hoảng và có tốc độ tẳng trưởng

khá cao Điều đó chứng tỏ nhận định: “Công cuộc

đổi mới ở nước ta đã đạt những thành tựu to lớn

và có ý nghĩa lịch sử” là hoàn toàn có sở lý luận

và thực tiễn

- Về 5 bài học lớn:

Một là, trong quá trình đổi mới phải kiên định

mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên

nền tảng chủ nghĩa MácLênin và Tư tưởng Hồ Chí

Minh

Hai là, đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa,

có bước đi, hình thức và cách thức phù hợp

Ba là, đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân,

dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng

tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén

với cái mới

Bốn là, phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra

sức tranh thủ ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc

và sức mạnh thời đại trong điều kiện mới

Năm là, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức

chiến đấu của Đảng, không ngừng đổi mới hệ

thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện

nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền lực

thuộc về nhân dân

Thứ ba: Phân tích tình hình quốc tế và trong

nước để thấy được những cơ hội và thách thức của

sự phát triển

Cụ thể Đại hội X đã nêu rõ: những năm tới,

tuy khó khăn còn nhiều nhưng đất nước ta có cơ

hội để tiến lên Đòi hỏi bức bách của toàn dân tộc

ta lúc này là phải tranh thủ cơ hội, vượt qua thách

thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng

bộ hơn, phát triển với tốc độ nhanh hơn và bền

vững hơn

Thứ tư, về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ

5 năm 2006-2010

Mục tiêu tổng quát và rõ nét nhất vừa có tính

định hướng vừa có tính cụ thể là: “Sớm đưa nước

ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng

để đến năn 2020 nước ta cơ bản trở thành một

nước theo hướng hiện đại” Phấn đấu tăng trưởng

kinh tế với nhịp độ nhanh và bền vững, gắn với

phát triển con người Đến năm 2010 tổng sản

phẩm trong nước (GDP) gấp 2,1 lần so với năm

2000; mức tăng GDP bình quân đạt 7,5-8%/năm

Thứ năm, về vấn đề hoàn thiện thể chế kinh tế

thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đócó:

- Nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩatrong nền kinh tế thị trường

- Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của nhànước

- Phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sựvận hành các loại thị trường cơ bản theo hướngcạnh tranh lành mạnh

- Phát triển các thành phần kinh tế, các loạihình tổ chức sản xuất kinh doanh

- Ba chế độ sở hữu là toàn dân, tập thể và tưnhân

- Năm thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước,Kinh tế tập thể, Kinh tế tư nhân, Kinh tế tư bảnnhà nước và Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Thứ sáu: Về vấn đề Đảng viên làm kinh tế tư

nhân

Chúng ta nhận thức rằng, trong thời kì quá độlên chủ nghĩa xã hội, đất nước còn nghèo, phải tậptrung phát triển lực lượng sản xuất, làm ra nhiềucủa cải cho xã hội Muốn thế phải huy động mọinguồn lực, khai thác mọi tiềm năng, phát huy sứcmạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của mọi thànhphần kinh tế, thực hiện khẩu hiệu “tất cả vì dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh”

Đảng viên phải lãnh đạo và gương mẫu thựchiện chủ trương này, một mặt làm giàu cho bảnthân và gia đình bằng lao động chính đáng củamình, mặt khác phải góp phần làm giàu cho xãhội, cho đất nước Trong nền kinh tế thị trườngXHCN do Đảng cộng sản lãnh đạo, chúng takhông xem kinh tế tư nhân là gắn với CNTB, màlãnh đạo kinh tế tư nhân phát triển theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy, đảng viên có thểlàm kinh tế tư nhân trên cơ sở gương mẫu chấphành luật pháp, chính sách của Nhà nước, nghiêmchỉnh chấp hành Điều lệ Đảng và quy định củaBan Chấp Hành Trung ương

Thứ bảy, vấn đề đẩy mạnh công nghiệp hóa,

hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn gắn với

phát triển kinh tế tri thức, có những nội dung cơ

bản sau:

- Đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và nôngthôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề: nông nghiệp,nông thôn và nông dân (tam nông)

Trang 4

- Phát triển nhanh hơn công nghiệp, nông

nghiệp và dịch vụ

- Phát triển kinh tế vùng, kinh tế biển

- Chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu ngành

nghề

- Bảo vệ và sử dụng có hiệu quả nguồn tài

nguyên quốc gia, cải thiện môi trường tự nhiên

Thứ tám, Giải quyết tốt các vấn đề xã hội Cụ

thể có mấy vấn đề sau:

- Kiềm chế tốc độ tăng dân số, chuyển dịch cơ

cấu lao động, giải quyết việc làm và an sinh xã

hội

- Tiếp tục đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo

- Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác bảo

vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân

- Phát triển thể dục, thể thao

Thứ chín, về giáo dục và đào tạo, khoa học và

công nghệ, phát triển nguồn lực, có một số vấn đề

nổi bật:

- Đổi mới toàn diện giáo dục và Đào tạo, phát

triển nguồn nhân lực chất lượng cao

- Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của

khoa học công nghệ

Thứ mười, về thực hiện tiến bộ và công bằng

xã hội trong từng bước và từng chính sách phát

triển, có những khía cạnh:

- Khuyến khích mọi người làm giàu theo pháp

luật, thực hiện có hiệu quả chính sách xóa đói

- Xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao

sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam, tăng tuổi

thọ và cải thiện chất lượng giống nòi

- Chú trọng chính sách ưu đãi xã hội

Thứ mười một, về phát triển văn hóa, nền tảng

tinh thần xã hội, có một số vấn đề nổi bật:

- Phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng

nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc

dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát

triển kinh tế-xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào

các lĩnh vực đời sống xã hội

- Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách

con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc

văn hóa dân tộc trong thời kì CNH, HĐH, hội

nhập kinh tế quốc tế

- Bảo đảm tự do dân chủ trong mọi hoạt độngsáng tạo văn hóa, văn học, nghệ thuật đi đôi vớiphát huy trách nhiệm công dân của văn nghệ sỹ

Thứ mười hai, Phát huy sức mạnh của khối

đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giaicấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tríthức dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiếnlược nhất quán của cách mạng Việt Nam, là nguồnsức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ýnghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Thứ mười ba, về tăng cường quốc phòng và

an ninh, bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xãhội chủ nghĩa, có một số điểm lớn như sau:

- Kết hợp phát triển kinh tế xã hội với quốcphòng, an ninh trên cơ sở phát huy mọi tiểm năngcủa đất nước

- Xây dựng quân đội nhân dân và công annhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từngbước hiện đại

Thứ mười bốn, về mở rộng quan hệ đối ngoại

chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, cómột số vấn đề:

- Đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình,hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại mởrộng, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệquốc tế

- Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốctế

- Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nướctrong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vàoquá trình hợp tác quốc tế và khu vực

- Giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điềuquốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới; đẩymạnh phát triên kinh tế xã hội, CNH, HĐH đấtnước

Thứ mười năm, về phát huy dân chủ, tiếp tục

xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa, có mấy vấn đề cơ bản:

- Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa

- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa

- Phòng ngừa và kiên quyết chống thamnhũng, lãng phí

Thứ mười sáu, Tiếp tục phát huy vai trò của

Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trongviệc tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầnglớp nhân dân; đại diện cho quyền lợi hợp pháp vànguyện vọng chính đáng của nhân dân; đưa các

Trang 5

chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; các

đường lối kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc

phòng thành hoạt động thực tiễn sinh động trong

cuộc sống nhân dân

Thứ mười bảy, Tích cực phòng ngừa và kiên

quyết chống tham nhũng, lãng phí

Thứ mười tám, Tăng cường công tác tư

tưởng, giáo dục và rèn luyện phẩm chất đạo đức

cách mạng cho quần chúng nhân dân, xây dựng

con người mới xã hội chủ nghĩa đáp ứng yêu cầu

phát triển của đất nước

Thứ mười chín, về đổi mới chỉnh đốn Đảng,

nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của

Đảng, có mấy vấn đề chính:

- Cách diễn đạt mới về Đảng: “Đảng cộng sản

Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công

nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao

đông và của cả dân tộc Việt nam; đại biểu trung

thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao

động và của dân tộc”

- Nâng cao bản lĩnh chính trị của Đảng vàtrình độ trí tuệ của Đảng

- Kiện toàn và đổi mới hoạt động của tổ chức

cơ sở Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảngviên

- Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trungdân chủ trong Đảng, tăng cường quan hệ gắn bógiữa Đảng với nhân dân

- Đổi mới tổ chức, bộ máy và công tác cán bộ

- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

- Vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân (tư bản

tư nhân)

Trên đây là 19 vấn đề lớn trong văn kiện Đạihội X, trong đó có những vấn đề được khẳng địnhtrong các Đại hội trước, nay cụ thể hơn và có bướcphát triển hơn về nhận thức lý luận cũng như tổngkết thực tiễn Mặc dù bài viết này là sự kế thừa, có

bổ sung nhưng đây mới chỉ là sự hệ thống bướcđầu Rất mong sự đóng góp ý kiến của quý Thầy(Cô) giáo trong nhà trường

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X; NXB Chính trị quốc gia, HN, 2006

2 Quán triệt, vận dụng quan điểm Đại hội X của Đảng vào giảng dạy các môn Lý luận cính trị; GS.TS

Vũ Văn Hiền, TS Đinh Xuân Lý đồng chủ biên; NXB Chính trị quốc gia, HN, 2007

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Tổ chức Liên

hợp quốc về giáo dục, khoa học và văn hoá

(UNESCO) công nhận là anh hùng giải phóng dân

tộc, danh nhân văn hoá thế giới Tư tưởng của

Người bao quát nhiều lĩnh vực, là ngọn đèn pha

soi đường cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi

cuối cùng, trong đó có lĩnh vực giáo dục Người

đã để lại những lời dạy quý báu về vấn đề tự giáo

dục cũng như tấm gương sáng ngời về tinh thần tự

học mà mọi thế hệ người Việt Nam cần phải noi

theo

Nhiều lần Bác đã nhấn mạnh việc tự học.

Ở tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (1947), khi nói

về công tác huấn luyện cán bộ, Người chỉ dẫn:

“Lấy tự học làm cốt Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào” Người dạy thêm: “Sắp xếp thời gian và bài học […] phải cho khéo, phải có mạch lạc với nhau” (1) Sau này khi nói về công tác huấn luyện

và học tập (1950), Người lại nhấn mạnh: “Phải nâng cao và hướng dẩn việc tự học” Người khuyên: “Không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa Phải biết tự động học tập”(2) Nhữnglời dạy ngắn gọn của Bác làm nổi bật lên tính cầnthiết, tính tự giác của việc tự học và mối liên hệkhăng khít của các chủ thể tham gia vào quá trình

tự học

Trang 6

Chính cuộc đời Người là một tấm gương

lớn về tự học Tại Đại hội VII Quốc tế cộng sản

(1935) với bí danh Lin, khi khai lý lịch, trả lời câu

hỏi: “Trình độ học vấn (tiểu học, trung học, đại

học), Người ghi: Tự học Tiếp theo là câu hỏi:

Đồng chí biết những ngoại ngữ nào? Người ghi:

Anh, Pháp, Trung Quốc, Ý, Đức, Nga” Bác

thường khiêm tốn tâm sự: “Về văn hoá tôi chỉ

học hết tiểu học Về hiểu biết phổ thông : 17 tuổi

tôi mới nhìn thấy ngọn đèn điện lần đầu tiên, 20

tuổi mới nghe rađio lần đầu” Nhưng chúng ta ai

cũng biết, Người có một trình độ học vấn uyên

bác mà cả thế giới phải khâm phục và thừa nhận

Người có thể diễn thuyết, viết báo, viết truyện

bằng tiếng nước ngoài và có nhiều tác phẩm xuất

sắc như “Bản án chế độ thực dân Pháp”, “Vi

hành” bằng tiếng Pháp, tập thơ chữ Hán “Nhật kí

trong tù”… Nhà nghiên cứu Vasiliep đã viết:

“Hiếm có chính khách nào của thế kỷ XX có thể

sánh được với Hồ Chí Minh về trình độ học vấn,

tầm hiểu biết rộng lớn và sự thông minh trong

cuộc đời” Đây hoàn toàn không phải là sự suy tôn

thái quá mà tất cả đều xuất phát từ sự khổ công

luyện tập, Người đã miệt mài học tập cả cuộc đời,

nói đúng hơn là không ngừng tự học

Trong thời đại đất nước đang chuyển

mình bước những bước dài ra với thế giới, việc

học tập theo tấm gương tự học của Bác, nhất là

đối với sinh viên - tương lai của nước nhà lại càng

trở nên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết,

như lời căn dặn của Bác đối với thế hệ trẻ: “Non

sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân

tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh

vai với các cường quốc năm châu được hay

không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập

của các cháu”(3)

Trước hết, sinh viên cần học tập tinh thần

cầu tiến, sự chủ động của Bác trong việc tự học.

Có lẽ ai cũng sẽ rơi nước mắt khi biết hết những

công việc mà Bác phải làm trên chiếc tàu Latutsơ

trong những ngày đầu bôn ba tìm đường cứu

nước “Phụ bếp trên tàu, mỗi ngày anh Ba (tên của

Bác lúc này) phải làm từ bốn giờ sáng, quét dọn

sạch sẽ nhà bếp lớn trên tàu, rồi đốt lửa trong các

lò Sau đó đi khuân than, rồi xuống hầm lấy rau,

thịt cá, nước đá… có khi anh phải vác một bao

nặng vừa leo lên những bậc thang trong khi tàu

tròng trành Xong công việc ấy, phải dọn cho bọn

chủ bếp Pháp ăn Sau đấy, nhặt rau, rửa chảo nồi

và đun lò lại Có nhiều cái chảo bằng đồng lớn vànặng quá, đến nổi anh Ba phải kéo lê trên sàn vànhững cái nồi cao quá anh phải leo lên ghế để chùinồi Suốt ngày anh Ba đẫm nước, hơi và mồ hôi,mình đầy bụi than”(4) Tuy công việc nặng nhọcnhư thế, nhưng mỗi lúc rảnh rỗi, Bác đều tìm đếnhai người lính trẻ đi cùng chuyến tàu để học đọc

và viết tiếng Pháp Muốn biết cái gì, đồ vật nào đóbằng tiếng Pháp, Bác đều chỉ tay hỏi người Pháp,rồi Bác viết vào một mẩu giấy, dán vào chỗ hay để

ý nhất để tranh thủ vừa làm, vừa học Có khi Bácviết vào cánh tay để trong lúc làm việc vẫn họcđược Ban đêm khi chưa đi ngủ Bác lấy tay viết

mò những chữ khó xuống chân cho kỳ nhớ và cứthế mỗi ngày Bác học thêm vài từ mới Học đượcchữ nào Bác tìm cách ghép câu để dùng ngay Dẫu biết rằng thực tế vẫn còn nhiều gia đình,địa phương, nhiều trường chưa có đủ điều kiệnhọc tập nhưng tại sao với Bác thì dù chỉ một mảnhgiấy một cây bút chì Bác cũng học được? Đó làchưa kể hiện nay sinh viên có nhiều điều kiện đểhọc ngoại ngữ hơn: như có đài, báo, internet, cáctrung tâm dạy ngoại ngữ… nhưng lại không giỏi

về ngoại ngữ Phải chăng là do sinh viên chúng tacòn thiếu một tinh thần cầu tiến, một sự chủ độngtrong việc học Chỉ khi nào bạn thực sự yêu khoahọc, song hành cùng lòng quyết tâm cao độ cộngvới sự chủ động khi đó bạn mới thành công trongviệc học

Tuy nhiên điều quan trọng là phải có phương pháp tự học đúng Qua những câu

chuyện về Bác ta học tập được nhiều phương pháp

đó là trường đại học của tôi Trường học ấy đã dạycho tôi khoa học xã hội Nó đã dạy cho tôi yêunước, yêu loài người, yêu dân chủ và hoà bình vàcăm ghét áp bức, ích kỷ”

Trang 7

Nguyễn Ái Quốc coi thư viện là một trường

học lớn của mình Tại thư viện có khi Bác làm

việc cả ngày đến đêm Đối với Người tự học là

học ở sách báo, đồng nghiệp, bạn bè, nhân dân;

học từ thực tiễn sinh động ở các nước đế quốc,

nước thuộc địa, ở phong trào cách mạng trên thế

giới Còn sinh viên, nhiều bạn chỉ biết hàng ngày

cắp sách đến trường như một thói quen, không chủ

động nghiên cứu mà chờ đến ngày thi mới học

-như vậy là bạn đã tự đẩy lùi chính mình Chúng ta

có thể học ở trường, ở nhà, ở một quán cà phê yên

tĩnh, trong công viên hay trên bãi biển trong một

buổi chiều lặng gió Chủ động tìm đọc sách báo,

tạp chí, lướt web hay nghe các phương tiện thông

tin đại chúng để thu thập thông tin

Bản chất của tự học là tự làm việc với chính

mình trước, nghiên cứu tài liệu, trao đổi với bạn

bè và được thầy khơi gợi, hướng dẫn Muốn học,

muốn hiểu sâu một chủ đề nào, điều quan trọng

nhất là phải tự mình chạm tới nó trước, phải tự

mình khơi mở trước trong đầu, như gieo mầm cho

việc tiếp thu, thẩm thấu của mình-tức là phải chủ

động nghiên cứu Bởi một lẽ tự nhiên: “con đường

giáo dục là tập tự sử dụng những khả năng của

mình, tự sử dụng cái đầu của mình” (Kant)

+ Thứ hai là phải biết nêu quan điểm, chính

kiến của mình trong từng tiết học

Trong quá trình tự học, ngay việc đọc sách

báo, Bác cũng bày tỏ quan điểm riêng của mình,

đó là phải có suy nghĩ kĩ càng, không tin ngay

theo sách Người nhấn mạnh: “Phải nêu cao tác

phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng Đọc tài

liệu thì phải đào sâu hiểu kỹ, không tin một cách

mù quáng từng câu trong sách Đối với bất cứ vấn

đề gì đều phải đặt ra câu hỏi: “vì sao”, xem nó có

hợp với thực tế hay không, tuyệt đối không nên

nhắm mắt tuân theo một cách xuôi chiều Phải suy

nghĩ cho chín chắn”(5)

Đối với sinh viên, việc nêu chính kiến của

mình bắt đầu từ thái độ tích cực phát biểu, đưa ra

quan điểm của mình đối với vấn đề mà giáo viên

đưa ra; đó là việc chứng minh, phân tích, tranh

luận trong giờ thảo luận để bảo vệ ý kiến của

nhóm Đây là một năng lực rất quan trọng của

người học đồng thời cũng là một năng lực còn hạn

chế của sinh viên Việt Nam nói chung Nếu sinh

viên biết xây dựng cho mình những quan điểm,

biết phân tích để bảo vệ và trình bày ý kiến của

mình trước lớp hoặc nhóm thì đây chính là một

cách tự học cao nhất Nó sẽ tạo nên sự “đột phá”trong tư duy, phát hiện vấn đề và từ đó đi đến mộthình thức cao hơn của tự học là nghiên cứu khoahọc

+ Thứ ba: “học” phải “hỏi” Chính nhờ việc

hỏi những người thuỷ thủ trẻ người Pháp mà Bác

có những nền tảng ban đầu của tiếng Pháp Nhiềungười quan niệm rằng: tự học là học riêng mộtmình-điều đó hoàn toàn không đúng Cách tự họctốt nhất là hỏi và cùng trao đổi với nhóm Đối vớisinh viên, mô hình học tập theo nhóm, cùng thảoluận đối thoại với giáo viên là một cách giao lưutri thức rất hữu ích

Học phải hỏi thì học mới hiểu, hỏi để học Hỏi

có thể là tự hỏi mình hay hỏi người khác Tự hỏi

và tự trả lời để tự đánh giá xem mình đã hiểu ở

mức độ nào, phát hiện ra những điều chưa hiểu vàphải tìm cách giải quyết những thắc mắc đó Quátrình này là quá trình người học rèn luyện phươngpháp tư duy cho bản thân, nâng cao năng lực tìmtòi, giải đáp các câu hỏi đặt ra Hỏi người khác, ởđây có hàm ý rộng, đó có thể là thầy, là bạn, làsách vở, tài liệu và thực tế cuộc sống

+ Thứ tư là trong quá trình học, phải luôn biết “tự phê bình” để sửa sai.

Thời gian đầu viết báo, Bác chỉ viết 3 dòng, 5

dòng, sau đấy viết 10 dòng rồi một cột rưỡi Đếnđây, đồng chí biên tập lại bảo viết rút ngắn lại.Bác lại tập rút ngắn lại cho đến khi chỉ còn 10dòng Tập đi tập lại nhiều lần như vậy, Bác viếtđược báo Những lần gửi bài Bác đều nói với mọingười trong toà soạn: “… xin các đồng chí sửa lỗitiếng Pháp cho tôi” Khi bài viết của Bác đượcđăng báo, Bác rất vui, nhưng Bác lại cẩn thận xemlại từng câu từng chữ, xem bài viết của mình đúngsai chỗ nào, toà soạn báo đã sửa lại cho mình nhưthế nào Bác đã rút kinh nghiệm trong việc tự họcviết của mình: “Viết cũng như mọi việc khác, phải

có chí, chớ dấu dốt, nhờ tự phê bình và phê bình

mà tiến bộ, quyết tâm thì việc gì, khó mấy cũnglàm được”

Bất cứ sự thành công nào cũng được ươmmầm từ sự thất bại của chính chúng ta Thiết nghĩ,nếu mỗi sinh viên học tập được cách viết của Báctrong việc trình bày các bài viết, bài tập, tiểu luậnhay nghiên cứu khoa học thì chắc chắn các bạn sẽthành công

Học tập Bác chúng ta hiểu, thấm nhuần, tintưởng và coi những lời dạy của Bác là cẩm nang

Trang 8

cho việc học Thế hệ trẻ hiện nay mang một sứ

mạng mới, đó là chiến đấu bằng tri thức để cho

mọi người trên thế giới không chỉ biết đến một

nước Việt Nam anh hùng trong chiến tranh mà

còn là một Việt Nam của sự đổi mới, hội nhập và

phát triển Trong quá trình đó, tấm gương tự học

của Bác sẽ luôn nhắc nhở, soi chiếu để thanh niênnói chung và sinh viên nói riêng ngày càng hoànthiện hơn, xứng đáng là những người thừa kế xâydựng CNXH vừa “hồng” vừa “chuyên” như Bác

Hồ hằng mong muốn

-(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5, tr.273

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.50

(3) Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch,

NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2001, tr.22-23

(4) Hồ Chí Minh: Về vấn đề học tập, NXB Sự thật, Hà Nội, 1971, tr.5

VIỆT NAM Ở ĐÂU TRÊN NỀN KINH TẾ TRI THỨC?

Kinh tế tri thức không có nghĩa làm giàu với

ngành công nghệ thông tin (IT) Singapore và Hàn

Quốc đã thành công trong chấn hưng quốc gia nhờ

những sách lược đúng đắn và dài hơi

Thế giới ngày càng nhỏ hẹp, một sự kiện bùng nổ

ở bên này bán cầu, bên kia bán cầu có thể biết

ngay lập tức Những dây chuyền sản xuất cổ điển

bị phá vỡ do sự mọc lên những phân xưởng thế

giới, những trung tâm gia công nước ngoài Môi

trường làm việc phẳng hơn, lỏng lẻo hơn; chất

xám không hứa hẹn gắn liền với một công ty Đó

chỉ là một số trong rất nhiều xu hướng mới, đặt

các quốc gia trước yêu cầu chuyển đổi để tiếp cận

nền kinh tế tri thức (KTTT) hầu tăng tính cạnh

tranh KTTT không có nghĩa kinh tế IT

Hội thảo "Phát triển các chiến lược KTTT

để cải thiện tính cạnh tranh" diễn ra tại Seoul (14

đến 18-7) cho cái nhìn về bối cảnh tiếp cận KTTT

của một số quốc gia Đông Á - Thái Bình Dương,

trong đó có VN Hội thảo do Viện Ngân hàng thế

giới (WBI - một bộ phận của Ngân hàng Thế giới,

chuyên hỗ trợ đào tạo và tư vấn) phối hợp với

Viện Phát triển Hàn Quốc (KDI) tổ chức

Nền KTTT - theo định nghĩa của WBI - là "nền

kinh tế dựa vào tri thức như động lực chính cho

tăng trưởng kinh tế Đó là nền kinh tế trong đó

kiến thức được lĩnh hội, sáng tạo, phổ biến và vận

dụng để thúc đẩy phát triển" Tại hội thảo,

Jean-Eric Aubert, chuyên gia hàng đầu của WBI, nói cụ

thể hơn: "Phải phân biệt đó không phải là nền kinh

tế dựa vào công nghệ và viễn thông! KTTT là đặttri thức, sáng tạo và các chính sách liên quan đếnchúng vào trọng tâm của chiến lược phát triển chotất cả các nước ở nhiều mức độ phát triển khácnhau"

Theo nhận định của WBI, một quốc giamuốn chuyển sang nền KTTT cần hình thành bốntrụ cột sau: lực lượng lao động có giáo dục và kỹnăng, hệ thống sáng tạo hiệu quả, cơ sở hạ tầngthông tin (ICT) hiện đại, hệ thống thể chế và kinh

tế được cập nhật

Căn cứ vào các chỉ số bình quân từ dữ liệu củabốn trụ cột này, WB đưa ra chỉ số KTTT (KEI)nhằm "đong đo" sự chuẩn bị của một đất nước đểchuyển sang nền KTTT Tổng cộng có 81 tiêu chíđược đưa ra so sánh trong tương quan 132 quốcgia, với điểm số từ 0 (yếu nhất) đến 10 (mạnhnhất) Theo chỉ số KEI, năm 2006 VN đạt 3,17điểm, xếp hạng 96 trên 132 quốc gia (nguồn:

www.worldbank.org/kam)

Hai câu chuyện thành công:

Kinh nghiệm sử dụng hiệu quả đầu tư trựctiếp nước ngoài (FDI) để nâng trình độ các công

ty và lực lượng lao động được tiến sĩ ngườiSingapore Wong Kok Seng đúc kết sau nhiều nămlàm việc trong Ủy ban Phát triển kinh tế (EDB)Singapore Ông kể: EDB ra đời năm 1961, địnhhướng phát triển các ngành công nghiệp nhắm vào

Trang 9

xuất khẩu để thu hút FDI và "rù quến" các tập

đoàn đa quốc gia (MNC) EDB liên kết với các

MNC đầu tư vào Singapore thành lập các trung

tâm đào tạo đội ngũ lao động lành nghề

Tiếp đó, EDB đưa ra "Chương trình nâng cao

công nghiệp địa phương" (LIUP), kêu gọi các

MNC thuyên chuyển giám đốc của họ sang

Singapore để giúp các công ty công nghiệp cải

thiện tiêu chuẩn điều hành và khả năng hoạt động

Đổi lại, Chính phủ Singapore phụ trách trả lương

Nhờ đó Singapore du nhập được những công nghệ

mới nhất khi đó như công nghệ in ấn

Tiến sĩ Wong kết luận 40 năm trước

Singapore đã may mắn khi thu hút được các

MNC, vì hiện nay ít có quốc gia nào có thể qua

mặt được hai trung tâm thu hút MNC mới là

Trung Quốc và Ấn Độ Khi một thành viên hội

thảo đặt câu hỏi về lý do EDB hoạt động hiệu quả,

tiến sĩ Wong cười đáp: "Chỉ vì Singapore trong

suốt thời gian đó, khác với các nước châu Á khác,

có một chính phủ ổn định và chỉ có một "cửa" ở

EDB, không qua bất cứ tầng nấc nào!"

Câu chuyện thành công thứ hai thuộc về

lĩnh vực giáo dục của Hàn Quốc Trong 40 năm

qua, hệ thống giáo dục Hàn Quốc đã mở rộng

được số lượng song song với việc cải thiện chất

lượng giáo dục Nhờ đâu? Theo tiến sĩ Suh Joong

Hae, Hàn Quốc rất thành công trong việc động

viên khu vực tư nhân đầu tư vào giáo dục

Trong khi chính phủ chịu trách nhiệm vềgiáo dục cấp I, khu vực tư nhân được kêu gọi đầu

tư cho giáo dục cấp II và III Đặc biệt, chính nhờ

sự đầu tư vũ bão của các tập đoàn Hàn Quốc chonghiên cứu và phát triển (R&D) đã tạo điều kiệncho kinh tế Hàn Quốc phát triển Hiện nay, chínhphủ chỉ chi 1/4 trên tổng số đầu tư cho R&D củanước này!

VN - "nhà cải cách tích cực"

VN có thể học tập kinh nghiệm nào từ cácnước trên? Báo cáo của WB đánh giá kinh tế VN

là một trong những nền kinh tế có thành tích tốtnhất trong số các nước đang phát triển Một trongnhững chính sách quan trọng nhất, theo bảng đánhgiá, là phi tập trung hóa điều hành kinh tế, giảmnhẹ số doanh nghiệp nhà nước và tăng doanhnghiệp khu vực tư nhân, chuyển từ nền kinh tế kếhoạch tập trung sang định hướng thị trường vớicác cải cách nhằm làm khuôn khổ pháp lý minhbạch và phù hợp tiêu chuẩn quốc tế.Tuy nhiên, VN vẫn là nước đang phát triển có thunhập thấp Một tỉ lệ lớn (khoảng 57%) công việcvẫn nằm trong khu vực nông nghiệp, trong khikhu vực công nghiệp chỉ chiếm 17,4% và dịch vụ

là 24,7% Hơn thế nữa, phần đóng góp của tri thứcvào phát triển kinh tế rất hạn chế Tăng trưởngkinh tế chủ yếu do lao động và vốn tạo nên

Căn cứ trên bốn trụ cột kinh tế tri thức, báo cáo của WB cho thấy:

1 Giáo dục: Chỉ số giáo dục của VN giảm nhẹ từ 3,56 (1995) còn 3,50 trong năm 2006 Chỉ số này dưới

mức bình quân của thế giới (4,35) và dưới bình quân của khu vực (5,26) So với châu Á - Thái Bình Dương,

VN hầu như đứng thấp hơn ở tất cả khía cạnh: từ chất lượng quản lý các trường, đào tạo cán bộ và giáo dục trung học mặc dù số công nhân có tay nghề nhìn chung tăng 12,3% (1996) lên 27% (2005).

2 Sáng tạo: Không giống các nước tiên tiến, khu vực công đóng vai trò chính trong hệ thống sáng tạo của

VN Cho đến đầu thập niên 1990, công tác R&D chủ yếu thực hiện trong phạm vi các viện nghiên cứu và đại học, tách biệt khỏi các đối tác sáng tạo khác Tình hình có cải thiện khi VN thực hiện kinh tế thị trường, với

số viện nghiên cứu tăng đáng kể, từ 519 lên 1.120 (giai đoạn 1995 - 2005) và các viện nghiên cứu công được thay bằng việc gia tăng số viện nghiên cứu tư Tuy nhiên dù số bài báo khoa học có tăng, nhưng đa số chúng được công bố trên các ấn bản VN hơn là quốc tế Mặt khác, sự gia tăng con số nhà khoa học lại không dẫn tới nhiều phát minh như lẽ ra có thể.

3.ICT: Đây là chỉ số tăng mạnh nhất của VN trong bốn trụ cột của KTTT, tới 1,29 điểm, đạt 3,49 điểm (so

sánh với điểm bình quân của thế giới là 6,0, Malaysia 7,30, Singapore 9,19) Tuy nhiên, vấn đề là lực lượng lao động IT của VN còn ít, chưa có kinh nghiệm Trong 40 triệu công nhân VN, chỉ có 20.000 lao động trong lĩnh vực IT, trong khi chỉ 3.500-4.000 sinh viên tốt nghiệp với các bằng cấp IT hằng năm Ngoài ra, khu vực ICT VN tiếp tục chậm phát triển nhất khu vực Chỉ số ICT VN chỉ 3,49 so với 7,04 của châu Á - Thái Bình Dương

Trang 10

4 Chế độ các định chế và kinh tế: VN xếp hạng thấp trên các tiêu chí về quản trị, nhất là về nạn tham

nhũng, chất lượng (thực thi) luật pháp "Tính hiệu quả của quản trị và sự cai trị của luật pháp thậm chí còn

có vấn đề chứ không chỉ (bị xếp hạng) thấp", và "sự ổn định chính trị là chỉ dấu mạnh nhất" trong lĩnh vực này, báo cáo WBI nêu rõ.

Tổng kết, WB coi VN là một "nhà cải cách tích cực", minh họa việc một quốc gia thu nhập thấp có thể tiếp

cận nền KTTT như thế nào Theo đó, VN đã phát triển nhanh chóng bằng cách tận dụng toàn cầu hóa và đã thành công trong việc tìm kiếm, lĩnh hội và vận dụng kiến thức toàn cầu cho nhu cầu đất nước "Tuy nhiên,

đa số tăng trưởng này có được qua đầu tư hơn là qua sáng tạo, và nhiều chỉ số KTTT vẫn còn thấp so với trung bình cả ở mức khu vực lẫn thế giới VN vẫn đứng trước nhiều thách thức trong xây dựng nền KTTT" -

WB kết luận Bài học thành công của các nền kinh tế châu Á có thể được tham khảo ở cách thay đổi và ứng biến linh hoạt trước các xu hướng mới của toàn cầu hóa

PHAN XUÂN LOAN - TTO (Từ Seoul)

VN đang tụt lại phía sau hầu hết các nước Đông Á - Thái Bình Dương (EAP) về chỉ số KTTT Điểmtổng các chỉ số của VN gần đây nhất là 3,17 so với bình quân của EAP là 6,61 (nơi điểm 10 là tốt nhất) Tuynhiên, phải nhìn nhận VN đã cải thiện vị thế của mình đáng kể so với chính VN thời năm 1995, nơi điểm của

VN chỉ là 2,62, cải thiện được 12 hạng Tuy nhiên, cũng trong thời kỳ đó các nước EAP đã tiến nhiều hơn.Theo các con số, VN đứng sau các nước EAP ở tất cả 12 chỉ số phụ của KEI Những lĩnh vực mà VN tụt hậunhiều hơn trong EAP là ở số bằng sáng chế và các bài báo khoa học trên 1 triệu người, số máy tính và khảnăng tiếp cận Internet…

Tuy nhiên quan trọng nhất, theo tôi, là ở các chỉ số điều hành (nhất là việc kiểm soát tham nhũng,chất lượng quản lý) và giáo dục (đặc biệt là tỉ lệ giáo dục đại học hoặc cao đẳng, khi tỉ lệ học đại học, caođẳng VN chỉ đạt 16% so với mức trung bình là 38% của EAP)

Giáo sư CARL DAHLMAN(Đại học Georgia - Mỹ)

Theo http://VnEcon.com

Đánh giá thành tích công việc, một công cụ quản trị doanh nghiệp

ThS Cao Hồng Việt Đánh giá thành tích công việc là gì và tiến hành nó như thế nào? Những quy trình, thủ tục nào, những nhân tố nào cấu thành hệ thống đánh giá thành tích công việc? Bài viết dưới đây nhằm khái quát về

hệ thống đánh giá thành tích công việc trong doanh nghiệp (DN), một công cụ quản trị DN mà theo tác giả chưa được đánh giá cao trong các DN ở Việt Nam nói chung và DN Nhà nước nói riêng.

Đánh giá là một sự miêu tả chính thức về giá trị, tính hiệu quả hay mức độ thành công của một người hay một cái gì đó Mọi hoạt động của con người bao gồm hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) cũng cần thường xuyên được đánh giá Mục đích của việc đánh giá là nhằm tổng kết lại những điều đạt được và chưa đạt được và nguyên nhân là gì Từ đó tiếp tục điều chỉnh hoạt động hướng tới trạng thái tốt hơn.

Vậy đánh giá thành tích công việc là gì và tiến hành nó như thế nào? Những quy trình, thủ tục nào, những nhân tố nào cấu thành hệ thống đánh giá thành tích công việc? Bài viết dưới đây nhằm khái quát về hệ thống đánh giá thành tích công việc trong doanh nghiệp (DN), một công cụ quản trị DN mà theo tác giả chưa được đánh giá cao trong các DN ở Việt Nam nói chung và DN Nhà nước nói riêng.

Trang 11

Khái niệm

Khi mới hình thành, khái niệm đánh giá

thành tích công việc chỉ được hiểu là một quá

trình thường bắt đầu từ việc xây dựng một biểu

mẫu đánh giá và kết thúc bằng cuộc trò chuyện

giữa người quản lý và nhân viên và cũng thường

được tiến hành một cách đại khái, hời hợt, chỉ

mang tính chất hình thức Tuy nhiên, vào cuối

thập kỷ 80, tại hầu hết các nước có nền kinh tế

phát triển, đánh giá thành tích công việc đã chú

trọng tới việc xây dựng các mục tiêu và thứ tự ưu

tiên mà theo đó thành tích công việc sẽ được đánh

giá: phương pháp này được gọi là quản trị thành

tích công việc.

Quản trị thành tích công việc là một biện

pháp nhằm đạt được kết quả tốt hơn trong hoạt

động SXKD của DN thông qua việc tìm hiểu và

quản lý thành tích công việc của mỗi cá nhân

trong DN với những mục tiêu, những tiêu chuẩn

và những yêu cầu về kỹ năng đã được thống nhất

xây dựng trước bằng cách đánh giá và cải thiện

thành tích công việc

Nếu quản trị thành tích công việc là một

bộ phận của hệ thống kiểm soát của DN thì đánh

giá thành tích công việc chỉ là một quá trình của

quản trị thành tích công việc Đánh giá thành

tích công việc là việc xem xét kết quả các công

việc mỗi cá nhân đã được thực hiện Mục đích của

đánh giá thành tích công việc là để xác định vị trí

hiện tại cho nhân viên thực hiện công việc đó

Trong khi đó, quản trị thành tích công việc là việc

xây dựng những mục tiêu trong tương lai mà nhân

viên đó cần đạt được

Mục đích (cái bạn muốn đạt được) và

mục tiêu (cái mà bạn cố gắng đạt được) của

việc đánh giá thành tích công việc

Đánh giá thành tích công việc là một trong những

nhiệm vụ trọng tâm mà một người quản lý DN

giỏi cần phải thực hiện tốt Bất cứ một hệ thống

đánh giá nào cũng nhằm cải thiện hiệu quả hoạt

động của DN thông qua việc đảm bảo rằng mọi cá

nhân trong DN đều cố gắng tối đa khả năng của

mình Cụ thể đánh giá thành tích công việc nhằm

ba mục đích sau:

- Đánh giá xem các cá nhân có xứng đáng được

thưởng hoặc tăng lương hay không (khen thưởng)

- Soát xét lại công việc đã thực hiện nhằm xác

định những tồn tại, điểm yếu cần khắc phục, xác

định những khả năng tiềm ẩn chưa sử dụng đến

của các cá nhân, và xây dựng những chương trìnhđào tạo, tập huấn phù hợp, cần thiết

- Xác định những khả năng tiềm tàng của từng cánhân, làm nền tảng để mỗi cá nhân có thể pháttriển sự nghiệp của mình sau này

Để đạt được các mục đích trên, việc đánh giáthành tích công việc cần phải có được những kếtquả cụ thể sau đây (mục tiêu):

- Xác định và xây dựng những nội dung công việc

cụ thể mà từng cá nhân phải thực hiện nhằm đạtđược mục tiêu chung của bộ phận, nơi mà cá nhân

đó làm việc

- Thiết lập những kết quả chính hoặc quan trọng

mà doanh nghiệp mong đợi cá nhân đó sẽ đạtđược trong công việc sau một khoảng thời giannhất định

- So sánh mức độ kết quả thành tích công việc củatừng cá nhân với mức chuẩn, làm cơ sở cho việc

để có chế độ thưởng thích đáng

- Xác định nhu cầu đào tạo và phát triển của từng

cá nhân thông qua kết quả công việc thực tế

- Xác định các cá nhân có khả năng để đề bạt vàocác vị trí thích hợp trong bộ máy quản lý haykhông

- Xác định những khâu yếu kém, những tồn tại cầnphải cải thiện hoặc thay đổi

- Xác định, đánh giá năng lực nhân sự hiện có vàtiềm ẩn phục vụ công tác lập kế hoạch nhân lựccho DN

- Cải thiện sự trao đổi thông tin trong công việcgiữa các cấp khác nhau

Lợi ích của hệ thống đánh giá thành tích công việc

Thoạt nhìn, hệ thống đánh giá thành tích công việctrong DN là một hoạt động tiêu tốn thời gian củamọi cá nhân và làm tăng chi phí của DN, đặc biệt

là đối với các DN đang trong thời kỳ cần phải dốctoàn bộ nguồn lực cho cạnh tranh để tồn tại vàphát triển Tuy nhiên, lợi ích mà nó đem lại thìthực sự lớn và rất khó đánh giá Đó là lợi ích đốivới DN và đối với từng cá nhân trong DN đó

Đối với DN

Thông thường trong hoạt động sản xuấtkinh doanh của DN, người quản lý thường có ấntượng về thành tích công việc cá nhân của nhânviên cấp dưới một cách ngẫu nhiên hoặc tình cờ(có thể là do những thành công hay thất bại rấtđáng chú ý hoặc rất dễ nhận thấy của nhân viêncấp dưới) Hiện tượng phổ biến là người quản lý

Trang 12

không có được một bức tranh rõ nét, hoàn chỉnh

và khách quan về nhân viên cấp dưới của mình

Do đó một hệ thống đánh giá thành tích công việc

chính thức sẽ giúp khắc phục được phần nào

khiếm khuyết này

Hơn nữa, cho dù người quản lý có thể

nhận ra lỗi hay thiếu sót của nhân viên cấp dưới

một cách công bằng, nhưng họ cũng không có

động cơ để bỏ thời gian quan tâm tới vấn đề cải

thiện và phát triển thành tích công việc của từng

cá nhân nếu như không có một hệ thống đánh giá

chính thức

Việc đưa ra kiến đánh giá về một người dễ

dàng hơn rất nhiều so với việc nhận xét đánh giá

một cách chi tiết (bằng văn bản hoặc trực tiếp đối

với người bị đánh giá) Trên phương diện này, hệ

thống đánh giá thành tích công việc có ý nghĩa

như một quy định bắt buộc trong DN đòi hỏi mọi

cá nhân phải thực hiện vì lợi ích thiết thực của nó

Ngoài ra trong quá trình đánh giá, những người

đánh giá khác nhau có thể áp dụng những tiêu chí

đánh giá khác nhau, tiêu chuẩn khác nhau về tính

khách quan và sự đánh giá Điều này đã làm mất

đi giá trị của việc đánh giá về phương diện so

sánh, một trong những nguyên nhân làm giảm

lòng tin của người bị đánh giá về hệ thống đánh

giá Do vậy một hệ thống đánh giá chính thức sẽ

là một cơ sở để giảm bớt sự khác biệt trên

Cuối cùng hệ thống đánh giá chính thức của DN là

một phương tiện khuyến khích người quản lý đưa

ra các ý kiến phản hồi một cách đầy đủ cần thiết

hoặc thích đáng đối với nhân viên cấp dưới, giúp

cho nhân viên cấp dưới có thể điều chỉnh kịp thời

theo hướng có lợi cho bản thân anh ta và cho DN

Đối với cá nhân

Nếu trong DN không có một hệ thống

đánh giá công việc chính thức thì bản thân mỗi cá

nhân nhân viên cũng sẽ gặp phải nhiều bất lợi: họ

sẽ không nhận ra được những tiến bộ cũng như sai

sót hay lỗi của mình trong công việc; họ sẽ không

có cơ hội được đánh giá xem mình có thể được

xem xét đề bạt hay không; họ sẽ không được xác

định và sửa chữa các yếu điểm của mình thông

qua đào tạo; và họ sẽ ít có cơ hội trao đổi thông tin

với cấp quản lý

Trình tự đánh giá

Việc đánh giá cũng có một trình tự nhất

định giống như các quá trình khác trong DN và

thông thường bao gồm các bước sau:

Bước 1 Xác định tiêu chí đánh giá, có thể dựatrên việc phân tích công việc, những tiêu chuẩnthành tích công việc, bản mô tả chức danh côngviệc v v

Bước 2 Người đánh giá chuẩn bị biểu mẫu đánhgiá Trong một số hệ thống đánh giá, có thể cảngười đánh giá và người được đánh giá cùngchuẩn bị biểu mẫu đánh giá này một cách độc lập.Sau đó các biểu mẫu này được đối chiếu và thốngnhất với nhau:

Bước 3 Người đánh giá và người được đánh giácùng thực hiện đánh giá Thực hiện đánh giá thựcchất là việc trao đổi quan điểm về nội dung biểumẫu, về mục tiêu phát triển cho người được đánhgiá, về các biện pháp khắc phục tồn tại v.v

Bước 4 Người giám sát người đánh giá soát xétkết quả đánh giá Mục đích của việc soát xét này

là để người được đánh giá không có cảm giác phảichịu sự đánh giá của một người ở bước này, đểđảm bảo tính công bằng của quá trình đánh giá,người bị đánh giá có thể khiếu nại chính thức nếucần thiết

Bước 5 Người đánh giá và người được đánh giácùng nhau xây dựng kế hoạch hành động nhằmđạt được sự thay đổi và phát triển cho người đượcđánh giá Sau đó, người được đánh giá phải thựchiện kế hoạch hành động đã được thống nhất trênBước 6 Quá trình thực hiện kế hoạch hành độngphải được giám sát và thay đổi một cách phù hợp,kịp thời

Biểu mẫu đánh giá

Việc xây dựng biểu mẫu đánh giá là mộttrong những yếu tố quyết định tới sự thành côngcủa hệ thống đánh giá thành tích công việc của

DN Trong khi xây dựng biểu mẫu đánh giá, phảiluôn giữ một số nguyên tắc nhất định Đó là: việcđánh giá phải liên quan tới các tiêu chuẩn chung,nhằm mục đích so sánh giữa các cá nhân; mặtkhác nó còn phải liên quan tới những tiêu chí kếtquả công việc có ý nghĩa, có tính đến các biến sốquan trọng trong từng công việc khác nhau

Thông thường biểu mẫu đánh giá được xâydựng trước khi thực hiện đánh giá Về nội dung,nói chung các tiêu chí trong biểu mẫu đánh giáchủ yếu liên quan tới các nội dung cơ bản của bản

mô tả công việc Cần lưu ý rằng, tính cách vànăng lực là những phạm trù rất khó đánh giá.Trong hầu hết các hệ thống đánh giá thì tính cáchthường không được xếp vào các tiêu chí đánh giá,

Trang 13

trừ khi nó có liên quan cụ thể, trực tiếp tới thành

tích công việc Trong khi đó năng lực lại được

quan tâm đánh giá nhiều nhất Năng lực là một kỹ

năng thể hiện khả năng có thể hoàn thành một

nhiệm vụ cụ thể nào đó Nó có thể bao gồm cả khảnăng chuyển giao kỹ năng và kiến thức Ví dụ vềmột số tiêu chí đánh giá năng lực của người quản

lý được trình bày trong bảng 1

Bảng 1.

Khả năng về trí tuệ Có khả năng bao quát

Khả năng phân tích và đánh giá (ví dụ biết cách tìm tòi các thông tin phùhợp, có liên quan, biết cách dành sự chú ý thích đáng tới các chi tiết quantrọng)

Có khả năng lên kế hoạch và tổ chức (ví dụ lên chương trình và giao quyền,giao việc)

Khả năng ứng xử giữa cá nhân

với nhau (đồng nghiệp) Biết cách quản lý nhân viên (ví dụ có tác phong lãnh đạo, biết đào tạo nhânviên)

Có sức thuyết phục (biết dàn xếp, khéo thương lượng)Quyết đoán và kiên định

Nhạy cảm (mềm dẻo, linh hoạt trong giao tiếp với đồng nghiệp)Khả năng thích nghi, thích ứng

và khả năng chịu đựng Có thể hoạt động dưới áp lực và trong mọi hoàn cảnh (hoàn cảnh bất lợi)Luôn đặt kết quả công việc là

Phỏng vấn đánh giá là một quá trình trong

hệ thống đánh giá thành tích công việc Nói một

cách đơn giản, phỏng vấn đánh giá là cuộc trao

đổi giữa người đánh giá và người được đánh giá

để có được kết quả đánh giá Nhưng giá trị của nó

không chỉ dừng lại ở kết quả đánh giá Trong khi

biểu mẫu đánh giá chỉ là một công cụ thực hiện

đánh giá thành tích công việc thì sự thành công

của những cuộc phỏng vấn đánh giá mới thực sự

quyết định đến hiệu quả của hệ thống đánh giá

Qua phỏng vấn đánh giá các mục tiêu được trình

bày ở phần trên sẽ được giải quyết Thông thường

trình tự các bước phỏng vấn đánh giá được tiến

hành như sau:

Bước 1 Chuẩn bị Việc chuẩn bị cho một cuộc

phỏng vấn đánh giá bao gồm việc lên kế hoạch cụ

thể về thời gian, địa điểm và không gian phù hợp

Người đánh giá chủ động xem xét quá trình làm

việc của người được đánh giá Ngoài ra, trong

bước này người được đánh giá có thể chuẩn bị

những ý kiến đánh giá của những người quản lý

khác làm thông tin tham khảo thêm cho người

đánh giá Biểu mẫu đánh giá cũng được chuẩn bịtrong bước này Có thể người đánh giá xem xétbản tự đánh giá của người được đánh giá (nếu có)

Bước 2 Tiến hành phỏng vấn đánh giá Trước

tiên, người đánh giá nghe người được đánh giátrình bày Nguyên tắc lúc này đối với người đánhgiá phải giữ nhịp cho buổi phỏng vấn đánh giá chỉ

ở ngưỡng thảo luận, không được xảy ra tranh cãi.Người đánh giá phải tập trung khuyến khích ngườiđược đánh giá nói, từ đó có thể xác định được vấn

đề và những giải pháp thích đánh Cái khó nhấtđối với người đánh giá là phải nghe một cách côngbằng

Bước 3 Sau khi trao đổi, thảo luận, người đánh

giá và người được đánh giá phải cùng nhau đi đếnthống nhất được một kế hoạch hành động, ngườiđánh giá phải đạt được sự cam kết từ phía ngườiđược đánh giá Trước khi kết thúc người đánh giáphải luôn kết luận những điều đạt được trong buổiphỏng vấn đánh giá để một lần nữa khẳng định haibên hoàn toàn hiểu nhau

Bước 4 Hoàn thiện biểu mẫu đánh giá.

Trang 14

Bước 5 Các bên thực hiện kế hoạch hành động

như đã thoả thuận Quá trình này phải được giám

sát chặt chẽ và thông tin đầy đủ, liên tục đối với

người được đánh giá

Kết luận

Với lợi ích mà hệ thống đánh giá thành

tích công việc đem lại bất kỳ một DN nào cũng

không thể bỏ qua việc xem xét và triển khai nó

Đây thực sự là một cơ hội để DN vươn lên trong

môi trường ngày nay khi mà tính cạnh tranh ngày

càng gay gắt Đặc biệt đối với các DN nhà nước

trong nền kinh tế đang hội nhập mạnh với nềnkinh tế thế giới, các nhà quản lý phải nhận thứcsâu sắc được lợi ích của hệ thống đánh giá thànhtích công việc, phải nắm bắt được những nguyêntắc cơ bản, những mấu chốt để có được một hệthống đánh giá thành tích hiệu quả Hy vọng rằngqua khái quát về hệ thống đánh giá thành tíchcông việc như trên có thể gợi mở cho những nhàquản lý của chúng ta có thêm phương tiện nângcao hiệu quả SXKD của DN mình./

SOME BUSINESS ENGLISH TERMS

(MỘT VÀI THUẬT NGỮ TIẾNG ANH THƯƠNG MẠI)

Đỗ Thị Bích Thuận

TT Bộ môn Ngoại ngữ

Our first expression is in the red It is another way of saying that a business is losing money In the

past, numbers in the financial records of a company were written in red ink to show a loss

A business magazine recently published a report about a television company The report said thecompany was still in the red, but was able to cut its loss from the year before

A profit by a business is written in black numbers, so a company that is in the black is making money.

An international news service reported that a private health insurer in Australia announced it was back in the black with its first profit in three years

Another financial expression is run on the bank That is what happens when many people try to

withdraw all their money from a bank A run on the bank usually happens when people believe there isdanger a bank may fail or close

Newspaper reports about a banking crisis in Russia used that expression They said the governmentacted because of fears that the crisis would cause a run on the banks A banking expert said that when a run

on the banks was starting, there was not much they could do

Thành ngữ đầu tiên là in the red Đó là cách nói khác về một doanh nghiệp đang thua lỗ Trước đây,

những con số trong sổ sách ghi chép tài chính của một công ty được viết bằng mực đỏ để cho thấy một sựthua lỗ

Ngày đăng: 19/04/2022, 21:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w