1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BC tong ket chi thi 06

15 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 176 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI, ĐẢM BẢO ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN Số 145 /BC UBND CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc Ninh Thuận, ngày 13 tháng 9 năm 2012 BÁO CÁO Tổng[.]

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN

TỈNH NINH THUẬN

Số: 145 /BC-UBND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ninh Thuận, ngày 13 tháng 9 năm 2012

BÁO CÁO Tổng kết tình hình thực hiện Chỉ thị số 06/2004/CT-TTg ngày 18/02/2004 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh, trật tự đối với vùng đồng bào Chăm trong tình hình mới,

giai đoạn 2004-2011.

Thực hiện Chỉ thị số 06/2004/CT-TTg ngày 18/2/2004 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh, trật tự đối với vùng đồng bào Chăm trong tình tình mới, giai đoạn 2004-2011 Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận báo cáo tổng kết giai đoạn 2004-2011 như sau:

PHẦN I Tình hình chung và kết quả thực hiện nhiệm vụ từ năm 2004-2011

I Thông tin chung về đồng bào Chăm:

Đồng bào Chăm Ninh Thuận có 14.536 hộ/73.859 khẩu, cư trú tập trung tại

35 thôn (làng), khu phố thuộc 13 xã, thị trấn thuộc 06 huyện, thành phố; đông nhất

là huyện Ninh phước có 20 thôn, khu phố với dân số 8.402 hộ/43.128 khẩu, huyện Ninh Hải có 4 thôn với dân số 1.941 hộ/8.896 khẩu, huyện Thuận Bắc có 01 thôn với dân số 608 hộ/3.285 khẩu, huyện Thuận Nam có 08 thôn với dân số 2.560 hộ/13.585 khẩu, huyện Ninh Sơn có 01 thôn, với dân số 627 hộ/2.930 khẩu, Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm có 01 thôn với dân số 268 hộ/1.446 khẩu và một số sống rãi rác ở các thôn khác với dân số 130 hộ/589 khẩu Hộ nghèo đồng bào Chăm có 1.623 hộ/7670 khẩu, chiếm 11,16 % so với hộ đồng bào Chăm

Đồng bào Chăm ở Ninh Thuận theo 02 tôn giáo chính là Bàlamôn có 45.860 tín đồ và Hồi giáo (Hồi giáo cũ còn gọi là Bàni có 24.452 tín đồ và Hồi giáo mới còn gọi là Islam có 2.421 tín đồ), ngoài ra có trên 500 người Chăm theo các tôn

giáo khác như Công giáo, Tin lành

Những năm đầu mới được giải phóng đại bộ phận người Chăm chủ yếu sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước và chăn nuôi gia súc có sừng, sản xuất còn phụ thuộc vào nước trời, năng suất bình quân đạt thấp, đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn; cơ sở hạ tầng chưa được phát triển, trình độ dân trí còn thấp, đội ngũ cán bộ người Chăm tham gia vào các cấp chính quyền địa phương chưa nhiều Từ sau giải phóng đến nay được Đảng và Nhà nước quan tâm chăm lo việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào Chăm, đã ban hành nhiều chỉ thị chỉ đạo về công tác đối với đồng bào Chăm như: Chỉ thị số 121-CT/TW ngày 26/10/1981 của Ban Bí thư; Chỉ thị số 121-CT ngày 12/5/1982 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; Thông tri số 03/TT-TW ngày 17/10/1991 của Ban Bí

Trang 2

thư và gần đây là Chỉ thị số 06/2004/CT-TTg ngày 18/02/2004 của Thủ tướng Chính phủ (Chỉ thị 06) Việc thực hiện các Chỉ thị, Thông tri nói trên, nhất là Chỉ thị 06 của Thủ tướng Chính phủ đã góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế

- xã hội và cải thiện đời sống của đồng bào Chăm, bộ mặt nông thôn vùng đồng bào Chăm cơ bản được thay đổi

II Công tác tổ chức triển khai thực hiện:

Để triển khai thực hiện Chỉ thị số 06 của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận đã ban hành Kế hoạch số 2887/KH-UB, ngày 18/10/2004 về phát triển kinh tế-xã hội bảo đảm an ninh, trật tự xã hội đối với vùng đồng bào Chăm trong tình hình mới Trong đó, tỉnh đã xác định rõ mục đích, yêu cầu trọng tâm là đẩy mạnh phát triển kinh tế, xóa đói - giảm nghèo và nâng cao đời sống cho đồng bào phát triển văn hóa, giáo dục, y tế và thực hiện tốt các chính sách xã hội, bảo đảm an ninh trật tự đi đôi với củng cố hệ thống chính trị, khối đại đoàn kết các dân tộc trong vùng đồng bào Chăm Đồng thời, Ủy ban nhân dân tỉnh phân công trách nhiệm, nhiệm vụ cụ thể cho các Sở, ngành, địa phương Trên cơ sở đó các Sở, ngành, địa phương cụ thể hóa công tác chuyên môn và các phần việc giao để tập trung chỉ đạo và tập trung nguồn lực cho việc thực hiện thắng lợi Chỉ thị số 06 nhằm đưa kinh tế - xã hội vùng đồng bào Chăm ngày càng phát triển, đời sống mọi mặt của đồng bào ngày càng ổn định bền vững Qúa trình triển khai thực hiện Chỉ thị 06 tỉnh đã tổ chức sơ kết 02 năm thực hiện (2004 - 2006), qua đó tiếp tục chỉ đạo các địa phương tích cực triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào Chăm Tập trung ưu tiên xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi phát triển các ngành nghề truyền thống, củng cố hệ thống chính trị cơ sở ở vùng đồng bào Chăm

III Kết quả thực hiện các nhiệm vụ:

1 Phát triển sản xuất nông nghiệp:

a) Về nông nhiệp:

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm trên địa bàn tỉnh từ năm 2004 chỉ đạt 43.239 ha, đến năm 2011 đạt 78.232 ha, tăng 34.993 ha; trong đó, vùng đồng bào Chăm chiếm 33,5% tổng diện tích gieo trồng, nhờ xây mới các Hồ chứa nước của tỉnh chủ động nguồn nước tưới nên được bà con nông dân đầu tư khai hoang

mở rộng diện tích Tổng sản lượng lương thực có hạt từ 73.913 tấn năm 2004, đến năm 2011 đạt 273.432 tấn, tăng hơn 3,5 lần so với năm 2004, riêng vùng đồng bào Chăm chiếm 34,7% tổng sản lượng lương thực toàn tỉnh Về cơ cấu cây trồng có sự chuyển dịch tích cực cây lương thực có khuynh hướng tăng, chiếm trên 70% diện tích gieo trồng Về năng suất sản lượng, nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật,

như mô hình "3 giảm, 3 tăng", “1 phải, 5 giảm”, công tác khuyến nông, phòng trừ

dịch bệnh, năng suất lúa hàng vụ luôn tăng dần và ổn định, bình quân từ 50 – 60 tạ/ha, cá biệt có hộ đạt 70 - 80 tạ/ha/vụ và có vùng đã hình thành cánh đồng cao sản đạt năng suất cao Cây công nghiệp chuyển dịch theo hướng tập trung vào các cây trồng chính gắn với chế biến và bao tiêu sản phẩm như: nho, mía, thuốc lá, mì, điều cung cấp nguyên liệu cho nhà máy chế biến của tỉnh

Trang 3

b) Về chăn nuôi:

Cùng với trồng trọt chăn nuôi được xác định là ngành sản xuất chính của đồng bào Chăm, những năm trước đây chăn nuôi heo và nuôi trâu, bò quản canh truyền thống thì những năm gần đây đại bộ phận hộ chăn nuôi theo bán thâm canh

và chăn nuôi trang trại Tổng đàn trâu, bò, dê, cừu của đồng bào Chăm là 20.964 con; gia súc trước đây là giống địa phương, bây giờ đã thực hiện chương trình cải tạo lai Sind hoá đàn bò, dê, cừu; ngoài ra đồng bào Chăm còn biết tận dụng khu vườn chăn nuôi loại gia cầm khác như gà, vịt để tăng thu nhập cho gia đình Tuy nhiên những năm gần đây đàn gia súc nhất là dê, cừu có chiều hướng tăng chậm do việc tiêu thụ gặp khó khăn, giá cả thị trường thấp, ảnh hưởng không nhỏ thu nhập kinh tế gia đình đối với bộ phận người Chăm

c) Về hỗ trợ phát triển rừng: Về hỗ trợ phát triển trồng rừng đã thực hiện

giao khoán bảo vệ rừng với diện tích 14.881 ha, chiếm 25,2% tổng diện tích rừng giao khoán quản, hỗ trợ cho 393 hộ trồng mới 613 ha rừng phòng hộ, tham gia trồng cây phân tán với số lượng 980 ngàn cây, tổng kinh phí thực hiện trên 5.445 triệu đồng, giải quyết lao động có việc làm và tăng thêm nguồn thu cho các hộ gia đình đồng bào Chăm, hạn chế chặt phá rừng, đốt rừng làm nương rẫy

2 Về thương mại dịch vụ:

a) Về phát triển kinh tế HTX: Hầu hết các hợp tác xã hoạt động kinh

doanh có hiệu quả; số lượng xã viên tham gia và nguồn vốn bổ sung hàng năm tăng dần; huyện Ninh Phước có 07 HTX/2.936 xã viên, với vốn hoạt động trên 5 tỷ đồng, gồm: HTX Hữu Đức, HTX Hậu Sanh, HTX Như Bình, HTX Hoài Trung, HTX Bàu Trúc, HTX Phú Nhuận, HTX Tuấn Tú; huyện Thuận Nam, HTX thôn Vụ Bổn, xã Phước Ninh, hoạt động kinh doanh có hiệu quả hàng năm và đã đựơc cấp trên khen thưởng

b) Về phát triển làng nghề: Các ngành nghề truyền thống trong đồng bào

Chăm được khôi phục và phát triển như làng nghề gốm Bàu Trúc được Nhà nước đầu tư hạ tầng 7,526 tỷ đồng, làng nghề dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp 11,903 tỷ đồng, làng nghề dệt thổ cẩm Chung Mỹ 6,084 tỷ đồng Hỗ trợ vốn vay từ 2004 - 2011 bằng Chương trình mục tiêu Quỹ quốc gia đã đầu tư 42 Doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, hộ gia đình tại 3 làng nghề truyền thống, với tổng số vốn vay khoảng 4,55 tỷ đồng, giải quyết việc làm khoảng 2.000 lao động Mở 14 lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại 03 làng nghề cho 420 lao động, với kinh phí trên 696 triệu đồng Ngân sách tỉnh hỗ trợ hơn 37 triệu đồng, phục vụ khai thác nguyên liệu sản xuất gốm Ngoài ra các làng nghề hàng năm được hỗ trợ về kỹ thuật và chuyển giao công nghệ (xây dựng mô hình lò nung gốm Bàu Trúc, kinh phí 70 triệu đồng); xây dựng thương hiệu làng nghề; xây dựng Website; tổ chức xúc tiến thương mại Bằng nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

ưu tiên đầu tư, đến nay cơ sở hạ tầng làng nghề tương đối đồng bộ, giao thông đi lại được thuận tiện, tạo điều kiện cho khách tham quan du lịch làng nghề được thuận lợi, hoạt động kinh doanh sản phẩm làng nghề được nâng lên Môi trường làng nghề được cải thiện, đảm bảo nhu cầu điện, nước cho sinh hoạt Tổ chức các tour du lịch trong và ngoài tỉnh gắn kết với tham quan làng nghề do đó sản phẩm

Trang 4

của làng nghề từng bước được quảng bá, giới thiệu đến du khách trong và ngoài nước, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Ngoài phát triển các làng nghề trên đồng bào Chăm còn phát triển nghề buôn bán thuốc nam, với số lượng lên tới 700 người, hàng năm cho thu nhập tương đối

ổn định

3 Về văn hoá xã hội:

- Văn hóa xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ đáng kể, nhất là trong lĩnh

vực giáo dục, nổi bật là phong trào thi đua 2 tốt "Dạy tốt, học tốt", gần đây cuộc vận động “ Hai không” với “ Bốn nội dung: Nói không với tiêu cực trong thi cử và

bệnh thành tích trong giáo dục, nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo và học sinh ngồi nhầm lớp" được ngành giáo dục triển khai hiệu quả.

- Cơ sở trường lớp được xây dựng khang trang, đến nay hầu hết trường học

từ cấp Mẫu giáo đến THCS các thôn, xã vùng đồng bào Chăm đều được đầu tư xây dựng mới kiên cố, bán kiên cố

- Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 4 trường Phổ thông Dân tộc nội trú (PTDTNT) thuộc các huyện Thuận Bắc, Ninh Sơn, Bác Ái (trường PTDTNT Pi Năng Tắc) và trường PTDTNT Phan Rang Hệ thống các trường này đã tạo điều kiện thuận lợi và thu hút học sinh Chăm theo học Hầu hết các huyện, thành phố đều có Trung tâm giáo dục thường xuyên, các trung tâm giáo dục cộng đồng cũng được xây dựng ở 8/13 xã có đông đồng bào Chăm sinh sống

- Cùng với sự phát triển chung của ngành, công tác Giáo dục và Đào tạo đối với đồng bào Chăm cũng có nhiều chuyển biến đáng kể: 100% các làng Chăm đều

có trường mẫu giáo và trường tiểu học; 100% số xã có trường trung học cơ sở; 100% số xã vùng đồng bào Chăm được công nhận xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học; các huyện có đồng bào Chăm sinh sống đều có trường THPT Riêng huyện Ninh Phước - nơi có đông đồng bào Chăm sinh sống có 03 trường THPT

- Ban biên soạn sách chữ Chăm (nay là Phòng Giáo dục dân tộc thuộc Sở Giáo dục - Đào tạo) ngày càng phát huy vai trò, nhiệm vụ và nâng cao chất lượng

về biên soạn, đào tạo đội ngũ giáo viên dạy học tiếng Chăm Đã biên soạn và xuất bản 18 đầu sách dạy học tiếng Chăm bậc tiểu học đủ phục vụ nhu cầu dạy học tiếng Chăm ở 24 trường dạy chữ Chăm Từ năm 2006 đến nay, Phòng Giáo dục dân tộc - Sở Giáo dục và Đào tạo Ninh Thuận đã kết hợp với Báo Ninh Thuận biên dịch từ tiếng Việt sang tiếng Chăm Bản tin Dân tộc và Miền núi của Thông Tấn Xã Việt Nam để phục vụ nhu cầu đọc cho bà con người Chăm Các loại sách, báo, tạp chí cấp miễn phí cho địa phương vùng Chăm được cung ứng kịp thời theo kỳ, từng bước đáp ứng nhu cầu thông tin cho nhân dân ở vùng Chăm

- Thực hiện Nghị Định số 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ, về việc quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu

số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên, Ngành giáo dục đã chỉ đạo nghiêm túc công tác giảng dạy chữ Chăm ở cấp tiểu học Trong năm học 2011- 2012 tiếp tục được duy trì 100% học sinh Chăm ở 24/24 trường tiểu học vùng đồng bào Chăm được học chữ Chăm Đội ngũ giáo viên dạy chuyên tiếng Chăm ngày một vững vàng hơn về chuyên môn nghiệp vụ Bên cạnh đó tỉnh chỉ

Trang 5

đạo, ngành giáo dục phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình xây dựng và phát hành các chương trình dạy học tiếng Chăm trên truyền hình địa phương

- Thực hiện chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Chương trình đảm bảo chất lượng giáo dục - SEQAP), tỉnh đang triển khai lớp đào tạo, bồi dưỡng tiếng Chăm cho giáo viên người Chăm 2 tỉnh Ninh Thuận (18 học viên) và Bình Thuận (12 học viên) với thời lượng 850 tiết

- Cán bộ công nhân viên chức dân tộc Chăm hiện công tác trong ngành giáo dục hiện có 1.635 người, trong đó sau đại học 07 người, Đại học 608 người, Cao đẳng và Trung cấp 1.020 người

- Về cử tuyển và dự bị đại học: tổng số học sinh được cử tuyển vào đại học, cao đẳng, trung học từ năm 2006-2011 là 147 em, trong đó Đại học 67, Cao đẳng

18, Trung cấp 62

- Tổng số học sinh, sinh viên du học nước ngoài là 21 em (chủ yếu là tự túc

và theo học tại các nước hồi giáo)

- Tổng số học sinh Chăm ở các cấp học năm học 2011-2012 là 21.548 em, trong đó: Mẫu giáo 1156 cháu; Tiểu học 8122 em; Trung học cơ sở 8421 em; Trung học phổ thông 3849 em

Việc thực hiện các chế độ chính sách cho học sinh, sinh viên dân tộc được triển khai đồng bộ như: Cho sinh viên vay vốn ưu đãi, miễn giảm học phí, miễn đóng góp tiền xây dựng, hỗ trợ sách giáo khoa, hỗ trợ giấy vở và chi phí toàn bộ tiền ăn, ở cho học sinh tại các trường nội trú, chương trình hỗ trợ cho học sinh con

hộ nghèo Học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số tốt nghiệp các trường Đại học, Cao đẳng phần lớn được xem xét tuyển dụng bố trí, phân công công tác trong các

cơ quan Đảng, Nhà nước và các đoàn thể các cấp

- Phong trào khuyến học và xây dựng trung tâm học tập cộng đồng phát triển mạnh trong cộng đồng người Chăm; các tộc họ hoạt động mạnh trong phong trào Hội khuyến học, đã hỗ trợ con em học tập đến nơi, đến chốn và thành đạt trong xã hội, tiêu biểu có xã Phước Thái, Phước Hữu (huyện Ninh Phước)

- Văn hóa dân tộc Chăm được Đảng và Nhà nước quan tâm nghiên cứu sưu tầm, khai thác, chọn lọc và nâng cao đáp ứng tinh thần, tình cảm của đồng bào Chăm và làm phong phú kho tàng văn hóa Việt Nam như: khai thác phổ biến nguồn dân ca Chăm, các nhạc cụ cổ truyền, giữ gìn và phát huy các lễ hội như lễ hội KaTê, RaMưVan Đoàn nghệ thuật Dân gian Chăm duy trì hoạt động thường xuyên Chú trọng thực hiện tốt công tác bảo tồn, ngoài việc bảo vệ và phát huy các giá trị truyền thống nêu trên, hàng năm các cấp, các ngành và nhân dân quan tâm duy tu các đền, tháp, chùa như Đền PôNưGa, Đền PôKlongChanh, Tháp PôKLong, PôRôMê (BàLaMôn) và các chùa, thánh đường (Hồi Giáo) phục vụ tốt các lễ hội, tết văn hóa Chăm đã thu hút đông đảo du khách đến tham quan Từ năm 2004

-2011 đã đầu tư trùng tu 03 Tháp với số tiền hơn 25 tỷ đồng

- Thực hiện phong trào " Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ", các

thôn, xóm đồng bào Chăm hình thành các tổ cải tiến tập tục, vận động bà con xóa

bỏ những tập quán lạc hậu tự phát không cần thiết gây lãng phí tiền của, ảnh hưởng đến đời sống, sức khỏe, xây dựng nếp sống mới văn minh lành mạnh 100 % số thôn, khu phố đồng bào Chăm phát động xây dựng văn hóa; có 50 % số thôn khu phố được công nhận thôn - khu phố văn hóa; có 08 nhà Văn hóa Chăm thuộc các

xã - thị trấn của huyện Ninh Phước

Trang 6

- Phong trào văn hóa, thể dục thể thao được phát triển mạnh mẽ, mỗi thôn văn hóa đều có sân bóng đá, bóng chuyền, nhằm giúp nhân dân có một sân chơi bổ ích, trong dịp hè và trong lễ hội

- Quan tâm thực hiện chăm lo tốt các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết, hỗ trợ cứu đói, khám chữa bệnh cấp thuốc miễn phí, cấp phát quà cho các gia đình chính sách, hộ nghèo và đối tượng xã hội tiêu biểu trong đồng bào Chăm nhân các ngày lễ, tết hàng năm Thực hiện tốt công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, từ năm 2004-2011, Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh đã đầu tư cho vay với số tiền dư nợ 146.641 triệu đồng/18.616 hộ vay, trong đó vay hộ nghèo 41.993 triệu đồng/4.445 hộ, vay sinh viên có hoàn cảnh khó khăn 73.411 triệu đồng/8.809 hộ, vay giải quyết việc làm 5.711 triệu đồng/367

hộ, vay xuất khẩu lao động 44 triệu đồng/5 lao động, vay nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn 11.888 triệu đồng/3.658 hộ, vay hộ nghèo về nhà ở 2.440 triệu đồng/305 hộ, vay hộ sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn 9.050 triệu đồng/723

hộ, vay hộ dân tộc đặc biệt khó khăn theo Quyết định 32 số tiền 1.373 triệu đồng/277 hộ, cho vay thương nhân tại vùng khó khăn 731 triệu đồng/27 hộ Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân hộ nghèo theo Quyết định số 102/2009/QĐ – TTg, thực hiện từ năm 2010 – 2011 với kinh phí hơn 1,2 tỷ đồng, hỗ trợ các mặt hàng thiết yếu như giống lúa, bắp, đậu, vật nuôi, đồ dùng sinh hoạt cho hộ nghèo vùng khó khăn

4 Chăm sóc sức khoẻ, giữ gìn vệ sinh môi trường:

- Về tình hình nhân lực y tế và y tế cơ sở: Về nhân lực, tính đến cuối năm

2011, toàn ngành y tế có 2.233 cán bộ, đạt 38,9 cán bộ, công chức, viên chức/10.000 dân Trong đó nguồn nhân lực cán bộ y tế người Chăm có 353 cán bộ (sau đại học 13, Đại học 79, Trung cấp và cán bộ khác 261), chiếm 15,8 % tổng số cán bộ y tế toàn ngành

- Tổng số Trạm y tế xã phường là 65, trong đó có 13 Trạm y tế thuộc vùng đồng bào Chăm Đến năm 2010 có (07/13 ) số xã vùng đồng bào Chăm đạt chuẩn quốc gia (theo chuẩn cũ) Hầu hết các Trạm xá đều được tư nâng cấp xây dựng kiên cố và bán kiên cố Có 06/13 Trạm có Bác sỹ là nguời dân tộc Chăm

- Công tác phòng chống dịch bệnh, trong những năm qua đã khống chế không để dịch lớn xẩy ra; công tác tiêm chủng đầy đủ cho trẻ em dưới 1 tuổi đạt trên 95 % Công tác phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em cũng được thường xuyên quan tâm; công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, tăng cường tổ chức các cuộc thanh tra, kiểm tra theo định kỳ và các đợt thanh tra, kiểm tra liên ngành nhân tháng hành động vệ sinh an toàn thực phẩm, vào dịp tết nguyên đán, tết trung thu, các ngày lễ Hội Ka tê, Ramuwan

- Công tác thực hiện kế hoạch hóa gia đình được đồng bào người Chăm hưởng ứng, có nơi đã phát động làng, xã không sinh con thứ 3, góp phần hạ tỷ lệ tăng dân số tự nhiên toàn tỉnh xuống còn 1,19%

5 Về các Chương trình, dự án đầu tư:

a) Chương trình khuyến nông:

Từ các nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương và tỉnh đã thực hiện chuyển giao cho vùng đồng bào Chăm với kinh phí 2.662,9 triệu đồng chiếm 22,2% tổng kinh phí hỗ trợ thuộc Chương trình khuyến nông Trong đó, chương trình khuyến nông

Trang 7

Quốc gia đã triển khai thực hiện các mô hình khuyến nông, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới về cây trồng vật nuôi đạt kết quả: Mô hình trồng thâm canh nho giống mới NH01-48, với diện tích 31,4 ha, cải tạo giống bò theo hướng chuyên thịt được

440 bò cái có chửa và 11 bò đực giống, cải tạo đàn cừu 1.520 con cái và 11 đực giống, nuôi heo sinh sản theo hướng nạc 81 con giống, chăn nuôi gà thịt an toàn sinh học 6.700 con giống, trồng rừng thâm canh cây trôm với diện tích 81 ha, nuôi

cá chình trong ao và tôm thẻ chân trắng với diện tích 0,98 ha, hỗ trợ mua máy gặt đập liên hợp 6 chiếc và máy cày tay 04 chiếc, với kinh phí thực hiện 1.713 triệu đồng Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo đã hỗ trợ cho các hộ nghèo vùng đồng bào Chăm về giống, vật tư và tập huấn kỹ thuật hướng dẫn cách làm ăn khuyến nông thông qua việc thực hiện các mô hình khuyến nông nhân giống lúa với diện tích 6 ha, kinh phí thực hiện 16,05 triệu đồng Chương trình giống cây trồng vật nuôi đã hỗ trợ giống bông vải trồng với diện tích 31 ha, mô hình luân canh cây trồng cạn với diện tích 5 ha, cải tạo nâng cao chất lượng bò thịt đã hỗ trợ

4 con đực giống cho 4 hộ chăn nuôi và mô hình khảo nghiệm giống cỏ VA 06 với diện tích 0,1 ha, với kinh phí thực hiện 119,225 triệu đồng Nguồn kinh phí sự nghiệp của tỉnh đã thực hiện các mô hình nuôi cá nước ngọt với diện tích 0,48 ha, kinh phí thực hiện 172,5 triệu đồng, mô hình trồng táo theo hướng GAP với diện tích 0,1 ha, kinh phí thực hiện 5,8 triệu đồng Các nguồn kinh phí khác thực hiện vùng đồng bào Chăm từ dự án hỗ trợ khuyến nông thuộc dự án Thủy lợi vừa và nhỏ bao gồm mô hình nhân giống lúa mới với diện tích 5 ha, kinh phí thực hiện 36,845 triệu đồng; mô hình thâm canh lúa với diện tích 5 ha, kinh phí 39,148 triệu đồng; mô hình thâm canh cây bắp lai với diện tích 10 ha, kinh phí thực hiện 146,82 triệu đồng; mô hình trồng cây mãng cầu theo hướng GAP với diện tích 01 ha, kinh phí 73,603 triệu đồng; mô hình ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước với diện tích 2,2 ha, kinh phí 241,7 triệu đồng thuộc dự án khoa học công nghệ; mô hình chuyển giao công nghệ ủ thức ăn thô xanh vỗ béo cừu thịt vào mùa khô với kinh phí thực hiện 660 triệu đồng; mô hình chuyển giao công nghệ sản xuất tảng liếm dùng cho chăn nuôi dê, cừu với kinh phí 819,5 triệu đồng từ nguồn dự án Cạnh tranh Nông nghiệp tỉnh

b) Chương trình nông thôn mới:

Từ nguồn vốn Chương trình xây dựng Nông thôn mới đã hỗ trợ các xã vùng đồng bào Chăm thực hiện công tác quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng và hỗ trợ phát triển sản xuất Đến nay, tại địa bàn huyện Ninh Phước đã hỗ trợ cho xã Phước Thái với kinh phí thực hiện 1.155 triệu đồng, xã Phước Hữu kinh phí thực hiện 330 triệu đồng Huyện Thuận Nam đã hỗ trợ cho xã Phước Nam kinh phí thực hiện 335 triệu đồng, huyện Ninh Hải hỗ trợ cho xã Xuân Hải với kinh phí thực hiện 165 triệu đồng, huyện Ninh Sơn hỗ trợ cho xã Nhơn Sơn với kinh phí thực hiện 1.157 triệu đồng và thành phố Phan Rang - Tháp Chàm hỗ trợ cho xã Thành Hải với kinh phí thực hiện 165 triệu đồng

c) Dự án Cạnh tranh Nông nghiệp tỉnh đã hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng cho các xã đồng bào Chăm: đầu tư, nâng cấp đường giao thông nông thôn như

đường Hiếu Lễ đi Trường Thọ, xã Phước Hậu với kinh phí thực hiện 2.229 triệu đồng; đường Thiện Đức đi Bến Đò, xã Phước Ninh với kinh phí 2.992 triệu đồng; đường điện hạ thế thôn Tuấn Tú, xã An Hải với kinh phí 993 triệu đồng và sân phơi

Trang 8

nông sản cho thôn Vụ Bổn, xã Phước Ninh với kinh phí thực hiện 743 triệu đồng.

Hỗ trợ xây dựng các liên minh (LM) sản xuất để liên kết bao tiêu sản phẩm cho các

hộ dân vùng đồng bào Chăm có: LM rau an toàn Tuấn Tú, xã An Hải với kinh phí thực hiện 9.356 triệu đồng; LM sản xuất giống lúa Nhahoseed-Vụ Bổn, xã Phước Ninh với kinh phí thực hiện 9.093 triệu đồng; LM nuôi dê lai Bachboer xã Phước Hậu với kinh phí thực hiện 9.345 triệu đồng và LM nuôi cừu Huỳnh Thiên xã Xuân Hải với kinh phí thực hiện 8.693 triệu đồng Đang triển khai ra mắt LM sản xuất lúa gạo chất lượng cao Bình Minh, xã Phước Thái với kinh phí theo dự toán 7.721 triệu đồng

d) Chương trình theo Quyết định 134/2004/QĐ-TTg, Quyết định 167/2008/QĐ-TTg và Quyết định 1592/QĐ-TTg: Thực hiện từ năm 2005-2011,

kinh phí 34.818 triệu đồng Hỗ trợ về nhà ở được 1.620 căn/18.561 triệu đồng (Ninh Sơn 46 căn, Ninh Phước 1.073 căn, Thuận Bắc 225 căn, Ninh Hải 258 căn, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm 18 căn); hỗ trợ đất sản xuất cho 41hộ với diện tích 21,7 ha, kinh phí 434 triệu đồng (Thuận Bắc có 37 hộ, diện tích 18,7 ha; thành phố Phan Rang - Tháp Chàm có 04 hộ diện tích 2,5 ha); hỗ trợ đất ở cho 06 hộ, diện tích 0,88 ha (Thuận Bắc 02 hộ, diện tích 0,08 ha và thành phố Phan Rang -Tháp Chàm 04 hộ, diện tích 0,8 ha); nước sinh hoạt tập trung 11 công trình, kinh phí 15.851 triệu đồng, gồm: huyện Ninh Sơn 01 công trình, kinh phí 3.267 triệu đồng/403 hộ thụ hưởng (xã Nhơn Sơn); huyện Ninh phước 06 công trình, kinh phí

là 9.188 triệu đồng, huyện Ninh Hải 01 công trình, kinh phí 500 triệu đồng (xã Xuân Hải); huyện Thuận Bắc 02 công trình, kinh phí 1.705 triệu đồng (xã Bắc Sơn) và Thành Phố Phan Rang - Tháp Chàm 01 công trình, kinh phí 1.191 triệu đồng/273 hộ thụ hưởng Nước sinh hoạt phân tán hỗ trợ cho 693 hộ/406 triệu đồng, trong đó huyện Ninh Phước có 354 hộ/177 triệu đồng (xây bể, tẹc, lu ), huyện Ninh Hải có 339 hộ/229 triệu đồng (kéo đường ống nước vào từng hộ dân)

e) Chương trình MTQG về nước sạch và VSMT nông thôn: Hầu hết các

thôn đồng bào Chăm đều có hệ thống (HT) cung cấp nước sinh hoạt nông thôn, trên 85% các hộ dân được sử dụng nước trong hệ thống Trong giai đoạn 2004

-2011 trên địa bàn vùng đồng bào Chăm từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu Quốc gia đã đầu tư xây dựng đưa vào sử dụng các công trình nước, bao gồm: HT cấp nước Phước Nhơn, với kinh phí thực hiện 3.000 triệu đồng; HT cấp nước An Nhơn với kinh phí 2.257 triệu đồng; HT cấp nước Hậu Sanh - Núi Tháp với kinh phí 2.700 triệu đồng; HT cấp nước Hữu Đức với kinh phí 5.979 triệu đồng; HT cấp nước Hoài Trung-Thái Giao kinh phí 6.650 triệu đồng; mở rộng HT cấp nước Đá Trắng-Như Bình với kinh phí 750 triệu đồng; HT cấp nước Bình Nghĩa kinh phí 16.451 triệu đồng; HT cấp nước Phước Hậu kinh phí 33.811 triệu đồng và mở rộng

HT cấp nước Hoài Trung – Tà Dương với kinh phí 3.000 triệu đồng

g) Về công trình thuỷ lợi: Trên địa bàn huyện Ninh Phước, Thuận Nam và

Ninh Hải đã xây dựng hoàn thành đưa vào sử dụng các công trình: Hồ chứa nước Bầu Ngứ với kinh phí 29.500 triệu đồng, công trình Đập Li Mơn với kinh phí 2.087 triệu đồng, hệ thống kênh cấp I Tân Giang với kinh phí 9.500 triệu đồng, kênh L 18 kinh phí 3.000 triệu đồng, Kênh Nam 2 với kinh phí 5.560 triệu đồng, đường giao thông nông thôn Phú Quí-Phước Hậu-Phước Thái với kinh phí 22.600

Trang 9

triệu đồng, Hồ Bầu Zôn với kinh phí 50.744 triệu đồng, hồ Tà Ranh với kinh phí 36.248 triệu đồng, hồ Phước Nhơn 41.542 triệu đồng và nâng cấp đoạn đầu kênh chính Bắc với kinh phí 63.164 triệu đồng Đang thi công xây dựng hồ chứa nước Lanh Ra với tổng mức đầu tư 210.309 triệu đồng, hồ Sông Biêu 251.182 triệu đồng tại huyện Ninh Phước dự kiến sẽ hoàn thành đưa vào sử dụng cuối năm 2012 và nâng cấp cải tạo đoạn đầu và đoạn cuối kênh chính Nam với kinh phí 90.666 triệu đồng Đang xúc tiến chuẩn bị thủ tục hồ sơ đầu tư xây dựng Tân Giang 2 với kinh phí 190 triệu đồng, dự kiến hoàn thành thủ tục trong năm 2012 để khởi công đến năm 2015 đưa vào sử dụng

Nhìn chung, kết cấu cơ sở hạ tầng nông thôn phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và dân sinh kinh tế vùng đồng bào Chăm được ưu tiên đầu tư, làm tăng thêm năng lực tưới chủ động nước trên 3.500 ha nhờ HT các đập hồ trên, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp, người nông dân được hưởng lợi nhiều hơn và đời sống ngày càng nâng cao

rõ nét

h) Về công trình giao thông: Các tuyến giao thông liên xã, liên thôn trong

vùng đồng bào Chăm (từ năm 2004- 2011) được đầu tư nâng cấp mới với tổng chiều dài 66,36 km, kinh phí thực hiện 59,22 tỷ đồng, trong đó đường giao thông liên xã 22,5 km (rải nhựa 12,1 km, bê tông xi măng 5,3 km, cấp phối 5,1 km) và dự kiến đầu tư trong giai đoạn tới 3,06 km Đường giao thông liên thôn 43,86 km (bê tông xi măng 30,66 km, cấp phối 13,2 km) và dự kiến đầu tư trong giai đoạn tới

9,24 km (Đính kèm biểu số 1).

i) Về công trình điện: Giai đọan từ 2004 - 2011 đã đầu tư 13 công trình

phát triển và cải tạo lưới điện cho vùng đồng bào Chăm, với tổng vốn đầu tư khỏang 20,725 tỷ đồng Đến nay, có trên 98% số hộ dân đã có điện thắp sáng

(Đính kèm biểu số 2).

Ngoài ra trên địa bàn vùng đồng bào Chăm còn có các chương trình, dự án đầu tư khác với kinh phí hàng chục tỷ đồng

6 Về an ninh - trật tự:

Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong vùng đồng bào Chăm được duy trì ổn định Các cấp ủy Đảng, chính quyền không ngừng tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao ý thức cách mạng cho đội ngũ cán bộ và quần chúng nhân dân trong vùng đồng bào Chăm Đảm bảo tự do tín ngưỡng của đồng bào Chăm Chỉ đạo hướng dẫn giúp đỡ thành lập các tổ chức trong tôn giáo người Chăm, tháng 9/2006, thành lập “Hội đồng Sư cả Hồi giáo Bàni tỉnh Ninh Thuận” (tháng 7/2007 Đại hội lần 1, tháng 12/2011 Đại hội lần 2); Tháng 12/2010 thành lập Hội đồng chức sắc Chăm Bàlamôn, tháng 5/2012 Đại hội lần 1; Tháng 01/2011 thành lập Ban đại diện lâm thời cộng đồng Islam tỉnh Ninh Thuận, tháng 5/2012 Đại hội lần 1 Các tổ chức tôn giáo của người Chăm được thành lập đã dần dần đi vào hoạt động ổn định, là cầu nối giữa tôn giáo Chăm với các cấp chính quyền, tạo được sự tin tưởng phấn khởi trong chức sắc tín đồ người Chăm Trên cơ sở vận dụng, thực hiện các chính sách tôn giáo, dân tộc của Đảng, Nhà nước đối với dân tộc Chăm, các cấp, các ngành đã lồng ghép các nội dung tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, đẩy mạnh phong trào

Trang 10

“Toàn dân tham gia bảo vệ An ninh Tổ quốc” Tiếp tục xây dựng và củng cố các

mô hình quần chúng tự quản về ANTT ở cơ sở làm nòng cốt cho phong trào Đặc biệt, đã duy trì và phát triển sáng tạo nhiều hình thức tổ chức tự quản như: Tộc họ không có người vi phạm pháp luật, Làng Chăm bình yên, Ban phong tục gương mẫu…Qua đó, quần chúng nhân dân đã tích cực phát hiện, đấu tranh với các hành

vi vi phạm pháp luật, không để kẻ xấu lôi kéo; tự hoà giải nhiều vụ mâu thuẫn tranh chấp trong nội bộ thôn, xã, dòng tộc Hoạt động của các hình thức tổ chức tự quản và vai trò người có uy tín trong đồng bào Chăm được củng cố, phát huy, đã thực sự là lực lượng xung kích, làm nòng cốt trong phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ và các phong trào cách mạng khác Đồng thời, thông qua các hình thức phát động phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ, đã chú ý đào tạo, bồi dưỡng và nhân rộng các điển hình tiên tiến, tạo nguồn xây dựng củng cố đội ngũ công an xã, công

an thôn, góp phần củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở

7 Công tác quần chúng, xây dựng Đảng và công tác cán bộ:

Công tác quần chúng ở vùng Chăm đã có những tiến bộ đáng kể, góp phần vào việc đẩy mạnh các phong trào cách mạng ở địa phương Các cuộc vận động lớn của Đảng bước đầu thực hiện có kết quả như: Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, vận động đồng bào đẩy mạnh thi đua yêu nước, phát huy truyền thống “Đoàn kết cộng đồng, tương thân, tương ái”, giúp nhau xây dựng gia đình

ấm no, hạnh phúc, bình đẳng cùng tiến bộ

Công tác quy hoạch đào tạo nguồn nhân lực trong đồng bào Chăm được quan tâm Đội ngũ trí thức người Chăm tham gia làm việc ở hầu hết các cấp, các ngành, trong đó tập trung đông nhất ở 2 ngành Giáo dục và Y tế Đến nay, đã có trên 1.500 người Chăm tốt nghiệp đại học, cao đẳng hệ chính quy tập trung Nhiều người tiếp tục học sau đại học, ngoài ra có một số đi du học ở nước ngoài Đảng viên có gần 900 đảng viên là người Chăm Trong số các cán bộ đang làm việc ở các ngành, các cấp hiện nay có 2 người là Uỷ viên Ban Chấp hành Tỉnh uỷ, 2 người là đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, 1 người là đại biểu Quốc hội; đang giữ các vị trí quan trọng ở một số ban, ngành như Trưởng Ban Dân tộc HĐND tỉnh, Trưởng Ban Dân tộc tỉnh, Phó Chủ tịch Mặt trận tỉnh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, Phó Giám đốc Sở Y tế, Hiệu trưởng Trường PTTH dân tộc nội trú tỉnh, Giám đốc Trung tâm Y tế huyện, Phó Bí thư huyện uỷ; Phó Chủ tịch HĐND huyện; nhiều Bí thư, Chủ tịch ở các xã, phường…là người Chăm

Công tác đào tạo cán bộ đồng bào Chăm cũng được Đảng và Nhà nước chú trọng quan tâm Hàng năm tỉnh đều có kế hoạch đưa đi đào tao, bồi dưỡng về Lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước và chuyên môn nghiệp vụ Nhờ đó đa số cán bộ người Chăm có nghiệp vụ chuyên môn, có trình độ Lý luận chính trị đáp

ứng yêu cầu nhiệm vụ của địa phương

IV Kết quả thực hiện mục tiêu theo kế hoạch:

1 Về mục tiêu chung: Thực hiện Chỉ thị 06 của Thủ tướng Chính phủ và

Kế hoạch số 2887/KH-UB ngày 18/10/2004 của UBND tỉnh, bằng nhiều chủ trương và giải pháp thực hiện, tỉnh đã tập trung nhiều nguồn lực để đầu tư cho vùng đồng bào Chăm và đã cơ bản đạt và vượt các mục tiêu chung đề ra

Ngày đăng: 19/04/2022, 20:50

w