1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BC tong ket thi hanh PL ve trong trot du

58 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo Cáo Tổng Kết Thi Hành Pháp Luật Trong Lĩnh Vực Trồng Trọt
Trường học Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn
Chuyên ngành Pháp Luật
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 906,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phổ biến, tuyên truyền, đào tạo tập huấn Các cơ quan nhà nước đã ban hành các văn bản luật, các văn bản hướngdẫn luật đối với công tác quản lý nhà nước về giống cây trồng; Tài liệu giống

Trang 1

BỘ NÔNG NGHIỆP

VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BÁO CÁO Tổng kết thi hành pháp luật trong lĩnh vực trồng trọt

Sau hơn 10 năm thực hiện Pháp lệnh giống cây trồng; 03 năm thực hiệnNghị định về quản lý phân bón và hơn 05 năm thực hiện Nghị định 02/2010 vềkhuyến nông, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đánh giá tình hình và báocáo kết quả thực hiện như sau:

A Pháp Lệnh giống cây trồng

I Xây dựng và ban hành văn bản luật pháp

Sau khi Pháp lệnh giống cây trồng được ban hành Chính phủ đã chỉ đạocác Bộ ngành có liên quan xây dựng và ban hành các văn bản luật pháp nhằmtriển khai thực hiện hiệu quả Pháp lệnh

a) Chính phủ ban hành 02 Nghị định:

+ Ngày 27 tháng 4 năm 2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định

số 57/2005/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống câytrồng Trong quá trình tổ chức thực hiện nghị định phát sinh một số tồn tại, đểtiếp tục hoàn thiện Chính phủ tiếp tục ban hành các nghị định nhằm điều chỉnh

bổ sung một số nội dung chưa hợp lý và còn thiếu như: Nghị định số 172/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2007 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một

số điều của Nghị định số 57/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 4 năm 2005 của Chínhphủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng và Nghị định

số 114/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giốngcây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật;

+ Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09/02/2012 quy định cơ quan được giaothực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành;Nghị định số 47/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 05 năm 2015 về tổ chức và hoạt độngthanh tra ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn

b) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các Bộ ngành có liên quan

đã ban hành 125 thông tư, ngoài ra Bộ Nông nghiệp và PTNT còn ban hành 30quyết định, 113 tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hướng dẫn thực hiện các quyđịnh của nhà nước về giống cây trồng (Phụ lục 01 a Danh mục các văn bản quyphạm pháp luật và Phụ lục 01b danh mục quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêuchuẩn kỹ thuật Quốc gia)

c) Văn bản do địa phương ban hành: từ năm 2004 đến nay UBND cáctỉnh, thành phố đã ban hành và trình Hội đồng nhân dân cùng cấp ban hành cácquyết định và nghị quyết về cơ chế chính sách để tổ chức thực hiện các quy địnhcủa pháp luật về giống cây trồng như: chỉ thị, nghị quyết, quyết định ban hànhchính sách, kế hoạch, chương trình, đề án

Trang 2

d) Cùng với các văn bản theo hệ thống pháp luật về giống cây trồng,nhiều Luật mới hoặc Luật sửa đổi, bổ sung có liên quan tới công tác quản lý nhànước về giống cây trồng cũng đã được ban hành như: Luật đa dạng sinh học,Luật Sở hữu trí tuệ, Luật tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật, Luật chất lượng sảnphẩm hàng hóa, Luật Quảng cáo, Luật Thương Mại, Luật An toàn thực phẩm,Luật Khoa học công nghệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Đất đai, Luật Tàinguyên nước, Luật Thanh tra, Luật Khiếu nại tố cáo, Luật Thi đua khen thưởng,Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Dân sự, Luật Hình sự và để hướng dẫnthực hiện văn bản luật, trong hệ thống các văn bản dưới luật cũng được ban hànhkèm theo Hệ thống các văn bản nêu trên đã tạo thành cơ sở pháp lý phục vụcông tác quản lý nhà nước về giống cây trồng, đáp ứng yêu về tiến bộ khoa học

kỹ thuật, công tác quản lý trong tình hình mới;

đ) Rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật: hàng năm Bộ Nôngnghiệp và các Bộ ngành có liên quan thực hiện nghiêm túc việc rà soát các vănbản pháp luật để đánh giá tính hợp hiến, hợp pháp trong quá trình tổ chức thựchiện nhằm đề xuất việc điều chỉnh kịp thời các nội dung bất hợp lý hoặc chưađầy đủ Số văn bản pháp luật có liên quan được rà soát gồm 21 luật, 7 pháp lệnh,

24 nghị định, trên 200 quyết định, thông tư, thông tư liên tịch và văn bản hợp tácquốc tế như: Nghị định thư, Công ước Quốc tế, có liên quan đến quản lý nhànước về giống cây trồng

II Tổ chức triển khai thực hiện Pháp lệnh giống cây trồng và các văn bản luật pháp có liên quan

1 Phổ biến, tuyên truyền, đào tạo tập huấn

Các cơ quan nhà nước đã ban hành các văn bản luật, các văn bản hướngdẫn luật đối với công tác quản lý nhà nước về giống cây trồng; Tài liệu giốngcây trồng nông nghiệp mới; Bản mô tả giống sản xuất tại Việt Nam cho các loạicây trồng; Giới thiệu một số quy trình, tiến bộ kỹ thuật mới trong lĩnh vực giốngcây trồng; Kết quả nghiên cứu chọn tạo và công nghệ nhân giống; Kết quả khảonghiệm, kiểm nghiệm giống sản phẩm cây trồng; Tài liệu đào tạo người lấy mẫugiống cây trồng; Tài liệu đào tạo người lấy mẫu đất, nước và sản phẩm câytrồng;…những tài liệu này đã góp phần kịp thời cung cấp thông tin hữu ích chongười tham gia các hoạt động có liên quan đến công tác nghiên cứu, sản xuất,kinh doanh giống cây trồng;

Bộ Nông nghiệp và PTNT đã tổ chức nhiều lớp tập huấn cho công chứcthực hiện công tác quản lý nhà nước, lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật, các tổchức, cá nhân có hoạt động liên quan đến giống cây trồng trên địa bàn cả nước;

Hầu hết các Sở Nông nghiệp và PTNT ở các tỉnh thành phố đã tổ chức hộinghị phổ biến Pháp lệnh giống cây trồng và các văn bản QPPL quản lý về giốngcây trồng (có 52/63 Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh, thành phố tổ chức 156 hộinghị tập huấn về Pháp lệnh giống cây trồng với 10.140 lượt cán bộ công chức,viên chức tham gia);

Các địa phương đã tích cực phối hợp với các tổ chức chính trị xã hội, báo,Đài phát thanh và truyền hình, để tuyên truyền, phổ biến các văn bản QPPL về

Trang 3

quản lý chất lượng giống cây trồng đến các cơ sở sản xuất, kinh doanh và ngườitiêu dùng nên đã nâng cao được nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lý và các tổchức cá nhân sản xuất, kinh doanh;

Công tác đào tạo được quan tâm toàn quốc đã đào tạo tính đến năm 2014

về nghiệp vụ chuyên môn chuyên sâu về sản xuất giống 834 lượt người; kiểmđịnh đồng ruộng là 4.370 lượt người; lấy mẫu là 917 lượt người; kiểm nghiệm là1.415 lượt người; chỉ định và cấp mã số cho 787 người lấy mẫu giống cây trồng;

749 người kiểm định giống cây trồng

Đào tạo về kỹ thuật: 141 lớp cho 3.154 học viên là cán bộ của các đơn vịsản xuất, kinh doanh giống; Đào tạo được 42.400 lượt nông dân về sản xuấtgiống, 500 giảng viên nông dân, 170 giảng viên chính;

Đào tạo cho 7 tỉnh tham gia Hợp phần giống cây trồng với hệ thống giốngnông hộ là 1.741 lớp cho trên 43.208 học viên nông dân;

Đào tạo cho các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long thuộc Dự án Bảo tồn, sửdụng và phát triển đa dạng sinh học tại cộng đồng: cho 25 cán bộ kỹ thuật và 26nông dân nòng cốt tại 13 tỉnh có 12 lớp huấn luyện nông dân với tổng số 300người được đào tạo, có 2.269 nông dân tham gia 50 chuyến thăm quan học tập

và hội thảo đầu bờ, được chia sẻ kinh nghiệm sản xuất giống

2 Xây dựng các chương trình, đề án, chính sách

- Thực hiện Quyết định số 225/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

về phê duyệt Chương trình giống cây trồng, giống vật nuôi, giống cây lâmnghiệp giai đoạn 1999-2005 Đến hết năm 2005 đã có 23 dự án do Bộ Nôngnghiệp và PTNT quản lý và 183 dự án về giống cây trồng do các địa phươngquản lý Thủ tướng tiếp tục ban hành Quyết định số 17/2006/QĐ-TTg để thựchiện Quyết định số 225/QĐ-TTg giai đoạn 2006-2010 với 14 dự án phát triểngiống cây trồng bao gồm: giống lúa lai; giống lúa xuất khẩu vùng đồng bằngsông hồng; rau, hoa, cây ăn quả, mía, lạc, đậu tương, chè, cây có củ, giống nấmchất lượng cao;

- Quyết định số 2194/QĐ-TTg ngày 25/12/20009 của Thủ tướng Chínhphủ Phê duyệt đề án phát triển giống nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi và giốngthuỷ sản đến năm 2020 với mục tiêu nâng cao năng lực nghiên cứu chọn tạo,nâng cao năng lực cung ứng giống cây trồng, cây lâm nghiệp theo hướng hiệnđại hóa, công nghiệp hóa; để tăng nhanh năng suất, chất lượng, khả năng cạnhtranh, hiệu quả sản xuất một cách bền vững Trong đó tập trung tăng nhanh tỷ lệ

sử dụng giống tiến bộ kỹ thuật nhằm tạp đột phá về năng suất, chất lượng sảnphẩm Đối với giống xác nhận đạt 70-80%, năng suất cây trồng đạt trên 15% Có80% giống cây lâm nghiệp được công nhận Trong đó 50% giống cây lâmnghiệp từ nhân giống sinh dưỡng cho trồng rừng;

- Chính sách nghiên cứu và phát triển giống cây trồng:

Đã có 220 đề tài nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực được thực hiện Bìnhquân mỗi đề tài được đầu tư 2.620 triệu đồng, thời gian thực hiện 3-5 năm.Trong đó, các đề tài nhóm giống cây lương thực chiếm tỷ trọng cao nhất(21,3%); nhóm giống cây công nghiệp chiếm 18,6%; nhóm giống rau, hoa, quả:

Trang 4

13,6%; còn lại là các lĩnh vực chăn nuôi, lâm nghiệp và một số nghiên cứu cơbản Tuy nhiên, khi so sánh kết quả thực hiện từ chương trình với kết quả chọntạo giống do Chương trình giống quốc gia hay một số đơn vị có sự đầu tư củaHợp phần giống cây trồng trong cùng thời gian thì thấy sự trùng lặp giữa cácgiống được chọn tạo và công nhận Điều này cho thấy công tác chọn tạo giốngcây trồng đã nhận được khá nhiều nguồn lực hỗ trợ khác nhau;

Bộ Nông nghiệp và PTNT giai đoạn từ 2006-2015 đã triển khai 26 đề tài,với kinh phí khoảng 57 tỷ đồng từ nguồn vốn nghiên cứu khoa học cho lĩnh vựcnghiên cứu chọn tạo và công nhận giống cây trồngtrung bình khoảng 4-6 tỷđồng trên năm (chi tiết tại phụ lục 01d Kinh phí thực hiện đề tài NCKH cấp Bộgiai đoạn 2006-2015 lĩnh vực giống cây trồng)

Hàng năm Trung tâm Khuyến nông Quốc gia được cấp kinh phí khoảngtrên 100 tỷ đồng Trong đó kinh phí chi cho lĩnh vực trồng trọt chiếm tỷ lệ caonhất (khoảng 35%) với các mô hình đặc trưng như sản xuất lúa lai, ngô lai, nhâncác giống mới và các mô hình thâm canh sử dụng giống mới, giống cải tiến Từ

đó đã góp phần thúc đẩy ứng dụng giống mới vào sản xuất;

Các địa phương có các chương trình đề án phát triển các loại cây trồngnông nghiệp, cây lâm nghiệp Trong đó có hỗ trợ để ứng dụng các loại giốngcho giống cây trồng cây lâm nghiệp có năng suất chất lượng tốt vào sản xuấtkhoảng 150-180 tỷ đồng/năm

Bên cạnh đó bằng các chương trình hỗ trợ của nhà nước thông quaChương trình 135, 30a, 327, 661, xóa đói giảm nghèo, kế hoạch phát triển rừng,các dự án sản xuất hàng hóa, các Chương trình hợp tác quốc tế hỗ trợ nguồnngân sách tương đối lớn cho sản xuất trong đó tập chung chủ yếu cho nghiêncứu phát triển giống cây trồng và giống cây lâm nghiệp

3 Kết quả tổ chức thực hiện

3.1.Công tác nghiên cứu, chọn tạo, khảo nghiệm chứng nhận chất lượng giống cây trồng mới và bình tuyển công nhận cây mẹ, cây đầu dòng, vườn giống, rừng giống

a) Công tác nghiên cứu chọn tạo giống:

- Phát triển lực lượng cán bộ nghiên cứu khoa học kỹ thuật:

Trong mười năm qua cùng với sự phát triển lực lượng cán bộ làm côngtác nghiên cứu khoa học chung của đất nước thì lực lượng cán bộ nghiên cứukhoa học kỹ thuật chuyên làm công tác nghiên cứu về chuyên ngành về giốngđược nhà nước hết sức quan tâm đào tạo bồi dưỡng phát triển, thông qua cáctrường và các viện nghiên cứu đào tạo: Cán bộ trong lĩnh vực giống cây trồngchủ yếu được đào tạo trong các trường đại học; việc đào tạo chuyên sâu vềngành giống cây trồng chỉ có ở bậc sau đại học Trong hơn mười năm qua đã cókhoảng 18.000 sinh viên đại học và sau đại học được đào tạo chuyên môn liênquan đến lĩnh vực giống cây trồng để phục vụ cho sản xuất

Đào tạo về giống cây trồng tại nước ngoài: Chủ yếu là đào tạo cao học tạicác nước có chuyên ngành giống phát triển như: Ấn Độ, Thái Lan, Philipin… về

Di truyền Chọn tạo giống; Khoa học và Công nghệ hạt giống; Công nghệ sinh

Trang 5

học … do đó đến nay chúng ta đã có một lực lượng cán bộ với trình độ chuyênmôn cao tương đối đông đảo, có nhiều nhà khoa học là chuyên gia đầu ngànhcủa đất nước (riêng viện VAAS đã có 39 giáo sư, 219 tiến sỹ và tiến sỹ khoahọc, 544 thạc sỹ, 1.456 kỹ sư và 1.185 nhân viên kỹ thuật chuyên ngành giống),ngoài ra rất nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường được tiếp nhận vào làmviệc tại các Viện nghiên cứu, các trường, các cơ quan nhà nước và xu hướng gầnđây các tập đoàn tổng công ty để phục vụ cho công tác nghiên cứu chọn tạo củacông ty đã trực tiếp đào tạo và tiếp nhận số lượng lớn cán bộ kỹ thuật cao vềchuyên ngành giống Hiện nay, số cán bộ kỹ thuật này đang làm phổ biến tại cáctập đoàn công ty có liên quan đến lĩnh vực về giống cây trồng.

- Xây dựng phát triển các cơ sở nghiên cứu:

Hệ thống các cơ sở nghiên cứu của Trung ương như các trung tâm, cácviện nghiên cứu được hình thành và phát triển rộng khắp trên địa bàn cả nước,đối với các viện, trung tâm nghiên cứu đầu ngành ở trung ương có Viện Khoahọc nông nghiệp Việt Nam (Viện VAAS) bao gồm 18 Viện và đơn vị thànhviên, ngoài ra còn có các Viện Nuôi trồng thủy sản, Viện cơ điện, Viện Khoahọc Lâm nghiệp Việt Nam,…trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Viện nghiên cứucây Dược liệu, Viện Nghiên cứu cao su, Viện nghiên cứu Mía đường,… thuộccác bộ ngành khác

Đối với các địa phương: hệ thống các trung tâm giống cây trồng thuộc các

sở Nông nghiệp PTNT quản lý những năm gần đây giảm đi do chuyển sang loạihình cổ phần hóa hình thành các doanh nghiệp nghiên cứu sản xuất giống Tuynhiên, ở một số địa phương Trung tâm giống cây trồng hoặc Trung tâm giốngcây trồng vật nuôi hoạt động tương đối có hiệu quả khẳng định được vai trò do

đó vẫn tồn tại, song không nhiều do hoạt động có nhiều khó khăn về lực lượngcán bộ kỹ thuật chuyên ngành có trình độ cao và nguồn kinh phí đầu tư cơ sở vậtchất kỹ thuật phục vụ cho nghiên cứu giống ngày càng hạn hẹp

Đối với các cơ sở nghiên cứu thuộc các doanh nghiệp: những năm gầnđây các doanh nghiệp đã tự xây dựng cho mình những cơ sở nghiên cứu để phục

vụ cho chiến lược sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp như: Viện Mía đường,Viện Nghiên cứu cây thuốc lá, Viện Nghiên cứu cây cao su; các Trung tâm côngnghệ sinh học tạo giống như Trung tâm công nghệ sinh học thuộc Tổng công tyGiống cây trồng trung ương, Trung tâm công nghệ sinh học thuộc Tổng công tymía đường Quảng Ngãi, … là mô hình doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, chọntạo phát triển giống cây trồng mới được xuất hiện trong những năm gần đây;hoạt động của các Viện, của các Trung tâm thuộc doanh nghiệp hoạt động cóhiệu quả cao do các doanh nghiệp đầu tư vốn xây dựng cơ sở vật chất, thuê cácchuyên gia kỹ thuật cao cấp, tập trung nghiên cứu các lĩnh vực cụ thể phục vụcho chiến lược phát triển của doanh nghiệp, các loại hình này được đánh giá làhoạt động có hiệu quả Nhà nước cần có chính sách khuyến khích loại hình cơ

sở nghiên cứu trực thuộc các doanh nghiệp để loại hình này có điều kiện pháttriển mạnh hơn trong thời gian tới

Về đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác nghiên cứukhảo nghiệm đối với các viện thuộc các cơ quan ở trung ương tiếp tục được

Trang 6

quan tâm đầu tư nên có cơ sở vật chất và trang thiết bị tương đối đồng bộ do đócác công trình nghiên cứu về giống được thực hiện và đem lại nhiều kết quảphục vụ cho sản xuất; Hiện nay các Trung tâm, Viện nghiên cứu vẫn là cơ sở trụcột về nghiên cứu chọn tạo giống cây trồng cho sản xuất nông nghiệp của đấtnước Do có nhiều khó khăn nên các trung tâm nghiên cứu chọn tạo giống củacác địa phương ít đi, các trung tâm chuyển sang cổ phần hóa chuyển sang sảnxuất và kinh doanh giống phục vụ cho sản xuất ở địa phương đây là hướng điđúng để tổ chức lại các cơ sở nghiên cứu giống cây trồng cho phù hợp Đối vớicác cơ sở nghiên cứu thuộc các doanh nghiệp là loại hình rất phù hợp với tìnhhình hiện nay Do đó nhà nước cần khuyến khích loại hình này phát triển

- Về tiến bộ kỹ thuật, công nghệ tiên tiến áp dụng vào nghiên cứu chọntạo giống:

Do các thành tựu về khoa học kỹ thuật đối với lĩnh vực giống nói chung

và lĩnh vực giống cây trồng nói riêng trên Thế giới những năm gần đây pháttriển mạnh mẽ nhiều tiến bộ kỹ thuật, công nghệ nghiên cứu và sản xuất giốngtiên tiến được áp dụng vào trong nước như công nghệ phân tử, công nghệ gen,công nghệ khí canh, công nghệ thủy canh, công nghệ nuôi cấy mô,… nhiều cácloại giống cây trồng được nghiên cứu chọn tạo từ các công nghệ tiên tiến nàynhư: ngô biến đổi gen, lúa kháng sâu bệnh, các loại giống hoa, mía, khoai tây,các giống cấy mô và giống lai trong sản xuất lâm nghiệp…

Những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến này đã góp phần quan trọngtrong chọn tạo được những giống có chất lượng tốt, khả năng thích ứng với biếnđổi khí hậu, có khả năng kháng sâu bệnh cao, rút ngắn thời gian nghiên cứu,chọn lọc giống đem lại hiệu quả tốt trong sản xuất nông nghiệp

- Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống: trong mười năm qua do các cơ sởpháp lý của Pháp lệnh, các văn bản luật pháp được xây dựng tương đối đồng bộ

và kịp thời nên đã phục vụ đắc lực cho công tác nghiên cứu chọn tạo từ đó đã cónhiều giống mới được công nhận và đưa vào sản xuất như:

Đến nay, danh mục giống cây trồng được phép sản xuất, kinh doanh tạiViệt Nam hiện có 814 giống cây trồng, bao gồm: có 184 giống lúa (trong đó: có

74 giống lúa lai, 110 giống lúa thuần: 102 giống lúa tẻ; 08 giống lúa nếp); có 69giống ngô (ngô lai: 49 giống; ngô nếp: 15 giống; ngô đường: 5 giống); có 3giống sắn; có 7 giống khoai tây; có 25 giống lạc; có 18 giống đậu tương và cácloại giống cây lâm nghiệp và cây công nghiệp, cây ăn quả: 06 giống chè, 04giống bông, 06 giống thuốc lá, 01 giống cam, 02 giống cao su, 06 giống cà phê,

03 giống nhãn chín muộn, 02 giống vải, 01 giống quýt, 02 giống mía, 01 giốnghồng; 01 giống dừa, 01 giống lê, 01 giống nho và nhiều giống cây công nghiệpcây ăn quả các loại được công nhận cho sản xuất thử

b) Khảo nghiệm, chứng nhận chất lượng giống cây trồng

Theo quy định của Pháp lệnh và các văn bản hướng dẫn, các loại giốngcây trồng được phép sản xuất, kinh doanh phải có tên trong danh mục sau khi đã

đã qua khảo nghiệm và được công nhận Hình thức khảo nghiệm quốc gia và tácgiả tự khảo nghiệm Nội dung khảo nghiệm gồm khảo nghiệm gồm: khảo

Trang 7

nghiệm tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định của giống cây trồng mới

(DUS); khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống cây trồng mới (VCU ) Về trình tự khảo nghiệm giống cây trồng nông nghiệp Bộ giao đầu mối

chủ trì khảo nghiệm là Trung tâm khảo kiểm nghiệm giống và sản phẩm câytrồng quốc gia;

Kết quả thực hiện:

Khảo nghiệm DUS: đã khảo nghiệm 536 lượt giống cây trồng Trong đó:

186 giống lúa thuần, 189 giống lúa lai, 96 giống ngô, 35 giống ngô nếp, 2 giốngngô đường, 16 giống lạc và 12 giống đậu tương;

Xây dựng bộ mẫu chuẩn giống cây trồng: đã thu thập, xây dựng được 743

bộ Trong đó: có 180 bộ giống lúa, 50 bộ giống lạc, 60 bộ giống đậu tương, 146

bộ giống mía, 70 bộ giống hoa cúc, 50 bộ giống ngô tẻ, 30 bộ giống cà chua, 35

bộ giống ớt, 47 bộ giống dưa hấu, 15 bộ giống cải bắp, 15 bộ giống dưa chuột,

30 bộ giống đậu đũa và 15 bộ giống su hào;

Khảo nghiệm VCU: đã khảo nghiệm 6.252 lượt giống cây trồng Trongđó: lúa thuần 2.393 giống, lúa lai 1.716 giống, ngô lai 1.376 giống, ngô nếp ngôđường 466 giống, lạc 93 giống và đậu tương 91 giống;

Hệ thống khảo nghiệm đã được thành lập và đi vào hoạt động ổn định với

38 điểm (gồm các trạm trại của Trung tâm trong các vùng sinh thái đại diện

của cả nước và mạng lưới các tỉnh); Đối với các loại cây trồng không phải cây

trồng chính thì tác giả, cơ quan tác giả có thể tự khảo nghiệm; Quá trình khảonghiệm các giống cây trồng phải được kiểm tra đánh giá của Cục Trồng trọt và

có sự phối hợp theo dõi, nhận xét của Sở Nông nghiệp và PTNT các địa phươngnơi tiến hành khảo nghiệm hoặc sản xuất thử;

Đến nay đã chỉ định được 9 đơn vị tiến hành triển khai các thí nghiệmkhảo nghiệm DUS trên toàn quốc, cán bộ làm công tác khảo nghiệm đều đượcđào tạo và đào tạo lại ở trong và ngoài nước để đáp ứng được yêu cầu về nănglực, trình độ chuyên môn;

Chỉ định được 25 Phòng thử nghiệm (PTN) về giống cây trồng nông

nghiệp, trong đó có 13 PTN được chỉ định theo Thông tư số BNNPTNT và 12 PTN được chỉ định theo Thông tư số 16/2011/TT-BNNPTNT;

32/2010/TT-Chỉ định được 19 tổ chức chứng nhận hợp quy giống cây trồng Trong đó

có 15 tổ chức chứng nhận được chỉ định theo quy định tại Thông tư số 32/2010/TT-BNNPTNT và 04 tổ chức chứng nhận được chỉ định theo quy định tại Thông

tư số 55/2012/TT-BNNPTNT

Kết quả đã chứng nhận hợp quy giống cây trồng được 7.543 lô giống

(tương đương với 120.317,934 tấn giống) của 5 loài cây trồng (giống lúa, ngô, lạc, đậu tương, khoai tây) thuộc danh mục sản phẩm hàng hóa nhóm 2.

c) Bình tuyển công nhận cây mẹ, cây đầu dòng

Đối với cây công nghiệp, cây ăn quả: việc công nhận, bình tuyển cây đầudòng, vườn cây đầu dòng theo báo cáo chưa đầy đủ từ Sở Nông nghiệp vàPTNT các tỉnh thành phố đến nay đã công nhận được 30.000 m2 vườn đầu dòngcây cao su, 165.000 m2 vườn đầu dòng chè; 53.000 m2 vườn đầu dòng ca cao và

Trang 8

một số cây đầu dòng cây ăn quả: bưởi, nhãn, na, cam (Tuy nhiên, theo đánh giácủa các chuyên gia trong thực tế diện tích cây mẹ và cây đầu dòng ở các địaphương lớn hơn nhiều so với số liệu các tỉnh báo cáo).

3.2 Bảo hộ giống cây trồngvà Bảo tồn nguồn gen

a) Bảo hộ giống cây trồng

Công tác bảo hộ giống cây trồng sớm được thực hiện ngay sau khi Pháplệnh ra đời có ý nghĩa rất quan trọng Đặc biệt sau khi Việt Nam cam kết khi gia

nhập Tổ chức quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới (UPOV) Từ năm 2005 đến

nay, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã nhận 511 đơn đăng ký bảo hộ giống câytrồng, (có 115 đơn của nước ngoài cho 256 giống lúa) Đã cấp được 232 bằngbảo hộ gồm 47 giống cây trồng Trong đó: có 39 giống lúa, 4 giống ngô, 1 giốngđậu tương, 1 giống lạc, 1 giống thanh long, 1 giống khoai tây thuộc 107 loàitrong danh mục được bảo hộ để đến 12/2016 Việt Nam sẽ công bố bảo hộ chotất cả các loài cây trồng Đến nay đã có 30 giống được bảo hộ thực hiện chuyểnnhượng bản quyền sản xuất kinh doanh

Việc chuyển nhượng bản quyền sản xuất tạo niềm tin trong việc liên kếtgiữa nghiên cứu khoa học với doanh nghiệp nhằm chuyển giao nhanh kết quảnghiên cứu khoa học ứng dụng vào sản xuất, đảm bảo quyền lợi hợp pháp vàchính đáng cho tác giả giống;

Về vi phạm quyền tác giả đối với giống cây trồng chỉ có 01 trường hợp

(Công ty giống cây trồng Quảng Bình có vi phạm bản quyền giống lúa PC 6 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh) đã được các cơ quan chức năng kịp thời giải quyết.

b) Bảo tồn nguồn gen:

Việt Nam là đất nước có nhiều vùng sinh thái khác nhau từ đó nguồn gen

ở các vùng sinh thái rất đa dạng và phong phú Việt Nam có 13.766 loài thựcvật Trong đó: có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 11.373 loài thực vật bậc cao.Nguồn gen cây trồng hiện đang sử dụng trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp

và y tế có xuất xứ từ các nhóm loài cây trồng khác nhau: cây dược liệu, câylương thực, cây ăn quả, cây rau, cây gia vị, cây lấy sợi, cây làm thức ăn gia súc,cây lấy dầu, cây cải tạo đất… cây lấy gỗ để phục vụ công tác chọn lọc, lai tạogiống có phẩm chất tốt, do đó công tác quản lý và bảo tồn nguồn gen là rất quantrọng Theo Pháp lệnh giống cây trồng quy định công tác bảo tồn nguồn gen tậptrung vào việc bảo tồn các nguồn gen thực vật để phục vụ mục tiêu nâng caochất lượng sản phẩm, khả năng thích ứng, bảo vệ tính đa dạng sinh học

Cho đến nay hệ thống mạng lưới bảo tồn nguồn gen thực vật nông nghiệpthuộc Bộ Nông nghiệp có 23 đơn vị tham gia với cơ quan đầu mối là Trung tâmTài nguyên thực vật, Hệ thống bảo tồn nguồn gen cây lâm nghiệp có 5 khu bảotồn thiên nhiên, một số rừng đặc dụng, một số vườn cây thuốc; Bộ Y tế có 12đơn vị tham gia, cơ quan đầu mối là Viện Dược liệu; Bộ Quốc phòng có 3 đơn

vị tham gia, Viện Y học cổ truyền quân đội là đầu mối

Kết quả điều tra, thu thập nguồn gen cây trồng trong hơn mười năm: câytrồng nông nghiệp khoảng 9.000 nguồn gen; cây lâm nghiệp 60 loài; cây dượcliệu khoảng 4.470 loài; Vi sinh vật khoảng 2.800 chủng; tài nguyên di truyền

Trang 9

được bảo tồn, lưu giữ dưới hai hình thức: bảo tồn, lưu giữ tại chỗ (in-situ

convervation) và bảo tồn, lưu giữ chuyển chỗ (ex-situ convervation); Kết quả

bảo tồn, lưu giữ nguồn gen sinh vật: nguồn gen cây trồng nông nghiệp (tại chỗ:

30 nhiệm vụ; chuyển chỗ: 28.028 nguồn gen), nguồn gen cây lâm nghiệp (tạichỗ: 164 vườn; chuyển chỗ: 2.000 giống), nguồn gen cây thuốc (tại chỗ: 100loài; chuyển chỗ: 2.998 loài), nguồn gen vi sinh vật (chuyển chỗ: 21.270 chủng)

Mặc dù công tác bảo tồn nguồn gen cây trồng mới thực hiện được khoảng

10 năm trở lại đây, nhưng đã đạt được những kết quả tích cực nhằm quản lý vàbảo tồn tốt nguồn gen qúy hiếm để phục vụ cho công tác chọn lọc, lai tạo củađất nước

3.3 Sản xuất, kinh doanh

Hàng năm nhu cầu về giống lúa khoảng 350-400 ngàn tấn và khoảng

28-30 ngàn tấn ngô cho sản xuất gần 7 triệu ha lúa và 1,4 triệu ha ngô Hiện nay,lượng giống lúa cơ bản đã chủ động sản xuất ở trong nước trên 80%, số còn lạinhập từ nước ngoài (chủ yếu là giống lúa lai từ Trung Quốc, Ấn Độ) Đối vớigiống ngô sản xuất tại trong nước mới đáp ứng được 40% còn chủ yếu là do cáccông ty đa Quốc gia của Thái Lan, Mỹ, Ấn Độ sản xuất nhập vào trong nước.Các loại giống cây trồng khác như cây công nghiệp cây ăn quả cây lâm nghiệpchủ yếu là sản xuất trong nước Các loại giống rau, hoa sản xuất ở trong nướcchủ yếu là do người dân để giống theo phương pháp truyền thống, gần đây sốlượng giống nhập nội có chủng loại phong phú, chất lượng tốt được nhập vàosản xuất ngày càng nhiều để đáp ứng nhu cầu, thị hiếu ngày càng cao của ngườitiêu dùng trong nước

Hệ thống sản xuất, kinh doanh, phân phối bao gồm các doanh nghiệp, cáctrung tâm, các đại lý, các hộ được hình thành rộng khắp trên địa bàn cả nước

Theo quy định của Pháp lệnh và các văn bản hướng dẫn quy định tổ chức,

cá nhân sản xuất kinh doanh giống cây trồng chính với mục đích thương mạiphải đáp ứng được các yêu cầu: có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; có địađiểm sản xuất phù hợp; cơ sở vật chất và trang thiết bị; có nhân viên kỹ thuật vànhân viên kiểm nghiệm

Thực hiện các quy định trên hơn mười năm qua đã có 115 tổ chức thamgia Hiệp hội Thương mại giống cây trồng trực tiếp tham gia sản xuất, kinhdoanh giống cây trồng Đối với các doanh nghiệp của nhà nước ở Trung ương cóCông ty giống cây trồng trung ương các Công ty giống cây lâm nghiệp thuộcTổng công ty Lâm nghiệp, ở địa phương có các công ty vật tư nông nghiệp thựchiện chức năng kinh doanh giống cây trồng, nhiều địa phương có công ty giốngcây trồng thực hiện chủ trương cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, hiện tất

cả các công ty này đã chuyển cổ phần hóa Những năm gần đây, thực hiện mởcửa và hội nhập được đẩy mạnh nên có rất nhiều các công ty giống cây trồngcủa nước ngoài tham gia và sản xuất kinh doanh giống tại Việt Nam trong đó cónhiều tập đoàn lớn Sự đóng góp của hàng nghìn doanh nghiệp và hàng vạn cácđiểm đại lý tạo thành mạng lưới rộng khắp trong cả nước đáp ứng yêu cầu vềgiống tốt cho sản xuất và góp phần quan trọng vào nâng cao năng suất, chấtlượng và hiệu quả trong sản xuất Tuy nhiên, với quy định quản lý nêu trên cũng

Trang 10

gây ra những khó khăn cho công tác quản lý Đặc biệt theo quy định của Pháplệnh đối với các hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh giống cây trồng chính

mà không thuộc diện đăng ký kinh doanh thì không phải thực hiện các điều kiện

đã nêu trên Quy định này là không hợp lý và tạo kẽ hở cho việc kinh doanh phipháp tồn tại vì bất kể tổ chức, cá nhân nào (trong đó có các hộ) thực hiện việckinh doanh giống cây trồng thì phải được cấp phép theo quy định của nhà nước

3.4 Quản lý chất lượng giống cây trồng

Hơn mười năm thực hiện pháp lệnh đã xây dựng và ban hành được 113

TCVN và QCVN (có 76 QCVN, 37 TCVN; Chi tiết tại phụ lục 01b) quy định về

lĩnh vực giống cây trồng gồm: về chất lượng giống cây trồng; về khảo nghiệmDUS, VCU; về phương pháp kiểm nghiệm, kiểm định giống cây trồng, phươngpháp kiểm tra tính đúng giống và độ thuần của lô hạt giống; về sản xuất giống;

tiêu chuẩn cây đầu dòng; về vườn ươm, bầu ươm giống cây ăn quả.

HệthốngkiểmsoátchấtlượnggiốngcâytrồngởViệtNambaogồm

hệthốngcácđơnvị kiểmđịnh,cácphòngkiểmnghiệmvàcấpchứngnhận cho các lô

giống(trướckhiđưavàolưuthông)và lực lượng quảnlýchuyênngành,

quảnlýthịtrường(quảnlýgiống đang lưuthôngtrênthị trường).Hệ

đượcđàotạonhưngnhìnchungthìnăng lựcvề thiết bịkiểm nghiệmcòn thiếu

Cáctổ chức được chỉ định chứng nhận chất lượng giống cây trồngở các tỉnhmiền Bắc có số lượng nhiều hơn các tỉnh miền Trung và miền Nam do đó có thểđánh giá công tácquản lý chất lượng giốngở miền Bắc tốt hơn các nơi khác Mặtkhác, việc quản lý chất lượng giống nhất làởđồng bằng Sông Cửu Long nơi cónhu cầu hạt giống lúa hàng nămrất lớn do tập quán tự để giống của người dânnên lượng giống này rất khó kiểm soát chất lượng khi đưa vào sản xuất

vềsảnxuất,kinhdoanhgiốngcâytrồngchínhtrướckhiđưavàolưuthôngphảiquakiểmtravàchứngnhậnchất lượng.BộNôngnghiệp và PTNT đã có quy định cụ thể tạiThông tư số 79/2011/TT-BNNPTNT quy định về chứng nhận và công bố chất

lượng giống cây trồng phù hợp quy chuẩn kỹ thuật (nay được thay thế bằng

Thông tư số 46/2015/TT-BNNPTNT) Trong đó sản xuất giống lúa siêu nguyên

chủng bắt buộc phải qua kiểm định đồng ruộng, kiểm nghiệm và chứng nhận chấtlượng và sản xuất lúa lai phải được hậu kiểmbởiTTKKNG, SPCT QG Công tácnày được Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng Quốc giathực hiện tượng đối tốt Đối với các tổ chức chứng nhận được chỉ định thì sốlượng giống quakiểm định,kiểmnghiệm trước khi đưa vào sản xuất rất thấpsovớitổng lượnggiống thực tế được sử dụng trongsản xuất.Mộtphầngiốnglúasiêunguyên chủng,hầuhếtgiốngngôlai,lúalaiđượcquakiểmnghiệmtạicácphòng kiểm nghiệm, tổ chức chứng nhận chất lượng được chỉ định thì

Trang 11

lượng giống được cung cấp cho sản xuất đảm bảo chất lượng,cònlạicácgiốnglúacấpnguyênchủng,xácnhận phần lớndocácđơnvịtựkiểmtravàchứng nhậnchấtlượng thực hiện thì khó kiểm soát về chất lượng giống khi đưa ra sản xuất.

Về kiểm định: được thực hiện do Trung tâm Khảo nghiệm giống, sảnphẩm cây trồngQuốc gia, các tổ chức chứng nhận chất lượng giống cây trồng,các công ty giống cây trồng được thực hiện đảm bảo quy trình Theo báo cáocủa Trung tâm khảo khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồngQuốc gia mỗinăm kiểm định được khoảng từ 6.000-9.000 dòng G2, tương đương lượng lúagiống cấp siêu nguyên chủng từ 750-1.200 tấn giống, lượng giống qua kiểm soátchất lượng bởi cơ quan kiểm định chỉ chiếm 35- 40% tổng lượng giống lúa đãsản xuất của các đơn vị sản xuất, kinh doanh giống cây trồng

Về kiểm soát chất lượng hạt giống lúa lai mỗi năm từ 2.500-3.000 ha,tương đương lượng giống 5.500 - 6.000 tấn giống Tổng số mẫu hạt giống kiểmnghiệm bình quân mỗi năm khoảng 1.800 mẫu

Về chứng nhận chất lượng từ năm 2012-2014 chứng nhận chất lượng7.557 lô giống, tương đương 106.718 tấn giống, bao gồm các cấp giống SNC,

NC, Xác nhận 1 và hạt hạt lai F1

3.5 Thanh tra, kiểm tra

Nhằm tăng cường công tác thanh kiểm tra về giống cây trồng, hàng nămcác cơ quan ở Trung ương và Địa phương đã thành lập nhiều đoàn thanh tra,kiểm tra về việc triển khai thực thi các văn bản quy phạm pháp luật như phổbiến tuyên truyền Pháp lệnh, bố trí lực lượng thực hiện công tác quản lý nhànước về giống ở các cấp, đối với giống cây trồng trên địa bàn cả nước, sản xuấtkinh doanh giống cây trồng

Kết quả toàn quốc đã tổ chức 156 hội nghị phổ biến Pháp lệnh giống câytrồng và các văn bản QPPL; tại các tỉnh có 92,1% Sở Nông nghiệp và PTNT các

tỉnh, thành phố phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng (Báo, Đài phát

thanh và truyền hình, các tổ chức chính trị xã hội để tuyên truyền) phổ biến các

văn bản QPPL, 100% Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh, thành phố bố trí cán

bộ làm công tác theo dõi, quản lý công tác giống cây trồng; đối với các huyện,thị, có những huyện không phân công cán bộ làm công tác này; 100% số tỉnh đãtriển khai thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy địnhpháp luật trong sản xuất, kinh doanh giống cây trồng đối với các tổ chức, cánhân sản xuất, kinh doanh giống cây trồng trên địa bàn từ 1 đến 2 lần/1 năm đãphát hiện và xử lý hàng ngàn vụ vi phạm hành chính xử phạt hàng tỷ đồng củanhiều tổ chức cá nhân sản xuất kinh doanh giống

Về giải quyết tranh chấp: nhìn chung việc tranh chấp bản quyền tác giả vềgiống ít xảy ra (có 01 vụ đã được giải quyết kịp thời không phải đưa ra tòa ántheo quy định của pháp luật)

4 Đánh giá chung:

4.1.Về ưu điểm của Pháp lệnh:

- Phù hợp với hiến pháp và luật pháp tại thời điểm ban hành

Trang 12

Trước thời điểm Pháp lệnh được ban hành chưa có văn bản nào của nhànước có tính pháp lý cao như Pháp lệnh quy định về lĩnh vực giống cây trồng do

đó Pháp lệnh giống cây trồng và các văn bản pháp luật hướng dẫn là những cơ

sở pháp lý cao nhất và quan trọng nhất được ban hành nhằm thực hiện hiến pháp

và luật pháp hiện hành để phát triển và quản lý nhà nước về lĩnh vực giống câytrồng, từ đó tạo điều kiện để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển

- Pháp lệnh ra đời vào thời điểm đất nước ta đẩy mạnh công cuộc đổi mới

và hội nhập

Hơn 10 năm qua Việt Nam tham gia hàng loạt các Công ước, Hiệp địnhQuốc tế như Công ước Quốc tế về bảo hộ giống cây trồng (UPOV), Công ướccủa liên hợp quốc về mua bán hàng hóa Quốc tế (CISG), Công ướcQuốc tế buônbán các loại động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES), Công ước Đa dạng sinhhọc (CBD); Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Hiệp định Thương mại Tự do(FTA), Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định Đối tác Thươngmại xuyên Thái Bình Dương (TPP) …trong Pháp lệnh đã quy định “trường hợpđiều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập quy định những vấn đềPháp lệnh chưa điều chỉnh thì thực hiện theo các Điều ước Quốc tế đó” nênPháp lệnh ra đời đã kịp thời phục vụ cho công cuộc hội nhập của đất nước

Pháp lệnh đã đề cập tương đối đầy đủ các nội dung liên quan đến lĩnhvực giống cây trồng như quản lý và bảo tồn nguồn gen cây trồng; nghiên cứu,chọn, tạo, khảo nghiệm, công nhận giống cây trồng mới và bình tuyển, côngnhận cây mẹ, cây đầu dòng, vườn giống cây lâm nghiệp, rừng giống; bảo hộgiống cây trồng mới; sản xuất, kinh doanh giống cây trồng; quản lý chất lượnggiống cây trồng; thanh tra và giải quyết tranh chấp Những nội dung trên là cơ

sở quan trọng để Chính phủ và các Bộ ngành có liên quan ban hành các văn bảnhướng dẫn cụ thể Thực tế sau hơn mười năm thực hiện các nội dung của Pháplệnh và các văn bản luật pháp hướng dẫn Pháp lệnh đã thực sự đi vào cuộc sống,

từ đó thúc đẩy sự phát triển, quản lý nhà nước về lĩnh vực giống được thuận lợi

đã kịp thời tiếp thu, bổ sung để phù hợp với sự phát triển của khoa học côngnghệ hiện nay, như: cây trồng tích hợp gen, bảo hộ về giống mới, quản lý và bảotồn nguồn gen, các quy định nghiên cứu, chọn, tạo, khảo nghiệm, công nhậngiống cây trồng mới và bình tuyển, công nhận cây mẹ, cây đầu dòng, vườngiống cây lâm nghiệp, rừng giống; quản lý chất lượng giống cây trồng, nhữngnội dung quy định về sản xuất kinh doanh, thanh tra và giải quyết tranh chấp, …

từ những quy định cụ thể trên đã tạo điều kiện để các tiến bộ kỹ thuật về giốngđược đẩy mạnh đưa vào sản xuất và phục vụ cho công tác quản lý nhà nước vềgiống cây trồng có hiệu quả

Về cải cách hành chính

Trang 13

Pháp lệnh và các văn bản hướng dẫn đã quy định tương đối và đầy đủ vềtrách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước các cấp, các tổ chức cá nhântham gia vào hoạt động trong lĩnh vực giống cây trồng nên tạo điều kiện cho quátrình thực hiện các quy định, và quản lý kiểm tra, xử phạt các hành vi, vi phạm.Một số thủ tục hành chính đã được nghiên cứu rút gọn để tạo điều kiện thuận lợicho hoạt động sản xuất kinh doanh của các tổ chức cá nhân.

4.2 Tác động của Pháp lệnh đối với thực tiễn sản xuất

Sự tác động của Pháp lệnh với sản xuất nông nghiệp

Hơn mười năm qua kể từ khi Pháp lệnh Giống cây trồng ra đời, sản xuấttrồng trọt của cả nước cơ bản có bước tiến vượt bậc đưa giá trị xuất khẩu nhữngsản phẩm chủ yếu lĩnh vực trồng trọt lên Trong tổng số 30,13 tỷ USD giá trịxuất khẩu của ngành nông nghiệp thì ngành trồng trọt là 13,949 tỷ USD chiếm44,85% tỷ trọng của toàn ngành; trong 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của toànngành, thì có 7 mặt hàng từ lĩnh vực trồng trọt đó là lúa, cà phê, điều, rau quả,cao su, sắn và hồ tiêu

Một số loại cây lương thực: đối với lúa sản lượng (năm 2004 là 36.148ngàn tấn, năm 2010 là 39.989 ngàn tấn, năm 2014 là 44.975 ngàn tấn và năm

2015 ước đạt 45.215 ngàn tấn), giá trị xuất khẩu năm 2015 là 2.851 triệu USD;sắn sản lượng (năm 2004 là 1.512.574 ngàn tấn, năm 2010 là 4.607 ngàn tấn,năm 2014 là 5.194 ngàn tấn và năm 2015 ước đạt 5.281 ngàn tấn), giá trị xuấtkhẩu năm 2015 là 1.308 triệu USD;

Một số loại cây công nghiệp như: đối với cà phê sản lượng (năm 2010 là1.106 ngàn tấn, năm 2014 là 1.396 ngàn tấn và năm 2015 ước đạt 1.445 ngàntấn), giá trị xuất khẩu năm 2015 là 2.559 triệu USD; cao su sản lượng năm 2014đạt 954.triệu tấn, năm 2015 ước đạt 1.017 ngàn tấn, giá trị xuất khẩu năm 2015

là 1.524 triệu USD

Các loại cây ăn quả: diện tích tang không nhiều tuy nhiên với chủngloại nhiều, nhiều giống rau hoa được chọn lọc, nghiên cứu, nhập nội với cácchủng loại phong phú, chất lượng được nâng lên Đối với điều sản lượng hạtkhô năm 2014 đạt 344,9 ngàn tấn và năm 2015 sản lượng ước đạt 345 ngàntấn, giá trị xuất khẩu năm 2015 là 2.397 triệu USD; tiêu sản lượng năm 2014

là 147,4 ngàn tấn và năm 2015 sản lượng ước đạt 168,8 ngàn tấn, giá trị xuấtkhẩu năm 2015 là 1.261 triệu USD; giá trị xuất khẩu năm 2015 đối với rauquả là 1.838 triệu USD

Bên cạnh đó các loại cây trồng khác như rau, hoa, chè, nấm… cũng cónhững bước phát triển nhanh chóng về năng suất và sản lượng góp phần quantrọng vào phát triển chung của toàn ngành Ngoài các yếu tố về cơ chế, chínhsách trong Pháp lệnh cũng đã khuyến khích người sản xuất và các quy định về

kỹ thuật cũng góp phần tác động tích cực đến công tác giống nhằm nâng caonăng suất, chất lượng, sản phẩm cây trồng đã được khẳng định qua việc nghiêncứu và chọn lọc thành công rất nhiều các loại giống tốt đưa vào sản xuất tăngmạnh hơn so với trước đây

Trang 14

Do đó có thể khẳng định Pháp lệnh Giống cây trồng và các văn bản luậtpháp hướng dẫn đã có vai trò to lớn tác động đối với sản xuất trồng trọt trênphạm vi cả nước, đưa nước ta trở thành một trong những cường quốc xuất khẩucác loại nông sản như lúa gạo, cà phê, cao su, … xuất khẩu nông sản là ngànhduy nhất xuất siêu trong nhiều năm qua mang lại nguồn thu ngoại tệ và giá trị tolớn cho sản xuất nông nghiệp của đất nước.

5 Những tồn tại, bất cập của Pháp lệnh

5.1.Tồn tại lớn nhất của Pháp lệnh hiện nay là các qui định về công tác quản

lý chất lượng giống cây trồng chưa đáp ứng được yêu cầu, cụ thể như sau

a) Về quản lý chất lượng giống cây trồng

Theo quy định của Pháp lệnh thì chỉ có giống cây trồng chính mới đượcquản lý chặt chẽ (lúa, ngô, lạc và đậu tương) Tuy nhiên, danh mục giống cây trồngchính không được bổ sung và loại bỏ thường xuyên Nên không phù hợp với sựphát triển nông nghiệp của đất nước Bên cạnh đó công tác quản lý các loại giống

từ khâu sản xuất đến kinh doanh bị buông lỏng do đó trong thời gian qua có rấtnhiều loại giống được đưa vào sản xuất nhưng không kiểm soát được chất lượngđặc biệt là các loại giống cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lâm nghiệp Đây lànguyên nhân chính làm cho chất lượng giống đưa và sản xuất không đạt yêu cầu,rất nhiều giống kém chất lượng từ đó nông sản hàng hóa sản xuất ra không đảmbảo về năng suất, chất lượng so với yêu cầu

b) Về thủ tục công nhận giống cây trồng mới:

Việc quản lý giống theo danh mục loài cây trồng chính hiện nay có 4 loàicây đó là lúa, ngô, đậu, lạc Những loại cây trồng này phải tuân thủ các qui trình vềkhảo nghiệm, công nhận rồi mới đưa vào sản xuất kinh doanh Còn đối với các loạicây trồng không nằm trong danh mục này thì chỉ cần đưa vào danh sách là đượcsản xuất kinh doanh Từ việc quản lý theo danh mục cây trồng chính hiện nay sẽđẫn đến tình trạng:

Thứ nhất: Hiện ở Việt Nam có hàng trăm loại cây trồng ở các vùng sinh thái

khác nhau nếu chỉ quản lý 4 loại cây trồng chính theo danh mục, thì hầu hết cácloại cây trồng không được quản lý dẫn đến tình trạng buông lỏng về chất lượng củahầu hết các loại cây trồng Mặt khác qui định về danh mục cây trồng chính hiệnnay là không chính xác vì cây đậu, lạc là những loại cây trồng có hiệu quả đối vớisản xuất không lớn trong khi đó rất nhiều loại cây trồng có diện tích, khối lượngsản phẩm hàng hóa lớn, tác động đến số đông của người sản xuất (như cây cao su,cafe, hồ tiêu, một số loại cây ăn quả, ), mang lại giá trị xuất khẩu cao thì lại khôngđược coi là cây trồng chính để quản lý chặt chẽ nhất là về chất lượng giống

Thứ hai: Đối với việc khảo nghiệm để công nhận giống cây trồng mới đưa

vào sản xuất thì qui trình rất phức tạp dẫn đến thời gian để công nhận giống mới rấtlâu (cây ngắn ngày khoảng 3 năm đến 3,5 năm, cây dài ngày trên 10 năm) do đócác giống mới có chất lượng tốt không nhanh chóng đưa được vào sản xuất Bêncạnh đó các chỉ tiêu xác định về năng xuất cây dài ngày không chính xác (ví dụ:Lấy năng xuất mủ cao su, cây ăn quả 2 năm đầu khai thác để làm cơ sở xác địnhnăng xuất của cây trồng đó là không chính xác)

Trang 15

c) Các chỉ tiêu đánh giá về chất lượng giống

Đối với cây ngắn ngày chủ yếu tập trung công nhận cho giống cây lươngthực (hiện đã công nhận 184 giống lúa và trên 69 giống ngô) Tuy nhiên, việc côngnhận giống mới chỉ tập trung vào chỉ tiêu năng suất (tăng năng suất trên 10% làđược chấp nhận) còn các chỉ tiêu đánh giá về chất lượng khác chưa có tiêu chuẩn

cụ thể nên dẫn đến tình trạng nhiều giống được công nhận nhưng chất lượng và khảnăng chống chịu không đáp ứng được yêu cầu Đối với cây dài ngày cũng mới chỉđánh giá chủ yếu về ngoại hình của cây giống và một số yếu tố về năng suất, tínhchống chịu, chất lượng không được đánh giá đầy đủ

d) Về chính sách phát triển giống:

Mặc dù chính sách được ban hành xong do nguồn ngân sách hạn chế nênviệc đầu tư hỗ trợ cho công tác phát triển giống trên địa bàn cả nước có nhiều khókhăn và không đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển Do đó cần phải có chínhsách và cơ chế huy động nguồn lực thiết thực, để tạo điều kiện hỗ trợ cho lĩnh vựcgiống cây trồng phát triển đáp ứng được với yêu cầu đề ra

5.2 Những bất cập.

a) Tính hợp hiến, hợp pháp của Pháp lệnh:

Cho tới thời điểm hiện nay Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam và rấtnhiều Luật mới được ban hành như Luật Đa dạng sinh học, Luật Sở hữu trí tuệ,Luật Tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật, Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa, LuậtQuảng cáo, Luật Thương Mại, Luật An toàn thực phẩm, Luật Khoa học công nghệ,Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Đất đai, Luật Tài nguyên nước, Luật Thanh tra,Luật Khiếu nại tố cáo, Luật Thi đua khen thưởng, Luật xử lý vi phạm hành chính,Luật Dân sự, Luật Hình sự điều chỉnh hành vi của xã hội có liên quan đến lĩnhvực giống cây trồng Pháp lệnh giống cây trồng được ban hành trước và là văn bảndưới luật Do đó phải được thực hiện theo các quy định của hệ thống pháp luật hiệnhành nên cần phải điều chỉnh sửa đổi Pháp lệnh để phù hợp

b) Với sự phát triển của khoa học công nghệ:

Hơn mười năm qua tiến bộ về khoa học công nghệ đối với ngành nôngnghiệp phát triển mạnh mẽ đặc biệt là lĩnh vực giống cây trồng như: Công nghệgen, Chỉ thị phân tử, Công nghệ phôi, tế bào… trong nghiên cứu, chọn tạo, côngnhận giống cây trồng mới Tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng trong sản xuất đã tạođộng lực cho sản xuất nông nghiệp nói chung và giống cây trồng nói riêng pháttriển mạnh mẽ Tuy nhiên, Pháp lệnh giống cây trồng năm 2004 và các văn bảnhướng dẫn chưa kịp thời bổ sung những thành tựu về khoa học công nghệ mới, do

đó làm chậm việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất Vì vậy,Pháp lệnh cần sửa đổi để cho phù hợp

Trang 16

d Về cải cách hành chính:

Theo quy định thời gian từ nghiên cứu, chọn tạo, khảo nghiệm, công nhậngiống mới để đưa vào sản xuất của Pháp lệnh giống cây trồng năm 2004 đối vớicây ngắn ngày từ 3-3,5 năm; đối với cây dài ngày mất trên 10 năm do đó mất rấtnhiều thời gian, thủ tục rườm rà làm ảnh hưởng đến công tác cải cách thủ tục hànhchính cần phải sửa đổi

B Nghị định về quản lý phân bón

I Đánh giá tình hình quản lý phân bón

1 Đặc điểm, quy mô, loại hình doanh nghiệp sản xuất phân bón

Các đơn vị sản xuất phân bón quy mô lớn đều thuộc tập đoàn hóa chất(Phân bón Bình Điền, phân bón Miền Nam, DAP Hải Phòng…) và một số doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (phân bón Việt Nhật, Ba Con cò…) Cácdoanh nghiệp này được đầu tư đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về điều kiện sản xuấtphân bón và đã được cấp pháp sản xuất

Doanh nghiệp tư nhân chiếm đa số trong các doanh nghiệp sản xuất phânbón nhưng hầu hết là doanh nghiệp nhỏ, mức đầu tư thấp, sản xuất theo mùa vụ,công nghệ đơn giản

2 Về công nghệ sản xuất

- Nhóm 1: Các loại phân bón được tạo ra từ các phản ứng hóa học hoặcbiến đổi đặc tính hóa lý của sản phẩm (phân lân nung chảy), Việt Nam mới chỉchủ động sản xuất được một số loại phân bón Urê, super phosphate, phân lânnung chảy, một số phân bón lá Các nhà máy đều được đầu tư lớn, công nghệ vàchất lượng sản phẩm khôngổn định Trong đó một số dây chuyền sản xuất củaĐạm Phú Mỹ, Đạm Cà Mau được đầu tư hiện đại ngang tầm các nước trong khuvực

- Nhõm 2: Các loại phân hỗn hợp như NPK, trung lượng, vi lượng, phânbón lá các loại Hầu hết các cơ sở sản xuất chỉ tập trung sản xuất phân bón theodạng phối trộn cơ học giữa các thành phần dinh dưỡng để tạo thành sảnphẩm.Công nghệ khá đơn giản, thậm chí chỉ cần sử dụng một số thiết bị đơngiản như máy trộn, thùng khuấy dạng lỏng hoặc chảo quay, ống sấy và sàngphân loại để tạo thành sản phẩm

- Nhóm 3: Các loại phân bón đơn vừa sử dụng làm phân bón trực tiếp vừa

sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất các dạng phân hỗn hợp như ka li clorua,kali nitrat, kali sulphats, amoni sulphat… Việt Nam chưa sản xuất được, nhậpkhẩu hoàn toàn với số lượng lớn, vì vậy lệ thuộc nhiều vào sự biến động của thịtrường thế giới

Thực tế có khoảng 10% các cơ sở sản xuất được đầu tư theo công nghệtiên tiến như công nghệ tạo hạt bằng hơi nước thùng quay, urê hóa lỏng Một sốđơn vị lớn sử dụng công nghệ này như Công ty Phân bón Việt Nhật, Công ty Bacon cò, Công ty Cổ phần Phân bón Bình Điền…

Trong vài năm trở lại đây, xuất hiện một số loại phân bón có bổ sungthêm các chất bọc, chất phụ gia, chất điều hòa sinh trưởng có tính năng mới, cácloại phân này chủ yếu được nhập khẩu để sản xuất theo chỉ định hoặc công thức

Trang 17

chuyển giao của nước ngoài vì vậy các cơ sở sản xuất chủ yếu là gia công, đónggói.

3 Phòng thử nghiệm chất lượng phân bón

Một số cơ sở sản xuất đã có phòng thử nghiệm chất lượng phân bón, tuynhiên các phòng thử nghiệm này không phân tích, thử nghiệm được hết các chỉtiêu chất lượng mà chỉ thử nghiệm chủ yếu cho nguyên liệu đầu vào, hầu nhưcác sản phẩm xuất xưởng đều phải ký hợp đồng thử nghiệm chất lượng phânbón với các tổ chức được cơ quan có thẩm quyền chỉ định

4 Xây dựng quy chuẩn kỹ thuật chất lượng phân bón

Trước mắt, khi quy chuẩn kỹ thuật quốc gia chưa được ban hành thì thựchiện theo quy định tại Phụ lục Thông tư 29/2014/TT-BCT và Thông tư 42/2014/TT-BNNPTNT Hiện nay Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Côngthương đã hoàn thành dự thảo các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia xin ý kiến góp ý

để trình ban hành

II Kết quả thực hiện Nghị định 202/2013/NĐ-CP.

Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 202/2013/NĐ-CP ngày01/02/2014, Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành Thông tư số 29/2014/TT-BCTngày 30/9/2014 quy định cụ thể và hướng dẫn thực hiện một số điều về phân bón

vô cơ; Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Thông tư số41/2014/TT-BNNPTNT ngày 13/11/2014hướng dẫn một số điều của Nghị định202/2013/NĐ-CP về quản lý phân bón hữu cơ và phân bón khác Qua 03 nămthực hiện Nghị định 202/2013/NĐ-CP đã đạt được một số kết quả sau:

1 Công tác thẩm định, kiểm tra đánh giá tình hình để cấp phép sản xuấtphân bón cho các tổ chức, cá nhân sản xuất phân bón đã được tiến hành khẩntrương tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh: Bộ Công thương đã cấpgần 400 giấy phép sản xuất phân bón vô cơ, gần 40 giấy phép thuê gia công phânbón vô cơ; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cấp 119 giấy phép sảnxuất phân hữu cơ và phân bón khác cho khoảng 100 giấy phép nhập khẩu phânbón để khảo nghiệm, nghiên cứu khoa học, công bố hợp quy 381 sản phẩm phânbón

2 Công tác quản lý chất lượng phân bón: Phân bón là sản phẩm, hàng hóanhóm 2, phân bón sản xuất và nhập khẩu phải được chứng nhận hợp quy, công bốhợp quy trước khi lưu thông trên thị trường Theo các quy định này, công tácquản lý chất lượng phân bón được thắt chặt từ đầu nguồn, tại khâu sản xuất, nhậpkhẩu Công tác chỉ định, chứng nhận chất lượng phân bón đã thực hiện kịp thời

Bộ Công thương đã chỉ định 38 tổ chức thử nghiệm, 8 tổ chức giám địnhvà 14 tổchức chứng nhận phân bón vô cơ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉđịnh 10 tổ chức chứng nhận, 9 phòng thử nghiệm phân bón hữu cơ và phân bónkhác Các tổ chức thử nghiệm được chỉ định phân bố tại các địa bàn trên cả nước,đáp ứng được nhu cầu thử nghiệm chất lượng phân bón, góp phần thực hiện cóhiệu quả công tác quản lý chất lượng phân bón

3 Công tác tiếp nhận để thông báo xác nhận công bố hợp quy: Các SởCông thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tích cực thực hiện

Trang 18

thông báo xác nhận công bố hợp quy cho các sản phẩm phân bón vô cơ, phân bónhữu cơ và phân bón khác thuộc địa bàn quản lý.

4 Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát thị trường phân bón luôn đượctăng cường, có sự phối hợp vào cuộc của nhiều cơ qna, đơn vị chức năng từTrung ương đến địa phương (Ban chỉ đạo 389 Trung ương, địa phương, lực lượngquản lý thị trường…), phát hiện và xử lý nhiều vụ vi phạm về chất lượng phânbón, vi phạm nhãn mác…

5 Ý thức chấp hành pháp luật về phân bón: Các tổ chức, cá nhân có ý thứctrong việc chấp hành các quy định về sản xuất, kinh doanh phân bón đã đượcnâng cao đáng kể Hầu hết các đại lý chỉ phân phối các sản phẩm của các doanhnghiệp đã được cấp phép sản xuất, các phân bón đã được công bố hợp quy Nhiều

tổ chức, các nhân sản xuất phân bón đã tiến hành đầu tư, cải tạo nhà xưởng, máymóc, thiết bị để đáp ứng đủ điều kiện theo quy định để được cấp phép

* Ưu điểm nhổi bật của Nghị định 202/2013/NĐ-CP

- Chuyển phân bón từ mặt hàng sản xuất, kinh doanh không điều kiệnsang có điều kiện

- Chuyển quản lý phân bón từ danh mục sang quản lý theo Quy chuẩn kỹthuật đây là phương pháp quản lý tiên tiến, hiệu quả

- Công tác quản lý chất lượng phân bón có hiệu quả hơn: phân bón sản xuất

và nhập khẩu phải được chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy trước khi lưuthông trên thị trường; các phòng thử nghiệm, giám định, chứng nhận chất lượngphân bón điều được thẩm tra giám sát trước khi được cấp phép hoạt động và định

kỳ giám sát theo quy định

- Công tác thanh tra, kiểm tra chất lượng phân bón được tăng cường, pháthiện và xử lý nhiều vụ vi phạm về chất lượng phân bón

- Ý thức chấp hành pháp luật về sản xuất kinh doanh phân bón của các tổchức, cá nhân ngày càng tốt hơn

III Tồn tại, hạn chế

1 Nghị định số 202/2013/NĐ-CP không phù hợp với một số Luật vàNghị định quy định chi tiết thi hành các Luật hiện hành

- Luật Hóa chất (không phù hợp theo quy định tại Khoản 5 Điều 64);

- Luật tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (không phù hợp theo quy địnhtại Điểm b Khoản 1 Điều 23 Nghị định 127/2007/NĐ-CP ngày 01/08/2007 Quyđịnh chi tiết thi hành một số điều của Luật tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật);

- Luật chất lượng sản phẩm, hàng hoá (không phù hợp theo quy định tạiĐiểm b Khoản 2 Điều 70);

- Luật Thương mại (không phù hợp theo quy định tại Phụ lục II Nghịđịnh 187/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt độngmua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quácảnh hàng hóa với nước ngoài)

2 Về phạm vi điều chỉnh: Nghị định 202/2013/NĐ-CP mới quy định vềhoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, xuất khẩu phân bón, quản lý chất

Trang 19

lượng, kiểm nghiệm, khảo nghiệm, đặt tên phân bón trách nhiệm quản lý nhànước phân bón, chưa quy định về xây dựng công thức phân bón, Quảng cáo,sang chai đóng gói, hội thảo giới thiệu về phân bón , văn bản quản lý quy địnhnhiều mục còn chưa hợp lý;

3 Phân công trách nhiệm quản lý nhà nước: Việc phân định trách nhiệmquản lý của 2 Bộ có sự chồng chéo về thủ tục hành chính, về thanh tra, kiểm tra;Chưa phân công làm rõ trách nhiệm của UBND các cấp, Sở Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn các tỉnh gắn liền với quản lý nhà nước về phân bón;

4 Công tác thanh tra, kiểm tra: Phối hợp trong công tác thanh tra, kiểmtra: Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 202/2013/NĐ-CP: “Trườnghợp thanh tra, kiểm tra các tổ chức, cá nhân vừa sản xuất phân bón vô cơ, vừasản xuất phân bón hữu cơ và phân bón khác, Bộ Công thương chủ trì, phối hợpvới Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức thực hiện”, tuy nhiên nộidung này cho đến nay vẫn chưa được triển khai trên thực tế, sự phối hợp khôngthực hiện được;

5 Việc quy định chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong phân bón cònchưa đồng bộ chưa thống nhất, cần có sự thống nhất chặt chẽ giữa các văn bản;

6 Cấp phép sản xuất phân bón còn nhiều bất cập: theo quy định Bộ Côngthương cấp Giấy phép sản xuất phân bón vô cơ, Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn cấp Giấy phép sản xuất phân bón hữu cơ và phân bón khác, trườnghợp đơn vị sản xuất phân bón vô cơ vừa sản xuất phân bón hữu cơ và phân bónkhác, Bộ Công thương chủ trì phối hợp với Bộ Nông nghiệp và phát triển nôngthôn để cấp phép, tuy nhiên hiện nay việc phối hợp giữa 2 Bộ không thực hiệnđươc, thực tế các đơn vị sản xuất phân bón vừa phân bón vô cơ vừa sản xuấtvừa sản xuất phân bón hữu cơ và phân bón khác phải xin Giấy phép sản xuất ở

cả 2 Bộ;

7 Trong thực tế hiện nay nhiều Doanh nghiệp thương mại không có nhàxưởng máy móc, thiết bị sản xuất, thuê các tổ chức cá nhân khác gia công sảnphẩm thương mại của mình để kinh doanh, một số Doanh nghiệp thuê gia côngphân bón sau đó lấy sản phẩm ở một nơi khác để trộn lẫn đưa vào bào bì thuê giacông để kinh doanh, dẫn đến tình trạng phân bón giả, phân bón kém chất lượngtràn lan, rất khó quản lý;

8 Các loại phân bón nhập khẩu về Việt Nam với các bao bì lớn, tuy nhiênvới hình thức nhập khẩu như vậy không phù hợp với thị trường Việt Nam, màcần phải sang chiết ra các bao dì nhỏ hơn cho phù hợp; tuy nhiên hiện nay vănbản quản lý nhà nước không quy định nội dung này dẫn đến các Doanh nghiệpnhập khẩu kinh doanh lúng túng, không thực hiện được;

9 Văn bản Quản lý nhà nước yêu cầu có tất cả các cơ sở phải có phòngthử nghiệm là không cần thiết, sẽ gây lãng phí trong đầu tư làm giảm quá trình

xã hội hóa với hoạt động này, vì hiện nay các phòng thử nghiệm cho các loạiphân bón đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công thươngchỉ định để kiểm tra chất lượng phân bón;

Trang 20

10 Quy định về thông báo tiếp nhận Công bố hợp quy phân bón: văn bảnhiện nay chưa quy định các tổ chức cá nhân khi công bố hợp quy thì công bố tạiTrụ sở chính hay công bố tại địa điểm sản xuất phân bón;

11 Hiện nay việc quy định về quản lý phân bón, các thủ tục hành chínhthực hiện quản lý mặt hàng phân bón không tập chung tại một văn bản cụ thể màđược quy định ở nhiều các văn bản khác nhau, do các Bộ, ngành khác nhau quyđịnh dẫn đến các Doanh nghiệp khi thực hiện phải đọc nhiều văn bản mới tìmhiểu hết được các quy định hiện hành cho một lĩnh vực;

12 Việc quy định về đủ điều kiện sản xuất phân bón (như nhà xưởng, khochứa, trang thiết bị máy móc, ) giữa các Bộ, mỗi Bộ quy định khác nhau, quyđịnh chung chung không cụ thể, dẫn đến cơ quan quản lý thực hiện cũng nhưDoanh nghiệp gặp nhiều khó khăn;

13 Về quảng cáo sản phẩm phân bón: Các văn bản quản lý về phân bónhiện nay (NĐ 202/2013/NĐ-CP và Thông tư hướng dẫn Nghị định) đều khôngquy định về Quảng cáo cho mặt hàng phân bón, trong khi đó Nghị định181/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một

số điều của Luật Quảng cáo thì quản quản cáo phân bón do các Bộ chuyên ngànhhướng dẫn tuy nhiên các bộ chuyên ngành chưa hướng dẫn, dẫn đến cơ quanquản lý không thực hiện được

14 Việc đặt tên phân bón: Nghị định 202/2013/NĐ-CP quy định về việcđặt tên phân bón còn chung chung chưa cụ thể, có nhiều tổ chức cá nhân sảnxuất, kinh doanh phân bón thường đặt tên phân bón phản ánh không đúng bảnchất, thành phần của phân bón dẫn đến hiểu sai công dụng của sản phẩm, gâynhầm lẫn

15 Quy định về bao gói, nhãn mác: hiện nay việc quy định về bao gói, ghinhãn mác phân bón chưa có quy định cụ thể, việc ghi bao gói nhãn mác thựchiện theo nghị định 89/2006/NĐ-CP ngày 30/9/2006 của Bộ Khoa học và Côngnghệ

16 Quy định về kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa: việc tổ chỉđịnh tổ chức thực hiện kiểm tra nhà nước về phân bón vẫn chưa được chỉ định do

đó đối với phân bón nhập khẩu quy định việc kiểm tra nhà nước về phân bónkhông thực hiện được

C Nghị định 02/2010 NĐ-CP về khuyến nông

I Xây dựng và ban hành văn bản luật pháp

Ngày 08 tháng 01 năm 2010 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 02/2010/NĐ-CP về khuyến nông, thay thế Nghị định số 56/2005/NĐ-CP

Căn cứ Nghị định của Chính phủ, các Bộ, ngành trung ương và Ủy banNhân dân các tỉnh, thành phố đã khẩn trương triển khai thực hiện để đưa Nghịđịnh vào thực tiễn:

- Ngày 15 tháng 11 năm 2010, Bộ Tài chính đã phối hợp với Bộ Nôngnghiệp và PTNT ban hành Thông tư liên tịch số 183/2010/TTLT-BTC-BNNhướng dẫn quản lý, sử dụng kinh phí khuyến nông

Trang 21

- Ngày 23 tháng 5 năm 2011, Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành Thông

tư số 38/2011/TT-BNNPTNT hướng dẫn chi tiết một số điều của Nghị định02/2010/NĐ-CP của Chính phủ về khuyến nông, trong đó tập trung hướng dẫntrình tự, thủ tục quản lý, tổ chức thực hiện các chương trình, dự án khuyến nôngtrung ương Bộ Nông nghiệp và PTNT cũng ban hành nhiều quyết định về địnhmức kinh tế - kỹ thuật khuyến nông để triển khai các chương trình, dự ánkhuyến nông

- Tháng 2/2011, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã tổ chức Hội nghị toàn quốc

để phổ biến quán triệt Nghị định 02 và các văn bản hướng dẫn thực hiện Nghịđịnh đến các cơ quan thuộc Bộ, các tổ chức tham gia hoạt động khuyến nông ởTrung ương, ngành Nông nghiệp và hệ thống khuyến nông của 63 tỉnh, thànhphố trong toàn quốc

- Các tỉnh, thành phố trong cả nước cũng tích cực triển khai Nghị định số

02 của Chính phủ Căn cứ vào Nghị định 02, nhiều tỉnh, thành phố đã ban hànhcác văn bản quy định về chính sách khuyến nông của địa phương theo Nghị định

02 của Chính phủ như: đề án khuyến nông, chương trình khuyến nông, kế hoạchkhuyến nông, chính sách đối với đội ngũ khuyến nông viên cấp xã và khuyếnnông viên thôn bản

- Trung tâm khuyến nông Quốc gia cũng chủ động phối hợp với VụKHCN & MT, Vụ Tài chính, các Cục, Tổng Cục chuyên ngành của Bộ đểhướng dẫn các tổ chức, hội đoàn thể ở trung ương và hệ thống khuyến nông cácđịa phương khẩn trương triển khai hoạt động khuyến nông theo Nghị định số 02

và các văn bản liên quan

- Ngày 26/02/2013 Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành Thông tư số 15/2013/TT-BNNPTNT quy định thực hiện một số điều của Nghị định số 02 củaChính phủ về Khuyến nông, thay thế Thông tư 38/2011/TT-BNNPTNT

II Đánh giá việc thực hiện các chính sách khuyến nông

1 Chính sách bồi dưỡng, tập huấn và truyền nghề:

So với Nghị định 56 thì Nghị định 02 quy định chính sách về hoạt độngđào tạo, tập huấn khuyến nông cụ thể, đầy đủ hơn theo từng nhóm đối tượng vànội dung, chính sách hỗ trợ Do vậy trong thời gian qua, hoạt động đào tạo, tậphuấn khuyến nông đã từng bước được quan tâm đẩy mạnh, góp phần chuyển tảikiến thức, kỹ thuật để từng bước nâng cao trình độ, kỹ năng sản xuất và trình độdân trí của nông dân Một số kết quả chính của công tác đào tạo huấn luyệnkhuyến nông giai đoạn 2011- 2014 đạt được như sau:

a/ Ở Trung ương: Trung tâm KNQG chủ trì, phối hợp với các cơ quannghiên cứu, đào tạo ở trung ương và hệ thống khuyến nông địa phương đấymạnh hoạt động đào tạo, tập huấn với các hình thức đa dạng, phong phú Các kếtquả nổi bật là :

- Hàng năm tổ chức biên soạn, xuất bản mới hoặc cập nhập, bổ sung hàngchục bộ tài liệu, bài giảng, các đĩa CD, VDC để sử dụng làm tài liệu Chuẩn chocác khóa đào tạo, tập huấn khuyến nông TOT, TOF trên phạm vi cả nước vàtừng vùng

Trang 22

- Bình quân mỗi năm tổ chức khoảng 250 - 300 lớp tập tập huấn TOTvà

50 - 70 lớp TOF về phương pháp, kỹ năng, nghiệp vụ khuyến nông và bồi dưỡngcác kiến thức khoa học kỹ thuật mới cho đội ngũ CBKN và nông dân chủ chốtcủa các địa phương để họ tiếp tục tập huấn cho nông dân Phối hợp với các tổchức phi chính phủ và một số Doanh nghiệp nước ngoài như: JICA, SNV,Solidalidad, Nestle, Syngenta, tổ chức các khóa đào tạo bồi dưỡng kiến thức,

kỹ năng khuyến nông hiện đại cho đội ngũ cán bộ khuyến nông các cấp

- Thực hiện Chương trình đào tạo nghề, đã tổ chức bồi dưỡng cấp chứng

chỉ “Kỹ năng dạy học” cho trên 5.000 CBKN để có đủ điều kiện tham gia đào

tạo nghề cho lao động nông thôn Đồng thời TTKNQG đã trực tiếp tổ chức hàngtrăm lớp đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn gắn với các vùngchuyên canh trọng điểm gắn với các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ sản phẩm,các mô hình liên kết theo chuỗi giá trị

- Hàng năm tổ chức các đoàn khảo sát với hàng trăm lượt cán bộ khuyếnnông, nông dân tiến tiến đi khảo sát, học tập kinh nghiệm hoạt động khuyếnnông, các mô hình áp dụng tiến bộ KHCN mới vào sản xuất đạt kết quả cao ởtrong và ngoài nước

- Công tác đào tạo tập huấn khuyến nông tập trung vào đào tạo kiến thức

kỹ thuật sản xuất các các cây, con chủ lực phục vụ chuyển đổi cơ cấu sản xuấttại các vùng sản xuất hàng hóa trọng điểm gắn với thị trường Bên cạnh đào tạokiến thức kỹ thuật, đã tăng cường bồi dưỡng kiến thức về: luật pháp, chính sách,quản lý nông trại, về cơ giới hóa và công nghệ sau thu hoạch, sản xuất an toàn,bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu, kiến thức thị trường và hội nhậpquốc tế, liên kết hợp tác và phát triển cộng đồng, kiến thức về xây dựng nôngthôn mới

- Phương thức tập huấn: tăng các nội dung thực hành và tham quan, thảoluận tại mô hình thực tiễn, ứng dụng phương tiện hiện đại (máy chiếu, đầuvideo, intenet ) để cung cấp các thông tin sống động, lôi cuốn người học, nângcao hiệu qủa tập huấn

b/ Ở địa phương:

Hệ thống khuyến nông các tỉnh là lực lượng chính trực tiếp tổ chức cáclớp tập huấn, dạy nghề cho nông dân gắn với mùa vụ sản xuất nông nghiệp tạiđịa phương Theo báo cáo của các tỉnh, bình quân hàng năm, hệ thống khuyếnnông địa phương tổ chức được khoảng 20.000- 30.000 lớp tập huấn cho khoảng

1 triệu lượt nông dân Đồng thời, mỗi năm tổ chức được gần 2.200 cuộc hộinghị, hội thảo đầu bờ, gần 400 đoàn nông dân tham quan trao đổi kinh nghiệmtại các mô hình ứng dụng TBKT tiên tiến, sản xuất hiệu quả, mở rộng ra sảnxuất đại trà

Đến tháng 11/2014 đã có 32/63 Trung tâm khuyến nông tỉnh/TP được cấpchứng chỉ cơ sở đào tạo nghề

Nhìn chung, sau 04 năm thực hiện Nghị định 02, công tác đào tạo huấn luyện khuyến nông đã được tăng cường cả về số lượng và chất lượng để nâng cao năng lực cho cán bộ khuyến nông và kiến thức, tay nghề cho nông dân Kết

Trang 23

qủa khảo sát cuối năm 2012 cho thấy: 86% nông dân tham gia các chương trình đào tạo, tập huấn khuyến nông có đánh giá nội dung phù hợp và có hiệu quả, tác dụng tốt đối với sản xuất của bà con nông dân và trên 90% nông dân đã áp dụng thành công các kiến thức đã học vào sản xuất.

Tuy nhiên, theo ý kiến đánh giá của các địa phương, việc thực hiện chínhsách này trong thời gian qua còn một số vấn đề tồn tại, bất cập sau:

- Việc triển khai thực hiện ở các địa phương còn ở mức độ hạn chế donguồn kinh phí dành cho hoạt động này hàng năm còn ít; trong khi đó nhu cầu

về đào tạo, tập huấn của nông dân là rất lớn và rất đa dạng

- Chính sách hỗ trợ phân theo các nhóm đối tượng khác nhau: người hoạtđộng khuyến nông chia thành 02 nhóm (hưởng lương và không hưởng lương),người sản xuất chia thành 03 nhóm (nông dân nghèo, sản xuất nhỏ; nông dânsản xuất hàng hóa; doanh nghiệp) Do vậy quá trình thực hiện gặp khó khăntrong việc phân loại các nhóm đối tượng (đôi khi không đủ căn cứ, giấy tờ đểxác minh), đồng thời cũng gây các thắc mắc, hiểu lầm; các học viên khi thamgia tập huấn đều kiến nghị không nên có sự phân biệt như vậy, các đối tượngđều có quyền lợi được tham gia và hưởng lợi từ các chính sách của nhà nước

- Mặc dù Nghị định quy định mức độ hỗ trợ như hỗ trợ 100%, 50%, tuynhiên các định mức tài chính hướng dẫn là rất thấp so với các khoản chi phí thực

tế, tính ra không đảm bảo như tỷ lệ hỗ trợ quy định trong Nghị định Do vậy cácđơn vị thường gặp khó khăn trong quá trình thực hiện

- Một số quy định nhà nước chỉ hỗ trợ 50% chi phí đi lại, ăn ở hoặc 50%chi phí tài liệu, trên thực tế các đơn vị rất khó thực hiện (khó có thể thu được cáckhoản chi phí này từ các học viên tham gia tập huấn, nếu thu thì họ sẽ khôngtham gia nữa)

- Đối với việc đào tạo, tập huấn khuyến nông cho người hoạt động khuyếnnông cũng gặp nhiều khó khăn: định mức hỗ trợ thấp hơn so với chi phí thực tế,không đảm bảo tỷ lệ hỗ trợ theo quy định Các cơ quan khuyến nông nhà nướccũng hạn chế cử cán bộ khuyến nông tham gia các lớp tập huấn vì nguồn kinhphí hoạt động hạn chế, không có kinh phí để thanh toán các khoản chi phí đi lại,tiền công tác phí cho cán bộ

Từ những vấn đề tồn tại, bất cập nêu trên, để việc triển khai thực hiệnchính sách đào tạo, tập huấn khuyến nông được thuận lợi và phát huy được ýnghĩa, hiệu quả của chính sách này, các tỉnh, thành phố đề nghị Nhà nước nên

điều chỉnh chính sách như sau: nhà nước hỗ trợ 100% chi phí học tập, tài liệu,

đi lại, ăn nghỉ cho người sản xuất và người hoạt động khuyến nông khi tham dự các lớp đào tạo, tập huấn khuyến nông.

2 Chính sách thông tin tuyên truyền:

So với Nghị định 56 trước đây thì Nghị định 02 quy định cụ thể hơn: nhà

nước hỗ trợ 100% kinh phí cho các hoạt động thông tin tuyên truyền khuyến nông Do vậy, sau khi Nghị định 02 ban hành, các tỉnh, thành phố đã đẩy mạnh

các hoạt động thông tin tuyên truyền, đặc biệt là các kênh tuyên truyền trêntrang web, đài phát thanh, đài truyền hình, bản tin, tài liệu, ấn phẩm để phục vụ

Trang 24

sản xuất; kết nối với chương trình thông tin tuyên truyền khuyến nông củaTrung ương để hình thành các kênh thông tin tuyên truyền khuyến nông phục vụsản xuất.

Một số kết quả chính của hoạt động thông tin tuyên truyền khuyến nônggiai đoạn 2011- 2014 như sau:

a/ Ở Trung ương: Tập trung tuyên truyền thường xuyên và đậm nét

về các chủ trương chính sách, các giải pháp kỹ thuật công nghệ tiên tiến, tổ chức

sản xuất, thị trường tiêu thụ, giới thiệu các mô hình, gương điển hình, các kinhnghiệm thực tiễn để thực hiện các chương trình trọng điểm của ngành vớinhiều hình thức phong phú, thiết thực:

- Trang Web Khuyến nông Việt Nam (khuyennongvn.gov.vn): với nhiều

chuyên mục như: Đào tạo nghề; Nông thôn mới; mô hình, điển hình nôngnghiệp, giới thiệu TBKT, CN mới, thị trường nông sản, hộp thư khuyến nông

… Đặc biệt Thư viện khuyến nông điện tử với trên 200 đầu sách và đĩa hình kỹ

thuật thường xuyên được cập nhật, bổ sung, nâng cấp để để nâng cao chất lượngtruy cập phục vụ đào tạo khuyến nông Online Đã có gần 200 trang web đặt liênkết tới trang web Khuyến nông Việt Nam Số lượng người truy cập BQ gần 5triệu lượt/năm, trong đó 60% là nông dân và cán bộ khuyến nông cơ sở

- Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng: hàng năm phối

hợp với trên 10 đơn vị trung ương và ngành, xây dựng trên 1.500 chuyênmục,chuyên trang khuyến nông với trên 15.000 tin, bài tuyên truyền chủ trương,chính sách, tuyên truyền các tiến bộ kỹ thuật, thông tin thị trường giá cả, cùngnhững thông tin hữu ích phục vụ hoạt động khuyến nông, sản xuất nông nghiệp

và phát triển nông thôn Đặc biệt phối hợp với Đài tiếng nói VN phát sóng gần1.000 chuyên mục bằng 11 ngôn ngữ dân tộc phục vụ đồng bào khu vực TâyNguyên, Tây Bắc và Tây Nam

- Tổ chức các sự kiện khuyến nông (hội thi, hội chợ triển lãm, diễn đàn KN@NN, hội nghị, hội thảo): mỗi năm tổ chức khoảng 20 – 25 diễn đàn

khuyến nông @ nông nghiệp, 7-8 Hội chợ nông nghiệp, 4 -5 Hội thi khuyếnnông và các Hội thảo chuyên đề ở quy mô vùng, miền, quốc gia, thu hút sự thamgia của trên 150.000 đại biểu gồm các nhà quản lý, nhà khoa học, các bộ khuyếnnông, các doanh nghiệp và nông dân tiêu biểu (chiếm 70%) Thông qua các sựkiện khuyến nông, nông dân, người sản xuất có điều kiện tiếp cận với các chủtrương chính sách mới trong nông nghiệp, các TBKT, công nghệ mới, được giảiđáp, tư vấn trực tiếp các vấn đề về cơ chế, chính sách, các giải pháp kỹ thuật,công nghệ, thị trường để giải quyết những khó khăn, vướng mắc những vấn

đề nóng bỏng của sản xuất ở từng thời kỳ, từng vùng như: an toàn vệ sinh thựcphẩm, thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, tiêu thụ sản phẩm

- Biên tập và phát hành tài liệu, ấn phẩm khuyến nông các loại (Bản tin KNVN, tờ gấp, sách mỏng, băng đĩa hình kỹ thuật,…): mỗi năm Trung tâm

KNQG biên soạn 10 đầu sách kỹ thuật, 15 đĩa hình kỹ thuật, phát hành khoảngtrên 100.000 bản ấn phẩm khuyến nông các loại tới hệ thống khuyến nông cáccấp Năm 2014 đã hỗ trợ trên 120 xã Nông thôn mới lập Tủ sách khuyến nông với

Trang 25

bình quân 20 đầu sách, 10 đĩa VCD/ xã hướng dẫn kỹ thuật phù hợp với các đốitượng sản xuất chính ở từng vùng sinh thái

Từ năm 2013 đến nay, căn cứ Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp củaChính phủ, hoạt động thông tin tuyên truyền đã tập trung vào các nội dung phục

vụ tái cơ cấu ngành và xây dựng NTM Về phương thức thực hiện, tăng cường

sự phối hợp, tham gia của các cơ quan nghiên cứu, đào tạo trong chuyển giaotiến bộ thông qua các sự kiện khuyến nông, các chuyên mục tư vấn trên truyềnthanh, truyền hình, internet, xây dựng các tài liệu, ấn phẩm khuyến nông,

b/ Ở địa phương:

- Mỗi năm biên soạn, in và phát hành khoảng 1,1 triệu bản tài liệu, ấnphẩm kỹ thuật khuyến nông (sách mỏng, tờ gấp, tranh treo tường, sổ tay, nônglịch ) và khoảng gần 200 ngàn bản tin, khuyến nông – khuyến ngư cung cấpcho cán bộ khuyên nông và nông dân

- Bình quân mỗi năm thực hiện khoảng 120 ngàn tin, bài về khuyến nông

và sản xuất nông nghiệp trên báo, đài trung ương và địa phương

- Thực hiện khoảng 1.400 chuyên mục khuyến nông trên đài truyền hình

và khoảng trên 1.100 chuyên mục khuyến nông trên đài phát thanh địa phương

Ngoài những hình thức thông tin tuyên truyền nêu trên, một số địaphương có các hình thức tuyên truyền khuyến nông rất sáng tạo và hiệu quảnhư: Câu lạc bộ khuyến nông, tủ sách khuyến nông, điểm tư vấn, hỏi đáp

khuyến nông, quán "cà phê khuyến nông" ở Tiền Giang, Đồng Tháp, An Giang;

"Nhịp cầu khuyến nông" trên truyền hình ở Long An, Vĩnh Long, Cần Thơ,

Kết quả khảo sát năm 2013 cho thấy: 74% nông dân được hỏi đánh giá các Diễn đàn Khuyến nông có tác dụng tốt đối với sản xuất; 86% nông dân đánh giá các hội thi khuyến nông có tác dụng thiết thực; 80% nông dân đánh giá các hội chợ nông nghiệp có tác dụng thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm; 98% nông dân đánh giá các tài liệu khuyến nông có nội dung phù hợp và thiết thực đối với sản xuất; khoảng 70% nông dân được hỏi đánh giá các chuyên mục, chuyên trang, tin bài khuyến nông trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương và địa phương có nội dung thiết thực và tác dụng tốt đối với sản xuất.

Tuy nhiên trong quá trình triển khai thực hiện chính sách này, các địaphương phản ánh còn một số vấn đề khó khăn như sau:

- Mặc dù Nghị định quy định hỗ trợ 100% kinh phí nhưng do định mức hỗtrợ về tài chính khá thấp nên các tỉnh gặp khó khăn khi tham gia các hội chợ, hộithi, sự kiện khuyến nông do trung ương và các tỉnh khác tổ chức

- Các tỉnh còn gặp khó khăn trong việc tổ chức các hoạt động thông tintuyên truyền khuyến nông, đặc biệt là thiếu các phương tiện, trang thiết bị phục

vụ TTTT như máy tính, mạng internet, cổng thông tin địa tử, phần mềm, cơ sở

dữ liệu, máy quay phim,,… Đây là những trang thiết bị không thể thiếu để xâydựng các chương trình, chuyên mục thông tin tuyên truyền khuyến nông

Do vậy, các tỉnh đề nghị cần tăng cường đầu tư kinh phí cho hoạt động thông tin tuyên truyền, đặc biệt là kinh phí đầu tư về trang thiết bị để ứng dụng

Trang 26

công nghệ thông tin, xây dựng và nâng cấp cơ sở dữ liệu thông tin khuyến nông

để phục vụ tuyên truyền, phổ biến kiến thức, kỹ thuật cho nông dân.

3 Chính sách xây dựng và nhân rộng mô hình trình diễn:

So với Nghị định 56 thì chính sách xây dựng và nhân rộng mô hình trìnhdiễn của Nghị định 02 được quy định cụ thể hơn các chính sách hỗ trợ theo từngđịa bàn, chính sách đối với các mô hình về cơ giới hóa, bảo quản chế biến, nôngnghiệp công nghệ cao; đặc biệt có bổ sung chính sách về nhân rộng mô hình.Với quy định như vậy, nhìn chung việc triển khai các mô hình trình diễn khuyếnnông thời gian qua thuận lợi hơn so với trước đây

Ở trung ương, sau khi Nghị định 02 ban hành thì Bộ NN&PTNT thựchiện các hoạt động xây dựng và nhân rộng mô hình trình diễn khuyến nông theo

cơ chế dự án khuyến nông Ở các tỉnh, thành phố về cơ bản vẫn thực hiện theohình thức mô hình khuyến nông phân bổ theo kế hoạch hàng năm

Một số kết quả chính của hoạt động xây dựng và nhân rộng mô hình trìnhdiễn khuyến nông giai đoạn 2011- 2014 như sau:

a/ Ở Trung ương:

Trong 4 năm qua (2011- 2014) Bộ Nông nghiệp và PTNT đã phê duyệt

và giao các đơn vị thực hiện 133 dự án khuyến nông trung ương, trong đó :

+ Trung tâm KNQG chủ trì, thông qua hệ thống KN các tỉnh/TP thựchiện: 54 dự án (40%);

+ Các viện, đơn vị khác thuộc Bộ: chủ trì 38 dự án (28,5%), triển khai quanhiều kênh khác nhau

+ Các đơn vị không thuộc Bộ (hiệp hội, đoàn thể, các trường, doanhnghiệp): chủ trì 41 dự án (31,5%)

Giai đoạn 2011- 2013, các dự án chủ yếu được tuyển chọn từ các đơn vịđăng ký nên số lượng dự án khá nhiều và nội dung khá dàn trải, địa bàn phântán, một số dự án chưa bán sát định hướng tái cơ cấu của Bộ

Từ năm 2014, Bộ thực hiện cơ chế đặt hàng các dự án khuyến nông trọngđiểm, số lượng mỗi năm chỉ từ 15- 20 dự án mới, tập trung vào những đối tượngsản phẩm hàng hóa chủ lực, các gói tiến bộ kỹ thuật, công nghệ đồng bộ, có sứclan tỏa mạnh, tập trung vào các địa bàn sản xuất trọng điểm, gắn chuyển giaoTBKT với tổ chức liên kết theo chuỗi giá trị nhằm tạo được sự chuyển biến rõrệt về trình độ công nghệ và tổ chức sản xuất trên diện rộng Nội dung các dự ántheo các lĩnh vực nêu tại Phụ lục 3

Một số dự án khuyến nông tiêu biểu có hiệu qủa cao, được mở rộng nhanh

ra sản xuất và tạo sự chuyển biến và có sức lan tỏa nhanh như: Dự án phát triển

sản xuất hạt giống lúa lai F1 trong nước; Dự án phát triển lúa gieo thẳng ở phía Bắc; Dự án áp dụng 3 giảm 3 tăng và kỹ thuật canh tác lúa cải tiến (SRI) nhằm nâng cao hiệu quả và góp phần giảm phát thải khí nhà kính; Dự án cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất lúa;Dự án phát triển các giống nấm mới; Dự án phát triển kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và vỗ béo bò; Dự án phát triển nuôi trâu sinh sản; các dự án phát triển chăn nuôi, lợn gia cầm, thủy cầm an toàn sinh và xây dựng mạng lưới thú y cộng đồng; các dự ánthủy sản về phát triển nuôi tôm

Trang 27

nước lợ, cá rô phi đơn tính đực theo VietGAP, phát triển nuôi cá lồng, bè bền vững trên sông và hồ chứa; ứng dụng thiết bị khai thác và công nghệ bảo quản sản phẩm tiên tiến trên tàu đánh bắt xa bờ

b/ Ở địa phương:

Sau khi có Nghị định 02, phần lớn các địa phương vẫn triển khai hoạtđộng phát triển các mô hình trình diễn theo kế hoạch khuyến nông hàng năm.Tuy nhiên một số địa phương bước đầu đã phê duyệt và triển khai các đề án,chương trình khuyến nông nông trung hạn (2-5 năm), quy định rõ nội dung,giải pháp, cơ chế chính sách và bố trí nguồn lực đầu tư ổn định để đạt các mụctiêu cụ thể của địa phương

Theo báo cáo của các địa phương, giai đoạn 2011- 2014, hệ thốngkhuyến nông các tỉnh đã triển khai xây dựng xấp xỉ 3.400 mô hình khuyến nôngcác loại với khoảng 6.200 điểm trình diễn, đã hỗ trợ khoảng 157 ngàn hộ nôngdân áp dụng thành công các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ, chuyển đổi cơcấu cây trồng vật nuôi mới mới vào sản xuất

Nhiều loại giống cây trồng, vật nuôi, các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ đượctrình diễn và chuyển giao cho nông dân đã có sự lựa chọn phù hợp với điều kiệnsinh thái, trình độ sản xuất của nông dân địa phương, được theo dõi, chỉ đạo,đánh giá cụ thể và có cơ chế khuyến khích nên nhiều mô hình đã nhanh chóngđược nhân rộng.Tuy nhiên, cũng còn không ít mô hình chưa phù hợp với thựctiễn sản xuất của địa phương, việc chọn địa bàn, chọn hộ nông dân tham giachưa điển hình, công tác vận động, thuyết phục và hướng dẫn nông dân thựchiện chưa chu đáo, theo dõi đánh giá , tổng kết và tuyên truyền mô hình chưakịp thời, sâu rộng nên hiệu qủa và tác động của mô hình đối với sản xuất chưa

rõ Một số tỉnh như: Quảng Ninh, Thanh Hóa, Ngệ An đang chỉ đạo rà soát,đánh giá, phân loại cụ thể các mô hình để có biện pháp nhân rộng các mô hình

có hiệu quả tốt

Đánh giá về hiệu quả của hoạt động xây dựng và nhân rộng mô hình trình diễn khuyến nông đối với sản xuất nông nghiệp: Qua kết quả khảo sát, đánh giá năm 2012: 85% nông dân đánh giá các mô hình khuyến nông đạt kết quả và hiệu quả tốt; 93% số hộ nông dân đã được tham gia xây dựng mô hình

sẽ tiếp tục duy trì áp dụng các TBKT đã được chuyển giao thông qua mô hình.

Trong quá trình triển khai thực hiện chính sách này còn một số khó khăn,hạn chế như sau:

- Mức độ áp dụng còn hạn chế do kinh phí đầu tư thấp, số lượng mô hìnhchưa đáp ứng được nhu cầu của người dân, thiếu các mô hình tổng hợp liên kếtthe chuỗi giá trị, khi mô hình thành công thì không có chính sách và kinh phí đểnhân rộng, chủ yếu là vận động nông dân tự nhân rộng Ngoài một số tỉnh, thànhphố có sự đầu tư kinh phí khuyến nông lớn như Hà Nội, TP HCM, Hải Phòng,Đồng Nai,… thì thực hiện được các mô hình tương đối đa dạng đáp ứng nhu cầusản xuất của địa phương; Còn lại đa số các tỉnh khác nguồn kinh phí cho hoạtđộng xây dựng mô hình là rất hạn chế, quy mô nhỏ, đầu tư thấp nên mô hìnhchưa thực sự nổi bật, sức thuyết phục chưa cao

Trang 28

- Trình độ dân trí thấp, vẫn còn tâm lý trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ củangành nước; quy mô sản xuất nhỏ lẻ manh mún, chưa có sự liên kết, tham giatích cực của các doanh nghiệp trong việc cung ứng vật tư đầu vào và tiêu thụ sảnphẩm đầu ra, do đó nông dân chưa yên tâm đầu tư sản xuất.

- Chưa có sự phân biệt rõ về các mô hình khuyến nông xóa đói giảmnghèo và mô hình khuyến nông sản xuất hàng hóa, công nghệ cao Định mứckinh tế kỹ thuật đối với mô hình khuyến nông sản xuất hàng hóa còn nhiều bấtcập như: quy mô nhỏ, mới chú trọng vào kỹ thuật sản xuất mà chưa có các nộidung về tổ chức quản lý sản xuất, công nghệ sau thu hoạch, bảo quản chế biến

và tiêu thụ sản phẩm

- Đối với mô hình ứng dụng công nghệ cao: chính sách hỗ trợ thấp (30%)trong khi mô hình này yêu cầu kinh phí đầu tư lớn, có nhiều rủi ro nên chưakhuyến khích các doanh nghiệp, chủ trang trại, người sản xuất đầu tư

- Thiếu các mô hình khuyến nông theo chuỗi giá trị (ngoài hỗ trợ về sảnxuất thì bổ sung thêm hỗ trợ cả về máy, thiết bị chế biến, đóng gói sản phẩm, hỗtrợ xây dựng thương hiệu, thông tin giới thiệu quảng bá tiêu thụ sản phẩm,…) đểcác địa phương vận dụng, khuyến khích, thu hút doanh nghiệp tham gia liên kếtvới nông dân trong sản xuất hàng hóa gắn với tiêu thụ sản phẩm bền vững

- Cơ chế chính sách hỗ trợ như hiện nay chưa khuyến khích sự tham giatích cực, trách nhiệm của nông dân và cộng đồng Vẫn còn hiện tượng một sốnông dân tham gia mô hình với mục đích để nhận hỗ trợ, sau khi dự án kết thúccũng không có nhu cầu tiếp tục đầu tư để duy trì, mở rộng Ở một số nơi chưa có

sự quan tâm chỉ đạo của chính quyền địa phương và sự phối hợp của hệ thốngkhuyến nông để nhân rộng mô hình, tạo vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh

- Một số mô hình chưa phù hợp với điều kiện của địa phương nên khảnăng thu hút nông dân tham gia mở rộng mô hình còn thấp Do vậy cần bổ sungchính sách hỗ trợ đối với các mô hình thực nghiệm, khảo nghiệm giống, côngnghệ mới trước khi triển khai ra diện rộng để đảm bảo tính hiệu quả và tính khảthi của mô hình

- Chính sách nhân rộng mô hình chưa phù hợp, nếu chỉ có hỗ trợ công tácthông tin tuyên truyền là rất khó thực hiện Cần bổ sung nội dung hỗ trợ như vềgiống, vật tư, đào tạo, tập huấn,… theo từng bước, đặc biệt là đối với các hộnông dân sản xuất nhỏ, hộ nghèo để đảm bảo mô hình được nhân rộng một cáchbền vững (ví dụ: hỗ trợ 30- 50% kinh phí triển khai nhân rộng năm thứ nhất; 15-30% kinh phí năm thứ hai; 0- 15% kinh phí năm thứ ba cho đối tượng nông dânnghèo, nông dân SX nhỏ, người DTTS)

- Mức hỗ trợ chi phí vật tư thiết yếu thấp trong khi giá cả thị trường luôntăng lên hàng ngày còn giá sản phẩm lại thấp và không ổn định, khó thu hútnông dân tham gia

- Thủ tục giải ngân còn phức tạp, còn nặng về hồ sơ chứng từ mà chưaquan tâm nhiều đến hiệu quả và khả năng nhân rộng của mô hình

Trang 29

Do vậy, để các mô hình trình diễn khuyến nông phát huy hiệu quả đối vớisản xuất, có tính thuyết phục cao và được nhân rộng ra sản xuất đại trà một cáchbền vững, các địa phương, đơn vị đề nghị điều chỉnh lại chính sách này như sau:

1 Cần tăng cường đầu tư kinh phí cho hoạt động xây dựng và nhân rộng

mô hình trình diễn khuyến nông vì đây là hoạt động có thể đem lại sự ảnh hưởng

và sức thuyết phục cao đối với nông dân, người sản xuất (được trực tiếp làm vàthụ hưởng kết quả do TBKT, công nghệ mới đem lại)

2 Phân biệt rõ giữa mô hình khuyến nông xóa đói giảm nghèo và mô hìnhkhuyến nông sản xuất hàng hóa Đối với mô hình xóa đói giảm nghèo đề nghịtiếp tục thực hiện như hiện nay (về quy mô, định mức kinh tế kỹ thuật, mức hỗtrợ) Tuy nhiên đối với mô hình phát triển sản xuất hàng hóa cần cải tiến theohướng: mở rộng quy mô theo mô hình cánh đồng mẫu, xây dựng thành các môhình tổng hợp, liên kết theo chuỗi giá trị từ sản xuất – chế biến – tiêu thụ sảnphẩm (có chứng nhận chất lượng, đăng ký nhãn hiệu, thương hiệu) để hìnhthành các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh quy mô lớn

3 Đối với mô hình khuyến nông công nghệ cao: cần nâng mức hỗ trợ (cóthể nâng lên mức tối đa là 50%) để khuyến khích, thu hút sự tham gia đầu tư;đối với những mô hình thành công có thể thu hồi một phần kinh phí để hìnhthành Quỹ khuyến nông

4 Về nhân rộng mô hình: cần bổ sung thêm các chính sách hỗ trợ vềgiống, vật tư, đào tạo, tập huấn, tổ chức quản lý sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đểkhuyến khích nông dân đầu tư mở rộng mô hình một cách bền vững

4 Chính sách khuyến khích hoạt động tư vấn và dịch vụ khuyến nông:

Nội dung chính sách này cho phép mọi tổ chức, cá nhân hoạt độngkhuyến nông đều được tham gia tư vấn, dịch vụ khuyến nông và được ưu tiênthuê đất để xây dựng, triển khai các chương trình, dự án khuyến nông, được vayvốn ưu đãi, miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật hiện hành

Cùng với sự phát triển của sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuấthàng hóa, trong thời gian qua nhu cầu về tư vấn, dịch vụ khuyến nông ngày cànglớn và đa dạng (đây là xu hướng phát triển chung của công tác khuyến nông)

Do vậy, trong Nghị định 02 dành hẳn 01 điều để quy định về chính sách nàynhằm khuyến khích hoạt động tư vấn, dịch vụ khuyến nông phát triển để đápứng nhu cầu của sản xuất

Trong thời gian qua, các hoạt động tư vấn, dịch vụ khuyến nông đã từngbước phát triển và đạt được một số kết quả khích lệ như sau:

a/ Ở Trung ương:

Những năm gần đây, Trung tâm KNQG đã tổ chức tư vấn khuyến nông,trao đổi giải đáp cho nông dân với nhiều nội dung đa dạng và thông qua nhiềuhình thức phong phú, theo điều kiện cụ thể của nông dân :

- Tư vấn trên website KNVN: Chuyên mục “Hộp thư khuyến nông”, các

Biên tập viên thường xuyên cập nhật và trả lời các câu hỏi của CBKN và nôngdân Theo một khảo sát gần đây cho thấy, 60% người dùng khi tìm kiếm thông

Ngày đăng: 14/12/2021, 19:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w