1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các hình thức biểu hiện cúa giá trị thặng dư

29 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 53,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các hình thức biểu hiện cúa giá trị thặng dư * Lợi nhuận Giữa giá trị hàng hoá và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn luôn cómột khoảng chênh lệch, cho nên sau khi bán hàng hoá giá cả

Trang 1

Mở đầu

Theo đánh giá của V.I Lênin, lí luận giá trị thặng dư là “hòn đá tảng củahọc thuyết kinh tế của Mác” và học thuyết kinh tế của C Mác là “nội dung cănbản của chủ nghĩa Mác” Để đạt mục đích làm giàu tối đa của mình nhà tư bản đãmua sức lao động của công nhân kết hợp với tư liệu sản xuất để sản xuất ra sảnphẩm, thu về giá trị thặng dư Nhưng nhà tư bản bao giờ cũng chỉ trả một phầngiá trị sức lao động cho người công nhân thông qua hình thức tiền lương và bóclột giá trị thặng dư do người công nhân sáng tạo ra trong quá trình sản xuất.Trong xã hội tư bản, mối quan hệ giữa tư bản và lao động là mối quan hệ cơ bản,sâu sắc nhất, xuyên qua tất cả các quan hệ sản xuất của xã hội đó Giá trị thặng

dư, phần giá trị do lao động của công nhân làm thuê sáng tạo ra ngoài sức laođộng và bị nhà tư bản chiếm không, phản ánh mối quan hệ cơ bản nhất đó Giá trịthặng dư do lao động không công của công nhân làm thuê sáng tạo ra là nguồngốc làm giàu của giai cấp các nhà tư bản, sản xuất ra giá trị thặng dư là cơ sở tồntại của chủ nghĩa tư bản Toàn bộ hoạt động của nhà tư bản hướng đến tăngcường việc tạo ra giá trị thặng dư thông qua hai phương pháp cơ bản là tạo ra giátrị thặng dư tuyệt đối và tạo ra giá trị thặng dư tương đối Do vậy, sản xuất ra giátrị thặng dư tối đa cho nhà tư bản là nội dung chính của quy luật giá trị thặng dư

Nó tác động đến mọi mặt của xã hội tư bản Nó quyết định sự phát sinh, pháttriển của chủ nghĩa tư bản và sự thay thế nó bằng một xã hội khác cao hơn, là quyluật vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Việc nghiên cứu phạmtrù giá trị thặng dư, độc quyền trong chủ nghĩa tư bản có ý nghĩa rất quan trọng.Chính vì vậy, em đã mạnh dạn chọn đề tài 2 cho bài tiểu luận của mình

Trang 2

Nội dung

1 Lý thuyết giá trị thặng dư

1.1 Các hình thức biểu hiện cúa giá trị thặng dư

* Lợi nhuận

Giữa giá trị hàng hoá và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn luôn cómột khoảng chênh lệch, cho nên sau khi bán hàng hoá (giá cả = giá trị), nhà tưbản không những bù đắp đủ số tư bản đã ứng ra, mà còn thu được một số tiền lờingang bằng với m Số tiền này được gọi là lợi nhuận, ký hiệu là p Giá trị thặng

dư được so với toàn bộ tư bản ứng trước, được quan niệm là con đẻ của toàn bộ

tư bản ứng trước sẽ mang hình thức chuyển hoá là lợi nhuận Hay lợi nhuận là sốtiền lời mà nhà tư bản thu được do có sự chênh lệch giữa giá trị hàng hoá và chiphí sản xuất tư bản chủ nghĩa Nếu ký hiệu lợi nhuận là p thì công thức: W = c +

v + m = k + m bây giờ sẽ chuyển thành: W = k + p (hay giá trị hàng hoá bằng chiphí sản xuất tư bản chủ nghĩa cộng với lợi nhuận)

Vấn đề đặt ra là giữa p và m có gì khác nhau? Về mặt lượng: nếu hàng hoábán với giá cả đúng giá trị thì m = p; m và p giống nhau ở chỗ chúng đều cóchung một nguồn gốc là kết quả lao động không công của công nhân làm thuê

Về mặt chất: thực chất lợi nhuận và giá trị thặng dư đều là một, lợi nhuận chẳngqua chỉ là một hình thái thần bí hoá của giá trị thặng dư C.Mác viết: "Giá trịthặng dư, hay là lợi nhuận, chính là phần giá trị dôi ra ấy của giá trị hàng hoá sovới chi phí sản xuất của nó, nghĩa là phần dôi ra của tổng số lượng lao động chứađựng trong hàng hoá so với số lượng lao động được trả công chứa đựng tronghàng hoá"1 Phạm trù lợi nhuận phản ánh sai lệch bản chất quan hệ sản xuất giữanhà tư bản và lao động làm thuê, vì nó làm cho người ta tưởng rằng giá trị thặng

dư không phải chỉ do lao động làm thuê tạo ra Nguyên nhân của hiện tượng đólà: Thứ nhất, sự hình thành chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xoá nhoà sự khácnhau giữa c và v, nên việc p sinh ra trong quá trình sản xuất nhờ bộ phận v đượcthay thế bằng sức lao động, bây giờ lại trở thành con đẻ của

Trang 3

toàn bộ tư bản ứng trước Thứ hai, do chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn nhỏhơn chi phí sản xuất thực tế, cho nên nhà tư bản chỉ cần bán hàng hoá cao hơnchi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa và có thể thấp hơn giá trị hàng hoá là đã có lợinhuận rồi Đối với nhà tư bản, họ cho rằng lợi nhuận là do việc mua bán, do lưuthông tạo ra, do tài kinh doanh của nhà tư bản mà có Điều này được thể hiện ởchỗ, nếu nhà tư bản bán hàng hoá với giá cả bằng giá trị của nó thì khi đó m = p;nếu bán với giá cả cao hơn giá trị thì khi đó m < p; nếu bán với giá cả nhỏ hơngiá trị hàng hoá, thì khi đó m > p Nhưng xét trong toàn xã hội thì tổng giá cảluôn bằng tổng giá trị, nên tổng lợi nhuận luôn bằng tổng giá trị thặng dư Chính

sự không nhất trí về lượng giữa m và p, nên càng che giấu thực chất bóc lột củachủ nghĩa tư bản

* Lợi nhuận thương nghiệp

Đối với tư bản thương nghiệp trước chủ nghĩa tư bản thì, lợi nhuận thươngnghiệp được coi là do mua rẻ, bán đắt mà có C Mác nói: lợi nhuận thươngnghiệp không những là kết quả của việc ăn cắp và lừa đảo, mà đại bộ phận lợinhuận thương nghiệp chính là do những việc ăn cắp và lừa đảo mà ra cả Đối với

tư bản thương nghiệp tư bản chủ nghĩa, nếu gạt bỏ các chức năng khác liên quanvới nó như: bảo quản, đóng gói, chuyên chở (tức là chức năng tiếp tục quá trìnhsản xuất trong lĩnh vực lưu thông), mà chỉ hạn chế ở các chức năng chủ yếu làmua và bán, thì nó không sáng tạo ra giá trị và giá trị thặng dư Trái lại, nó chỉlàm nhiệm vụ thực hiện giá trị và giá trị thặng dư Nếu nhìn bề ngoài thì hình nhưlợi nhuận thương nghiệp là do mua rẻ, bán đắt, do lưu thông tạo ra, nhưng vềthực chất thì lợi nhuận thương nghiệp là một phần giá trị thặng dư được sáng tạo

ra trong lĩnh vực sản xuất mà nhà tư bản công nghiệp nhường cho nhà tư bảnthương nghiệp Vấn đề được đặt ra là tại sao nhà tư bản công nghiệp lại nhườngcho nhà tư bản thương nghiệp một phần giá trị thặng dư đó? Sở dĩ nhà tư bảncông nghiệp lại bằng lòng nhường cho nhà tư bản thương nghiệp là do nhà tư bảnthương nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nhà tư bản công nghiệp.Điều đó được thể hiện: Một là, tư bản thương nghiệp chỉ

Trang 4

hoạt động trong lĩnh vực lưu thông, đó là một khâu, một giai đoạn của quá trìnhtái sản xuất, không có giai đoạn đó thì quá trình tái sản xuất không thể tái diễnđược liên tục Hơn nữa, hoạt động trong lĩnh vực này nếu không có lợi nhuận thìnhà tư bản thương nghiệp không thể tiếp tục đảm nhiệm công việc đó Vì vậy,xuất phát từ lợi ích kinh tế của nhà tư bản thương nghiệp mà nhà tư bản côngnghiệp nhường cho nó một phần lợi nhuận Hai là, tư bản thương nghiệp góp phần

mở rộng quy mô tái sản xuất Ba là, tư bản thương nghiệp góp phần mở rộng thịtrường, tạo điều kiện cho công nghiệp phát triển Bốn là, do tư bản thươngnghiệp đảm nhận khâu lưu thông, nên tư bản công nghiệp không phải kinh doanhtrên cả hai lĩnh vực: sản xuất và lưu thông, do đó có thể rảnh tay trong lưu thông

và chỉ tập trung đẩy mạnh sản xuất Vì vậy, tư bản của nó chu chuyển nhanh hơn,năng suất lao động cao hơn và nhờ đó lợi nhuận cũng tăng lên Năm là, tư bảnthương nghiệp tuy không trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư, nhưng góp phần làmtăng năng suất lao động, tăng lợi nhuận, do đó làm cho tỷ suất lợi nhuận chungcủa xã hội cũng tăng lên, góp phần tích lũy cho tư bản công nghiệp Vì những lẽ

đó mà nhà tư bản công nghiệp mới bằng lòng nhường một phần giá trị thặng dưcho nhà tư bản thương nghiệp

*Lợi tức cho vay

Tư bản cho vay là tư bản sinh lợi tức Đứng về phía nhà tư bản cho vay thì

do họ nhường quyền sử dụng tư bản của mình cho người khác trong một thờigian nhất định, nên thu được lợi tức Về phía nhà tư bản đi vay (nhà tư bản hoạtđộng) thì họ vay tiền về để đưa vào sản xuất - kinh doanh, nên họ thu được lợinhuận (lợi nhuận bình quân) Nhưng vì họ không có tư bản hoạt động, nên phải

đi vay Do đó họ phải trích một phần lợi nhuận thu được để trả cho nhà tư bảncho vay Số tiền trích ra để trả đó được gọi là lợi tức Như vậy, về thực chất, lợitức chỉ là một phần của lợi nhuận mà nhà tư bản hoạt động thu được nhờ sử dụng

tư bản đi vay, phải trả cho nhà tư bản cho vay Trên thực tế lợi tức là một phần lợinhuận bình quân, mà nhà tư bản đi vay phải trả cho nhà tư bản cho vay, căn cứvào số tư bản mà nhà tư bản cho vay đã đưa cho nhà tư bản đi vay sử

Trang 5

dụng Nguồn gốc của lợi tức là một phần giá trị thặng dư do công nhân sáng tạo

ra trong lĩnh vực sản xuất Nhưng, việc nhà tư bản cho vay thu được lợi tức đãche giấu thực chất bóc lột tư bản chủ nghĩa Dựa vào công thức vận động của tưbản cho vay, chúng ta hoàn toàn vạch trần được điều đó

a) Lợi nhuận ngân hàng

Ngân hàng tư bản chủ nghĩa là tổ chức kinh doanh tư bản tiền tệ, làm môigiới giữa người đi vay và người cho vay Ngân hàng có hai nghiệp vụ: nhận gửi

và cho vay Trong nghiệp vụ nhận gửi, ngân hàng trả lợi tức cho người gửi tiền;còn trong nghiệp vụ cho vay, ngân hàng thu lợi tức của người đi vay Lợi tứcnhận gửi nhỏ hơn lợi tức cho vay Chênh lệch giữa lợi tức cho vay và lợi tứcnhận gửi trừ đi những khoản chi phí cần thiết về nghiệp vụ ngân hàng, cộng vớicác khoản thu nhập khác về kinh doanh tư bản tiền tệ hình thành nên lợi nhuậnngân hàng Trong cạnh tranh, rốt cuộc lợi nhuận ngân hàng cũng ngang bằng vớilợi nhuận bình quân Nếu không sẽ lại có sự tự do di chuyển tư bản vào cácngành khác nhau Ngoài nghiệp vụ trên, ngân hàng còn đóng vai trò thủ quỹ cho

xã hội, quản lý tiền mặt, phát hành tiền giấy, trung tâm thanh toán của xã hội.Nhờ có ngân hàng mà các nhà tư bản có điều kiện mở rộng sản xuất nhanh chónghơn, có điều kiện tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác dễ dànghơn, giảm được chi phí lưu thông, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, tăngnhanh tốc độ chu chuyển của tiền tệ

* Địa tô tư bản chủ nghĩa

1 Sự hình thành quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp

Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa không chỉ hình thành và thống trị tronglĩnh vực công nghiệp, mà nó ngày càng được hình thành và phát triển trong lĩnhvực nông nghiệp Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa xuất hiện trong nông nghiệpmuộn hơn trong thương nghiệp và công nghiệp Chủ nghĩa tư bản xuất hiện trongnông nghiệp bằng cả con đường phân hoá của những người nông dân, hình thànhtầng lớp giàu có (phú nông, tư bản nông nghiệp) kinh

Trang 6

doanh nông nghiệp theo phương thức tư bản chủ nghĩa và bằng cả sự xâm nhậpcủa các nhà tư bản đầu tư vào nông nghiệp Trong lịch sử, quan hệ sản xuất tưbản chủ nghĩa hình thành trong nông nghiệp ở châu Âu theo hai con đường điểnhình: Thứ nhất, bằng cải cách mà dần dần chuyển kinh tế địa chủ phong kiếnsang kinh doanh theo phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, sử dụng lao độnglàm thuê Đó là con đường của các nước Đức, Italia, Nga Sa hoàng Thứ hai,bằng cuộc cách mạng dân chủ tư sản, xoá bỏ chế độ kinh tế địa chủ, thủ tiêuquyền sở hữu ruộng đất phong kiến, phát triển chủ nghĩa tư bản trong nôngnghiệp Đó là con đường diễn ra ở các nước Pháp, Anh, Mỹ Đặc điểm nổi bậtcủa quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp là chế độ độc quyềnruộng đất Chế độ độc quyền ruộng đất đã ngăn cản tự do cạnh tranh trong nôngnghiệp Khi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa được hình thành, nếu không kểđến một số ít nông dân cá thể tự canh tác trên mảnh đất của họ, thì trong nôngnghiệp tư bản chủ nghĩa có ba giai cấp chủ yếu: giai cấp địa chủ (người sở hữuruộng); giai cấp các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp (các nhà tư bản thuêruộng đất để kinh doanh) và giai cấp công nhân nông nghiệp làm thuê.

2 Bản chất của địa tô tư bản chủ nghĩa

Chúng ta đều biết rằng, cũng như các nhà tư bản kinh doanh trong côngnghiệp, các nhà tư bản kinh doanh trong nông nghiệp cũng phải thu được lợinhuận bình quân Nhưng muốn kinh doanh trong nông nghiệp thì họ phải thuêruộng đất của địa chủ Vì vậy, ngoài lợi nhuận bình quân ra nhà tư bản kinhdoanh nông nghiệp phải thu thêm được một phần giá trị thặng dư dôi ra nữa tức

là lợi nhuận siêu ngạch Lợi nhuận siêu ngạch này tương đối ổn định và lâu dài

và nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải trả cho người sở hữu ruộng dưới hìnhthái địa tô tư bản chủ nghĩa Vậy địa tô tư bản chủ nghĩa là phần giá trị thặng dưcòn lại sau khi đã khấu trừ đi phần lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản kinhdoanh nông nghiệp phải nộp cho địa chủ Giữa địa tô tư bản chủ nghĩa và địa tôphong kiến có điểm giống nhau và khác nhau: Sự giống nhau trước hết là quyền

sở hữu ruộng đất được thực hiện về mặt kinh tế; cả hai loại địa tô đều

Trang 7

là kết quả của sự bóc lột đối với những người lao động Song hai loại địa tô trênkhác nhau cả về lượng và chất Về mặt lượng, địa tô phong kiến gồm toàn bộ sảnphẩm thặng dư do nông dân tạo ra, có khi còn lạm vào cả phần sản phẩm cầnthiết Còn địa tô tư bản chủ nghĩa chỉ là một phần giá trị thặng dư ngoài lợi nhuậnbình quân của nhà tư bản kinh doanh ruộng đất Về mặt chất, địa tô phong kiếnphản ánh mối quan hệ giữa hai giai cấp: địa chủ và nông dân, trong đó giai cấpđịa chủ trực tiếp bóc lột nông dân; còn địa tô tư bản chủ nghĩa phản ánh mốiquan hệ giữa ba giai cấp: giai cấp địa chủ, giai cấp các nhà tư bản kinh doanhruộng đất và giai cấp công nhân nông nghiệp làm thuê, trong đó địa chủ gián tiếpbóc lột công nhân thông qua tư bản hoạt động Vấn đề đặt ra là: tại sao nhà tưbản kinh doanh nông nghiệp lại có thể thu được phần giá trị thặng dư dôi ra ngoàilợi nhuận bình quân để trả cho chủ ruộng đất? Việc nghiên cứu địa tô chênh lệch

và địa tô tuyệt đối sẽ giải thích điều đó

3 Các hình thức địa tô tư bản chủ nghĩa

a) Địa tô chênh lệch

Trong các phần trên chúng ta đã nghiên cứu và thấy rằng lợi nhuận siêungạch trong công nghiệp chỉ là hiện tượng tạm thời, không ổn định, nó chỉ xuấthiện đối với nhà tư bản cá biệt nào có những điều kiện sản xuất thuận lợi hơnđiều kiện sản xuất trung bình của toàn xã hội Trái lại, trong nông nghiệp thìkhác, do ruộng đất là tư liệu sản xuất cơ bản, ruộng tốt, xấu khác nhau, đại bộphận là xấu Do người ta không tạo thêm được ruộng đất mà những ruộng đất tốtlại bị độc quyền kinh doanh kiểu tư bản chủ nghĩa cho thuê hết nên buộc phảithuê ruộng đất xấu Điều đó làm cho những nhà tư bản kinh doanh trên nhữngruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi luôn luôn thu được lợi nhuận siêungạch Lợi nhuận siêu ngạch này tương đối ổn định và lâu dài, vì nó dựa trên tínhchất cố định của ruộng đất và độ màu mỡ của đất đai Lợi nhuận siêu ngạch này

sẽ chuyển hoá thành địa tô chênh lệch Về vấn đề giá cả trong nông nghiệp cũng

có sự khác biệt với trong công nghiệp Trong công nghiệp giá cả sản xuất là dođiều kiện sản xuất trung bình quyết định; còn trong nông nghiệp,

Trang 8

nếu như vậy thì nhà tư bản kinh doanh trên ruộng rất xấu không thu được lợinhuận bình quân, và do đó họ sẽ chuyển sang kinh doanh nghề khác Song, nếuchỉ kinh doanh trên ruộng đất tốt và trung bình thì sẽ không đủ nông sản phẩm đểthoả mãn nhu cầu của xã hội Vì những lẽ trên mà trong nông nghiệp, giá cảnông sản do điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất quyết định.

Vậy, địa tô chênh lệch là phần lợi nhuận vượt ra ngoài lợi nhuận bình quân,thu được trên những ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn; nó là số chênhlệch giữa giá cả sản xuất chung được quyết định bởi điều kiện sản xuất trên ruộngđất xấu nhất và giá cả sản xuất cá biệt trên ruộng đất tốt và trung bình Thực chấtcủa địa tô chênh lệch là lợi nhuận siêu ngạch, nguồn gốc của nó là một phần giátrị thặng dư do công nhân nông nghiệp tạo ra Địa tô chênh lệch gắn liền với độcquyền kinh doanh ruộng đất theo lối tư bản chủ nghĩa Đó là nguyên nhân sinh rađịa tô chênh lệch Có hai loại địa tô chênh lệch: địa tô chênh lệch I và địa tôchênh lệch II Địa tô chênh lệch I là loại địa tô thu được trên những ruộng đất có

độ màu mỡ tự nhiên thuận lợi (trung bình và tốt), gần nơi tiêu thụ, gần đườnggiao thông Địa tô chênh lệch II là địa tô thu được nhờ thâm canh mà có Thâmcanh ruộng đất là đầu tư thêm tư bản vào một đơn vị diện tích để nâng cao chấtlượng canh tác, nhằm tăng độ màu mỡ trên mảnh ruộng đó; nâng cao sản lượngtrên một đơn vị diện tích Chừng nào mà còn thời hạn hợp đồng thuê ruộng thìnhà tư bản kinh doanh bỏ túi số lợi nhuận siêu ngạch này Nhưng khi hết hạn hợpđồng, chủ ruộng sẽ tìm cách nâng cao mức địa tô để chiếm lấy số lợi nhuận siêungạch đó, tức là biến lợi nhuận siêu ngạch thành địa tô chênh lệch Vì lẽ đó màchủ ruộng đất chỉ muốn cho thuê trong một thời gian ngắn, còn nhà tư bản kinhdoanh không muốn đầu tư vốn lớn để đầu tư cải tiến kỹ thuật, cải tạo đất đai, vìlàm như vậy phải mất một thời gian dài mới thu hồi được số vốn lớn đã bỏ ra, rốtcuộc chủ ruộng sẽ là người hưởng những lợi ích do việc đầu tư đó đem lại Vìvậy, trong thời hạn thuê ruộng, nhà tư bản kinh doanh tìm mọi cách tận dụng hết

độ màu mỡ của đất đai để thu được lợi nhuận nhiều hơn Đó là mục đích kinhdoanh của họ Điều này đã giúp chúng ta

Trang 9

dễ dàng đi đến kết luận là trong điều kiện canh tác theo lối tư bản chủ nghĩa thì

độ màu mỡ của đất đai ngày càng giảm sút

b) Địa tô tuyệt đối

Địa tô tuyệt đối là địa tô mà tất cả các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệpđều phải nộp cho địa chủ dù ruộng đất đó tốt hay xấu Đây là loại tô thu trên tất

cả mọi thứ ruộng đất Chúng ta đều biết, dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, do có sựđộc quyền tư hữu ruộng đất, nên đã cản trở sự phát triển của quan hệ sản xuất tưbản chủ nghĩa trong lĩnh vực nông nghiệp Điều đó được thể hiện ở chỗ: nôngnghiệp thường lạc hậu hơn so với công nghiệp cả về kinh tế lẫn kỹ thuật, vì thếcấu tạo hữu cơ của tư bản trong nông nghiệp thường thấp hơn trong công nghiệp.Điều này phản ánh một điều: nếu trình độ bóc lột ngang nhau, thì một tư bảnngang nhau sẽ sinh ra trong nông nghiệp nhiều giá trị thặng dư hơn trong côngnghiệp

c) Địa tô đất xây dựng, địa tô hầm mỏ và địa tô độc quyền

+ Địa tô đất xây dựng: Địa tô đất xây dựng về cơ bản được hình thànhnhư địa tô đất nông nghiệp Nhưng nó cũng có những đặc trưng riêng: Thứ nhất,trong việc hình thành địa tô xây dựng, vị trí của đất đai là yếu tố quyết định, còn

độ màu mỡ và trạng thái của đất đai không có ảnh hưởng lớn Thứ hai, địa tô đấtxây dựng tăng lên nhanh chóng do sự phát triển của dân số, do nhu cầu về nhà ởtăng lên và do những tư bản cố định sáp nhập vào ruộng đất ngày càng tăng lên

+ Địa tô hầm mỏ: Đất hầm mỏ - đất có những khoáng sản khai thác cũngđem lại địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối cho người sở hữu đất đai ấy Địa tôhầm mỏ cũng hình thành và được quyết định như địa tô đất nông nghiệp Đối vớiđịa tô hầm mỏ, giá trị của khoáng sản, hàm lượng, trữ lượng của khoáng sản, vịtrí và điều kiện khai thác là những yếu tố quyết định

+ Địa tô độc quyền: Địa tô luôn luôn gắn liền với độc quyền sở hữu ruộngđất, độc chiếm các điều kiện tự nhiên thuận lợi, cản trở sự cạnh tranh của tư bản,tạo nên giá cả độc quyền của nông sản Tuy nhiên, có những loại đất có thể trồngnhững loại cây cho những sản phẩm quý hiếm, có giá trị cao (như những

Trang 10

vườn nho có thể cho những thứ rượu đặc biệt) hay có những khoáng sản đặc biệt

có giá trị, thì địa tô của những đất đai đó sẽ rất cao, có thể xem đó là địa tô độcquyền Nguồn gốc của địa tô độc quyền này cũng là lợi nhuận siêu ngạch do giá

cả độc quyền cao của sản phẩm thu được trên đất đai ấy mà nhà tư bản phải nộpcho địa chủ - người sở hữu những đất đai đó

4 Giá cả ruộng đất

Giá cả đất đai là địa tô tư bản hoá Bởi đất đai đem lại địa tô, tức là đem lạimột thu nhập ổn định bằng tiền, nên nó được xem như là một loại tư bản đặc biệt.Còn địa tô chính là lợi tức của tư bản đó Do vậy, giá cả ruộng đất chỉ là giá muađịa tô do ruộng đất đem lại theo tỷ suất lợi tức hiện hành Nó phụ thuộc vào địa

tô và tỷ suất lợi tức của ngân hàng

1.2 Ý nghĩa thực tiễn

Để trả lời cho câu hỏi: học thuyết giá trị thặng dư (GTTD) của C Mác cólỗi thời hay không, trước hết, cần nắm vững bản chất tư tưởng cốt lõi của họcthuyết GTTD

Học thuyết GTTD được hình thành trên cơ sở học thuyết giá trị - lao động

mà trực tiếp là việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa.Việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa có ý nghĩa tolớn về mặt lý luận, nó đem đến cho lý thuyết giá trị - lao động một cơ sở khoahọc thực sự

Trước C Mác, ngay cả những nhà kinh tế học lỗi lạc của trường phái tưsản cổ điển, như A-đam Xmít và Đa-vít Ri-các-đô đã không giải thích nổi vì saocác nhà tư bản trao đổi hàng hóa đúng giá trị mà vẫn thu được GTTD C Mác đãkhắc phục được những nhầm lẫn, hạn chế của trường phái cổ điển và làm cho họcthuyết giá trị - lao động đạt tới sự hoàn bị Sử dụng phương pháp đặc thù trongnghiên cứu kinh tế chính trị là trừu tượng hóa khoa học, C Mác đã tách GTTD rakhỏi những hình thái đặc thù của nó, xây dựng nên học thuyết GTTD của mình

10

Trang 11

Các nhà kinh tế trước C Mác thấy được lao động tạo ra giá trị, nhưngkhông tách ra được lao động nào(cụ thể hay trừu tượng)tạo ra giá trị C Mác chothấy, chỉ có lao động trừu tượng mới tạo ra giá trị của hàng hóa Nhờ phát hiện ratính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa cùng với một loạt những kếtquả nghiên cứu khác: Về lượng giá trị, cấu thành lượng giá trị; nguồn gốc, bảnchất, chức năng tiền tệ; quy luật giá trị và tác động của nó; mâu thuẫn công thứcchung của tư bản và đặc biệt là nhờ phát hiện ra giá trị sử dụng đặc biệt của hànghóa sức lao động có thuộc tính hết sức đặc biệt là sản sinh ra giá trị lớn hơn giátrị bản thân nó và nhờ phân biệt được quá trình lao động và quá trình làm tănggiá trị (quá trình sản xuất GTTD), C Mác đã vạch rõ bản chất của nền sản xuất

tư bản chủ nghĩa (TBCN), thực chất của quá trình sản xuất GTTD Qua đó, C.Mác làm rõ GTTD được tạo ra trong sản xuất chứ không phải là trong lĩnh vựclưu thông; lưu thông rất cần cho quá trình sản xuất và thực hiện GTTD

Tất cả thành quả đó, tạo nên cơ sở khoa học vững chắc giúp C Mác giảithích được nguồn gốc thực sự và quá trình vận động, biến tướng của GTTD thànhlợi nhuận, lợi tức, địa tô trong sản xuất, lưu thông, phân phối; phân tích được bảnchất của tư bản bất biến và tư bản khả biến xây dựng nên học thuyết khoa học

về GTTD, về tích lũy, về tái sản xuất và khủng hoảng kinh tế Với học thuyếtGTTD, C Mác đã giải phẫu toàn bộ hệ thống kinh tế TBCN, bóc trần bản chất vànguồn gốc của cái gọi là hình thức“thu nhập” là lợi nhuận, lợi tức và địa tô

Học thuyết GTTD cho thấy rõ bản chất và đặc điểm bóc lột của TBCN.Kinh tế hàng hóa TBCN là sự phát triển của kinh tế hàng hóa giản đơn Nhưng,kinh tế hàng hóa TBCN khác với kinh tế hàng hóa giản đơnkhông chỉ về lượng(tức là không phải chỉ khác ở số lượng lớn sản phẩm bị thu hút vào chu chuyểnhàng hóa và hình thái hàng hóa của sản phẩm trở thành hình thái thống trị)mà cònkhác về chất Trên vũ đài hàng hóa xuất hiện một loại hàng hóa mới là sức laođộng, do đó, thị trường hàng hóa (nói chung) được bổ sung bằng một bộ

11

Trang 12

phận đặc biệt là thị trường sức lao động Tất nhiên, thị trường sức lao độngkhông phải do C Mác khám phá ra, vì ai cũng biết đến sự tồn tại của lao độnglàm thuê trong các xã hội trước TBCN Nhưng điểm nhấn là ở chỗ, chỉ có C Mácmới nhìn thấy lao động làm thuê (hàng hóa sức lao động và chỉ trên cơ sở sảnxuất hàng hóa, lao động bị tách khỏi tư liệu sản xuất (TLSX) mới trở thành laođộng làm thuê) là một nhân tố cơ bản làm cho tiền chuyển hóa thành tư bản vàkinh tế hàng hóa giản đơn chuyển hóa thành kinh tế hàng hóa TBCN -thời đạimới của quá trình sản xuất xã hội, thời đại của tư bản công nghiệp.

Sự phân cực trong vấn đề tài sản tự nó là biểu hiện của tình trạng bất bìnhđẳng xã hội ngày càng tăng ở các nước tư bản Cực tích tụ của cải và cực tích tụđói nghèo là hai mặt của một đồng tiền tư bản ở từng nước và trên phạm vi thếgiới

Phương thức sản xuất TBCN được xây dựng trên cơ sở của một hình thứcbóc lột đặc biệt, tức là hình thức chiếm đoạt lao động của người khác (lao độngthặng dư) dưới hình thái GTTD Khác với phạm trù “lợi nhuận” vốn được nhà tưbản yêu thích, GTTD biểu hiện một cách chính xác như sau: 1- Là giá trị, tức laođộng vật hóa; 2- Là lao động thặng dư vật hóa, là phần giá trị dôi ra ngoài giá trịsức lao động và bị nhà tư bản chiếm dụng Từ đó, đặc điểm bóc lột của CNTBkhông phải là ở sự tồn tại lao động thặng dư, mặc dù dưới sự thống trị của tư bản,trình độ bóc lột được nâng lên rất cao, mà đặc điểm của nó làlao động thặng dư

đã hao phí mang hình thái GTTD, còn tỷ lệ giữa thời gian lao động thặng dư vàthời gian lao động tất yếu thì mang hình thái tỷ lệ giữa GTTD và tư bản khả biến.Quan hệ bóc lột bị vật hóa, bị che lấp đằng sau quan hệ giữa vật với vật Vìthế,sự bóc lột trong chủ nghĩa tư bản (CNTB) là rất tinh vi và không có giới hạn

Như vậy, điểm mấu chốt của học thuyết GTTD là:

Thứ nhất,chỉ có lao động sống mới tạo ra giá trị của hàng hóa, tạo ra

GTTD Nguồn gốc tạo ra GTTD là sức lao động của công nhân làm thuê, chỉ cólao động sống (sức lao động đang hoạt động) mới tạo ra giá trị, trong đó có

Trang 13

GTTD, nguồn gốc của GTTD là sự tiêu dùng sức lao động kéo dài ngoài thờigian tái sản xuất ra giá trị của nó;

Thứ hai,GTTD là quy luật kinh tế tuyệt đối của phương thức sản xuất

TBCN, không có sản xuất GTTD thì không có CNTB, GTTD là nguồn gốc củamâu thuẫn cơ bản, nội tại của xã hội tư bản (mâu thuẫn giữa lao động và tư bản,giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân), mâu thuẫn này ngày càng sâu sắc,đưa đến sự thay thế tất yếu CNTB bằng một xã hội cao hơn

Thứ ba,chừng nào còn chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về TLSX, còn

hàng hóa sức lao động, chừng nào mà người lao động còn phải thêm vào thờigian lao động cần thiết để nuôi sống mình một số thời gian lao động dôi ra để sảnxuất những tư liệu sinh hoạt cho người chiếm hữu TLSX, chừng đó, học thuyếtgiá trị thặng dư của C Mác vẫn còn nguyên giá trị

2 Độc quyền trong chủ nghĩa tư bản

2.1 Nguyên nhân hình thành của độc quyền trong chủ nghĩa tư bản

Chủ nghĩa tư bản độc quyền xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ

XX do những nguyên nhân chủ yếu sau:

- Sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tác động của tiến bộ khoahọc kỹ thuật; một mặt, làm xuất hiện những ngành sản xuất mới Ngay từ dầu đã

là những ngành có trình độ tích tụ cao, đòi hỏi những hình thức kinh tế tổ chứcmới, đó là những xí nghiệp lớn, sản xuất lớn có ưu thế rõ rệt so với sản xuất nhỏ

và đã phát triển rất mạnh Mặt khác, nó dẫn đến tăng năng suất lao dộng, tăng sảnxuất giá trị thặng dư tương đối Việc nâng cao tỷ suất và khối lượng giá trị thặng

dư đã mở rộng khả năng tích lũy tư bản, thúc đẩy sự phát triển sản xuất lớn, tăngtích tụ tư bản và sản xuất

- Vào 30 năm cuối của thế ky XIX, những thành tựu khoa học kỹ thuậtmới xuất hiện như lò luyện kim mới Betsơme, Máctanh, Tômát, v.v đã tạo ra sảnlượng lớn gang thép với chất lượng cao; phát hiện ra hoá chất mới như axítsunphuaric (H2S04), thuốc nhuộm, v.v.; máy móc mới ra đời: động cơ điêzen,máy phát điện, máy tiện, máy phay, v.v.; phát triển những phương tiện vận tải

Trang 14

mới: xe hơi, tàu thuỷ, xe điện, máy bay, v.v và đặc biệt là đường sắt Nhữngthành tựu khoa học kỹ thuật này, một mật làm xuất hiện những ngành sản xuấtmới đòi hỏi xí nghiệp phải có quy mô lớn; mặt khác, nó dẫn đến tăng năng suấtlao động, tăng khả năng tích luỹ tư bản, thúc đẩy phát triển sản xuất lớn.

- Trong điều kiện phát triển của khoa học kỹ thuật, sự tác động của cácquy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản như quy luật giá trị thặng dư, quy luật tíchluỹ, v.v ngày càng mạnh mẽ, làm biến đổi cơ cấu kinh tế của xã hội tư bản theohướng tập trung sản xuất quy mô lớn

- Cạnh tranh khốc liệt buộc các nhà tư bản phải tích cực cải tiến kỹthuật, tăng quy mô tích luỹ để thắng thế trong cạnh tranh Đồng thời, cạnh tranhgay gắt làm cho các nhà tư bản vừa và nhỏ bị phá sản, còn các nhà tư bản lớnphát tài, làm giàu với số tư bản tập trung và quy mô xí nghiệp ngày càng to lớn

- Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1873 trong toàn bộ thế giới tư bản chủnghĩa làm phá sản hàng loạt xí nghiệp vừa và nhỏ, thúc đẩy nhanh chóng quátrình tích tụ và tập trung tư bản

Sự phát triển của hệ thống tín dụng tư bản chủ nghĩa trở thành đòn bẩymạnh mẽ thúc đẩy tập trung sản xuất, nhất là việc hình thành các công ty cổphần, tạo tiền để cho sự ra đời của các tổ chức độc quyền

2.2 Những đặc điểm kinh tế cơ bản của độc quyền trong chủ nghĩa tư bản

a) Tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền

Tích tụ và tập trung sản xuất cao dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền là đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa đế quốc

Tổ chức độc quyền là tổ chức liên minh giữa các nhà tư bản lớn để tậptrung vào trong tay phần lớn việc sản xuất và tiêu thụ một số loại hàng hoá nào

đó nhằm mục đích thu được lợi nhuận độc quyền cao Khi mới bắt đầu quá trìnhđộc quyền hoá, các liên minh độc quyền hình thành theo liên kết ngang, nghĩa làmới chỉ liên kết những doanh nghiệp trong cùng một ngành, nhưng về sau theomối liên hệ dây chuyền, các tổ chức độc quyền đã phát triển theo liên kết dọc,

Ngày đăng: 18/04/2022, 20:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w