MỤC LỤC MỤC LỤC i PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU 1 PHẦN II NỘI DUNG 2 CHƯƠNG I MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ 2 1 1 Tư bản và giá trị thặng dư 2 1 2 Một số phương pháp sản xuất giá trị thặng dư 3 1 2.MỤC LỤCMỤC LỤCiPHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU1PHẦN II: NỘI DUNG2CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ21.1. Tư bản và giá trị thặng dư21.2. Một số phương pháp sản xuất giá trị thặng dư31.2.1. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối31.2.2. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối41.3. Hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư4CHƯƠNG II: Ý NGHĨA VÀ THỰC TRẠNG SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TẠI NƯỚC TA HIỆN NAY72.1. Ý nghĩa của học thuyết Giá trị thặng dư đối với nước ta hiện nay72.2. Thực trạng vấn đề giá trị thặng dư tại Việt Nam92.2.1. Vấn đề bóc lột trong sản xuất và phân phối giá trị thặng dư92.2.2. Áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất102.2.3. Khuyến khích đầu tư và sử dụng vốn có hiệu quả11CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ NHẰM PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY133.1.Nâng cao chất lượng nguồn lao động133.2. Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước về kinh tế và giữ vững định hướng XHCN14PHẦN III: KẾT LUẬN17 PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦUSau hơn ba mươi năm đổi mới, đất nước ta đã gặt hái được nhiều thành tựu như kinh tế ngày càng phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, uy tín Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Tuy nhiên, với xuất phát điểm từ nông nghiệp nên nền kinh tế nước ta có quy mô nhỏ, quá trình hòa nhập quốc tế đang gặp phải nhiều khó khăn. Vì vậy, để khắc phục thực trạng yếu kém và phát huy thế mạnh hiện có nước ta đã phát triển nền kinh tế thị trường để hiện đại hóa đất nước. Trong đó, việc vận dụng các quy luật kinh tế mà đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư đã và đang là một hướng áp dụng có hiệu quả trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay. Giá trị thặng dư là một trong những phát hiện vĩ đại của C.Mác và theo như V.I.Lênin nhận xét thì “ Học thuyết giá trị thặng dư là viên đá tảng của học thuyết kinh tế của Mác ”Giá trị thặng dư đã mang lại những bước phát triển cho nước ta trong giai đoạn hiện nay.Tính tất yếu khách quan về việc vận dụng giá trị thặng dư vào Việt Nam đã được thông qua trong các văn kiện Đại hội của Đảng nhưng trong một chừng mực nào đó vẫn còn tồn tại các thành kiến với các thành phần kinh tế tư nhân, tư bản coi thành phần kinh tế này là bốc lột và nhận thức này không chỉ xảy ra với một số cán bộ là Đảng viên làm công tác quản lý mà còn xảy ra ngay trong những người trực tiếp làm kinh tế tư nhân ở nước ta. Vì vậy sau khoảng thời gian học hỏi kiến thức ở trường, em đã quyết định lựa chọn đề tài ” Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu vấn đề này.” để hiểu rõ hơn về thực trạng đất nước cũng như việc vận dụng thực tế của Đảng và nhà nước. PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ1.1. Tư bản và giá trị thặng dư Theo Mác, tư bản nẩy sinh từ tiền vào đầu thế kỷ XVI. Khi ông phân tích những hình thái kinh tế trong đó quá trình lưu thông hàng hoá, thì tiền là hình thái cuối cùng. Sản vật cuối cùng ấy của lưu thông hàng hoá là hình thái biểu hiện đầu tiên của tư bản. Xét về mặt lịch sử thì đâu đâu tư bản cũng đối lập với sở hữu ruộng đất, trước tiên là dưới hình thái tiền, với tư cách là tài sản bằng tiền, tư bản của thương nhân và tư bản cho vay nặng lãi... Lịch sử ấy hàng ngày đang diễn ra trước mắt chúng ta. Khi mới xuất hiện lần đầu tiên trên vũ đài, tức là trên thị trường, thị trường hàng hoá, thị trường lao động hay thị trường tiền tệ, thì mỗi một tư bản bao giờ cũng xuất hiện dưới dạng tiền, số tiền này phải được chuyển hoá thành tư bản thông qua những quá trình nhất định. Sau đó Mác tiếp tục nghiên cứu những quá trình nhờ chúng mà tiền biến thành tư bản, và trước hết ông thấy rằng hình thức trong đó tiền lưu thông với tư cách là tư bản (T H T’), và một hình thức ngược lại với hình thức trên, tiền lưu thông với tư cách là vật ngang giá chung của các hàng hoá (HTH’). Một người chủ hàng hoá giản đơn thì bán để mua; anh ta bán cái mà anh ta không cần dùng, và với tiền thu được, anh ta mua cái mà anh ta cần dùng. Còn nhà tư bản bắt tay vào công việc thì thoạt tiên mua cái mà bản thân hắn không cần đến; hắn mua để bán, hơn nữa lại để bán đắt hơn, nhằm thu trở lại giá trị của số tiền đã bỏ ra lúc ban đầu để mua, cộng với số tiền tăng thêm nào đó, Mác gọi là giá trị thặng dư. Nhà tư bản sản xuất ra hàng hóa có giá trị sử dụng, giá trị sử dụng là nội dung vật chất của hàng hóa, là vật mang tới giá trị và giá trị thặng dư (T’>T). Đây cũng là quá trình nhà tư bản sử dụng hàng hóa sức lao động và tư liệu sản xuất để tạo ra giá trị thặng dư. Bởi thế mỗi sản phẩm được làm ra đều được kiểm soát bởi nhà tư bản và thuộc sở hữu của nhà tư bản. Trong quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, bằng lao động cụ thể của mình, công nhân lao động làm thuê sử dụng tư liệu sản xuất và chuyển giá trị của chúng vào hàng hoá, bằng lao động trừu tượng công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần lớn hơn đó là giá trị thặng dư. Như vậy, giá trị thặng dư là giá rơi ra ngoài sức lao động do công nhân sáng tạo ra và nhà tư bản chiếm không. Đã có nhiều phương pháp được dùng để tạo ra giá trị thặng dư, nhưng hai phương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp giá trị thặng dưtuyệt đối và phương pháp giá trị thặng dư tương đối. Mỗi phương pháp đại 5 diện cho một trình độ khác nhau của giai cấp tư sản, cũng như những giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội. 1.2. Một số phương pháp sản xuất giá trị thặng dư1.2.1. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: Bất cứ nhà tư bản nào cũng muốn kéo dài ngày công lao động của công nhân, nhưng việc kéo dài đó không thể vượt qua giới hạn sinh lý của công nhân. Bởi vì, người công nhân cần có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức khỏe. Do vậy, việc kéo dài thời gian lao động gặp sự phản kháng gay gắt của giai cấp công nhân đòi giảm giờ làm. Khi độ dài ngày lao động không thể kéo dài thêm, vì lợi nhuận của mình, nhà tư bản lại tìm cách tăng cường độ lao động của người công nhân. Vì tăng cường độ lao động có nghĩa là chi phí nhiều sức lao động hơn trong một khoảng thời gian nhất định. Nên tăng cường độ lao động về thực chất cũng tương tự như kéo dài ngày lao động. Vì vậy, kéo dài thời gian lao động hay tăng cường độ lao động đều để sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối. Phương pháp này chủ yếu áp dụng trong thời kỳ đầu nền sản xuất tư bản, với việc phổ biến sử dụng lao động thủ công và năng suất lao động thấp 1.2.2. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối Khái niệm: Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động trong ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt để hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động, cường độ lao động vẫn như cũ. Điểm mấu chốt của phương pháp này là phải hạ thấp giá trị sức lao động. Điều đó đồng nghĩa với giảm giá trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho công nhân. Muốn vậy phải tăng năng suất lao động xã hội trong các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng và các ngành sản xuất tư liệu sản xuất để trang bị cho ngành sản xuất ra các tư liệu tiêu dùng. Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản phát triển. nhưng lúc đầu chỉ một số nhà tư bản làm được vì điều kiện khoa học, kỹ thuật chưa cho phép. Khi đó, các nhà tư bản này tăng được năng suất lao động nên thu được giá trị thặng dư siêu ngạch. Khi các nhà tư bản đều cải tiến kỹ thuật, giá trị thặng dư siêu ngạch sẽ không còn. Tất cả sẽ thu được giá trị thặng dư tương đối. Do đó giá trị thặng dư siêu ngạch là biến tướng của giá trị thặng dư tương đối. 1.3. Hình thức biểu hiện của giá trị thặng dưLợi nhuậnĐể sản xuất hàng hóa phải có chi phí lao động quá khứ và lao động sống, khi đó giá trị hàng hóa được tạo ra là W = c + v + m.Nhà tư bản phải mua tư liệu sản xuất (c) và thuê lao động (v), như vậy, chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là k = c + v. Khi đó, giá trị hàng hóa sẽ biểu hiện ra dưới hình thái khác là W = k + m.Sự hình thành phạm trù chi phí sản xuất cùng với việc giá cả sức lao động biểu hiện ra dưới hình thái chuyển hóa là tiền công, là nguyên nhân làm cho giá trị thặng dư biểu hiện ra dưới hình thái chuyển hóa là lợi nhuận (p). Khi xuất hiện phạm trù lợi nhuận thì giá trị hàng hóa sẽ biểu hiện thành W = k + p.C.Mác nêu ra định nghĩa lợi nhuận: “Giá trị thặng dư, được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước, mang hình thái chuyển hóa là lợi nhuận”.Lợi nhuận của tư bản thương nghiệpSự hình thành lợi nhuận thương nghiệp do chênh lệch giữa giá bán với giá mua hàng hoá của tư bản thương nghiệp. Lợi nhuận thương nghiệp là một phần giá trị thặng dư được tạo ra trong sản xuất do nhà tư bản công nghiệp “nhường” cho nhà tư bản thương nghiệp.Lợi tức của tư bản cho vay và lợi nhuận ngân hàngTư bản cho vay (TBCV) là một bộ phận của tư bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong quá trình tuần hoàn của TBCN được tách ra và vận động độc lập với TBCN. TBCV là tư bản tiền tệ mà người chủ của nó nhường cho một người khác sử dụng trong một thời gian để nhận được một số lời nào đó.Số lời đó gọi là lợi tức (Z). Hình thức vận động của TBCV T – T’.Lợi nhuận ngân hàng = (Z cho vay + thu khác) – (Z đi vay + chi phí nghiệp vụ).Địa tôĐịnh nghĩaĐịa tô tư bản chủ nghĩa là bộ phận lợi nhuận siêu ngạch do lao động của công nhân làm thuê trong lĩnh vực nông nghiệp tạo ra sau khi đã khấu trừ đi phần lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp buộc phải nộp cho nhà địa chủ (R).Hình thức
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC i
PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN II: NỘI DUNG 2
CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ 2
1.1 Tư bản và giá trị thặng dư 2
1.2 Một số phương pháp sản xuất giá trị thặng dư 3
1.2.1 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối 3
1.2.2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối 4
1.3 Hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư 4
CHƯƠNG II: Ý NGHĨA VÀ THỰC TRẠNG SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TẠI NƯỚC TA HIỆN NAY 7
2.1 Ý nghĩa của học thuyết Giá trị thặng dư đối với nước ta hiện nay 7
2.2 Thực trạng vấn đề giá trị thặng dư tại Việt Nam 9
2.2.1 Vấn đề bóc lột trong sản xuất và phân phối giá trị thặng dư 9
2.2.2 Áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất 10
2.2.3 Khuyến khích đầu tư và sử dụng vốn có hiệu quả 11
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ NHẰM PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 13
3.1 Nâng cao chất lượng nguồn lao động 13
3.2 Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước về kinh tế và giữ vững định hướng XHCN 14
Trang 2PHẦN III: KẾT LUẬN 17
Trang 3PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn ba mươi năm đổi mới, đất nước ta đã gặt hái được nhiều thành tựunhư kinh tế ngày càng phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, uy tínViệt Nam trên trường quốc tế được nâng cao Tuy nhiên, với xuất phát điểm
từ nông nghiệp nên nền kinh tế nước ta có quy mô nhỏ, quá trình hòa nhậpquốc tế đang gặp phải nhiều khó khăn Vì vậy, để khắc phục thực trạng yếukém và phát huy thế mạnh hiện có nước ta đã phát triển nền kinh tế thị trường
để hiện đại hóa đất nước Trong đó, việc vận dụng các quy luật kinh tế mà đặcbiệt là học thuyết giá trị thặng dư đã và đang là một hướng áp dụng có hiệuquả trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiệnnay
Giá trị thặng dư là một trong những phát hiện vĩ đại của C.Mác và theonhư V.I.Lênin nhận xét thì “ Học thuyết giá trị thặng dư là viên đá tảng củahọc thuyết kinh tế của Mác ”Giá trị thặng dư đã mang lại những bước pháttriển cho nước ta trong giai đoạn hiện nay.Tính tất yếu khách quan về việcvận dụng giá trị thặng dư vào Việt Nam đã được thông qua trong các văn kiệnĐại hội của Đảng nhưng trong một chừng mực nào đó vẫn còn tồn tại cácthành kiến với các thành phần kinh tế tư nhân, tư bản coi thành phần kinh tếnày là bốc lột và nhận thức này không chỉ xảy ra với một số cán bộ là Đảngviên làm công tác quản lý mà còn xảy ra ngay trong những người trực tiếplàm kinh tế tư nhân ở nước ta
Vì vậy sau khoảng thời gian học hỏi kiến thức ở trường, em đã quyết định
lựa chọn đề tài ” Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu vấn đề này.” để hiểu rõ hơn về thực trạng đất nước cũng như việc vận dụng thực tế
của Đảng và nhà nước
Trang 4PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIÁ TRỊ THẶNG
DƯ 1.1 Tư bản và giá trị thặng dư
Theo Mác, tư bản nẩy sinh từ tiền vào đầu thế kỷ XVI Khi ông phântích những hình thái kinh tế trong đó quá trình lưu thông hàng hoá, thì tiền làhình thái cuối cùng "Sản vật cuối cùng ấy của lưu thông hàng hoá là hình tháibiểu hiện đầu tiên của tư bản Xét về mặt lịch sử thì đâu đâu tư bản cũng đốilập với sở hữu ruộng đất, trước tiên là dưới hình thái tiền, với tư cách là tàisản bằng tiền, tư bản của thương nhân và tư bản cho vay nặng lãi Lịch sử ấyhàng ngày đang diễn ra trước mắt chúng ta Khi mới xuất hiện lần đầu tiêntrên vũ đài, tức là trên thị trường, - thị trường hàng hoá, thị trường lao độnghay thị trường tiền tệ, - thì mỗi một tư bản bao giờ cũng xuất hiện dưới dạngtiền, số tiền này phải được chuyển hoá thành tư bản thông qua những quátrình nhất định" Sau đó Mác tiếp tục nghiên cứu những quá trình nhờ chúng
mà tiền biến thành tư bản, và trước hết ông thấy rằng hình thức trong đó tiềnlưu thông với tư cách là tư bản (T H T’), và một hình thức ngược lại với hìnhthức trên, tiền lưu thông với tư cách là vật ngang giá chung của các hàng hoá(H-T-H’) Một người chủ hàng hoá giản đơn thì bán để mua; anh ta bán cái
mà anh ta không cần dùng, và với tiền thu được, anh ta mua cái mà anh ta cầndùng Còn nhà tư bản bắt tay vào công việc thì thoạt tiên mua cái mà bản thânhắn không cần đến; hắn mua để bán, hơn nữa lại để bán đắt hơn, nhằm thu trởlại giá trị của số tiền đã bỏ ra lúc ban đầu để mua, cộng với số tiền tăng thêmnào đó, Mác gọi là giá trị thặng dư Nhà tư bản sản xuất ra hàng hóa có giá trị
sử dụng, giá trị sử dụng là nội dung vật chất của hàng hóa, là vật mang tới giátrị và giá trị thặng dư (T’>T) Đây cũng là quá trình nhà tư bản sử dụng hànghóa sức lao động và tư liệu sản xuất để tạo ra giá trị thặng dư Bởi thế mỗi sảnphẩm được làm ra đều được kiểm soát bởi nhà tư bản và thuộc sở hữu của nhà
Trang 5tư bản Trong quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, bằng lao động cụ thể củamình, công nhân lao động làm thuê sử dụng tư liệu sản xuất và chuyển giá trịcủa chúng vào hàng hoá, bằng lao động trừu tượng công nhân tạo ra giá trịmới lớn hơn giá trị sức lao động, phần lớn hơn đó là giá trị thặng dư Nhưvậy, giá trị thặng dư là giá rơi ra ngoài sức lao động do công nhân sáng tạo ra
và nhà tư bản chiếm không
Đã có nhiều phương pháp được dùng để tạo ra giá trị thặng dư, nhưnghai phương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp giá trị thặng dưtuyệtđối và phương pháp giá trị thặng dư tương đối Mỗi phương pháp đại 5 diệncho một trình độ khác nhau của giai cấp tư sản, cũng như những giai đoạn lịch
sử khác nhau của xã hội
1.2 Một số phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
1.2.1 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài thờigian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất laođộng, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi.Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: Bất cứ nhà tư bản nào cũngmuốn kéo dài ngày công lao động của công nhân, nhưng việc kéo dài đókhông thể vượt qua giới hạn sinh lý của công nhân Bởi vì, người công nhâncần có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức khỏe Do vậy, việckéo dài thời gian lao động gặp sự phản kháng gay gắt của giai cấp công nhânđòi giảm giờ làm Khi độ dài ngày lao động không thể kéo dài thêm, vì lợinhuận của mình, nhà tư bản lại tìm cách tăng cường độ lao động của ngườicông nhân Vì tăng cường độ lao động có nghĩa là chi phí nhiều sức lao độnghơn trong một khoảng thời gian nhất định Nên tăng cường độ lao động vềthực chất cũng tương tự như kéo dài ngày lao động Vì vậy, kéo dài thời gianlao động hay tăng cường độ lao động đều để sản xuất giá trị thặng dư tuyệt
Trang 6đối Phương pháp này chủ yếu áp dụng trong thời kỳ đầu nền sản xuất tư bản,với việc phổ biến sử dụng lao động thủ công và năng suất lao động thấp
1.2.2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Khái niệm: Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được dorút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao độngtrong ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt để hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ
đó tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày laođộng, cường độ lao động vẫn như cũ Điểm mấu chốt của phương pháp này làphải hạ thấp giá trị sức lao động Điều đó đồng nghĩa với giảm giá trị các tưliệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho công nhân Muốn vậy phải tăng năngsuất lao động xã hội trong các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng và các ngànhsản xuất tư liệu sản xuất để trang bị cho ngành sản xuất ra các tư liệu tiêudùng
Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong giai đoạn chủ nghĩa tưbản phát triển nhưng lúc đầu chỉ một số nhà tư bản làm được vì điều kiệnkhoa học, kỹ thuật chưa cho phép Khi đó, các nhà tư bản này tăng được năngsuất lao động nên thu được giá trị thặng dư siêu ngạch Khi các nhà tư bảnđều cải tiến kỹ thuật, giá trị thặng dư siêu ngạch sẽ không còn Tất cả sẽ thuđược giá trị thặng dư tương đối Do đó giá trị thặng dư siêu ngạch là biếntướng của giá trị thặng dư tương đối
1.3 Hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư
Trang 7Sự hình thành phạm trù chi phí sản xuất cùng với việc giá cả sức laođộng biểu hiện ra dưới hình thái chuyển hóa là tiền công, là nguyên nhân làmcho giá trị thặng dư biểu hiện ra dưới hình thái chuyển hóa là lợi nhuận (p).Khi xuất hiện phạm trù lợi nhuận thì giá trị hàng hóa sẽ biểu hiện thành W = k+ p.
C.Mác nêu ra định nghĩa lợi nhuận: “Giá trị thặng dư, được quan niệm
là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước, mang hình thái chuyển hóa là lợinhuận”
Lợi nhuận của tư bản thương nghiệp
Sự hình thành lợi nhuận thương nghiệp do chênh lệch giữa giá bán với giámua hàng hoá của tư bản thương nghiệp Lợi nhuận thương nghiệp là mộtphần giá trị thặng dư được tạo ra trong sản xuất do nhà tư bản công nghiệp
“nhường” cho nhà tư bản thương nghiệp
Lợi tức của tư bản cho vay và lợi nhuận ngân hàng
Tư bản cho vay (TBCV) là một bộ phận của tư bản tiền tệ tạm thờinhàn rỗi trong quá trình tuần hoàn của TBCN được tách ra và vận động độclập với TBCN TBCV là tư bản tiền tệ mà người chủ của nó nhường cho mộtngười khác sử dụng trong một thời gian để nhận được một số lời nào đó
Số lời đó gọi là lợi tức (Z) Hình thức vận động của TBCV T – T’.Lợi nhuận ngân hàng = (Z cho vay + thu khác) – (Z đi vay + chi phínghiệp vụ)
Địa tô
Định nghĩa
Địa tô tư bản chủ nghĩa là bộ phận lợi nhuận siêu ngạch do lao độngcủa công nhân làm thuê trong lĩnh vực nông nghiệp tạo ra sau khi đã khấu trừ
Trang 8đi phần lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp buộcphải nộp cho nhà địa chủ (R).
Hình thức
Địa tô chênh lệch là số dư ngoài lợi nhuận bình quân thu được trênnhững ruộng đất tốt và trung bình so với ruộng đất kém nhất, là số chênh lệchgiữa giá cả sản xuất chung của nông phẩm được quyết định bởi điều kiện sảnxuất trên ruộng đất xấu nhất và giá cả cá biệt trên ruộng đất tốt và trung bình.Địa tô chênh lệch I thu được trên cơ sở đất đai có điều kiện tự nhiên thuận lợi(gắn với điều kiện tự nhiên thuận lợi bị độc chiếm Do vậy, nó thuộc về chủruộng đất) Địa tô chênh lệch II do thâm canh mà có
Địa tô tuyệt đối là địa tô mà tất cả các nhà tư bản kinh doanh nôngnghiệp đều phải nộp cho địa chủ dù ruộng đất tốt hay xấu Đây là loại tô thutrên tất cả mọi thứ ruộng đất Địa tô tuyệt đối cũng là một loại lợi nhuận siêungạch ngoài lợi nhuận bình quân, hình thành do cấu tạo hữu cơ của tư bảntrong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp, mà bất cứ nhà tư bản thuê loạiruộng đất nào đều phải nộp cho địa chủ Tính chất lịch sử của địa tô tuyệt đốigắn liền với quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất, với tính chất lạc hậu tươngđối của sản xuất nông nghiệp so với sản xuất công nghiệp
Trang 9CHƯƠNG II: Ý NGHĨA VÀ THỰC TRẠNG SẢN XUẤT GIÁ
TRỊ THẶNG DƯ TẠI NƯỚC TA HIỆN NAY 2.1 Ý nghĩa của học thuyết Giá trị thặng dư đối với nước ta hiện nay
Trong Học thuyết về giá trị thặng dư, C Mác đã có một nhận định cótính chất dự báo khoa học trong xã hội hiện nay, đó là: "Mục đích thườngxuyên của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm thế nào để với một tư bản ứngtrước tối thiểu, sản xuất ra một giá trị thặng dư hay sản phẩm thặng dư tối đa;
và trong chừng mực mà kết quả ấy không phải đạt được bằng lao động quásức của những người công nhân, thì đó là một khuynh hướng của tư bản, thểhiện ra trong cái nguyện vọng muốn sản xuất ra một sản phẩm nhất định vớinhững chi phí ít nhất về sức lực và tư liệu, tức là một khuynh hướng kinh tếcủa tư bản dạy cho loài người biết chi phí sức lực của mình một cách tiếtkiệm và đạt tới mục đích sản xuất với một chi phí ít nhất về tư liệu"
Từ việc nghiên cứu Học thuyết giá trị thặng dư của C Mác, chúng tathấy rõ ít nhất ba vấn đề lớn trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước
Một là, trong thời kỳ quá độ nền kinh tế ở nước ta, trong một chừngmực nào đó, quan hệ bóc lột chưa thể bị xóa bỏ ngay, sạch trơn theo cách tiếpcận giáo điều và xơ cứng cũ Càng phát triển nền kinh tế nhiều thành phầnchúng ta càng thấy rõ, chừng nào quan hệ bóc lột còn có tác dụng giải phóngsức sản xuất và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, thì chừng đó chúng tacòn phải chấp nhận sự hiện diện của nó
Hai là, trong thực tế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở nước ta hiện nay, mọi phương án tìm cách định lượng rành mạch, máy móc
và xơ cứng về mức độ bóc lột trong việc hoạch định các chủ trương chínhsách, cũng như có thái độ phân biệt đối xử với tầng lớp doanh nhân mới đều
xa rời thực tế và không thể thực hiện được Điều có sức thuyết phục hơn cảhiện nay là quan hệ phân phối phải được thể chế hóa bằng luật Đường lối chủtrương chính sách của Đảng và Nhà nước mỗi khi được thể chế hóa thành luật
Trang 10và các bộ luật thì chẳng những góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa, lấy luật làm công cụ và cơ sở để điều chỉnh các hành vi xã hộinói chung, mà còn cả hành vi bóc lột nói riêng Ai chấp hành đúng pháp luậtthì được xã hội thừa nhận và tôn vinh theo phương châm: dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong nhận thức, quan điểmchung nên coi đó cũng chính là mức độ bóc lột được xã hội chấp nhận, tức làlàm giàu hợp pháp Trong quản lý xã hội thì phải kiểm soát chặt chẽ thu nhậpcá nhân, thu nhập doanh nghiệp để, một mặt, chống thất thu thuế, mặt khác,bảo đảm sự công bằng trong phân phối thông qua Nhà nước và bằng các
"kênh" phân phối lại và điều tiết thu nhập xã hội Thiết nghĩ, đây là mộthướng tiếp cận vấn đề bóc lột giúp chúng ta tránh được những nhận thức giáođiều, phi biện chứng về quan hệ bóc lột, cũng như việc vận dụng nó trong mộtgiai đoạn lịch sử cụ thể của việc giải phóng sức sản xuất, tạo động lực pháttriển kinh tế và chủ động hội nhập thành công với nền kinh tế quốc tế
Ba là, mặt khác, cũng phải bảo vệ những quyền chính đáng của cảngười lao động lẫn giới chủ sử dụng lao động bằng luật và bằng các chế tàithật cụ thể mới bảo đảm công khai, minh bạch và bền vững Những mâuthuẫn về lợi ích trong quá trình sử dụng lao động là một thực tế, việc phân xửcác mâu thuẫn ấy như thế nào để tránh những xung đột không cần thiết cũnglại là một yêu cầu cấp thiết hiện nay, thể hiện trong bản chất của chế độ mới.Bảo vệ được những quyền lợi chính đáng, những quyền lợi được luật phápbảo vệ, của tất cả các bên trong quan hệ lao động là một bảo đảm cho việcvận dụng một cách hợp lý quan hệ bóc lột trong điều kiện hiện nay, đồng thờicũng là những đóng góp cơ bản nhất cho cả quá trình hoàn thiện và xây dựng
mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Trang 112.2 Thực trạng vấn đề giá trị thặng dư tại Việt Nam
2.2.1 Vấn đề bóc lột trong sản xuất và phân phối giá trị thặng dư
Ngày nay, với sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự xã hội hoá sảnxuất, sự cấu thành các nguồn sức lao động của quá trình sản xuất và sản xuất
ra giá trị thặng dư đã có sự thay đổi Sức cạnh tranh trên thị trường ngày cànglớn, để thành công trong công việc kinh doanh, phải cần đến sự nỗ lực kinhdoanh, sự quản lý sản xuất tốt, và thế một người chủ kinh doanh ngày naykhông chỉ có đóng góp tài sản, tiền vốn mà còn đóng góp sức lao động củamình vào quá trình sản xuất Sức lao động đó trực tiếp góp phần tạo ra giá trịthặng dư Do đó, phần thu nhập từ phân phối giá trị thặng dư do công sức đó
là chính đáng Tài sản và tiền vốn có nguồn gốc từ lao động – là sản phẩm củalao động – lao động vật hoá, hàm chứa chất mới của khoa học kỹ thuật vàcông nghệ (là yếu tố của lực lượng sản xuất trực tiếp) đóng vai trò hết sứcquan trọng của quá trình sản xuất Tài sản và vốn là yếu tố thu hút sức laođộng, nếu không có tài sản và vốn nhà xưởng, máy móc, thiết bị, không cóviệc làm với năng suất lao động cao, và theo đó cũng không có việc sản xuất
ra giá trị thặng dư Vậy phần thu nhập của người chủ sở hữu vốn, theo vốn làchính đáng, không liên quan đến bóc lột Và hiện nay, ở nước ta cũng đangthực hiện cách phân phối này, phân phối theo lao động và phân phối theo vốn,tài sản và những đóng góp khác Phân phối theo lao động là lấy lao động làmthước đo, làm căn cứ để phân phối vật phẩm tiêu dùng cho người lao độngdựa trên nguyên tắc lao động ngang nhau thì hưởng ngang nhau, làm nhiềuhưởng nhiều, làm ít hưởng ít
Với xu thế cổ phần hoá trong sự hình thành và phát triển hệ thốngdoanh nghiệp, theo đó có phần góp vốn của người lao động và người lao độngcũng được phân phối một phần lợi nhuận cho vốn – theo vốn của họ ở trên làcác hình thức phân phối giá trị thặng dư chính ở nước ta, đó là lần phân phốithứ nhất, nhưng để đạt được sự công bằng hơn trong xã hội (vì do còn nhiều