PowerPoint Presentation ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH TỈNH THANH HÓA ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH TỈNH THANH HÓA THÁNG 8 2021 Truyền thốngTruyền thống Thông tin thời sựThông tin thời sự[.]
Trang 1ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH TỈNH THANH HÓA
ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH TỈNH THANH HÓA
THÁNG 8 2021
Truyền thống
Thông tin thời sự
Sắc màu cơ sở
NỘI DUNG CHÍNH
CHÀO MỪNG KỶ NIỆM
76 NĂM NGÀY CÁCH MẠNG THÁNG TÁM THÀNH
CÔNG (19/8/1945-19/8/2021)
VÀ QUỐC KHÁNH NƯỚC CỘNG HOÀ XHCN VIỆT NAM
(02/9/1945 - 02/9/2021)
110 NĂM NGÀY SINH ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
(25/8/1911-25/8/2021)
TỰ HÀO TUỔI TRẺ THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH
Trang 2THÁNG 8 2021
Tài liệu
SINH HOẠT CHI ĐOÀN
Ý nghĩa lịch sử ngày cách mạng tháng Tám và
Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng 8/1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đó không phải sự ngẫu nhiên mà đó là kết quả tất yếu của quá trình đấu tranh lâu dài, đầy gian khổ, hy sinh với khát vọng độc lập, tự do và hòa bình dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngày 1/9/1858 thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam tại bán đảo Sơn Trà –
Đà Nẵng Trong thời điểm này, chế độ phong kiến Việt Nam đang rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc và mất dần vị thế lịch sử vốn có Mặc dù không thực hiện được mục đích “đánh nhanh, thắng nhanh” như mục đích đề ra, nhưng đến năm Giáp Thân –
1884 thực dân Pháp cũng đã đạt được mục tiêu hoàn thành quá trình xâm lược Việt Nam (Hòa ước Patenôtre) Tuy nhiên, chính sách cai trị nô dịch, hà khắc và tàn khốc của thực Pháp không thể nào dập tắt được ngọn lửa đấu tranh và tinh thần yêu nước đang bùng cháy trong mỗi người dân lúc bấy giờ Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhiều phong trào đấu tranh của nhân dân dưới phong trào Cần Vương và phong trào theo khuynh hướng tư sản Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan tất cả các phong trào ấy đều bị thất bại, bị “dìm trong biển máu” Thực dân Pháp gây ra càng nhiều hy sinh, tổn thất thì khát vọng
Thực dân Pháp nổ súng tấn công Sơn Trà – Đà Nẵng, mở đầu quá trình
xâm lược Việt Nam.
Trang 3độc lập, tự do và hòa bình của nhân dân Việt Nam ngày càng cháy bỏng, nhất là trong bối cảnh thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga thành công năm 1917 đã cho thấy
sự thắng lợi của cách mạng vô sản ở hiện thực
Năm 1920, sau nhiều năm làm việc và hoạt động ở các qua quốc gia và châu lục, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc đó là con đường cách mạng
vô sản Đồng thời Người cũng rút ra được chân lý của thời đại: “Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”(Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.33).Trước yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam, với sự tích cực và chủ động của Nguyễn Ái Quốc, từ ngày 6/1 đến ngày 7/2/1930 tại Hương Cảng – Trung Quốc, Hội nghị thành lập Đảng đã quyết định thành lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 10/1930 đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương) Đây chính là bước ngoặt quan trọng trên con đường đấu tranh vì độc lập, tự do Cũng từ đây cách mạng của Việt Nam đã được đặt vào quỹ đạo chung của cách cuộc cách mạng
vô sản trên thế giới
Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng đã vạch ra con đường cách mạng tất yếu lúc bấy giờ: “Chủ trương làm cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.1), cũng từ đây nhiệm vụ độc lập dân tộc được đặt lên hàng đầu đối với cách mạng Việt Nam
Với đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo: kết hợp ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng đã tập hợp và lãnh đạo đại bộ phận quần chúng nhân dân đoàn kết đấu tranh trong phong trào cách mạng 1930 – 1931, cuộc vận động dân chủ 1936 – 1939
và phong trào cách mạng 1939 – 1945 trong đó trực tiếp, mạnh mẽ nhất là Cao trào kháng Nhật giành chính quyền Mục tiêu cao nhất của Đảng trong giai đoạn này là: Tập hợp, đoàn kết tất cả các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, nhằm cùng nhau hướng tới mục tiêu giải phóng cho được dân tộc
Tháng 8/1945 phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, quân đội, chính quyền và tay sai rơi vào tình trạng khủng hoảng và hoang mang cực độ Toàn thể dân tộc Việt Nam lúc này chỉ còn một con đường duy nhất là đứng lên chứ không còn con đường nào khác Nhận định “cơ hội ngàn năm có một” đã tới Ban thường vụ Trung ương Đảng đã phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong phạm vi cả nước với quyết tâm sắt đá: “Dù hi sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập dân tộc”(Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.196)
Trang 4THÁNG 4
2019 4
THÁNG 8 2021
Tài liệu
SINH HOẠT CHI ĐOÀN
Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Chính phủ Lâm thời đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập”
tại Quảng trường Ba Đình, ngày 2/9/1945.
Đáp lại lời hiệu triệu của Hồ Chí Minh, với khí thế bão táp cách mạng Chỉ trong vòng 15 ngày, từ ngày 14 – 18/9 cuộc Tổng khởi nghĩa đã nổ ra thắng lợi hoàn toàn trong cả nước Lần đầu tiên trong lịch sử nhân dân Việt Nam được bước lên vũ đài chính trị, trở thành người làm chủ thật sự của đất nước
Ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình, trong thời khắc thiêng liêng của lịch sử dân tộc, trước quốc dân đồng bào và nhân dân thế giới Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập”– đánh dấu cho sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đây chính là thành quả tất yếu đối với một dân tộc vốn yêu chuộng hòa bình Từ trong sâu thẳm lý trí của mỗi người dân, một khát vọng độc lập, tự do đã được hun đúc cùng với chiều dài của lịch sử dân tộc, độ dài của lịch sử càng lớn thì tinh thần và khát vọng ấy càng mãnh liệt Điều này được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Một dân tộc
đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc ấy phải được độc lập”
Hào khí của Cách mạng Tháng 8/1945 và Quốc khánh 2/9 chính là cội nguồn sức mạnh để cả dân tộc phát huy tinh thần chủ động, tự lực, tự cường Trong bối cảnh quốc
tế có nhiều thời cơ nhưng cũng không ít thách thức đặt ra, nhưng sự đoàn kết giữa Đảng – Nhân dân chính là mạch nguồn sức mạnh giúp dân tộc Việt Nam vững bước trên con đường đổi mới toàn diện đất nước vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./
Nguồn: Sưu tầm
Trang 5CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP ĐẠI TƯỚNG
VÕ NGUYÊN GIÁP
Vị anh hùng dân tộc - Đại tướng đầu tiên của nước Việt Nam đã ra đi nhưng những chiến công lịch sử, những công lao vĩ đại của ông sẽ mãi đọng lại trong ký ức của người Việt Nam Hãy cùng điểm lại những dấu ấn về thân thế, sự nghiệp của vị anh hùng dân tộc Võ Nguyên Giáp.
Tiểu sử Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Võ Nguyên Giáp (sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911) là một nhà chỉ huy quân sự và nhà hoạt động chính trị Việt Nam Là đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông chỉ huy chính trong chiến tranh Đông Dương (1946–1954) và chiến tranh Việt Nam (1960–1975) Ông tham gia vào nhiều chiến dịch quan trọng như Chiến dịch Biên giới thu đông 1950, Trận Điện Biên Phủ (1954), Chiến dịch Tết Mậu Thân (1968), Chiến dịch năm 1972, Chiến dịch Hồ Chí Minh Ông là nhà chỉ huy quân sự nổi bật nhất bên cạnh Hồ Chí Minh trong suốt cuộc chiến và lãnh đạo nhiều chiến dịch lớn cho đến khi chiến tranh kết thúc
Ông từng là một giáo viên dạy sử, nhà báo và từng giữ các chức vụ: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam
Thời niên thiếu
Võ Nguyên Giáp sinh ở làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình nhà nho, con của ông Võ Quang Nghiêm (Võ Nguyên Thân).[2] Võ Quang Nghiêm là một nho sinh thi cử bất thành về làm hương sư và thầy thuốc Đông y, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, ông bị Pháp bắt, đưa về giam ở Huế
và mất trong tù
Năm 1925, Võ Nguyên Giáp rời trường Tiểu học Đồng Hới ở quê nhà Quảng Bình
để vào Huế ôn thi vào trường Quốc học Huế (ông đỗ thứ hai sau Nguyễn Thúc Hào) Hai năm sau, ông bị đuổi học cùng với Nguyễn Chí Diểu, Nguyễn Khoa Văn (tức Hải Triều), Phan Bôi sau khi tổ chức một cuộc bãi khóa Ông về quê và được Nguyễn Chí Diểu giới thiệu tham gia Tân Việt Cách mạng Đảng, một đảng theo chủ nghĩa dân tộc nhưng có màu sắc cộng sản thành lập năm 1924 ở miền Trung Việt Nam Nguyễn Chí Diểu cũng giới thiệu Võ Nguyên Giáp vào làm việc ở Huế, tại nhà xuất bản Quan hải tùng thư do Đào Duy Anh sáng lập và ở báo Tiếng dân của Huỳnh Thúc Kháng Tại đây, Võ Nguyên Giáp bắt đầu học nghề làm báo, chuẩn bị cho giai đoạn hoạt động báo chí trong thời Mặt trận Bình dân Pháp
Trang 6THÁNG 4
2019 6
THÁNG 8 2021
Tài liệu
SINH HOẠT CHI ĐOÀN
Thời thanh niên
Đầu tháng 10 năm 1930, trong sự kiện Xô Viết Nghệ Tĩnh, Võ Nguyên Giáp bị bắt
và bị giam ở Nhà lao Thừa phủ (Huế), cùng với người yêu là Nguyễn Thị Quang Thái,
em trai là Võ Thuần Nho và các giáo sư Đặng Thai Mai, Lê Viết Lượng,…
Cuối năm 1931, nhờ sự can thiệp của Hội Cứu tế Đỏ của Pháp, Võ Nguyên Giáp được trả tự do nhưng lại bị Công sứ Pháp tại Huế ngăn cấm không cho ở lại Huế Ông ra
Hà Nội, học trường Albert Sarraut và đỗ Ông nhận bằng cử nhân luật năm 1937 (Licence en Droit) Do bận rộn hoạt động cách mạng, vào năm 1938, ông bỏ dở học chương trình năm thứ tư về Kinh tế Chính trị và không lấy bằng Luật sư
Từ 1936 đến 1939, Võ Nguyên Giáp tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, là sáng lập viên của mặt trận và là Chủ tịch Ủy ban Báo chí Bắc Kỳ trong phong trào Đông Dương đại hội Ông tham gia thành lập và làm báo tiếng Pháp Notre voix (Tiếng nói của chúng ta), Le Travail (Lao động), biên tập các báo Tin tức, Dân chúng
Tháng 5 năm 1939, Võ Nguyên Giáp nhận dạy môn lịch sử tại Trường Tư thục Thăng Long, Hà Nội do Hoàng Minh Giám làm giám đốc nhà trường
Bắt đầu sự nghiệp quân sự
Ngày 3 tháng 5 năm 1940, Võ Nguyên Giáp với bí danh là Dương Hoài Nam cùng Phạm Văn Đồng lên Cao Bằng rồi vượt biên sang Trung Quốc để gặp Hồ Chí Minh Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương trong năm này và bắt đầu các hoạt động của mình trong Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội, một tổ chức chống phát-xít và đấu tranh cho độc lập của Việt Nam Ông tham gia xây dựng cơ sở cách mạng, mở lớp huấn luyện quân sự cho Việt Minh ở Cao Bằng
Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo hướng dẫn của Hồ Chí Minh, ông thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tại chiến khu Trần Hưng Đạo với 34 người, được trang bị 2 súng thập (một loại súng ngắn), 17 súng trường, 14 súng kíp và 1 súng máy Đây là tổ chức tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam
Ngày 25 tháng 12 năm 1944, Võ Nguyên Giáp đã chỉ huy đội quân này lập chiến công đầu tiên là tập kích diệt gọn hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần
Ngày 14 tháng 8 năm 1945, Võ Nguyên Giáp trở thành uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, sau đó là ủy viên Thường vụ Trung ương, tham gia Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc
Sau Cách mạng Tháng Tám, Võ Nguyên Giáp được cử làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ
và Phó Bộ trưởng (nay gọi là Thứ trưởng) Bộ Quốc phòng trong Chính phủ lâm thời (từ
Trang 7ngày 28 tháng 8 đến hết năm 1945) và là Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân
tự vệ
Trong Chính phủ Liên hiệp, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (cho đến tháng 7 năm
1947 và từ tháng 7 năm 1948 trở đi)
Cũng trong năm 1946, ông kết hôn với bà Đặng Bích Hà (con gái giáo sư Đặng Thai Mai)
Kháng chiến chống Pháp
Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chiến tranh Đông Dương chính thức bùng nổ Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản, ông bắt đầu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang kéo dài 9 năm chống lại sự trở lại của người Pháp (1945-1954) trên cương vị Tổng chỉ huy và Tổng Chính ủy, từ năm 1949 đổi tên gọi là Tổng tư lệnh quân đội kiêm Bí thư Tổng Quân uỷ
Võ Nguyên Giáp - Đại tướng đầu tiên của nước Việt Nam
Trang 8THÁNG 4
2019 8
THÁNG 8 2021
Tài liệu
SINH HOẠT CHI ĐOÀN
Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam
Không được đào tạo tại bất kỳ trường quân sự nào trước đó, không phải trải qua các cấp bậc quân hàm trong quân đội, Võ Nguyên Giáp thụ phong quân hàm Đại tướng vào ngày 28 tháng 5 năm 1948 theo sắc lệnh 110/SL ký ngày 20 tháng 1 năm 1948, Ông trở thành Đại tướng đầu tiên của Quân Đội Quốc gia Việt Nam khi 37 tuổi Sau này, trả lời phóng viên nước ngoài về tiêu chí phong tướng, Hồ Chí Minh đã nói: “người nào đánh thắng đại tá thì phong đại tá, đánh thắng thiếu tướng thì phong thiếu tướng, đánh thắng trung tướng thì phong trung tướng, đánh thắng đại tướng thì phong đại tướng” Cùng đợt thụ phong có Nguyễn Bình được phong Trung tướng; Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Trần Tử Bình được phong Thiếu tướng Tháng 8 năm 1948, ông là ủy viên Hội đồng Quốc phòng Tối cao vừa mới được thành lập
Từ tháng 8 năm 1945 Võ Nguyên Giáp là một trong 5 ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và trở thành ủy viên Bộ Chính trị (thay thế Ban Thường vụ Trung ương) Đảng Lao động Việt Nam từ năm 1951
Như các danh tướng Việt Nam trong lịch sử, Võ Nguyên Giáp chú trọng nghệ thuật lấy ít địch nhiều, lấy yếu chế mạnh, lấy thô sơ thắng hiện đại Tư tưởng quân sự nổi tiếng của ông có tên gọi là Chiến tranh Nhân dân kế thừa quan điểm quân sự Hồ Chí Minh, tinh hoa nghệ thuật đánh giặc của tổ tiên, tri thức quân sự thế giới, lý luận quân
sự Mác-Lênin và được đúc rút từ kinh nghiệm cá nhân được liên tục cập nhật trong nhiều cuộc chiến tranh mà nổi bật là chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ
Trong 9 năm trường kỳ đánh Pháp, Võ Nguyên Giáp đã có những sáng kiến quan trọng để phát huy sức mạnh quân sự và đã trở thành những kinh nghiệm quý báu như:
“Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung” Với chuyên gia quân sự Trung Quốc sang giúp huấn luyện quân đội, ông chỉ đạo chiến sĩ học tập, tiếp thu, nghiên cứu kỹ phương pháp của nước bạn, đồng thời nhắc nhở cán bộ, sĩ quan phải ghi nhớ việc tiết kiệm sinh mạng
bộ đội do Việt Nam là nước nhỏ không thể nuôi nhiều quân
Năm 1954, Võ Nguyên Giáp được Hồ Chí Minh và Đảng Lao động tin tưởng trao cho toàn quyền chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ Trước khi ra trận, Hồ Chí Minh đã dặn dò: “Cho chú toàn quyền chỉ huy Trận này chỉ được thắng không được thua vì thua
là hết vốn” Ông tự tin lên kế hoạch và chỉ huy 4 trong 6 sư đoàn bộ binh khi đó của Quân đội Nhân dân Việt Nam là 308, 304, 312, 316 và Đại đoàn sơn pháo 351 tấn công Điện Biên Phủ, đánh bại đội quân nhà nghề được trang bị hiện đại của Liên hiệp Pháp Chiến thắng này đã đặt dấu chấm hết cho quyền lực của người Pháp tại Đông Dương sau
83 năm và đã đưa Võ Nguyên Giáp đi vào lịch sử thế giới như là một danh nhân quân sự Việt Nam Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ mang đậm việc tạo thế, tổ chức hậu cần, thay đổi chiến thuật Sau chiến dịch này, Hiệp định Genève về Đông Dương được
ký kết, đặt dấu chấm hết cho sự có mặt của người Pháp ở Việt Nam sau hơn 80 năm
Trang 9Sức mạnh dân tộc từ lời kêu gọi của Tổng Bí thư
Lịch sử bảo vệ dân tộc, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam đã cho thấy mỗi khi đất nước đứng trước những thách thức mới, cần huy động sức mạnh đoàn kết toàn dân, lời hiệu triệu của người lãnh đạo đất nước lại mang đến những sức mạnh thần kỳ.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ra “Lời kêu gọi gửi đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước
và đồng bào ta ở nước ngoài về công tác phòng, chống đại dịch COVID-19”.
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh
“Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên ( ) Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc…” là một minh chứng, đã huy động được sức mạnh đoàn kết toàn dân để đất nước đi đến thắng lợi sau cuộc kháng chiến thần thánh 9 năm
Trang 10THÁNG 8 2021
Tài liệu
SINH HOẠT CHI ĐOÀN
Việt Nam năm 2021 có đang gặp những thách thức sống còn như những cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước hay không?
Từ Bắc Trung Nam, tình hình dịch bệnh COVID-19 bùng phát ngày càng phức tạp TP HCM đã qua hơn hai tháng giãn cách xã hội, mọi hoạt động kinh tế - xã hội ngưng trệ Dịch bệnh lây lan sang các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, tới tận các tỉnh ĐBSCL như Long An, Đồng Tháp… Tại Hà Nội, Đà Nẵng, cũng đang sống trong những ngày thực hiện Chỉ thị 16 của Thủ tướng
Trực tiếp điều hành công tác phòng chống dịch, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam từng có lúc phải dùng chữ “chiến trường” với TP HCM Thị sát nhiều tỉnh thành có dịch, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nhiều lần khẳng định “vừa sản xuất, vừa chiến đấu” Chúng ta, như vậy đã và đang trong một cuộc chiến Cuộc chiến không có tiếng súng, không kẻ thù hữu hình, nhưng phải đối mặt với kẻ thù là con virus tí hon nhưng độc lực khôn lường
Cuộc chiến nào cũng có những mất mát đau thương Cả trăm ngàn người đã nhiễm virus số người đã mãi mãi ra đi vì không chống chọi nổi những cơn khó thở do con virus quái ác gây ra ngày càng tăng Vẫn biết đây là “đại họa” toàn cầu, tỷ lệ tử vong vì COVID-19 tại Việt Nam không cao hơn trung bình thế giới; nhưng mỗi người
ra đi vì dịch bệnh không chỉ là nỗi đau của một gia đình, mà còn là nỗi day dứt của cả đất nước, dân tộc