1. Trang chủ
  2. » Kỹ Năng Mềm

Tạp chí Nông Thôn Việt số 67 - Tháng 08.2021

76 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Câu Chuyện Tri Thức Từ Thửa Ruộng, Bờ Ao
Người hướng dẫn Nguyễn Đức Quang - Tổng Biên Tập, Nguyễn Thị Quốc Hương - Phó Tổng Biên Tập, Nguyễn Tuấn Anh - GSTS, Nguyễn Minh Châu - PGS.TS, Nguyễn Sĩ Dũng - TS, Nguyễn Trí Ngọc - TS, Nguyễn Đăng Nghĩa - TS, Trần Thế Tuyển - Nhà Báo, Nguyễn Đỗ Anh Tuấn - TS, Võ Trọng Nghĩa - KTS, Hồ Thị Tú Anh - Nhà Báo, Nguyễn Thị Mai Phương - Thư Ký Tòa Soạn, Đặng Thị Thùy Dung, Đặng Hữu Nhất, Trương Thị Thu Cúc
Trường học Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
Thể loại tạp chí
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 27,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tạp chí Nông Thôn Việt số 67 - Tháng 08.2021

Trang 2

2 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)

Trang 3

phí phát hành lệnh chuyển tiền đối với: 100%

100 giao dịch chuyển tiền quốc tế đi đầu tiên trên Internet Banking

50 giao dịch chuyển tiền đi bằng đồng CAD đầu tiên trên hệ thống

LienVietPostBank

Ưu đãi về tỷ giá mua bán ngoại tệ:

Đặc biệt đối với đồng CAD và AUD

Thời gian áp dụng:

Từ ngày 15/01/2021 đến hết ngày 31/12/2021

Đối tượng: Khách hàng cá nhân

Trang 4

4 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)

eVoucher

Từ 01/06 - 31/08/2021

- Quà may mắn: Galaxy Watch Active 2, Vàng 24K, eVoucher,

*Chuyển đến tài khoản/thẻ nội địa

Tặng 50k/lượt giới thiệu tải app Xác thực eKYC

Miễn phí mở tài khoản đẹp 24/7 liên ngân hàng* Miễn phí chuyển tiền

Trang 5

Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

Võ Trọng Nghĩa - KTS

Hồ Thị Tú Anh - Nhà báo

Thư ký Tòa soạn

Nguyễn Thị Mai Phương Đặng Thị Thùy Dung

26 Phạm Văn Đồng, Quận Cầu Giấy,

Thành phố Hà Nội Điện thoại: 091 3460692

In tại CT TNHH Quảng cáo và

Thương mại Dương Phong

Khổ in (21 x 29)cm

Ảnh bìa: Du khách nước ngoài

trải nghiệm du lịch nông thôn tại Hội An, Quảng Nam.

vỚi sự Tham gia cỦa

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Minh Hoan, Chuyên gia Tô Văn Trường, TS Nguyễn Sĩ Dũng, Nguyễn Trọng Khánh, Nguyễn Văn Mỹ, Cẩm Hà, Đông Khánh, Nguyên Thu, Huỳnh Lợi, Bình Nguyên, Trương Thanh Liêm, Minh Huy, Trần Trọng Triết, Đào Thị Thanh Tuyền, Trịnh Viết Hiệp, Đỗ Quang Tuấn Hoàng, Đức Tạo, Ngoan Phạm, Mỹ Lệ, Khuất Linh, Nguyễn Quỳnh, Hồng Nguyễn, lương y Diệp Bình, Tuấn Anh, Thùy Dung, Kim Nhã,

Nguyệt Ánh, Huyền Trang, Anh Khôi, Thiện Anh…

giÁ: 30.000 đồng

www.nongthonviet.com.vn

Quy hoạch vùng trồng, những bài học kinh nghiệm Làng nghề Việt:

Những làng nghề thuốc Nam Làng nghề Việt:

Những làng nghề thuốc Nam

Câu chuyện tri thức

từ thửa ruộng, bờ ao Câu chuyện tri thức

từ thửa ruộng, bờ ao Quy hoạch vùng trồng, những bài học kinh nghiệm Làng nghề Việt:

Những làng nghề thuốc Nam

www.nongthonviet.com.vn

Phát triển

du lịchPhát triển

du lịch

Trang 6

Quy hoạch vùng trồng, những bài học kinh nghiệm

Câu chuyện tri thức

từ thửa ruộng, bờ ao

Thay đổi phương thức

hỗ trợ hợp tác xã, nên không?

Du lịch nông thôn:

12

Trang 7

Làng nghề Việt:

Những làng nghề thuốc Nam

Báo động suy giảm nước ngầm ở ĐBSCL

Mật ngọt

từ vùng đất ngập mặn

Thú vị bánh căn

Du lịch

nông thôn:

Dễ mà khó!

Ngân hàng tiếp sức người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng dịch bệnh

42

51

48 34

46 38

PLASTICS

VIET RICEOrganic

CÔNG TY CỔ PHẦN HIM LAM

Để ta biết mình còn có nhau!

Trang 8

Số ca được điều trị khỏi là 22.946 TP.HCM có số ca mắc Covid-19 nhiều nhất: 72.459 ca.

Trước tình hình lây lan do biến chủng Delta ngày càng tăng, Thủ tướng đã quyết định giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 đối với 19 tỉnh, thành phía Nam trong 14 ngày, từ 0h ngày 19/7, trong đó

3 nơi đang thực hiện và bổ sung 16 địa phương khác Một số địa phương khác như Hà Nội, Đắk Lắk, Khánh Hòa cũng thực hiện các biện pháp giãn cách sau khi có dấu hiệu gia tăng trở lại các ca nhiễm trong cộng đồng Đến 0 giờ ngày 26/7, UBND TPHCM cũng

đã quyết định áp dụng hình thức hạn chế đi lại từ 18 giờ hôm trước đến 6 giờ sáng hôm sau trên toàn địa bàn

Lê Minh Trí làm Viện trưởng VKSND tối cao… Quốc hội cũng đồng

ý giảm 1 Phó Thủ tướng trong nhiệm kỳ 2021-2026 4 Phó Thủ tướng đương nhiệm được phê chuẩn tiếp tục nhiệm kỳ mới gồm:

Phạm Bình Minh, Lê Minh Khái, Vũ Đức Đam và Lê Văn Thành

Ngày 28/7, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ - Lloyd Austin, bắt đầu chuyến thăm Việt Nam 2 ngày Ông là quan chức cấp cao nhất của chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden thăm chính thức Việt Nam tính tới nay

Ngày 7/7, khoảng 1 triệu thí sinh trên cả nước bước vào kỳ thi tốt nghiệp THPT đợt 1 năm 2021 Đây là kỳ thi đặc biệt trong lịch sử thi quốc gia trong bối cảnh dịch Covid-19 lan rộng gần

40 tỉnh, thành Các thí sinh phải có kết quả xét nghiệm âm tính mới được dự thi Tuy nhiên, trong ngày thi vẫn phát hiện một

số thí sinh dương tính với Covid-19 Đợt 2 dự kiến sẽ được tổ chức từ ngày 6 - 7/8/2021 TP.HCM đã đề xuất xét tốt nghiệp đặc cách cho hơn 3.200 thí sinh trên địa bàn nhằm đảm bảo

an toàn phòng chống dịch

Tính đến 28/7, thế giới ghi nhận gần 196 triệu ca nhiễm Covid-19, trong đó gần 4,2 triệu ca tử vong Các nước Đông Nam Á đang loay hoay ứng phó đại dịch Covid-19 khi biến chủng Delta đẩy số ca nhiễm tăng cao kỷ lục Indonesia đã vượt Ấn Độ và Brazil, trở thành quốc gia có số ca mắc theo ngày cao nhất thế giới Tỷ lệ tử vong vì Covid-19 ở nước này bị cho là cao hơn mức trung bình toàn cầu Các quốc gia còn lại cũng ghi nhận số ca nhiễm lên đến hàng chục ngàn ca, gây quá tải hệ thống chăm sóc y tế quốc gia

Ngày 7/7, Tổng thống Haiti - Jovenel Moise đã bị sát hại tại nhà riêng Biến cố này làm gia tăng lo ngại nguy cơ vòng xoáy bất ổn mới tại quốc gia nghèo nhất vùng Caribe, nơi đang đối mặt với chia rẽ chính trị sâu sắc, khủng hoảng nhân đạo, tình trạng thiếu lương thực

Ngày 9/7, một phái đoàn Taliban cho biết, nhóm phiến quân này kiểm soát hơn 85% lãnh thổ Afghanistan Tuy nhiên, Chính phủ Afghanistan hiện vẫn nắm giữ các tỉnh/thành chủ chốt như Kabul, Kandahar, Kunduz, Herat Với thực trạng hiện nay, dư luận lo ngại bất

ổn tại Afghanistan sẽ còn trầm trọng hơn và tiếp diễn trong thời gian tới

Lượng mưa dữ dội ngày 15/7 đã gây ra trận lụt lịch sử ở Đức, Bỉ, Hà Lan và Luxembourg, phá hủy đường phố và nhà cửa, làm ít nhất 180 người chết, hàng nghìn người khác mất tích Nhiều chuyên gia cho rằng tình trạng thời tiết cực đoan này là kết quả hiện tượng nóng lên toàn cầu

Các trận mưa lớn gây ngập lụt ở tỉnh Hà Nam (Trung Quốc) đã khiến ít nhất 56 người chết, thiệt hại ước tính hơn 10 tỉ USD Đây là trận mưa lịch sử với lượng mưa trong 24 giờ gần bằng với lượng mưa trung bình hằng năm của tỉnh Hà Nam

Ngày 23/7, Nhật Bản đã khai mạc Olympic 2020 tại Tokyo sau 1 năm bị hoãn vì dịch Covid-19 Có hơn 11.000 vận động viên đến từ 206 quốc gia và vùng lãnh thổ tham dự Olympic lần này Đặc biệt, các trận đấu sẽ diễn ra mà không có khán giả trực tiếp nhằm hạn chế lây nhiễm Covid-19 trong lúc thủ đô nước Nhật đang trong tình trạng khẩn cấp Cũng trong tháng 7, hai giải đấu lớn trên thế giới là EURO 2020

và COPA AMERICA 2021 cũng được tổ chức với ngôi vô địch lần lượt thuộc về Italia và Argentina

Q U Ố C T Ế

T R O N G N Ư Ớ C

Trang 9

Trong thời đại mở cửa và hội nhập, như mọi lĩnh vực

khác, nông nghiệp nước ta cũng sẽ phải cạnh tranh

sòng phẳng với thế giới Để cạnh tranh chắc chắn

phải đưa khoa học và công nghệ tiên tiến vào sản xuất và kinh

doanh nông nghiệp Điều này chỉ có các doanh nghiệp lớn

mới có thể làm được Rất tiếc, nhiều doanh nghiệp lớn muốn

đầu tư vào nông nghiệp đều phải bó tay vì không có đất

Tích tụ ruộng đất vì vậy là một nhu cầu khách quan nếu

chúng ta muốn công nghiệp hóa nông nghiệp Tuy nhiên,

không thể tích tụ ruộng đất bằng cách thu hồi ruộng đất của

các hộ nông dân, cho dù phần lớn các hộ nông dân đã có được

quyền sử dụng đất trên cơ sở được Nhà nước giao miễn phí

Ai cũng hiểu quyền sử dụng đất ở ta là gần như tương đương

với quyền sở hữu Về cơ bản, Nhà nước chỉ có thể thu hồi đất

vì mục đích quốc phòng, an ninh Việc thu hồi đất cho các dự

án phát triển kinh tế vì lợi ích chung mặc dù được pháp luật

cho phép, vẫn gặp phải muôn vàn khó khăn, thách thức trên

thực tế Và trong mọi trường hợp, đất đai vẫn phải được bồi

thường theo giá thị trường

Trong bối cảnh như vậy, tích tụ ruộng đất chỉ có thể xảy ra

khi có sự dịch chuyển xã hội: cư dân nông thôn dịch chuyển

thành cư dân đô thị và lao động nông nghiệp dịch chuyển

thành lao động công nghiệp và dịch vụ

Theo kết quả Tổng điều tra năm 2019, dân số thành thị

của nước ta là trên 33 triệu người, chiếm 34,4% tổng dân số;

dân số nông thôn là khoảng 63 triệu người, chiếm 65,4%

tổng dân số Tỷ trọng lao động trong khu vực công nghiệp

và xây dựng là 31,7% (17,09 triệu người); trong khu vực dịch

vụ là 36,7% (19,81 triệu người); trong khu vực nông nghiệp

là 31,6% (17,05 triệu người)

Số liệu trên cho thấy cư dân sống ở nông thôn và lực lượng lao động làm nông nghiệp của Việt Nam rất lớn Hệ quả là ruộng đất có quá nhiều ông chủ; lối sống tự túc, tự cấp hạn chế khả năng mở rộng thị trường trong nước cho các sản phẩm nông nghiệp; lực lượng lao động trong nông nghiệp quá lớn cũng hạn chế khả năng cạnh tranh quốc tế (nhiều nước trên thế giới chỉ có 3 - 5% lực lượng lao động làm nông nghiệp).Giải pháp chính sách cần được đề ra ở đây là phải đẩy nhanh quá trình đô thị hóa Quá trình đô thị hóa thời gian qua

đã tạo ra một sự chuyển dịch cư dân từ nông thôn ra thành thị Trong 10 năm (2009 - 2019), yếu tố di cư góp phần làm tăng dân số thành thị lên 1,2 triệu người, chiếm 3,5% dân số thành thị Sự dịch chuyển như vậy là quá chậm, chắc chắn cần phải thúc đẩy mạnh mẽ hơn Để làm được điều này, ngoài việc

mở rộng và hình thành các khu đô thị mới, cũng cần tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình di cư Chủ trương xóa bỏ sổ hộ khẩu giấy được Quốc hội thông qua vừa rồi có lẽ là một cố gắng theo hướng này

Ngoài ra, thúc đẩy công nghiệp hóa và phát triển mạnh kinh tế dịch vụ phải được xem là một giải pháp chính sách quan trọng Thực ra, công nghiệp hóa, đô thị hóa và phát triển kinh tế dịch vụ thường đi liền với nhau Các khu công nghiệp có thể tạo động lực cho việc hình thành các khu đô thị

ở xung quanh Các khu đô thị mới lại tạo cầu cho kinh tế dịch

vụ phát triển (và cả cho nông nghiệp phát triển nữa) Tất cả

sẽ tương tác với nhau theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho việc dịch chuyển dân cư từ nông thôn ra thành thị, lao động

từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ Đây sẽ là điều kiện quan trọng nhất để tích tụ ruộng đất và công nghiệp hóa nông nghiệp

TS NguyễN Sĩ DũNg

THời LuậN

Để có một nền nông nghiệp hiện đại, đủ sức cạnh tranh với thế giới thì quan trọng là

phải công nghiệp hóa nông nghiệp Tuy nhiên, công nghiệp hóa nông nghiệp sẽ rất khó khăn nếu đất đai đang được phân chia manh mún như hiện nay Sự manh mún này là

hệ quả của một loạt chính sách đã từng rất đúng đắn trong quá khứ như khoán hộ, giao đất cho hộ gia đình, giao rừng… Vấn đề chỉ là ta đã xem chúng đúng quá lâu

ĐỂ CÔNG NGHIỆP HÓA NÔNG NGHIỆP

Trang 10

10 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)

10 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)

góC NHìN

Vừa rồi qua za-lô (zalo) tôi có

nhận được một tin nhắn của

một anh nông dân Anh gửi

một tấm hình chụp lại mấy dòng chữ

viết tay trên giấy tập học trò Nội dung

là nhờ đăng ký tham dự một hội thảo về

kết nối kinh doanh nông sản trực tuyến

Các hội thảo trực tuyến hiện nay thường

yêu cầu đăng ký trực tuyến, nhưng ngặt

nỗi, anh nông dân đó không biết cách

sử dụng các thiết bị thông minh Vì thế,

anh ấy nghĩ ra cách viết tay, nhờ cháu

nội chụp ảnh, rồi gửi qua za-lô đăng ký

Tính ra thì anh nông dân ấy đã rất

nhanh trí, tiếp cận được công nghệ dù

theo cách của mình Tuy vậy, ngẫm nghĩ

lại cũng thấy hơi lo Còn bao nhiêu người

nông dân trên đất nước mình chưa có

điều kiện tiếp cận, sử dụng thành thạo

những thiết bị, công cụ thông minh? Bao

nhiêu người nông dân chưa hình dung

được, cần cù thôi là chưa đủ trong xu thế

phát triển của khoa học, kỹ thuật, công

nghệ, của nền kinh tế tri thức? Và bao

nhiêu lớp đào tạo ngành nghề nông

thôn không mang lại hiệu quả, không

thu hút được người nông dân hăng hái

tham gia

Hiện có nhiều lớp đào tạo nghề nông

thôn đúng nghĩa là dạy nghề nông:

hướng dẫn cho người nông dân kỹ thuật

thế phát triển, nghề nông phải tích hợp giá trị gia tăng bằng hàm lượng khoa học, công nghệ, bằng phương thức kinh doanh nông sản, bằng tinh thần hợp tác của những người nông dân, bằng thái độ tích cực, chủ động, sẵn lòng thích ứng với sự thay đổi Khi người nông dân chủ động tìm hiểu, kết nối với thị trường, thì

sẽ nhận lại thông tin, tín hiệu của thị trường Từ thông tin, tín hiệu đó, người nông dân sẽ hình dung rõ hơn về nhu cầu, xu thế thị trường, hiểu rằng mình cần phải sản xuất theo chuẩn mực của thị trường, nếu không muốn cứ rơi vào vòng lặp “thừa mứa, ế ẩm, rớt giá”.Chương trình xây dựng nông thôn mới trong những năm qua đã có những kết quả đáng tự hào Hạ tầng, cơ sở vật chất ở nông thôn thay đổi theo hướng hiện đại hơn, văn minh hơn, thu nhập của người nông dân dần được cải thiện Tuy nhiên, vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của người dân chưa được định hình

rõ rệt Suy cho cùng, người nông dân trong nông thôn mới, vừa là mục tiêu, vừa là động lực Đích đến của Chương

cây trồng, vật nuôi Nhưng người giảng dạy, hướng dẫn nghề nông lại không phải là người thu mua sản phẩm nuôi trồng của người nông dân nên nhiều khi chưa nắm bắt hết thông tin, xu hướng thị trường Trong khi thị trường mới

là nơi tiêu thụ, người tiêu dùng mới là người quyết định nhu cầu, số lượng bao nhiêu, chất lượng ra sao Đào tạo nghề nông thôn thường chú trọng kỹ thuật, cách thức sản xuất, để sản lượng nhiều, năng suất cao nhưng lại chưa quan tâm đúng mức đến kết nối tiêu thụ, tiêu chuẩn nông sản, nhu cầu thực tế của thị trường… Đào tạo nghề nông thôn có thể hiểu là giúp trang bị kiến thức, kỹ năng nghề “cho” người nông dân Chỉ dừng lại

ở đấy, liệu có đủ không?

Và bây giờ là câu chuyện về nông nghiệp thông minh, nông nghiệp 4.0

Nghề nông giờ đây đâu chỉ quần quật quanh năm, “tay lấm chân bùn”, “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” Nếu

cứ bằng lòng với cách làm nghề nông truyền thống, “gia truyền” qua bao đời, thì nông dân mình vẫn còn nhiều gian khó, nông nghiệp vẫn bấp bênh như đi trên dây Như nhiều ngành nghề khác, nghề nông ngày càng đòi hỏi chiều sâu tri thức, liên tục cập nhật những tiện ích khoa học, kỹ thuật tiên tiến Hòa cùng xu

CâU CHUyỆN TRI THứC

Từ THửa ruộNg, Bờ ao

Tri thức hóa người dân nông thôn là đặt nền móng

vững chắc cho làng quê ngày mai, cho nền nông nghiệp

tương lai Nền móng đó còn quan trọng gấp nhiều lần

nền móng của những công trình hạ tầng.

Trang 11

góC NHìN

vững chắc cho làng quê ngày mai, cho nền nông nghiệp tương lai Nền móng

đó còn quan trọng gấp nhiều lần nền móng của những công trình hạ tầng

Lan tỏa tri thức đến người nông dân bắt đầu từ việc hỗ trợ bà con tiếp cận các công cụ, thiết bị thông minh để công việc canh tác, sản xuất hàng ngày trở nên

“thông minh” hơn Phải trao đổi, hướng dẫn cho bà con làm quen với cách làm nông mới, không đợi đến khi “hết gạo chạy rong”, nghề nông mới được nhắc đến Lan toả tri thức đến người nông dân phải được tích hợp: kiến thức nghề nghiệp, kỹ năng nghề nghiệp và thái

độ nghề nghiệp Việc lan tỏa tri thức

phải được thực hiện đồng thời, đồng bộ với hoạt động khuyến nông, kết nối thị trường Muốn đạt được những mục tiêu sâu xa đó, các cơ sở đào tạo và đội ngũ những người tham gia phải nghĩ khác, làm khác Các giáo trình, chương trình dạy nghề cần bổ sung, cập nhật, điều chỉnh liên tục Cũng cần từ bỏ cách thức báo cáo thành tích về số lớp được mở, số người tham gia khóa học mà phải lượng hóa cho được bà con thay đổi nhận thức như thế nào, năng suất, thu nhập tăng thêm bao nhiêu… thông qua các lớp đào tạo Thật nặng lòng khi nghe cán bộ, công chức than phiền: nói mãi mà người nông dân không chịu thay đổi, cứ bám víu cách sản xuất truyền thống Có người dửng dưng: “Đó không phải là việc của tôi, tôi còn “bận trăm công ngàn việc” do cấp trên phân công” Thậm chí có người còn nói, hãy để bà con thất bại, rồi tự rút ra bài học cho mình Nói như vậy, mình có thoái thác trách nhiệm không, có thiếu

đi tính nhân văn không? Tôi cho rằng đó

là cách nói với bà con bằng giọng của

“quan” chứ không phải bằng giọng của người bạn, người đồng hành, và do vậy thiếu sự thấu cảm? Nói một lần, người dân chưa đồng thuận, sao mình không giải thích nhiều lần? Cách này, người dân chưa thông, sao mình không bày cách khác? Mỗi lần thiếu kiên nhẫn, tôi mong mọi người cùng nhớ đến tờ giấy học trò viết tay của anh nông dân, để

tự nhắc mình còn nhiều trách nhiệm và bổn phận!

Một việc nhỏ xíu như tờ giấy học trò viết tay mà ngẫm ra bao điều cần phải thay đổi Thay đổi trước hết từ trong bộ máy quản lý ngành nông nghiệp Thay đổi để không còn suy nghĩ kiểu thoái thác “đó không phải là việc của tôi” Khi muốn, người ta tìm giải pháp Khi không muốn, người ta viện lý do Đâu

có “cái khó” nào làm khó được những người gắn bó mật thiết với nông dân, luôn đau đáu về sự phát triển bền vững của nghiệp nông gia

trình xây dựng Nông thôn mới không

phải là diện mạo bên ngoài với những

tiêu chí được công nhận, mà là sức mạnh

tinh thần, chất lượng sống của người dân

nông thôn được nâng lên từng ngày Sức

mạnh đó đến từ tinh thần tự lực, tự chủ

trong xóm làng, tự quyết định cuộc sống,

quyết không trông chờ, ỷ lại Sức mạnh

đó đến từ tinh thần hợp tác: “mỗi người

vì mọi người, mọi người vị mỗi người”,

phát huy năng lực cá thể, hợp thành

năng lực cộng đồng

Năng lực của mỗi người đâu chỉ có ở

đôi tay cơ bắp, mà còn đến từ kiến thức,

kỹ năng, tri thức tích luỹ được Năng lực

của mỗi người đâu chỉ phản ánh qua giá

trị vật chất, của cải hiện có, mà còn thể

hiện qua sự chuẩn bị cho tương lai, là sự

kết tinh giá trị hữu hình và cả giá trị vô

hình, mà đôi khi, chính giá trị vô hình,

như thái độ sống và làm việc, mới quyết

định sự thành công bền vững “Người

nghèo, nghèo cái túi; người giàu, giàu

cái đầu”, tựa đề một cuốn sách gợi lên

nhiều suy ngẫm Như vậy, tri thức hóa

người dân nông thôn là đặt nền móng

Khi muốn, người ta tìm giải pháp Khi không muốn, người ta viện lý do Đâu có “cái khó” nào làm khó được những người gắn

bó mật thiết với nông dân, luôn đau đáu về sự phát triển bền vững của nghiệp nông gia.

Trang 12

12 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)

Quy hoạch vùng trồng, những bài học kinh nghiệm

Cần nói rõ, xưa nay, việc quy

hoạch nông nghiệp của chúng

ta phần lớn chưa có tính hệ

thống và thiếu khoa học

Nhiều bất cập làm quy hoạch

bị phá vỡ

Điều dễ nhận thấy nhất là chuyện

quy hoạch trùng lắp giữa các vùng dẫn

đến tình trạng “được mùa mất giá” hoặc

nơi có nguyên liệu thì không có chỗ tiêu

thụ, nơi có nhà máy sản xuất thì không

có vùng nguyên liệu… Quy hoạch vùng

trồng mía những năm 90 của thế kỷ

trước là một ví dụ khi các tỉnh miền

Trung, miền Bắc, miền Tây Nam bộ gần

như tỉnh nào cũng có vùng trồng mía

theo quy hoạch nhưng nhà máy sản

xuất đường thì tỉnh có tỉnh không Hậu

quả là tới mùa, nơi thiếu mía để sản

xuất, nơi thì để mía trổ cờ ngoài đồng vì

không có nơi tiêu thụ

Quy hoạch thiếu khoa học cộng với

công tác dự báo yếu kém, thiếu chính

xác, thiếu tầm nhìn dài hạn khiến sản

phẩm do nông dân làm ra theo quy

hoạch không đáp ứng đúng nhu cầu thị

trường, khó tiêu thụ, thậm chí, không

tiêu thụ được Thực tế đó là nguyên

nhân khiến nông dân, thậm chí cả chính

quyền địa phương và doanh nghiệp,

không còn mặn mà với việc thực hiện

theo quy hoạch Nông dân phá bỏ quy

hoạch, tự phát sản xuất theo nhu cầu

hoặc lợi ích trước mắt ngày càng nhiều

như ở Tây Nguyên, chỉ vài năm sau khi

bùng nổ việc sản xuất tự phát, diện tích

Tô VăN TrườNg

Để năm 2030 sản xuất nông nghiệp Việt Nam có thể đứng trong số

15 nước phát triển nhất thế giới, cần nhìn lại bài học kinh nghiệm của quy hoạch vùng

– tiền đề cho phát triển nông nghiệp bền vững – để có những điều chỉnh hợp lý hơn.

gây tổn thất không nhỏ cho nông dân và cho xã hội Một thực tế khác cũng khiến quy hoạch dễ dàng bị phá vỡ, đó là việc các xung đột lợi ích khi tiến hành quy hoạch đã chưa được lưu ý đúng mức để

có cách giải quyết Quy hoạch vùng sản xuất lúa tập trung của Đồng bằng sông Hồng đã bị phá vỡ bởi sự hình thành của các khu công nghiệp là một ví dụ Theo quy hoạch, vùng sản xuất lúa tập trung là những vùng “thuận lợi về đất và nước cho sản xuất nông nghiệp” Những vùng như thế này hầu hết đều gần các khu dân cư tập trung Với các

CHuyêN Đề: Quy HoạCH VùNg TrồNg

hồ tiêu của riêng các tỉnh Tây Nguyên đã lên đến 93.000ha (cả nước là 150.000ha) trong khi diện tích hồ tiêu của cả nước theo quy hoạch vùng trồng tầm nhìn đến 2025 chỉ có 50.000ha!

Không tuân thủ quy hoạch, tự phát sản xuất theo kinh nghiệm hoặc lợi ích trước mắt vì nhiều lý do của nông dân, trong đó có nguyên nhân bắt nguồn từ quy hoạch thiếu hợp lý, đã đẩy sản xuất nông nghiệp đi xa hơn vào bế tắc khi tình trạng trồng - chặt, chặt - trồng liên tục xảy ra từ nơi này đến nơi khác và lặp

đi lặp lại từ năm này qua năm khác đã

Để quy hoạch thật sự hỗ trợ sản xuất, cần nâng cao chất lượng quy hoạch và dự báo thị trường trung và dài hạn Ảnh TLN

12 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)

Trang 13

ý đến mối liên kết giữa các tỉnh trong cùng một vùng sinh thái nông nghiệp

mà chưa tính đến liên kết lớn hơn giữa các vùng để có thể hình thành mối liên kết chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ nông sản trên địa bàn cả nước Thử hình dung nếu có mối liên kết trong sản xuất lúa gạo giữa Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long thì việc thống nhất cơ cấu giống lúa đã có thể diễn ra, và gạo Việt Nam, nhờ thế,

có thể đã đồng nhất với chất lượng cao

và số lượng lớn đủ phục vụ trong nước cũng như xuất khẩu và từ đó, làm cơ sở cho việc xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam chất lượng cao trên thị trường thế giới chứ không phải chỉ dẫn đầu về số lượng còn chất lượng thì vẫn thua nhiều nước trong khu vực như hiện nay

Một số tồn tại khác trong công tác quy hoạch có thể nói thêm như quy hoạch sản xuất chưa đồng bộ với quy hoạch thủy lợi gây ra tranh chấp nước tưới; không gắn quy hoạch sản xuất với quy hoạch mạng lưới chế biến, logistics/

là mục tiêu kế tiếp chứ không phải là duy nhất Với mục tiêu kép như vậy, cần có chính sách bảo hiểm để nông dân trồng lúa có lợi nhuận đảm bảo như khi sản xuất các cây trồng khác, tương tự như cách mà Nhật Bản, Hàn Quốc đang làm với nông dân sản xuất lúa của họ

Ngoài lúa, các loại cây trồng khác chỉ

nên định hướng quy hoạch để nông dân hoặc địa phương biết lợi thế của từng loại, từ đó, tự quyết định việc sản xuất cho phù hợp; đồng thời, có chính sách hỗ trợ, động viên người sản xuất theo đúng quy hoạch của Nhà nước, chẳng hạn như được Nhà nước hỗ trợ một phần khi có rủi ro thị trường, thiên tai Với quy hoạch này, vai trò của các tổ chức xã hội như hội nông dân, hợp tác xã… là rất quan trọng

Để quy hoạch thật sự hỗ trợ sản xuất, cần nâng cao chất lượng quy hoạch và dự báo thị trường trung và dài hạn, đặt quy hoạch ngành hàng trong quy hoạch tổng thể, quy hoạch quốc gia hài hòa với quy hoạch vùng và nên bỏ quy hoạch theo tỉnh do các giới hạn về hành chính có thể khiến việc tích tụ đất đai hoặc tập trung sản xuất lớn gặp khó khăn Chú trọng việc quy hoạch sản xuất gắn với quy hoạch thị trường, chế biến và hạ tầng/logistics.Khi quy hoạch đã đảm bảo, rất cần các quy định chặt chẽ, cơ sở pháp lý rõ ràng để có thể chế tài kiên quyết các trường hợp dám phá vỡ quy hoạch Đồng thời, xây dựng cơ chế phù hợp, công bằng gắn với sự hỗ trợ đủ mạnh của Nhà nước cả về sản xuất, tiêu thụ nông sản và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp (như xây dựng vùng nguyên liệu, nhà máy chế biến sau thu hoạch…) nhằm gia tăng hiệu quả của chuỗi liên kết giá trị gia tăng từ tổ chức sản xuất đến tiêu thụ nông sản Việc qui tụ ruộng đất phải được đồng tâm thống nhất giữa nông dân, doanh nghiệp và chính quyền địa phương Qui

tụ không nên chỉ theo hình thức mua bán đất (để tránh đầu cơ đất) mà nên mở rộng, có thể theo hình thức góp cổ phần

để được chia cổ tức vào cuối vụ Các cơ quan chức năng cần thường xuyên rà soát quy hoạch để kịp thời điều chỉnh theo quy mô, cơ cấu sản xuất phù hợp với tình hình ở từng giai đoạn cũng như nhu cầu thị trường; sớm tổ chức lại

hệ thống thương mại nông sản, đặc biệt chú ý xây dựng thương hiệu gắn với chỉ dẫn địa lý của mỗi loại nông sản…

doanh nghiệp, những nơi gần khu dân

cư, thuận lợi về hạ tầng kỹ thuật như

giao thông, điện nước… cũng là nơi họ

muốn đặt nhà máy, cơ sở sản xuất nhằm

tiện cho việc phát triển Để có thể tạo

nguồn thu lớn cho ngân sách đồng thời

giải quyết nhanh công ăn việc làm cho

người dân địa phương, chính quyền các

nơi thường dành ưu tiên cho phát triển

công nghiệp thay vì nông nghiệp Và kết

quả, như chúng ta đã thấy!

Chưa tính hết mối liên kết toàn diện

trong quy hoạch lại là một thiếu sót

khác của quy hoạch vùng trồng trong

thời gian qua Trong quy hoạch vùng

trồng của Việt Nam nhiều năm trước,

có 8 vùng sinh thái nông nghiệp được

quy hoạch bao gồm vùng Tây Bắc, vùng

Đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc Trung

bộ, Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đông

Nam bộ và Tây Nam bộ Tám vùng sinh

thái nông nghiệp này dựa trên đặc

điểm tiểu khí hậu, địa hình, một số tính

chất thổ nhưỡng, môi trường sinh thái

tương đồng của các tỉnh trong cùng một

vùng Tuy nhiên, quy hoạch chỉ mới chú

CHuyêN Đề: Quy HoạCH VùNg TrồNg

Trang 14

14 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)

CHuyêN Đề: Quy HoạCH VùNg TrồNg

Một trong những giải pháp

được xem là “chiếc đũa thần”

giải quyết triệt để tình trạng giải

cứu nông sản, đồng thời khai

thác tối đa lợi thế thổ nhưỡng,

khí hậu để nâng cao hiệu quả

sản xuất của người nông dân

chính là việc thực hiện trồng

trọt phải theo quy hoạch

Không chỉ trên bình diện cả

nước, từng địa phương thậm

chí từng ngành cũng có quy

hoạch cho riêng mình Tuy vậy,

tình trạng giải cứu nông sản,

điệp khúc “chặt - trồng, trồng

- chặt” như căn bệnh nan y

của nền nông nghiệp vẫn chưa

được chữa khỏi Vì sao như thế?

Dưới đây là ý kiến của một

số chuyên gia về vấn đề này

Sản xuất chưa căn cứ nhu cầu thị

trường là điểm yếu chung của nông dân hiện nay Điều đó thể hiện

cụ thể qua thói quen thấy người khác trồng cây gì, nuôi con gì hiệu quả là

rủ nhau làm theo mà ít chịu suy nghĩ một cách thấu đáo đến việc nuôi, trồng xong sẽ bán cho ai, bán ở đâu, bán như thế nào, càng không quan tâm đến quy hoạch cây trồng, vùng trồng của Nhà nước, dẫn đến phá vỡ quy hoạch vùng trồng Để khắc phục điều này, mỗi vùng, mỗi địa phương cần định hướng quy hoạch cụ thể và sâu rộng trong xã hội, kêu gọi nông dân tôn trọng và tuân thủ quy hoạch

vì đây là việc được tính toán trên cơ

sở khoa học giúp nông dân ổn định

và phát triển sản xuất Về phía Nhà nước, cần quan tâm kêu gọi liên kết sản xuất, hình thành các vùng sản xuất tập trung để có thể quản lý được sản lượng; khắc phục điểm yếu trong xây dựng liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân để đảm bảo cho việc tiêu thụ nông sản; gắn việc hình thành các vùng chuyên canh với chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư chế biến nông sản để tạo nguồn tiêu thụ ổn định, lâu dài tại chỗ cho nông dân trong vùng quy hoạch Một yếu tố khác cần lưu ý nữa là sớm có chính sách đầu tư khu bảo quản, kho trữ nguyên liệu cho chế biến để khắc phục tính chất thời vụ làm ảnh hưởng đến việc tiêu thụ nông sản

Đồng Nai hiện có nhiều vùng

chuyên canh trái cây đặc sản có

diện tích thuộc tốp đầu cả nước Bên

cạnh đó, chương trình hỗ trợ người

dân sản xuất theo quy trình an toàn

được quan tâm triển khai Đến nay,

toàn tỉnh có gần 1.200ha cây trồng

đạt chứng nhận GAP; 105 mã số vùng

trồng trên diện tích gần 22.000ha

với 6 loại cây trồng (chuối, mít, thanh

long, xoài, chôm chôm, chanh) và 41

mã số cơ sở đóng gói Tỉnh đã xây

dựng được 151 chuỗi liên kết sản xuất

và tiêu thụ; 17 dự án cánh đồng lớn

được phê duyệt

Xuyên suốt quá trình xây dựng

Nông thôn mới, Đồng Nai luôn tập

trung đầu tư mạnh về hạ tầng cho

các vùng nông thôn, nhất là đường

giao thông và điện sản xuất, góp

phần tạo điều kiện hình thành nhiều

vùng chuyên canh sản xuất cây công nghiệp, cây ăn trái… Trong đó, không chỉ các tuyến đường liên huyện, liên tỉnh mà các tuyến đường nhựa, đường bê tông nối về các xã, vào tận cánh đồng sản xuất cũng được chú trọng đầu tư, tạo nhiều thuận lợi cho nông dân, doanh nghiệp trong sản xuất

Thời gian tới, tỉnh sẽ tiếp tục đẩy mạnh đầu tư về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông và mở rộng chợ đầu mối nông sản thực phẩm Dầu Giây, cụm công nghiệp chế biến nông sản Long Giao, cụm công nghiệp Phú Túc Tỉnh cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách để thu hút doanh nghiệp đầu tư, xây dựng các chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ, chế biến để nông sản có đầu ra ngày càng bền vững

ÔNg PauL Le, PHó CHủ TịCH TậP ĐoàN CeNTraL reTaiL:

Không chủ động được thị trường

Việt Nam chưa thực hiện được quy hoạch

vùng trồng xuất phát từ thực tế nông sản Việt Nam chủ yếu xuất sang thị trường Trung Quốc và quá phụ thuộc vào thị trường này nên việc xuất khẩu luôn trong thế bị động Sản phẩm xuất đi Trung Quốc nhưng nông dân Việt Nam gần như không hiểu gì về thị trường này, cũng không phải là người chủ động bán mà thương nhân Trung Quốc mới

là người chủ động

Kỹ năng bán hàng là một trong những hạn chế lớn của nông dân Việt Nam Để khắc phục điều này, nông dân Việt Nam cần tìm hiểu kỹ nhu cầu của người tiêu dùng, của thị trường trước khi sản xuất và khi bán hàng, phải xác định rõ sản phẩm thế mạnh của mình là gì, ai cần nó Trong sản xuất, nông dân phải tính chuyện lâu dài và phải nhớ nằm lòng là sản phẩm phải an toàn, đừng nghĩ trồng cho thật nhiều, thật rẻ

Đảm bảo khâu tiêu thụ để giữ vững quy hoạch cây trồng, vùng trồng

Trang 15

ÔNg NguyễN THaNH TruyềN,

giáM ĐốC Sở NN&PTNT LoNg aN:

Quan trọng nhất là

thay đổi được tư duy

Ngành nông nghiệp tỉnh Long An xác định

quy hoạch vùng trồng là nhiệm vụ rất quan

trọng của ngành vì vừa đảm bảo mục tiêu xây

dựng vùng hàng hóa tập trung, vừa giúp cho công

tác đầu tư đúng mục tiêu, tránh dàn trải

Trong thời gian qua, đối với từng cây trồng,

vật nuôi chủ lực của tỉnh, Long An có quy hoạch

đề án phát triển cụ thể như: Quy hoạch vùng lúa

chất lượng cao 40.000ha khu vực Đồng Tháp Mười

của tỉnh, Đề án phát triển cây chanh, thanh long,

tôm nước lợ Hiện nay, thực hiện Luật Quy hoạch,

Long An đang tích hợp các nội dung cụ thể vào Quy

hoạch kinh tế xã hội tỉnh đến năm 2030 và tầm

nhìn 2050 để định hướng phát triển Trước mắt

giai đoạn 2021 - 2025, Long An tiếp tục thực hiện

Chương trình ứng dụng công nghệ cao đối với cây

lúa, rau, thanh long, chanh, con bò thịt và con tôm

nước lợ để tạo ra những sản phẩm hàng hóa có lợi

thế cạnh tranh, đảm bảo an toàn thực phẩm, đáp

ứng tốt yêu cầu xuất khẩu hàng hóa sang các thị

trường khó tính và gắn với xây dựng thương hiệu

Từ kết quả thực hiện quy hoạch, chúng tôi nhận

thấy quan trọng nhất là phải thay đổi cho được

nhận thức của cả hệ thống chính trị và người dân,

vì điều đó sẽ giúp thay đổi tư duy từ sản xuất nông

nghiệp nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa tập trung,

ứng dụng công nghệ cao gắn với chuỗi giá trị

Kinh nghiệm thực hiện cũng chỉ ra rằng muốn

quy hoạch vùng sản xuất một cách khoa học cần dựa

vào các yếu tố lợi thế về đất đai, thổ nhưỡng, nhưng

phải đầu tư hạ tầng đồng bộ Công tác tổ chức, triển

khai thực hiện phải có trọng tâm, trọng điểm bám sát

yêu cầu đặt ra nhưng phải vận dụng linh hoạt trong

thực tiễn; tránh đầu tư dàn trải, tập trung phát triển

nông nghiệp theo chiều sâu gắn chặt chẽ với chế biến

và tiêu thụ sản phẩm Bên cạnh đó, chú trọng hỗ trợ

và tạo điều kiện cho Hợp tác xã, các doanh nghiệp sản

xuất đạt tiêu chuẩn chất lượng, mẫu mã Tăng cường

công tác quản lý, giám sát thực hiện quy hoạch để

đảm bảo phát triển ngành có định hướng, bền vững,

nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác

quy hoạch ngành nông nghiệp trên địa bàn; chỉ đạo

tổ chức thực hiện có hiệu quả các nội dung quy hoạch

phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương

CHuyêN Đề: Quy HoạCH VùNg TrồNg

BÌNh NguyêN - ThÙy DuNg ghi

ÔNg PHạM VăN TấN, PHó giáM ĐốC PHâN ViệN Cơ ĐiệN Và CÔNg NgHệ Sau THu HoạCH

Thiếu nhiều điều kiện hỗ trợ

Quy hoạch sản xuất nông nghiệp nói chung hay quy hoạch vùng

trồng nói riêng là việc làm rất cần thiết nhằm hạn chế cảnh “được mùa - mất giá”, “trồng - chặt, chặt - trồng” gây thiệt hại cho nông dân và tổn thất cho xã hội Bên cạnh đó, quy hoạch vùng trồng sẽ giúp việc đầu

tư khoa học, công nghệ và cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp thuận lợi, hiệu quả hơn Khó khăn hiện nay trong việc quy hoạch vùng trồng của Việt Nam là việc thiếu dữ liệu chính xác và đầy đủ về đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu, thời tiết, thủy lợi… cũng như thông tin các loại cây trồng; đặc biệt, thiếu nhiều thông tin và các dự báo về thị trường tiêu thụ cho các loại nông sản Mặt khác, sản xuất nông nghiệp của Việt Nam còn nhỏ lẻ, manh mún trong khi bảo hiểm nông nghiệp còn quá non yếu nên nông dân chưa mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực mới trong nuôi trồng theo quy hoạch

Những năm qua, An Giang

đã hình thành được nhiều vùng sản xuất chuyên canh quy

mô lớn như vùng trồng xoài tượng da xanh hơn 6.000ha (Chợ Mới), vùng trồng nếp Phú Tân hơn 20.000ha mỗi vụ, vùng nuôi cá tra tập trung khép kín ứng dụng công nghệ 600ha (Châu Phú)…

Hiện nay theo Luật Quy hoạch mới nhất, sẽ không có quy hoạch ngành chỉ có quy hoạch tổng thể của tỉnh Từ quy hoạch tổng thể, các ngành chuyên môn sẽ định hướng cụ thể để xây dựng và hình thành những vùng chuyên canh lớn Trong quá trình triển khai, công tác chỉ đạo điều hành và phối hợp giữa ngành và địa phương rất quan trọng, là yếu tố quyết định sự thành công của kế hoạch Ngoài ra, khâu duy trì tuyên truyền, vận động

và đưa những tiến bộ khoa học kỹ thuật đến với người dân là rất cần thiết Thời gian qua, tỉnh đã tổ chức tập huấn cho nông dân và cán bộ

cơ sở những kiến thức cần thiết trong sản xuất cũng như tiếp cận

thị trường Đồng thời, hỗ trợ cho người sản xuất, các trang trại ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, xây dựng được các mô hình mẫu Tuy nhiên, công tác quản lý vùng chuyên canh cũng gặp không

ít khó khăn do tập quán sản xuất đơn lẻ, chưa có sự gắn kết và tính đồng thuận cao trong việc hình thành vùng sản xuất tập trung theo mô hình kinh tế hợp tác Do

đó, việc thực hiện các quy trình

kỹ thuật sản xuất như VietGAP, GlobalGAP, SRP, hữu cơ… trên quy

mô lớn luôn là thách thức của ngành nông nghiệp Trong điều kiện hiện nay, đặc biệt việc ứng dụng công nghệ số đã được 2 Bộ trưởng Bộ NN&PTNT và Bộ Thông tin Truyền thông chỉ đạo tại Hội nghị trực tuyến về Chuyển đổi số trong nông nghiệp và phát triển nông thôn vào ngày 18/6/2021 sẽ

là khởi đầu cho cuộc cách mạng phát triển các vùng nguyên liệu quy mô, chất lượng, có kiểm soát; kết nối được với các thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước

ÔNg NguyễN Sĩ LâM,giáM ĐốC Sở NN&PTNT aN giaNg:

Sự phối hợp giữa ngành và địa phương là yếu tố quyết định

Trang 16

quy hoạch sản xuất cây ăn trái

nhằm phục vụ tiêu thụ nội địa

và xuất khẩu Thực tế cho thấy

việc canh tác cây ăn trái mang

lại thu nhập cao hơn so với

trồng lúa; vì vậy nhiều nông dân

mạnh dạn hưởng ứng việc phát

triển vườn cây ăn trái…

Tăng nhanh về diện tích

Theo Bộ NN&PTNT, hiện nay cả nước

có khoảng 1,13 triệu hecta cây ăn trái,

riêng các tỉnh vùng ĐBSCL có 377.700ha,

chiếm 33,3% so với cả nước Cây ăn trái

ở ĐBSCL được trồng khá đa dạng, mùa

nào cũng có thu hoạch; trong đó, các đối

tượng cây trồng chủ lực như sầu riêng,

thanh long, xoài, chôm chôm, nhãn, bưởi,

cam, mít, chuối, chanh… được nông dân

đẩy mạnh đầu tư sản xuất và đã hình

thành một số vùng sản xuất tập trung,

qui mô lớn Điển hình như vùng trồng

thanh long tại Long An và Tiền Giang;

xoài tại Đồng Tháp, An Giang và Tiền

Giang; sầu riêng ở Tiền Giang, Bến Tre

và Vĩnh Long; nhãn ở Vĩnh Long, Đồng

Tháp và TP Cần Thơ; bưởi da xanh ở Bến

Tre, Sóc Trăng; bưởi năm roi ở Vĩnh Long;

quýt đường ở Đồng Tháp, Hậu Giang;

năm nay giá bưởi da xanh dao động từ 35.000 - 50.000 đồng/kg, có lúc vượt lên 55.000 đồng/kg Cùng với giá cao thì bưởi da xanh luôn hút hàng, thương lái tìm đến vườn để thu mua Chính điều này

mà 8 công bưởi da xanh của tôi đảm bảo thu nhập mỗi năm khoảng 1 tỷ đồng,

so ra cây lúa hoặc một số loại cây khác không bằng được” Ông Đặng Văn Nám, ngụ xã Kế Thành, huyện Kế Sách (Sóc Trăng) khoe: “Tôi trồng bưởi da xanh từ năm 2010 Đến năm thứ 5, 8 công vườn bưởi trái sai oằn, thương lái vào tận vườn mua với giá 40.000 - 60.000 đồng/kg Thấy bưởi da xanh rất hiệu quả nên tôi

mở rộng lên 32 công, cho thu nhập hơn

khóm (dứa) ở Tiền Giang, Hậu Giang và Kiên Giang; chôm chôm ở Bến Tre, Vĩnh Long; mít Thái ở Tiền Giang, Hậu Giang

Có thể thấy, diện tích cây ăn trái ở ĐBSCL tăng liên tục từ năm 2010 đến nay Nếu như năm 2010, diện tích cây

ăn trái toàn vùng là 287.300ha, thì đến năm nay là 377.700ha, tăng 90.400ha

Nhiều loại cây tăng mạnh về diện tích như thanh long, sầu riêng, khóm, xoài, chuối, bưởi, mít thái, chôm chôm…

chứng tỏ cây ăn trái đang là lợi thế để người dân chuyển đổi từ đất lúa kém hiệu quả sang cây trái

Ông Đào Văn Minh, ngụ xã Quới Sơn, huyện Châu Thành (Bến Tre) tiết lộ: “Mấy

Hướng dẫn chúng tôi tham quan vựa

mít Thái được xem là lớn nhất tỉnh Hậu

Giang, ông Nguyễn Thanh Tú, ngụ xã

Đông Phước A huyện Châu Thành - người đã có trên

20 năm mua bán mít Thái - bức xúc nói: “Có khi mới

chiều hôm trước mua 15.000 đồng/kg mít trái loại

1, 9.000 đồng/kg loại 2, gom được 20 tấn thì thương

lái báo vô giá rớt, thu vô mỗi loại giảm 5.000 đồng/

kg Lỗ trên 100 triệu trong tích tắc vậy đó ”

Theo ông Vi Văn Long ngụ tại thành phố Cần Thơ: “Hiện nay, việc tiêu thụ mít Thái phụ thuộc gần như hoàn toàn vào thị trường Trung Quốc Giá mua - bán mít tại vườn thì hoàn toàn do thương lái quyết định và chủ yếu mua bán bằng miệng, không

có giấy tờ hợp đồng gì nên đã xảy ra không ít vụ

“bỏ cọc chạy lấy người” mà thiệt hại luôn nghiêng

về phía nông dân Biết vậy nhưng phải chịu”

Việc mua bán bị chèn ép là vậy nhưng theo nhiều

ĐồNg BằNg SÔNg Cửu LoNg

Quy hoạch mở rộng vùng cây ăn trái

Quy hoạch và câu chuyện cây mít Thái

Nông dân thu hoạch mít Thái.

Diện tích cây ăn trái ở ĐBSCL liên tục tăng.

16 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)

Trang 17

CHuyêN Đề: Quy HoạCH VùNg TrồNg

3 tỷ đồng mỗi năm; số tiền trong mơ đối

với người dân nông thôn”

Ông Phạm Thiện Nghĩa, Chủ tịch

UBND tỉnh Đồng Tháp cho hay, xoài là

một trong những cây ăn trái chủ lực của

ĐBSCL, chiếm khoảng 48% tổng diện

tích xoài cả nước Trong đó, tỉnh Đồng

Tháp hiện có diện tích trồng xoài khoảng

12.171ha, lớn nhất vùng ĐBSCL, với sản

lượng hàng năm gần 124.000 tấn Để

quy hoạch loại cây thế mạnh này, ngay từ

những năm 2005 - 2006, tỉnh Đồng Tháp

đã tập trung đầu tư nhiều nguồn lực cho

ngành hàng xoài từ việc đầu tư hạ tầng

kỹ thuật, hệ thống đê bao chống lũ, ứng

dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào

sản xuất như cải tạo giống, xử lý ra hoa

rải vụ, áp dụng kỹ thuật bao trái đến việc

sản xuất xoài theo tiêu chuẩn thực hành

nông nghiệp tốt (GAP); công nghệ sau

thu hoạch đã từng bước được áp dụng;

ứng dụng công nghệ Blockchain trong

truy xuất nguồn gốc, xây dựng “Mô hình

cây xoài nhà tôi” bán hàng qua mạng

Từ đó, đã hình thành nên vùng nguyên

liệu xoài tập trung chủ yếu ở huyện Cao

Lãnh và TP Cao Lãnh Đồng Tháp đã lựa

chọn cây xoài là 1 trong 5 ngành hàng

thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông

nghiệp của tỉnh nhằm nâng cao giá trị

và tăng thu nhập cho người trồng xoài

Hướng tới mục tiêu bền vững

Quy hoạch phát triển nông nghiệp

bền vững ở vùng ĐBSCL thích ứng với biến

đổi khí hậu đến năm 2030, tầm nhìn 2045

nhà vườn ở Tây Nam bộ, so ra, vẫn chưa có loại cây

ăn trái nào lợi nhuận hấp dẫn như mít Thái Theo

họ, nhà vườn có thể thu lãi gần 100 triệu đồng trên một công đất (1.000m2) khi trúng giá, nên nếu làm bài toán so sánh đơn giản thì trồng mít có lãi nhiều hơn trồng lúa từ 8 đến 10 lần Hấp dẫn là vậy nên không khó hiểu khi cục diện bản đồ cây ăn trái vốn có của miền Tây Nam bộ đang biến động mạnh khiến quy hoạch cây trồng chung bị phá vỡ và các cơ quan chuyên môn hết sức lo lắng Tính đến tháng 5/2021, khu vực ĐBSCL có trên 40.000ha mít Thái đang thu

hoạch, nhiều nhất là tỉnh Đồng Tháp với trên 10.000ha; Hậu Giang xấp xỉ 5.800ha; An Giang với trên 3.500ha; Tiền Giang 3.200ha; Long An 1.200ha

Trước sự phát triển quá nhanh diện tích trồng cũng như sự bấp bênh trong khâu tiêu thụ của mít Thái, một

số nông dân đã chuyển sang một số cây ăn trái khác Ông Kim Sang, ngụ huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long cho biết: “Tôi đã đốn bỏ 1.000 gốc mít Thái để trồng vú sữa Lò Rèn và thanh nhãn Hy vọng sẽ khấm khá hơn” Câu chuyện trồng chặt - chặt trồng, có vẻ vẫn rất thời

sự với cây mít Thái!

xác định đến năm 2030, diện tích canh tác lúa toàn vùng ĐBSCL còn 1,6 triệu hecta (giảm khoảng 300.000ha, để chuyển sang trồng cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản) Diện tích trồng lúa khi đó mỗi năm còn khoảng 3,1 triệu hecta (giảm 1 triệu hecta do giảm diện tích canh tác và giảm tăng vụ); sản lượng lúa dự kiến giảm còn 17,3 triệu tấn/năm (giảm khoảng 6,3 triệu tấn) Việc giảm đất lúa nhằm đẩy mạnh phát triển cây ăn để phục vụ xuất khẩu, tăng thu nhập cho nông dân

Dự kiến đến 2030, sẽ mở rộng diện tích cây ăn trái tại ĐBSCL lên khoảng 650.000ha, ở các vùng chuyển đổi từ đất lúa kém hiệu quả do bị xâm nhập mặn, khu vực có địa hình cao Ngành nông nghiệp sẽ nghiên cứu và ứng dụng các loại giống cây trồng có năng suất, chất lượng cao và chống chịu tốt với biến đổi khí hậu; hỗ trợ nông dân các biện pháp canh tác bền vững, giảm chi phí; tăng cường liên kết giữa nông dân và các hợp tác xã với doanh nghiệp tiêu thụ Song song đó, đầu tư nâng cao công nghệ chế biến, bảo quản; hình thành các khu, cụm công nghiệp chế biến trái cây công nghệ cao gắn với vùng chuyên canh và các trung tâm dịch vụ hậu cần để kết nối

ra thị trường quốc tế Ngoài ra, tiến hành xây dựng vùng trồng, đảm bảo truy xuất nguồn gốc đáp ứng các yêu cầu mới của các thị trường nhập khẩu; thúc đẩy đàm phán mở cửa thị trường mới để tăng cường xuất khẩu…

Ông Lê Thanh Tùng, Phó Cục trưởng

Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT) cho rằng:

“Song hành cùng việc đầu tư nâng cao chất lượng cây trái thì ngành nông nghiệp đẩy mạnh hỗ trợ nông dân thực hiện việc rải vụ, nhằm tránh tình trạng thu hoạch đồng loạt dẫn tới rớt giá” Hiện nay, việc rải vụ trái cây đã được các tỉnh ĐBSCL quan tâm chỉ đạo, nông dân

có nhiều kinh nghiệm và áp dụng thành công quy trình kỹ thuật rải vụ Thống kê cho thấy, hiệu quả kinh tế của 5 loại cây được chọn để rải vụ gồm (thanh long, xoài, chôm chôm, sầu riêng, nhãn) tăng

từ 1,5 - 2 lần so sản xuất chính vụ Tuy nhiên việc mở rộng diện tích trồng cây ăn trái cũng bộc lộ những hạn chế như nhiều vườn có nguồn giống chất lượng thấp; trồng mật độ quá dày để khai thác tối đa quỹ đất; sử dụng phân bón và chất kích thích quá nhiều để nâng tối đa năng suất; sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá liều lượng, nồng độ để phòng trừ dịch hại… Nhưng đáng chú ý nhất là việc

tổ chức sản xuất chưa theo quy hoạch và định hướng của địa phương, còn mang tính tự phát Sự liên kết giữa sản xuất và thu mua để tiêu thụ sản phẩm còn lỏng lẻo, nên giá cả bấp bênh, chưa ổn định Vấn đề chuyển đổi cây trồng từ đất lúa sang trồng cây ăn quả đòi hỏi phải có vốn đầu tư lớn Trong khi đó các địa phương lại chưa hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch chuyển đổi gắn với thời vụ, vùng chuyển đổi, cây trồng, tiêu thụ sản phẩm Đây là những nhược điểm cần khắc phục trong thời gian tới

TrưƠNg ThaNh LiêM

Trang 18

18 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)

THời Sự

CẨM hÀ

Tại cuộc họp báo do Tổng cục Thống kê tổ

chức đầu tháng 7 vừa qua, một phóng viên

thắc mắc: theo số liệu thống kê, mức chi

tiêu bình quân của hộ gia đình cho một thành viên

đang đi học trong 12 tháng là hơn 7 triệu đồng

(chưa tới 600.000 đồng/tháng) Mức này, theo anh,

quá thấp so với thực tế Khi được giải thích mới

hiểu, hóa ra đây là mức chi tiêu đã loại trừ hoàn

toàn chi phí ăn uống, sinh hoạt!

Tránh ngộ nhận

Cũng dễ gây hiểu nhầm như vậy, lượng tiêu thụ

rượu bia, theo cơ quan thống kê, bình quân đạt 1,3

lít/người/tháng trong cả năm 2020; thấp hơn đáng

kể so với số liệu của Bộ Y tế và Hiệp hội Bia - Rượu

- Nước giải khát Việt Nam

Nguyên nhân, như ông Phạm Hoài Nam, Vụ

trưởng Vụ Thống kê Dân số và Lao động (Tổng cục

Thống kê) giải thích, là do cơ quan này chỉ tính sản

lượng rượu bia mua về để sử dụng trong gia đình,

mà không tính đến lượng tiêu thụ ở các nhà hàng,

các dịp liên hoan, lễ tiệc ngoài gia đình Dễ thấy là

nếu ai đó không đọc kỹ và hiểu rõ cách tính toán

thống kê, họ rất có thể hồ nghi hoặc (tệ hơn) là

đưa ra những kết luận vội vàng, không chính xác

Một trong những “ngộ nhận” thường thấy nhất

liên quan đến tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Nếu

chỉ đơn thuần nhìn vào công bố “kinh tế Việt Nam

tăng trưởng GDP quý II ước đạt 6,61%, 6 tháng là

5,64%” thì có thể thấy khá an tâm, nhất là khi so với

tốc độ tăng trưởng 0,39% của quý II/2020 và 1,82%

của 6 tháng đầu năm 2020 Đầu tàu kinh tế của cả

nước - TP.HCM - vẫn đạt mức tăng trưởng 5,46%, cao

hơn nhiều so với mức tăng trưởng GRDP 1,02% của

cùng kỳ năm trước, bất chấp việc vừa phải trải qua

1 tháng thực hiện giãn cách xã hội (tính đến cuối

tháng 6/2021) Đà Nẵng đạt 4,9%, bật lên từ mức

tăng trưởng âm rất sâu của năm 2020 (-9,77%) Cần Thơ là 5,6%, Hà Nội là 5,91%, Hải Phòng lên tới 13,5%, Bình Dương là 7,23%, Đồng Nai là 5,74% Tuy nhiên, rất cần lưu ý rằng, tốc độ tăng trưởng này được so với nền tăng trưởng rất thấp của quý II

và 6 tháng đầu năm 2020 - thời điểm kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng nghiêm trọng của Covid-19 và các biện pháp phòng chống dịch được thắt chặt hơn nhiều so với cách làm linh hoạt hơn hiện nay.Thực tế, tốc độ tăng trưởng quý II và 6 tháng đầu năm đều thấp hơn so với kịch bản tăng trưởng được ban hành kèm theo Nghị quyết 01/NQ-CP, cũng như kịch bản được điều chỉnh trong quý I/2021 Các địa phương được coi là “trọng điểm tăng trưởng kinh tế” đều tăng trưởng thấp hơn tốc độ chung của cả nước, trong đó có TP.HCM, vốn đóng góp khoảng 22% GDP và từ 26,5% đến 27,5% ngân sách cả nước

Dữ liệu có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo sự thành công

cho mọi kế hoạch, quyết định hay định hướng chính sách hiểu sai

hoặc hiểu chưa đầy đủ dữ liệu sẽ dẫn tới các quyết định sai lầm

18 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)

Trang 19

Có rất nhiều người trong độ tuổi lao động không

đi làm và không có thu nhập, nhưng không được coi là thất nghiệp, bởi khái niệm “thất nghiệp” bao gồm nhiều tiêu chí: không lao động và không chủ động tìm việc Một người giúp việc nhà trong thời

kỳ giãn cách xã hội bị mất việc, sẵn sàng làm việc nhưng không thể chủ động tìm việc (vì chị ấy không thể đi làm), thì vẫn không được tính là thất nghiệp

- chuyên gia này nêu một trong rất nhiều ví dụ Bên cạnh đó, chất lượng việc làm (tính bền vững, mức thu nhập hợp lý, điều kiện lao động…) cũng là những yếu tố không thể bỏ qua Tóm lại, không thể nói chung chung về “thất nghiệp” mà cần có sự phân nhóm rất cụ thể để thiết kế những chính sách riêng phù hợp nhằm cải thiện chất lượng của thị trường lao động, đảm bảo an sinh xã hội

Để đạt mục tiêu tăng trưởng 6,5%, trong hai quý cuối năm, tốc độ tăng trưởng GDP phải đạt con số 7,2%, nhưng theo ông Lê Trung Hiếu, Vụ trưởng Vụ

Hệ thống tài khoản quốc gia (Tổng cục Thống kê), đây là một nhiệm vụ hết sức khó khăn

Đó là chưa kể một số “điểm mờ” vẫn khiến một

số nhà kinh tế cảm thấy chưa được thuyết phục hoàn toàn Sau khi được Tổng cục Thống kê tiến hành đánh giá lại, điều chỉnh tăng 25%, GDP theo giá hiện hành ước tính đạt 9 triệu tỷ đồng năm

2021, mà chưa làm rõ được phần tăng này đến từ đâu, ngay cả khi tính theo phương pháp sản xuất (sản xuất cao lên 25%, thì phần cao lên đó được sử dụng vào đâu: tiêu dùng, tích lũy hay xuất khẩu)

Bên cạnh đó, với mức tăng này, chuỗi số liệu GDP đột nhiên “đứt gãy” vì khi điều chỉnh thì lẽ ra phải tính lại từ năm đầu tiên, nhưng cơ quan thống

kê quốc gia chưa làm việc này Khi nước Mỹ điều chỉnh hệ thống số liệu thống kê theo phương pháp SNA2008, họ phải tính lại toàn bộ chuỗi số từ năm

1930 đến nay…

Gộp chung vào một giỏ dễ sai lầm

Tương tự, việc nhận diện đúng thị trường lao động việc làm để từ đó đánh giá tác động và thiết

kế chính sách phù hợp cũng không dễ dàng nếu chỉ đọc lướt qua số liệu

Tháng 07/2021, Tổng cục Thống kê, trong một điều tra chuyên sâu về lao động việc làm dưới tác động của đại dịch Covid-19, cho biết, trong quý II/2021, lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm là 49,9 triệu người, giảm 65.000 người so với quý trước

và tăng gần 1,8 triệu người so với cùng kỳ năm trước

Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động là gần 1,2 triệu người, tăng 87.100 người so với quý trước

và giảm 82.100 người so với cùng kỳ năm trước…

Một câu hỏi nảy sinh gần như ngay lập tức: Vì sao

số người có việc lại tăng bất chấp làn sóng Covid-19 thứ 4 - dữ dội nhất tại Việt Nam từ đầu dịch đến nay?

“Các biện pháp phòng chống dịch lần này đã thay đổi theo hướng khoanh vùng cách ly và nỗ lực duy trì sản xuất kinh doanh Nhưng cũng cần hiểu đúng rằng con số gần 1,8 triệu người có việc làm tăng thêm so với cùng kỳ năm trước không phải là thành quả đáng vui mừng Đó là mức tăng trên một nền so sánh thấp So với trạng thái cân bằng bình thường của nền kinh tế (thường tăng thêm khoảng 3,4 - 3,5 triệu việc làm/năm) thì điều này có nghĩa

là đã có khoảng 1,7 triệu người bị tước đi cơ hội lao

Theo Tổng cục Thống kê, trong quý II/2021, lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm tăng gần 1,8 triệu người so với cùng kỳ năm trước Ảnh: Công nhân làm việc tại một nhà máy chế biến trái cây.

Dữ liệu có ý nghĩa quan

trọng trong việc đảm

bảo sự thành công cho

mọi kế hoạch, quyết

định hay định hướng

chính sách

Trang 20

20 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)

Không dựa trên một nghiên cứu cụ

thể có số liệu thống kê chính thức

nào, bài viết được tác giả tổng hợp

thông tin từ quá trình làm việc thực

tế tại các địa phương và tham khảo

tư liệu của các đồng nghiệp

Hợp tác xã (HTX) được coi là

nòng cốt phát triển kinh tế

hợp tác của Việt Nam trong

thời gian qua Mặc dù các nguyên tắc

hoạt động của HTX dựa trên tính tự chủ

- tự quản lý - tự chịu trách nhiệm trong

hoạt động nhưng bên cạnh đó, HTX còn

cần tới sự hỗ trợ từ bên ngoài mà các

chính sách hỗ trợ là một trong những

yếu tố quan trọng Vậy phương thức hỗ

trợ HTX hiện nay ra sao? Hiệu quả của

việc này thế nào?

Nhiều chính sách hỗ trợ HTX…

Tính đến thời điểm hiện tại, có rất

nhiều quy định của Nhà nước về các

chính sách hỗ trợ riêng cho lĩnh vực HTX

đang còn hiệu lực Có thể điểm qua vài

quy định cụ thể Điều 6 trong Luật HTX

2012 (từ khoản 1 tới khoản 4) quy định

rõ các hình thức hỗ trợ, ưu đãi của nhà

nước đối với HTX trong các lĩnh vực như

đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; xúc

tiến thương mại, mở rộng thị trường; ứng

dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ

mới; tiếp cận vốn và quỹ hỗ trợ phát triển

HTX; tạo điều kiện tham gia các chương

trình mục tiêu, chương trình phát triển

NguyễN TrọNg KháNh

(Liên đoàn HTX Raiffeisen

CHLB Đức – DGRV)

THay Đổi PHươNg THứC

Hỗ Trợ HợP TáC xã,

NêN KHÔNg?

Những bất cập khiến chính sách giảm hiệu quả

Sự thiếu nhất quán giữa các ban ngành khi thực hiện chính sách hỗ trợ trong lĩnh vực đào tạo, đặc biệt là về nội dung và tần suất đào tạo là một ví dụ Thiếu sự phối hợp, các đơn vị thực hiện việc hỗ trợ đào tạo theo kế hoạch riêng của từng đơn vị dẫn đến nội dung đào tạo bị trùng lặp, chồng chéo, gây lãng phí về nguồn lực mà hiệu quả và chất lượng đào tạo không cao Bên cạnh đó, mức hỗ trợ cho công tác đào tạo cho các HTX còn thấp, chỉ đủ để bồi dưỡng ngắn hạn thông qua hình thức tập huấn chứ chưa tổ chức thành hệ thống đào tạo chuyên sâu nên công tác đào tạo chưa đạt được kết quả như mong muốn.Một bất cập quan trọng khác là việc HTX khó tiếp cận nguồn vốn vay tín dụng

từ các ngân hàng thương mại dù đã có chính sách ưu đãi lãi suất cũng như hình thức cho vay đối với HTX Lý do của việc khó tiếp cận này là do các ngân hàng thương mại không có nguồn vốn riêng

để thực hiện chính sách hỗ trợ HTX theo quy định Trong khi đó, mức cho vay của các quỹ hỗ trợ phát triển HTX lại thấp,

kinh tế - xã hội; ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế khác theo quy định của pháp luật về thuế; ưu đãi

lệ phí đăng ký HTX/LH HTX theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí

Các nghị định, quyết định, các chương trình hỗ trợ theo khối ngành do Chính phủ ban hành (như Nghị định 193 NĐ-CP

về chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với HTX/LH HTX (chương VI); Quyết định

167 QĐ-TTg về triển khai đề án Lựa chọn, hoàn thiện, nhân rộng mô hình HTX kiểu mới giai đoạn 2021 - 2025; Quyết định

1804 QĐ/TTg về triển khai chương trình

Hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, HTX giai đoạn 2021 - 2025…) Các thông tư hướng dẫn của bộ, ngành liên quan mà trong

đó HTX là một trong các chủ thể hưởng lợi; các chương trình hỗ trợ riêng căn cứ theo quy định của pháp luật và các chính sách từ Chính phủ của các địa phương…

Trong thực tế, những chính sách hỗ trợ HTX cũng như kinh tế hợp tác của Nhà nước thời gian qua đã tác động hết sức tích cực đến hoạt động và sự phát triển của loại hình kinh tế này Tuy nhiên, qua quá trình thực thi, các chính sách hỗ trợ cũng bộc lộ những hạn chế nhất định

20 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)

Trang 21

Ý KiẾN

trường hỗ trợ bình đẳng, thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh trong việc nâng cao năng lực tổ chức để đáp ứng nhu cầu phát triển chung

Đối với hệ thống xây dựng, triển khai chính sách, cần xây dựng hệ thống đánh giá hiệu quả hoạt động của HTX dựa trên bản chất của loại hình này để có những tiêu chí chính sách hỗ trợ phù hợp, hiệu quả Bên cạnh đó, nên cân nhắc tới việc thành lập nhóm làm việc bao gồm các

tổ chức chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các chuyên gia trong lĩnh vực phát triển HTX Nhóm làm việc này có thể thực hiện những nghiên cứu, khảo sát đánh giá nhu cầu, năng lực của các HTX để góp

ý xây dựng các chính sách, tiêu chí phù hợp Các nội dung của chính sách cần có hướng dẫn chi tiết về cơ quan thực hiện, các quy định cụ thể về tài chính, hướng dẫn chi tiết về các khoản mục có thể giải ngân nhằm đảm bảo các cơ quan thực hiện chính sách nắm rõ vai trò, cách thức triển khai mang lại hiệu quả tối đa cho các chính sách hỗ trợ và lợi ích cho chủ thể được hỗ trợ Hệ thống đào tạo khung

về HTX cho các chủ thể liên quan (cơ quan xây dựng chính sách, cơ quan thực hiện chính sách, các chủ thể tiếp nhận chính sách) cũng cần được tính đến để đảm bảo tính khả thi của chính sách.Sau cùng, nhưng cũng là điều quan trọng nhất, cần thay đổi cách nhìn nhận

về HTX theo đúng bản chất của nó HTX được sinh ra bởi thành viên, do thành viên làm chủ, phục vụ lợi ích của thành viên thông qua các hoạt động kinh doanh, vì vậy, tuy có những đặc trưng riêng (như quyền bỏ phiếu ngang nhau không phụ thuộc vào số vốn góp; khách hàng đầu tiên của HTX chính là thành viên; chia lãi theo mức độ sử dụng dịch vụ), còn lại, HTX hoạt động không khác

gì các loại hình doanh nghiệp khác Do vậy, cần thay đổi phương thức hỗ trợ để tạo sân chơi bình đẳng cho HTX, để HTX không bị coi là tổ chức của những người yếu thế, qua đó, thúc đẩy sự phát triển HTX một cách bền vững

sách hoặc lựa chọn sai chủ thể được hỗ trợ làm lãng phí nguồn lực và giảm tính hiệu quả của chính sách Một số chính sách còn thiên về hướng quản lý nhiều hơn là hỗ trợ Một điều quan trọng khác

là các HTX, tuy đã có những biến chuyển nhất định trong hoạt động nhưng những hạn chế như không đủ năng lực

về quản lý, vận hành; không đủ khả năng đối ứng; không có tài sản thế chấp; thiếu chủ động, tự chủ, tự quản lý, tự chịu trách nhiệm… vẫn còn Những hạn chế này trở thành rào cản khiến việc tiếp nhận chính sách của các HTX gặp không ít khó khăn

Cùng với quá trình thực hiện còn nhiều bất cập và một số quy định, chính sách chưa đáp ứng đúng nhu cầu thực

tế, những hạn chế tự thân của HTX cũng

đã “góp phần” khiến hiệu quả thực thi các chính sách hỗ trợ chưa được như mong muốn

Một số khuyến nghị về giải pháp

Từ những vấn đề nêu trên, cần nhìn nhận lại phương thức hỗ trợ cũng như quá trình xây dựng, triển khai chính sách

để có sự điều chỉnh phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả chính sách, đáp ứng đúng nhu cầu, nâng cao khả năng tự chủ của các HTX

Ở cấp độ quy định trong luật, liệu có cần quy định các hình thức hỗ trợ chi tiết như trong Luật HTX 2012 đang quy định không? Nếu có quy định thì nên quy định như thế nào để xây dựng được hành lang pháp lý vừa đảm bảo quyền lợi của HTX mà vẫn phát huy được tính

tự chủ, tự quản lý, tự chịu trách nhiệm để HTX có thể phát huy nội lực cũng như tận dụng được sự hỗ trợ?

Ở các nước phát triển, HTX được coi

là một loại hình doanh nghiệp, vì vậy, những quốc gia có xây dựng luật HTX không qui định về hình thức hỗ trợ cho loại hình này mà chỉ có những chính sách hỗ trợ chung cho khối kinh tế mà trong đó HTX là một thành phần Điều này tạo cho các HTX cũng như các thành phần khác trong một ngành có một môi

tiêu chí cho vay cũng chưa thực sự phù

hợp với nhu cầu của các HTX

Công tác giao đất, cho thuê đất đối

với HTX theo chính sách cũng tồn tại

nhiều vấn đề Một số quy định hiện

hành của Luật Đất đai 2013 về quyền sử

dụng, chuyển nhượng, nhận, cho tặng

đất nông nghiệp đang khiến quá trình

tích tụ đất sản xuất của HTX gặp khó

khăn Một số địa phương thì không còn

quỹ đất để thực hiện chính sách hỗ trợ

Thực tế cho thấy quá trình thực hiện

chính sách chưa được thông suốt phần

nhiều do các quy định hoặc hướng dẫn

thực hiện chưa rõ ràng, bộ máy thực hiện

chính sách còn chồng chéo, chưa được

phân công cụ thể Một số chính sách còn

tập trung nhiều vào chỉ tiêu phát triển số

lượng mà chưa tập trung vào nâng cao

chất lượng hoạt động của HTX, dẫn tới

việc nhiều HTX được thành lập vội vàng,

chưa được chuẩn bị kỹ về năng lực, chưa

xác định rõ được bản chất, vai trò và mô

hình kinh doanh nên khi đi vào hoạt

động khó phát triển

Ngoài ra, nhiều tiêu chí hỗ trợ được

đề ra chưa phù hợp dẫn tới việc người

thực thi hiểu không đúng nội hàm chính

Sơ chế rau tại HTX Nông Nghiệp Sản Xuất Thương Mại Dịch Vụ Phước Thịnh (Long An).

Trang 22

22 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)

22 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)

Bắc Giang có hơn 28.000ha vải thiều,

trong đó có 15.500ha sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, 340ha theo tiêu chuẩn GlobalGAP Tổng sản lượng tiêu thụ vải thiều toàn tỉnh vụ năm nay đạt trên 215.000 tấn, tăng trên 50.000 tấn so với vụ năm 2020 Tiêu thụ tại thị trường nội địa đạt trên 126.000 tấn (58,6%) và xuất khẩu trên 89.000 tấn (41,4%) Giá bán bình quân cả vụ ước đạt 19.800 đồng/kg, giá xuất khẩu dao động từ 30.000 - 55.000 đồng/kg Riêng ở các nước Nhật Bản, Pháp, Đức, Hà Lan… giá bán ở mức rất cao, từ 350.000 - 450.000 đồng/kg Tổng doanh thu từ vải thiều và các dịch vụ phụ trợ của tỉnh Bắc Giang đạt trên 6.800 tỷ đồng

Chủ động, chính xác trong kế hoạch ứng phó

Năm nay, theo đánh giá của cơ quan chuyên môn và người dân, vải thiều được mùa hơn so với năm trước Trong khi đó, dịch Covid-19 lại diễn biến hết sức phức tạp ngay tại địa bàn Bắc Giang nên dự báo việc tiêu thụ sản phẩm vốn

đã khó sẽ càng thêm khó

Trước bối cảnh đó, chính quyền huyện Lục Ngạn - thủ phủ vải thiều - đã xây dựng 3 kịch bản cho việc tiêu thụ nông sản chủ lực này, trong

đó kịch bản đã được áp dụng là tiêu thụ 70%

trong nước (khoảng 130.000 tấn), 30% xuất

khẩu (khoảng 50.000 tấn) Phương án tiêu thụ vải ở thị trường trong nước sẽ gồm: kênh tiêu thụ trên sàn thương mại điện tử; các chợ đầu mối; các tập đoàn phân phối có hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại lớn; các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu; các chợ truyền thống, tiểu thương, xe cóc, điểm cân nhỏ; sản lượng vải loại 2, 3 chuyển chế biến sấy và chế biến khác Để chủ động ứng phó với tình huống xấu nhất là không bán hết vải thiều, huyện Lục Ngạn cũng hỗ trợ người dân xây dựng hơn nghìn lò sấy vải Đây được xem là phương án cuối cùng trong tiêu thụ vải thiều

Về phía tỉnh, nhận định dịch bệnh diễn biến phức tạp sẽ hạn chế việc xuất khẩu tiểu ngạch, thương nhân nước ngoài sẽ khó sang Việt Nam mua bán trực tiếp trong khi việc lưu thông hàng hóa giữa các tỉnh thành trong nước nhiều khả năng gặp khó do lệnh phong tỏa, giãn cách để phòng chống dịch của các địa phương, lãnh đạo tỉnh Bắc Giang ngay từ sớm đã có văn bản báo cáo Chính phủ và gửi các địa phương đề nghị tạo điều kiện cho vải thiều lưu thông bằng các

“luồng xanh” thuận lợi Tỉnh cũng chủ động lập hai tổ công tác hỗ trợ xuất khẩu vải thiều đóng chốt tại cửa khẩu các tỉnh Lào Cai, Lạng Sơn Hai

tổ này sẽ theo nắm thông tin, xử lý tại chỗ những khó khăn trong quá trình lưu thông qua cửa khẩu, hướng dẫn doanh nghiệp, thương nhân

Không còn là giải cứu!

THời Sự NÔNg NgHiệP

Tiêu thụ vải thiều giữa mùa dịch:

ĐôNg KháNh

Trang 23

quy định chống dịch của từng địa phương trên đường vận chuyển

Một trong những nhiệm vụ quan trọng mà người dân Lục Ngạn tập trung làm là bảo vệ vùng vải thiều

an toàn Các chốt kiểm soát tiến hành giám sát chặt chẽ người ra vào, xét nghiệm Covid-19 nhanh các đối tượng như lái xe, thương nhân đến thu mua vải thiều… để kịp thời khoanh vùng, cách ly, ngăn chặn dịch bệnh Trong các thôn làng, suốt thời gian thu hoạch, các chủ hộ trồng vải tuân thủ hết sức nghiêm túc khuyến cáo 5K, “nhà nào ở yên nhà nấy” không giao thiệp, qua lại để phòng tránh dịch bệnh lây lan làm ảnh hưởng đến việc thu hoạch cũng như mua bán và chất lượng sản phẩm

Năm nay, hầu hết lao động ngoại tỉnh từ Lạng Sơn, Hải Dương, Thanh Hóa, Thái Nguyên… đều không đến Lục Ngạn vì Bắc Giang đang là tâm dịch, do vậy, nhân công thu hoạch khan hiếm Để khắc phục, huyện thông qua các đoàn thể như Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ và lực lượng vũ trang huy động hơn 2.800 thành viên thành lập 317 tổ, chuyên giúp chính quyền rà soát, thống kê các hộ trồng vải có nhu cầu về lao động

để bố trí nhân lực hỗ trợ bà con thu hoạch kịp thời

Đối với vải thiều xuất khẩu, địa phương yêu cầu các cơ sở thực hiện một cách nghiêm túc các quy định

về vệ sinh an toàn thực phẩm trong tất cả các khâu từ thu mua, đóng gói tới vận chuyển Các lô vải thiều Lục Ngạn, dù tiêu thụ trong nước hay xuất khẩu, đều có giấy chứng nhận

an toàn dịch bệnh Covid-19

Sự hỗ trợ hiệu quả

Thực tế những ngày qua, ngoài xuất khẩu thuận lợi, nhiều bộ ngành, đoàn thể, địa phương, doanh nghiệp trong nước đã chung tay hỗ trợ Bắc Giang tiêu thụ vải thiều

Trong nước, chính quyền tỉnh Bắc Giang từ sớm

đã kết nối với các tập đoàn phân phối, hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại như: Aeon, Central Retail,

MM Mega Market, Vincom, Lotte, Big C, Saigon Co.op, Fivimart và Citimart… nhằm đưa quả vải lên kênh phân phối này; trong đó Tập đoàn VinCommerce dự kiến thu mua 2.000 tấn vải phân phối trên trang thương mại điện tử và tại hệ thống hơn 2.500 cửa hàng, siêu thị VinMart, VinMart+ trên toàn quốc Tập

đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam cam kết tiêu thụ ít nhất 180 tấn vải thiều Lục Ngạn Các hãng hàng không như: Vietnam Airlines, Vietjet Air, Bamboo Airways và ngành đường sắt cũng đã tích cực hỗ trợ vận chuyển vải với giá ưu đãi Nhiều cá nhân, tổ chức trong nước cùng tham gia hỗ trợ tiêu thụ vải thiều Bắc Giang trên mạng Sàn thương mại điện tử Sendo còn quyết định giao mặt tiền trên Facebook và hướng dẫn nông dân livestream bán vải Tỉnh Đoàn Bắc Giang cắt cử cán bộ đoàn các cấp bám sát, hỗ trợ nông dân trong khâu thu hoạch, đóng gói, hướng dẫn cách thức thao tác trên các kênh bán hàng trực tuyến cho đến khi người dân sử dụng thành thục

Hiệu quả từ việc tận dụng công nghệ

Điểm mới đặc biệt trong việc tiêu thụ vải thiều năm nay của Bắc Giang là đẩy mạnh giao dịch thương mại điện tử, tăng cường kết nối trực tuyến trong điều kiện dịch Covid-19 diễn biến phức tạp Việc vải thiều được bán đồng loạt trên các sàn thương mại điện tử lớn ở Việt Nam (Sendo, Voso (Viettel Post), Tiki, Shopee, Postmart (VNpost), Lazada và Alibaba) được xem là bước đột phá trong việc tiêu thụ vải năm nay Để đảm bảo chất lượng vải, sau khi khách chốt đơn trên sàn, nông dân Bắc Giang dồn lực thu hoạch vải cho kịp, sau đó đóng thùng xốp, giữ lạnh đúng quy cách, dán tem truy xuất nguồn gốc và vận chuyển nhanh bằng mọi hình thức (xe lạnh, máy bay) về các địa phương Các đơn hàng tới tay người tiêu dùng trong vòng 2 - 3 ngày

Có thể nói đây là lần đầu tiên vải thiều Bắc Giang được tổ chức phân phối một cách bài bản và có hệ thống trên các sàn thương mại điện tử lớn Hoạt động này đã giúp vải thiều Bắc Giang tiếp cận với thị trường trong nước và quốc tế nhanh, rộng hơn, phù hợp với phương thức bán hàng thời kỳ công nghệ 4.0 và tình hình dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp

*

Phán đoán tình hình chính xác, chủ động, sáng tạo trong kế hoạch ứng phó, được cả nước chung sức hỗ trợ, mùa vải năm nay Bắc Giang không chỉ tiêu thụ sản phẩm rất tốt giữa lúc dịch bệnh đang hoành hành tại địa phương mà thông qua việc này còn rút được nhiều kinh nghiệm quý giá, đồng thời cung cấp cho nhiều địa phương khác những bài học thực tiễn về giải pháp tiêu thụ sản phẩm trong điều kiện địa phương bùng phát dịch bệnh

Sau khi chinh phục thị trường khó tính như Nhật Bản, australia, vải thiều Lục Ngạn đã chính thức được xuất khẩu chính ngạch vào

Eu, hưởng những ưu đãi từ hiệp định EVFTa Một số thị trường xuất khẩu mới của vải thiều Bắc giang như:

Campuchia, Lào, Thái Lan, Malaysia cũng cho thấy nhiều tín hiệu tích cực

Không còn là giải cứu!

Câu CHuyệN NÔNg NgHiệP

Vải thiều Lục Ngạn năm nay được đánh giá được mùa, và giá

cả tương đương với năm 2020

Trang 24

24 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)

Câu CHuyệN NÔNg NgHiệP

Trồng mắc ca là mô hình còn khá mới tại tỉnh yên Bái Tuy nhiên, rất nhiều người dân nơi đây hào hứng với tiềm năng phát triển của loại cây này

ĐẶNg ThÙy

Hợp tác phát triển cây mắc ca

Mới đây, làm việc với Hiệp hội Mắc

ca Việt Nam, ông Nguyễn Thế Phước, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Yên Bái, đã nhất trí chủ trương phát triển cây mắc ca tại Yên Bái Cam kết sẽ đồng hành và tạo mọi điều kiện để Hiệp hội Mắc ca Việt Nam phát triển cây mắc

ca trên địa bàn tỉnh, ông Nguyễn Thế Phước đề nghị Hiệp hội Mắc ca Việt Nam tiếp tục phối hợp với địa phương khảo sát, xác định địa điểm, quy mô và diện tích trồng phù hợp với yêu cầu sinh thái của cây mắc ca để từ đó tỉnh xem xét, xác định diện tích trồng cây mắc ca phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh

tế, xã hội của tỉnh Ông đề nghị Hiệp hội giới thiệu các dòng mắc ca phù hợp với từng tiểu vùng khí hậu của tỉnh cũng như hỗ trợ kỹ thuật trồng, chăm sóc cây cho người dân Đồng thời, kết nối các doanh nghiệp vào đầu tư xây dựng mô hình chuỗi giá trị trong việc phát triển cây mắc ca trên địa bàn

Ông Nguyễn Thế Phước cho biết sẽ

tổ chức thống kê, đánh giá kết quả sản xuất trồng mắc ca trong thời gian qua

Từ đó, tuyên truyền, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân thực hiện đúng kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và sơ chế hạt mắc ca theo quy định của Bộ NN&PTNT Tỉnh cũng sẽ tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp đầu tư nhằm tạo ra hình mẫu, làm nòng cốt trong phát triển cây mắc

ca trên địa bàn tỉnh

Đại diện Hiệp hội Mắc ca Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Lân Hùng, Phó Chủ tịch Hiệp hội, cho biết, Hiệp hội Mắc ca Việt Nam cam kết sẽ cung ứng giống và bao tiêu toàn bộ sản phẩm đầu ra cho bà con trồng mắc ca tại địa phương

Năm 2015, ông Đinh Văn Thành

(xã Gia Hội, huyện Văn Chấn,

tỉnh Yên Bái) mua 400 cây

giống mắc ca từ Đắk Lắk về trồng thử

nghiệm xen vào diện tích chè Shan của gia

đình Dù chỉ để cây mắc ca mọc tự nhiên,

nhưng đến năm 2020, với một số cây cho

bói, ông Thành đã thu được hơn 1 tạ quả

Tiềm năng mắc ca

Giống như gia đình ông Thành, những

năm qua, một số hộ ở huyện Văn Chấn

cũng đã thử nghiệm trồng cây mắc ca và

hầu hết cho kết quả khả quan Cây mắc

ca sinh trưởng tốt tại Yên Bái ngay cả

trong điều kiện thời tiết giá lạnh Nhận

thấy tiềm năng phát triển cây mắc ca

tại địa phương, năm 2020, Hiệp hội Mắc

ca Việt Nam đã hỗ trợ huyện Văn Chấn

trồng thử nghiệm 5ha mắc ca tại xã Gia

Hội Được trồng xen với chè Shan với mật

độ 150 cây/ha, sau hơn 6 tháng, cây mắc

ca đã sinh trưởng thêm 70 - 80cm

Từ những tín hiệu khả quan bước đầu,

năm 2021, huyện Văn Chấn chủ trương

mở rộng mô hình trồng mắc ca Theo

đó, huyện đã phê duyệt và triển khai đề

án trồng cây mắc ca xen chè tại 5 xã, thị trấn, gồm xã Gia Hội, Nậm Búng, Đồng Khê, thị trấn Sơn Thịnh và thị trấn Nông trường Trần Phú Mục tiêu đến năm 2025

sẽ trồng trên 400ha cây mắc ca xen chè

Theo Sở NN&PTNT tỉnh Yên Bái, hiện toàn tỉnh có 56,66ha cây mắc ca, trong

đó, có 51,66ha trồng tập trung, 5ha trồng xen canh với chè Do mới trồng nên sản lượng thu hoạch còn ít Tuy nhiên, kết quả bước đầu cũng cho thấy hiệu quả kinh tế khá cao Sau khi khảo sát, Hiệp hội Mắc ca Việt Nam cũng đánh giá Yên Bái là tỉnh có điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng thích hợp để trồng cây mắc ca, đặc biệt là tại các huyện Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải

Triển vọng từ mô hình trồng mắc ca tại yên Bái

Lãnh đạo UBND tỉnh Yên Bái và Hiệp hội Mắc ca Việt Nam ký kết biên bản ghi nhớ về việc

hợp tác phát triển cây mắc ca trên địa bàn tỉnh Yên Bái giai đoạn 2021 - 2025.

UBND tỉnh Yên Bái đã giao Chi cục Kiểm lâm tỉnh thực hiện đề tài khoa học “Thử nghiệm trồng cây mắc ca tại các huyện phía Tây của tỉnh Yên Bái” để đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số loài cây mắc ca với 2 phương thức là trồng thuần loài và trồng xen kẽ

Cụ thể, tổ chức triển khai tại 3 huyện Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải trên diện tích 12ha, trong đó, 8ha trồng thuần loài và 4ha trồng xen chè

Trang 25

TiN TổNg Hội NN&PTNT

ThẢo Vi

Chuyển giao tiến bộ về nông nghiệp, nông thôn và Giám định chất lượng nông sản, vật tư nông nghiệp Tuy mới được thành lập nhưng các đơn vị này đã hoàn thành việc xây dựng kế hoạch hoạt động

Lãnh đạo Tổng hội đã chủ động tham gia đóng góp ý kiến với Trung ương chuẩn bị tổng kết Nghị quyết 26/TW

về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;

tham gia và đóng góp những ý kiến thiết thực cho 3 hội thảo do Bộ NN&PTNT và VCCI tổ chức Ngoài ra, Ban Khoa học và Công nghệ của Tổng hội đã phối hợp với Viện Nghiên cứu văn hóa triển khai nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động văn hóa trong Xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2021 -

Theo báo cáo của Tổng hội

NN&PTNT VN (Tổng hội), trong

6 tháng đầu năm 2021, đại

dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã

ảnh hưởng nặng nề tới tình hình kinh

tế - xã hội của cả nước nói chung và các

hoạt động của Tổng hội nói riêng Tuy

nhiên, với sự chỉ đạo của Thường trực,

Ban Thường vụ và nỗ lực của Văn phòng,

các Ban tham mưu, các đơn vị trực thuộc,

Tổng hội đã đạt được những kết quả

nhất định

Về công tác tổ chức, Tổng hội đã kết

nạp thêm 1 hội viên mới là Hội NN&PTNT

tỉnh Nghệ An; thành lập mới Trung tâm

Xúc tiến tiến thương mại và Phát triển

nguồn nhân lực; ra mắt Trung tâm

Tổng hội NN&PTNT Việt Nam

đẩy mạnh các hoạt động

xúc tiến thương mại

Trước tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, bà Đỗ

Thị Kim Liên (Shark Liên) đã có nhiều hoạt động hỗ trợ những

người có hoàn cảnh khó khăn trong đại dịch

Theo đó, bà Đỗ thị Kim Liên đã dành 500 triệu đồng triển khai

Chương trình “Gói tình Shark Liên - gửi nghĩa đồng bào” Số tiền

này sẽ dùng để mua sản phẩm, hàng hoá thiết yếu dành tặng

những người dân nghèo có hoàn cảnh khó khăn, gia đình chính

sách, gia đình thương binh liệt sỹ Ngoài ra, Shark Liên sẽ tặng

10.000 thẻ bảo hiểm cho người nghèo Cụ thể, các trường hợp

bệnh nhân tử vong do Covid -19 có gia cảnh khó khăn, không đủ

điều kiện lo hậu sự sẽ được nhận hỗ trợ toàn bộ chi phí mai táng Nhằm giúp những bạn trẻ lập nghiệp bị ảnh hưởng bởi đại dịch, Shark Liên chủ trương mua ủng hộ sản phẩm của các đơn vị khởi nghiệp để làm quà tặng người nghèo với mong muốn mang đến cho các bạn trẻ mới lập nghiệp một cơ hội được đưa các sản phẩm tâm đắc của mình vào những gói quà tình nghĩa

Hưởng ứng lời kêu gọi “1000 suất ăn miễn phí/ngày hỗ trợ cho cán bộ trong các đội Truy vết COVID” của Hội Doanh Nhân Trẻ Việt Nam, bà Đỗ Thị Kim Liên đã gửi tới Hội 100 triệu đồng, đồng thời, đứng ra kêu gọi cộng đồng chung tay đóng góp TAM DIỆP

SHarK LiêN TặNg 10.000 THẻ Bảo HiểM CHo Người NgHèo

2025” Ban Xúc tiến thương mại và Kết nối doanh nghiệp cũng phối hợp với Trung tâm Xúc tiến thương mại nông nghiệp Bộ NN&PTTN tổ chức 3 chương trình Bác sĩ nông học An Giang và Đồng Tháp; tổ chức thành công 2 hội nghị kết nối trực tuyến cho vải thiều huyện Lục Ngạn (tỉnh Bắc Giang) và mận Tam Hoa (tỉnh Lào Cai)

Bên cạnh đó, các thành viên, hội viên

và đơn vị trực thuộc Tổng hội tiếp tục tham gia tích cực các hoạt động an sinh

xã hội như: Chương trình Cầu Nông thôn

- Tạp chí Nông thôn Việt, ủng hộ quỹ xin phòng chống Covid-19, phối hợp với

vắc-Bộ Tư lệnh vắc-Bộ đội biên phòng chuẩn bị phát động chương trình thiện nguyện mang tên Nghĩa tình biên giới…Tại cuộc họp, các đại biểu đã thảo luận và đóng góp ý kiến để thống nhất nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới

Cụ thể, tiếp tục đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Thường trực, Ban Thường vụ cho phù hợp với tình hình và diễn biến của đại dịch Covid-19; lên kế hoạch tổ chức một số buổi làm việc của Ban Thường vụ Tổng hội với lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và các bộ, ngành, hiệp hội; thực hiện chương trình bình chọn Thương hiệu Vàng nông nghiệp Việt Nam lần thứ 7 năm 2021 Song song

đó, xây dựng kế hoạch cụ thể để Tổng hội tích cực tham gia vào kế hoạch tái

cơ cấu lại ngành nông nghiệp, tham gia xây dựng các chủ trương chính sách lớn thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng…

Chiều 8/7/2021, Thường trực Tổng hội họp đánh giá kết quả hoạt động 6 tháng đầu năm và

đề ra nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2021.

Trang 26

26 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)

NÔNg THÔN Mới

Trong phát triển kinh tế nông nghiệp, du lịch nông thôn được xem là

“con gà đẻ trứng vàng” Thế nhưng làm thế nào để hoạt động du lịch nông thôn

phát huy hiệu quả vẫn là câu hỏi cần giải đáp thấu đáo.

NguyỆT áNh – BaN DuNg

rất quan tâm đến các giải pháp nhằm tạo thêm các giá trị gia tăng cho sản phẩm nông nghiệp, phát huy tiềm năng

du lịch nông thôn và từ đó tạo thành chuỗi giá trị hiệu quả trong kinh tế nông nghiệp Cũng do vậy nên trong bộ tiêu chí đánh giá các sản phẩm của Chương trình Mỗi xã một sản phẩm, có tiêu chí đánh giá nhóm sản phẩm dịch vụ du lịch cộng đồng và điểm du lịch Các tiêu chí này nhằm hướng đến việc xây dựng một điểm đến du lịch chất lượng, độc đáo, phát huy được sức mạnh cộng đồng nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội, góp phần phát triển xây dựng nông thôn mới tại địa phương Bộ NN&PTNT cũng đã phê duyệt và bắt đầu triển khai dự án chỉ đạo điểm hỗ trợ đối với 10 làng văn hóa -

du lịch cộng đồng gắn với Chương trình xây dựng Nông thôn mới tại một số địa phương, nhằm phát triển mô hình kiểu mẫu, nhân rộng tới các địa phương khác

Tiềm năng lớn

Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWOT),

du lịch nông thôn có 3 loại hình chính

là du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp

và du lịch di sản Trong đó, du lịch sinh

thái chủ yếu dựa vào tự nhiên thông qua

các hoạt động tham quan với mục đích

thưởng ngoạn phong cảnh, tìm hiểu về

động thực vật hoang dã ở địa phương; du

lịch nông nghiệp tập trung vào các hoạt

động tham quan nông trại trồng trọt,

chăn nuôi, tham gia các khóa học làm

vườn hoặc chế biến nông sản, các triển

lãm nông nghiệp, lễ hội văn hóa với mục

đích trải nghiệm và học hỏi; du lịch di sản

khai thác giá trị văn hóa hệ thống di sản

nông thôn bao gồm các đền chùa, tượng

đài, di tích lịch sử, nghệ thuật, các điểm

khảo cổ… Dựa theo cách phân loại của

UNWOT, Việt Nam được đánh giá là có

tiềm năng lớn để phát triển loại hình du

lịch nông thôn, nhất là sau 10 năm triển

khai Chương trình xây dựng Nông thôn mới, bộ mặt nông thôn Việt Nam đã có nhiều thay đổi tích cực, môi trường được cải thiện Bên cạnh đó, với Chương trình Mỗi xã một sản phẩm cũng như phong trào khởi nghiệp đang phát triển rầm rộ tại các địa phương, việc khai thác các giá trị văn hóa truyền thống, sinh thái nông nghiệp đã góp phần giúp các sản phẩm

du lịch nông thôn ngày càng phổ biến và

đa dạng Không chỉ thu hút du khách nội địa, du khách quốc tế cũng vô cùng thích thú với các tour du lịch có gắn với nông nghiệp và nông thôn Sự gắn kết giữa sản xuất nông nghiệp đơn thuần với du lịch tham quan, trải nghiệm các quy trình sản xuất hàng hóa cũng đã mở ra hướng kinh doanh mới, tăng thêm nguồn thu cho nông dân

Ông Nguyễn Minh Tiến, Cục trưởng - Chánh Văn phòng Điều phối Nông thôn mới Trung ương, cho biết Bộ NN&PTNT

Phát triển du lịch nông thôn,

làm gì để bền vững?

Du khách nước ngoài trải nghiệm hoạt động sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam.

Trang 27

TP.HCM, lưu ý làng nghề và du lịch nông thôn là hai thành tố có thể bổ sung cho nhau để cùng phát triển Phải làm thế nào để làng nghề là một điểm nhấn của

du lịch nông thôn, thỏa mãn được nhu cầu rất lớn của du khách trong việc tìm hiểu, trải nghiệm văn hóa ở nông thôn

Khi gắn du lịch với làng nghề, chúng ta cũng có thể mở rộng thêm các vấn đề liên quan đến trách nhiệm: trách nhiệm với nghề truyền thống, trách nhiệm với việc bảo tồn tài nguyên văn hóa ở nông thôn Khai thác làng nghề để làm du lịch không những giúp đa dạng sản phẩm

du lịch mà còn góp phần duy trì, phát triển làng nghề

Việc áp dụng khoa học công nghệ trong các hoạt động du lịch cộng đồng nhằm tối ưu hoá phát triển du lịch như xây dựng phần mềm quản lý điểm đến;

ứng dụng kết nối các điểm du lịch với các điểm homestay, đặt phòng, đặt tour trực tuyến; tham quan thực tế ảo 3D… cũng đã được lưu ý trong thời gian vừa qua Điều đáng băn khoăn là hầu hết mang tính tự phát, chưa đảm bảo tính hệ thống nên trên bình diện cả nước vẫn chưa phát huy được tác dụng Để có dữ liệu tốt cho du lịch nông thôn nói chung, nhiều chuyên gia cho rằng cần phải có một nhạc trưởng thực sự quyền năng thì mới có thể giải

Làm thế nào?

Theo số liệu của Tổng cục Du lịch, cả

nước hiện có khoảng 400 điểm phục vụ

cho du lịch nông nghiệp, nông thôn Tuy

nhiên, theo TS Ngô Thị Thu Trang, Phó

Giám đốc Trung tâm Phát Triển Nông

thôn - Saemaul Undong, chưa có nhiều

sản phẩm du lịch nông thôn thực sự độc

đáo để hấp dẫn du khách “Đang có sự

trùng lặp ở nhiều địa phương Ví dụ đi du

lịch vùng Tây Nam bộ ở đâu cũng thấy bắt

cá, chèo xuồng, dù mỗi địa phương đều

có những giá trị đặc thù riêng Điển hình

như Bến Tre có làng văn hóa du lịch Chợ

Lách với thế mạnh về hoa, cây kiểng; An

Giang có làng văn hóa dân tộc Chăm với rất

nhiều sản phẩm nông nghiệp đặc thù của

tộc người này”, TS Ngô Thị Thu Trang chia

sẻ Theo bà, các địa phương cần chú trọng

khai thác tính đặc thù của vùng miền và

tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo

Khi triển khai Chương trình Mỗi làng

một sản phẩm, các địa phương đã có chú

ý đến việc khôi phục, bảo tồn các làng

nghề Đây là hướng đi đúng Nhưng nhìn

chung, sự kết hợp này vẫn còn thiếu sự

kết dính cần thiết, vì thế chỉ cần có một

tác động nhỏ là mối liên kết này bị đứt

gãy TS Ngô Thanh Loan, nguyên Trưởng

Bộ môn Du lịch Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia

quyết được căn cơ vấn đề này

Qua khảo sát tình hình thực tế tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, PGS.TS Ngô Thị Phương Lan, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP.HCM, cũng nhận định rằng mối liên kết giữa các chủ thể tham gia chuỗi giá trị du lịch nông thôn hiện còn khá lỏng lẻo Nhiều doanh nghiệp lữ hành liên kết với người dân để cung cấp sản phẩm, dịch vụ du lịch nông nghiệp chỉ bằng giao ước miệng, nên ẩn chứa nhiều rủi ro Theo bà, các chủ thể bao gồm chính quyền địa phương, doanh nghiệp

lữ hành, người dân, đơn vị nghiên cứu… đều có vai trò quan trọng khác nhau, do vậy, sự liên kết, phối hợp chặt chẽ, quy

củ thì việc vận hành chuỗi giá trị du lịch nông nghiệp mới đạt hiệu quả cao, đem lại lợi ích tốt nhất cho tất cả các bên.PGS.TS Phạm Trung Lương - Phó Viện trưởng Viện Môi trường và Phát triển bền vững, thì cho rằng cộng đồng là yếu tố cực kỳ quan trọng cho phát triển du lịch nông thôn nhưng năng lực của cộng đồng hiện nay đang rất yếu Vì vậy, cần hướng dẫn cách làm du lịch cho người dân tại địa phương song song với nâng cao năng lực quản lý của nhà nước về du lịch Các điểm đến du lịch nông thôn phải được quy hoạch để các doanh nghiệp lữ hành có cơ

sở để đầu tư Khi quy hoạch, cần phải hiểu

du lịch nông thôn là khai thác giá trị điển hình của vùng nông thôn để phát triển các sản phẩm du lịch Đây cũng là cách để nhận diện nhu cầu đích thực của khách du lịch khi đến vùng nông thôn

Để con gà “du lịch nông thôn” đẻ được trứng vàng, còn cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành có liên quan, trong đó ít nhất là giữa hai ngành nông nghiệp và du lịch Thiếu một quy hoạch tổng thể thì mơ ước phát triển bền vững du lịch nông thôn sẽ khó thành hiện thực!

NÔNg THÔN Mới

TRANG THÔNG TIN NÀY CÓ SỰ PHỐI HỢP CỦA VĂN PHÒNG ĐIỀU PHỐI NÔNG THÔN MỚI TRUNG ƯƠNG

Hồ Tà Đùng nhìn từ một homestay tại xã Đắk Som, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.

Trang 28

28 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)

Vốn sinh ra và lớn lên giữa thiên nhiên nên dù phát triển đến đâu, trong sâu thẳm mỗi con người, thiên nhiên vẫn là máu thịt Các nước tiên tiến, sau thời gian cuồng phát triển công nghiệp, đang tìm cách phục hồi thiên nhiên với giá đắt gấp bội.

NguyễN VăN MỸ

Việt Nam không thiếu tài nguyên du lịch Tiếc

là nhiều địa phương chưa nhìn ra Phổ biến

là chưa biết cách khai thác, tận dụng Một

phần do thiếu toàn tâm toàn ý vì tư duy nhiệm kỳ

Nhưng cũng có tự tin quá lố và cả tự ti thái quá

Người Việt ở quê, chỗ nào cũng chân tình, cởi mở,

hiếu khách với nụ cười đôn hậu Đây là nguồn tài

nguyên nhân văn du lịch vô giá, cần phải được giữ gìn

Người quê thích ở nhà xây Người phố thiếu không

gian, khát cây xanh và nhiều thứ tự nhiên khác, chỉ

nông thôn mới đáp ứng được Tiếc là lâu nay, du lịch

chưa thật sự kết nối được với nông thôn, nông nghiệp

Làm du lịch nông thôn, dễ mà khó!

Dù chưa có liên kết chặt chẽ nhưng vẫn xuất hiện

những mô hình du lịch nông nghiệp, nông thôn hiệu

quả và ấn tượng Làng rau Trà Quế (Quảng Nam) lúc

nào cũng nườm nượp khách Đường quốc lộ đến Trà

Quế có lối đi riêng cho du khách đi xe đạp Bản Sìn

Suối Hồ (người H’Mông, Lai Châu) sạch đẹp như vườn

địa đàng sót lại ở hạ giới, bản cách biên giới Việt Nam

- Trung Quốc chưa tới 2km, số chỗ lưu trú bằng 1/4

dân bản Bản Thái Hải (người Tày, Thái Nguyên) là nơi

dân bản tự hào vì “sống chung bản, làm chung việc,

ăn chung nhà, xài chung tiền” Mọi người đùm bọc,

thương yêu, chăm sóc nhau như đại gia đình Cụm

du lịch cộng đồng Mai Hịch (người Thái, Hòa Bình) với

NÔNg THÔN Mới

Cảnh quan tại Khu du lịch Xóm Ải (Hòa Bình).

Lễ hội đua bò tại vùng nông thôn Bảy Núi (An Giang).

Trang 29

NÔNg THÔN Mới

thống” bởi du lịch, đâu cứ phải ra nước ngoài hay đi

xa Bớt dịch là nên tổ chức ngay du lịch trong tỉnh Vừa tốn ít thời gian, chi phí thấp, vừa trải nghiệm để yêu quê mình hơn và rủ khách tới Làm family tour, thuê xe hoặc tự lái xe gia đình, đi xe buýt 2 tầng Hop

On Hop Off ở TP.HCM, Hà Nội, Hội An Có thể đi xe gắn máy, xe đạp… khám phá quê mình

Thành lập bộ phận chỉ đạo phối hợp giữa Văn phòng Điều phối Nông thôn mới và Tổng cục Du lịch để phát triển du lịch bền vững Du lịch gắn nông nghiệp và nông thôn để bảo tồn kiến trúc, làng nghề, tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt hạn chế đô thị hóa kệch cỡm Tổ chức các cuộc thi “Đường làng đẹp nhất”,

“Vườn nhà xinh nhất”, “Điểm check-in độc đáo nhất”,

“Homestay sáng tạo nhất”, “Làng, bản du lịch cộng đồng hiệu quả nhất”… từ địa phương ra toàn quốc tạo hiệu ứng và kích cầu du lịch Lựa chọn các nhà tư vấn thực tiễn, có mô hình hiệu quả, dám đồng hành

và bảo hành dự án Thí điểm xây dựng du lịch cộng đồng, từng bước mở rộng

Cần câu quan trọng hơn con cá Thay vì cho vài chục triệu, tặng máy lạnh, nhà vệ sinh thì tặng lãi suất hoặc cho vay ưu đãi đầu tư Làm cho mình, để kiếm tiền chứ không phải để báo cáo, đăng báo, kiểu phong trào Bài toán kinh tế, hiệu quả và bền vững là

ưu tiên số 1 Quy hoạch phát triển từng vùng, tránh kiểu làm du lịch “sinh sản vô tính”, lạm dụng các thuật ngữ, đua nhau làm homestay, farmstay cung vượt quá cầu, phát triển ồ ạt như Bản Lác (Hòa Bình)

và một số nơi khác

Nhiều mô hình du lịch cộng đồng đã góp phần thay đổi diện mạo bản làng Từ tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập, nộp ngân sách cho đến đẩy lùi các tệ nạn “Muốn bớt cỏ dại, phải trồng thêm hoa”

hàng chục homestay, biến bản nghèo thành điểm

sáng Nông thôn mới Ấp Cồn Chim (Trà Vinh), làng

quê Nam bộ hiền hòa, toàn nhà lá, mà khách tứ xứ

mê mệt Ấp Cồn Sơn (Cần Thơ) nức tiếng gần xa bởi cá

tràu biết bay, làm xiếc và bốn mùa sum suê cây trái…

Nét chung của các điểm đến này là thuận thiên

với 4 không: “không hóa chất độc hại”, “không tận

diệt sản vật”,“không karaoke”, “không tệ nạn” (ma

túy, mại dâm, rượu chè, cờ bạc)

Thực tế đã chứng minh những mô hình sáng tạo

nhất là của nông dân, chứ không phải các nhà tư vấn

Bản Sìn Suối Hồ, bản Thái Hải và nhiều homestay thiết

kế độc đáo, các chuyên gia chỉ góp ý thêm về nghiệp

vụ Chỉ sắp xếp lại một chút là các vườn nho Hồng Ngự,

vườn chà là Sa Đéc (cùng ở Đồng Tháp) trở thành điểm

check-in thú vị của du khách Từ lâu những vườn hoa

Sa Đéc, vườn hồng Lai Vung (Đồng Tháp), vườn nho

Ninh Thuận (nay có thêm Tuy Phong, Bình Thuận),

vườn chôm chôm và sầu riêng Bến Tre, vườn dâu đỏ

Phú Yên, vườn cam Cao Phong (Hòa Bình), vườn vải

thiều Lục Ngạn (Bắc Giang), Thanh Hà (Hải Dương)…

đã trở thành điểm hẹn của du khách gần xa

Quy mô hơn là đồi chè Thanh Chương và cánh

đồng bạt ngàn hoa hướng dương ở Nghệ An Huyện

Tiên Phước (Quảng Nam) có trường gia lũy, là hệ

thống hàng rào và lối vào nhà bằng đá xếp, đẹp như

mê cung Rất nhiều đoạn đường Nông thôn mới của

các tỉnh đẹp hơn tranh Nhiều danh thắng các địa

phương còn hoang sơ, chỉ cần vài điểm nhấn check-in

sáng tạo là có thể làm du lịch

Vài đề nghị nhỏ

Sau đại dịch, xu thế du lịch nông thôn, nông

nghiệp lên ngôi, phát triển cùng với du lịch “truyền

TRANG THÔNG TIN NÀY CÓ SỰ PHỐI HỢP CỦA VĂN PHÒNG ĐIỀU PHỐI NÔNG THÔN MỚI TRUNG ƯƠNG

T hời gian qua, Hội NN&PTNT tỉnh Bắc Ninh (thành

viên Tổng hội NN&PTNT VN) đã tuyên truyền vận

động hội viên thi đua sản xuất VAC giỏi đạt nhiều kết

quả tốt Trong đó tiêu biểu là mô hình trồng sen nuôi

cá, kết hợp du lịch của anh Bùi Công Thành (thị trấn

Gia Bình, huyện Gia Bình)

Anh Thành đã cải tạo khu đầm chiêm trũng thuộc

thôn Thủ Pháp mà người dân bỏ hoang đã lâu, xây dựng

thành công mô hình 10ha trồng sen (giống sen lòng

vàng có nguồn gốc từ Huế) và nuôi cá (chuối hoa, chép,

trôi, trắm đen có thể tận dụng thức ăn tự nhiên trong

ao sen) Hạt sen của anh được thương lái đặt mua với giá ổn định 50.000 đồng/kg cho doanh thu khoảng

500 triệu đồng/vụ Hiện nay, anh Thành đang tiến hành trồng thêm giống sen tía để lấy bát ăn tươi và giống sen lấy củ để gối vụ thu hoạch

Ngoài ra anh Thành còn xây dựng mô hình tham quan, kết hợp dịch vụ chụp ảnh, biến đầm sen của anh thành điểm thu hút khách trải nghiệm có tiếng Với giá

vé vào là 40.000 đồng/lượt người Vào mùa sen nở, mỗi ngày đầm sen của anh đón 40 - 50 lượt khách, cho doanh thu hơn 200 triệu đồng/vụ KIM NHÃ

MÔ HìNH TrồNg SeN KẾT HợP Du LịCH ở BắC NiNH

Trang 30

30 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)

Không ồn ào, sầm uất như nhiều khu du lịch biển khác vào

mỗi mùa hè, Minh Châu có sức quyến rũ rất riêng…

Xã đảo Minh Châu thuộc huyện

đảo Vân Đồn (Quảng Ninh),

cách đất liền chừng 1 giờ đi tàu

cao tốc hoặc 2 giờ đi tàu gỗ từ bến tàu Cái

Rồng Nhìn từ xa, hòn đảo như một “viên

ngọc xanh” nổi lên giữa biển

Một giờ đồng hồ lênh đênh trên tàu

cao tốc không làm du khách thấy phiền

vì sóng biển trong vịnh thật hiền hòa Du

khách có thể yên vị ngắm nhìn những

khối đá vôi lớn nhỏ với nhiều hình thù kỳ

thú trên biển, thả trôi tầm mắt theo từng

đoàn thuyền đánh cá đang căng buồm ra

khơi hoặc chỉ đơn giản ngồi ngắm mặt

nước trong veo mà không bị xô đẩy hay

lắc lư vì sóng Đặt chân lên đảo, du khách

lập tức bị cuốn hút bởi khung cảnh bình

yên với những rặng phi lao cao vút kéo dài

hơn chục cây số từ Minh Châu đến Quan

Lạn Làng quê hiền hòa ẩn hiện phía sau

từng đàn trâu nhởn nhơ gặm cỏ trên đồng,

xung quanh là hoa mua, hoa dại bung nở

rực rỡ Đảo Minh Châu có nhiều bãi tắm

đẹp: Chương Nẹp, Nhánh Rìa, Cồn Trụi (bãi

Rùa), Bể Thích (còn gọi là bãi Robinson)…

Các bãi tắm với cát trắng mịn nằm thoai

thoải bên mặt biển xanh, nhẹ nhàng sóng

vỗ Buổi sáng bơi lội hay dạo bước đón

bình minh trên biển sớm trong khung

cảnh này quả thật rất tuyệt vời

Một trong những điểm nhấn khá đặc

NgoaN PhẠM

khu resort Minh Chau Beach và là một trong số những người ra đảo Minh Châu làm dịch vụ du lịch sớm nhất - cho biết mới 5 năm trước, đất trên đảo còn rất rẻ, thậm chí có thể xin đất dựng nhà ở mà chẳng mấy ai tính toán gì nhiều Năm

2014, Minh Châu bắt đầu có điện lưới

Hạ tầng giao thông sau đó cũng được chính quyền chú trọng đầu tư Du lịch hình thành cùng cơ sở hạ tầng phát triển

đã kéo giá đất ở Minh Châu hiện nay lên

bị bão quật tan tác, rừng trâm vẫn hồi sinh mạnh mẽ sau đó, xanh tươi và đơm hoa kết trái vào dịp cuối năm Với người dân Minh Châu, “Thần Mộc” đã từng cứu người dân đảo qua nạn đói hoành hành năm 1945 nhờ trái ngọt của mình Rừng quốc gia trên đảo cũng là nơi hấp dẫn với

du khách ưa thích tìm hiểu, nghiên cứu các loài động thực vật nhiệt đới…

Minh Châu còn có một đặc sản mà hầu

Rừng trâm ở Minh Châu.

hết du khách tới đây đều khó bỏ qua, đó

là các món ăn làm từ sá sùng Sá sùng Minh Châu nổi tiếng dày mình, chắc thịt, thơm và ngọt Người dân Minh Châu bắt

sá sùng ngay trên bờ cát để chế biến món

ăn cho du khách Sá sùng ăn tươi hoặc sá sùng khô chế biến đều rất ngon Tuy nhiều loại hình dịch vụ tại Minh Châu còn khá đơn giản, nhưng khách đến tận hưởng vẻ đẹp hoang sơ của Minh Châu vẫn ngày một nhiều Nhà nghỉ, quán ăn, nơi cho thuê xe máy… đang nối nhau mọc lên trên đảo Nhiều gia đình đã bắt đầu cải tạo nhà cửa, vườn tược để làm nơi lưu trú cho khách… Hai năm trước, gia đình cô Bùi Thị Sợi ở thôn Ninh Hải, xã Minh Châu sống đơn thuần với nghề đào

sá sùng và vớt sứa Nay thì cô đã cải tạo,

mở rộng ngôi nhà nằm sát mặt đường làm nơi lưu trú cho khách Mùa du lịch (từ tháng 4 đến tháng 8 hàng năm), cả nhà

cô phục vụ du khách Từ tháng 9 đến hết tháng 3 năm sau, mọi người lại tiếp tục đi biển Cuộc sống của gia đình cô, nhờ đó,

đã có phần khấm khá hơn xưa

NÔNg THÔN Mới

30 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)

Trang 31

NÔNg THÔN Mới

Qua 7 năm triển khai, dự án sản xuất nông nghiệp hữu cơ tại TP hội an (Quảng Nam) đã tạo cơ hội cho ngành nông nghiệp phát triển song cũng đặt ra không ít thách thức trước xu hướng hiện tại.

MỸ LỆ

Hội an organic

Với sự hỗ trợ của chính quyền

thành phố và Trung tâm Hành động vì sự phát triển đô thị, Hội

An hiện có 9 dự án sản xuất rau hữu cơ ở các địa phương: Cẩm Thanh, Cẩm Châu, Cẩm

Hà, Cẩm Kim trên diện tích gần 3,2ha của 2 nhóm nông dân, 1 hộ cá thể và 2 hợp tác xã

Bà Trần Huỳnh Hải Yến, thành viên Ban điều phối Hệ thống đảm bảo cùng tham gia (PGS) Hội An, nhận định: Dự án đã đưa nông nghiệp Hội An phát triển bền vững;

điển hình, sự gắn kết giữa mô hình sản xuất nông nghiệp với du lịch đã thu hút hàng nghìn du khách đến Hội An tham quan, trải nghiệm, từ đó, tạo việc làm và thu nhập cao cho nhiều hộ nông dân

Chị Nguyễn Thị Đông thuộc hộ cá thể Hiền Đông ở phường Cẩm Châu chia sẻ: “Các sản phẩm của tôi đã được thẩm định cấp chứng nhận hữu cơ PGS Hội An lần thứ 5

Thời điểm trước dịch, nguồn thu rất vững, thu nhập nông thôn mà 6 - 7 triệu đồng/

tháng là rất lớn” Ông Lê Nhương sản xuất gần 2.000m2 tại HTX Rau hữu cơ và Du lịch Thanh Đông (đã được cấp chứng nhận hữu

cơ PGS lần 1) và tổ Rau hữu cơ Đồng Giá, cho hay: “Tôi đã vận động nhiều nông dân cùng sản xuất rau hữu cơ và đang cố gắng

để cuối năm nay tổ sản xuất rau hữu cơ Đồng Giá đạt chuẩn PGS Hội An” Ở Hội An,

TRANG THÔNG TIN NÀY CÓ SỰ PHỐI HỢP CỦA VĂN PHÒNG ĐIỀU PHỐI NÔNG THÔN MỚI TRUNG ƯƠNG

hiện có 0,8ha diện tích sản xuất rau hữu cơ được chứng nhận hữu cơ PGS Hội An và gần 2,4ha đang chuyển đổi

Nói về PGS Hội An, không thể không

kể đến cộng đồng doanh nghiệp Ông Lê Hoàng Hà, Giám đốc Công ty TNHH Trải nghiệm sinh thái Hội An Etour, cho rằng

từ khi hình thành, mô hình sản xuất nông nghiệp gắn với du lịch không chỉ giúp doanh nghiệp quảng bá nét đẹp văn hóa

và nông sản đặc trưng của địa phương mà còn lan tỏa những câu chuyện đẹp về sự bền bỉ, tâm huyết của người dân sản xuất NNHC “Làm NNHC cũng như phát triển du lịch phải đảm bảo 3 khía cạnh của sự phát triển bền vững: môi trường, kinh tế và xã hội Trên cơ sở đó, chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ

để tạo cơ hội tốt nhất cho hoạt động sản xuất NNHC lan tỏa”, ông Hà trao đổi.Liên tiếp gần 2 năm, kinh tế Hội An bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh Covid-19 Tuy nhiên, theo bà Nguyễn Thị Vân, Trưởng phòng Kinh tế TP Hội An, lao động nông nghiệp không bị thất nghiệp như các ngành kinh tế khác và tạm ổn về thu nhập Còn theo chị Trần Thị Thu, chủ cửa hàng thực phẩm Sạch và xanh cho biết: “Các nhóm sản xuất cần đa dạng sản phẩm, đầu tư các kênh quảng bá nhãn hiệu “Hội An organic” để thay đổi nhận thức về sử dụng thực phẩm sạch và tạo sự tin cậy cho khách hàng”.Phó Chủ tịch UBND TP Nguyễn Thế Hùng cho biết Hội An sẽ tiếp tục ưu tiên nguồn lực

để phát triển nông nghiệp, nhất là NNHC khi kinh tế phục hồi Theo ông, để NNHC phát triển bền vững, chính người trực tiếp canh tác phải thay đổi cách ứng xử với nông nghiệp Các địa phương sản xuất nông nghiệp phải làm mới mô hình, phù hợp lợi thế, tiềm năng

về địa lý, thổ nhưỡng Hội An cũng rất cần sự chung tay từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh để hỗ trợ nông dân có thêm điều kiện nâng cao giá trị thương hiệu “Hội An organic” đã được Bộ Khoa học - Công nghệ công nhận tháng 5/2019

Tiếp tục nâng cao giá trị thương hiệu

“Hội An organic” Ảnh: Mỹ Lệ

• Trong 6 tháng đầu năm 2021,

tỉnh Long An đã có 9 xã được

công nhận đạt chuẩn NTM, vượt

2 xã so với kế hoạch đề ra Đến

nay toàn tỉnh có 103/161 xã đạt

chuẩn NTM, chiếm 64% tổng số

xã toàn tỉnh Ngoài ra, tỉnh cũng

đã công nhận 3 xã đạt chuẩn

NTM nâng cao, nâng tổng số xã

NTM nâng cao của tỉnh lên 8 xã

• Theo kế hoạch, tỉnh Lào Cai

phấn đấu đến năm 2025, toàn

tỉnh có 4 đơn vị cấp huyện duy

trì và được công nhận đạt chuẩn

NTM Trong đó, TP Lào Cai và

huyện Bảo Thắng tiếp tục duy

trì hoàn thành nhiệm vụ NTM;

huyện Bảo Yên, Văn Bàn được

công nhận đạt chuẩn NTM;

huyện Bảo Thắng đạt chuẩn

NTM nâng cao Đối với cấp xã,

phấn đấu có 94/127 xã duy trì và

đạt chuẩn NTM

• Thực hiện phong trào thi đua

“Phụ nữ Hòa Bình chung sức

xây dựng NTM”, từ đầu năm đến

nay, các cấp Hội LHPN trong

tỉnh đã phối hợp thực hiện các

hoạt động xây dựng khu dân cư

NTM kiểu mẫu, vườn mẫu Cụ

thể, trồng mới 77km đường hoa,

228 cây xanh; quét dọn 886km

Trang 32

32 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)

Nằm giáp ranh với huyện Đồng hỷ và huyện Võ Nhai thuộc tỉnh Thái Nguyên - vựa chè nổi tiếng của miền Bắc, Xuân Lương của huyện yên Thế tỉnh Bắc giang cũng là vùng trồng chè

lâu đời…

Tuy nhiên, nếu chè Thái Nguyên

đã có tiếng từ lâu trên thị

trường thì thương hiệu chè Bản

Ven của Xuân Lương chỉ mới được biết

đến trong vài năm gần đây Gắn với tên

tuổi chè Bản Ven là tên một người, ông

Thân Nhân Khuyến…

Đánh thức một vùng chè

Trên đường đưa chúng tôi đến thăm

các đồi chè ở bản Ven, ông Khuyến,

nguyên Chủ tịch UBND xã Xuân Lương,

vui miệng nói: “Tiền không phải là lá

nhưng với người Cao Lan ở Xuân Lương,

lá lại chính là tiền!”

Theo ông Khuyến, đến lá chè tươi già ở

Xuân Lương cũng có thể bán được 30.000

đồng/kg, còn búp chè tươi thì có lúc lên

đến 60.000 đồng/kg Ông nói vui: “Chỉ

cần hái lá bán là có tiền mà còn nghèo

thì lỗi là của chính mình chứ gì nữa!”

Trò chuyện cùng ông về cây chè, tôi

nhận ra ông có thể nói về nó cả ngày

không biết chán Nhắc đến cây chè là

mắt ông lại sáng lên… Theo ông, khí

hậu ôn hòa, thổ nhưỡng phù hợp đã cho

cây chè Xuân Lương có những hương vị

đặc biệt Chè Xuân Lương khi hãm sẽ

cho ra nước chè có màu xanh vàng, vị

đậm, thoảng hương cốm nhẹ Trước đây,

mỗi gia đình trong xã chỉ trồng chè trên vài thửa đất, cây chè cằn cỗi già nua, từ chăm sóc, thu hoạch, chế biến đến tiêu thụ đều theo tập tục cũ nên chất lượng sản phẩm, giá thành đều thấp Không

có đầu ra ổn định, người Cao Lan ở Xuân Lương bỏ dần khâu chế biến, chỉ trồng chè để cung cấp lá chè tươi cho các nhà máy chế biến ở tỉnh Thái Nguyên

Năm 2011, khi còn là cán bộ của Phòng Kinh tế hạ tầng huyện Yên Thế, trong một lần đi công tác đến Xuân Lương, thấy bà con người Cao Lan ở Xuân Lương trồng chè rồi mang sang Thái Nguyên bán, ông Thân Nhân Khuyến thắc mắc: “Dân Cao Lan trồng được chè,

có kinh nghiệm làm chè mà sao không

tự làm sản phẩm cho riêng mình?”

Không lâu sau đó, như một cơ duyên, ông Thân Nhân Khuyến được luân chuyển về Xuân Lương và trở thành Chủ

hồNg NguyễN

giấc mơ chè xuân Lương

tịch UBND xã vùng cao này Bắt tay vào việc vận động thành lập Hợp tác xã Thân Trường, ông cũng là người đầu tiên góp vốn vào HTX và tự tìm tòi, học hỏi công nghệ mới trong việc trồng, thu hoạch, bảo quản, chế biến chè Không biết bao nhiêu công khó đã bỏ ra để có thể xây dựng được quy trình chuẩn theo kỹ thuật mới cho sản phẩm chè Xuân Lương… Nắm bắt được cách trồng và công nghệ thu hoạch, bảo quản, chế biến chè, ông Khuyến vận động, hướng dẫn người dân Cao Lan thay đổi cách làm chè, kết hợp giữa kinh nghiệm làm theo kiểu xưa với công nghệ mới để vừa có năng

Trang 33

Lương ngày càng đậm đà, độc đáo hơn Chẳng hạn như trang bị máy sao chè thay cho việc sao chè bằng tay đã tránh cho lá chè bị ôi hoặc quá lửa mà năng suất lại cao hơn, rút ngắn thời gian, hay việc vần đổi công hái chè giúp người Cao Lan kịp thời thu hoạch chè đúng thời điểm lá chè đạt chất lượng cao nhất…

Bản Ven, nơi có diện tích trồng chè lớn nhất xã (hơn 23ha) Xuân Lương, vốn trước đây có hơn 60 hộ nghèo nay đã giảm xuống còn 35 hộ Các hộ dân trong bản nhờ mạnh dạn đầu tư theo hướng thâm canh cây chè và áp dụng khoa học

kỹ thuật trong trồng và chế biến mà thu nhập đã khá hơn trước, bình quân khoảng

150 - 200 triệu đồng (trên 1ha chè) sau khi

đã trừ chi phí Nhiều hộ ở bản Ven đã xây được nhà cao cửa rộng

Chè Bản Ven ngày nay đã là một trong những sản phẩm chủ lực của địa phương, ổn định từ sản lượng đến chất lượng, được người tiêu dùng ưa chuộng Nhờ có thương hiệu mạnh, giá chè tươi

ở bản Ven nói riêng và Xuân Lương nói chung cũng theo đó mà tăng lên từ mức 12.000 đồng/kg thành 60.000 đồng/kg như hiện nay Chưa dừng lại ở đó, những người làm chè ở Xuân Lương còn đang

mơ đến một ngày chè Xuân Lương có thể bước ra thế giới và giá chè Bản Ven sẽ còn cao hơn nữa khi họ tiếp tục cải thiện chất lượng sản phẩm đặc trưng của mình…

khó khăn), là nơi sinh sống chủ yếu của người dân tộc Cao Lan Người Cao Lan vốn sống khép kín và kinh nghiệm làm chè của họ ít khi được truyền ra ngoài

“Chè Xuân Lương đựng ống bương treo gác bếp” không chỉ là câu đúc kết kinh nghiệm lưu hương, giữ chè mà còn hàm

ý nói đến sự kín đáo, không tiết lộ ra bên ngoài cách làm chè của người Cao Lan

Theo ông Khuyến, cách bảo quản chè Xuân Lương kiểu xưa đã giữ cho chè luôn khô và hương vị chè còn nguyên đến 80

- 90% Gìn giữ bí quyết riêng này kết hợp với việc cải tiến cách trồng trọt, chăm sóc cây chè theo quy trình VietGAP và sử dụng các thiết bị máy móc hiện đại với công nghệ, kỹ thuật mới trong việc chọn lá chè, chọn thời điểm thu hoạch, cải tiến quy trình chế biến nên hương

vị chè Xuân

Mỗi xã MộT SảN PHẩM

suất vừa giữ được chất lượng riêng của

chè địa phương Để có thể xây dựng và

phát triển sản xuất, xây dựng thương

hiệu cũng như tìm thị trường cho sản

phẩm chè Xuân Lương, ông Khuyến đề

xuất việc phát triển diện tích trồng chè

để hình thành vùng chuyên canh của xã

nhằm đảm bảo nguyên liệu sản xuất

Ý kiến này của ông nhận được sự đồng

thuận mạnh mẽ của người Cao Lan và

chính quyền địa phương Các vườn cây

tạp được cải tạo thành những cánh đồng

chè HTX Thân Trường trở thành nơi trung

gian kết nối người trồng chè với các nhà

khoa học, các chủ doanh nghiệp trong

việc chuyển giao khoa học kỹ thuật từ

sản xuất đến chế biến và tiêu thụ sản

phẩm Năm 2015, sau một thời gian áp

dụng kỹ thuật sản xuất, chế biến mới,

chất lượng chè Xuân Lương cải thiện rõ

nét Thương hiệu chè Bản Ven của HTX

Thân Trường ra đời trên cơ sở đó

Từ vài chục hecta (năm 2012), đến

nay, cùng với sự phát triển của thương

hiệu chè Bản Ven, diện tích chè ở Xuân

Lương đã phát triển đến gần 300ha,

năng suất thời điểm cao nhất đạt tới 15

tấn/ha, cao hơn nhiều lần so với bình

quân chung toàn huyện Yên Thế

Thoát nghèo ở vùng đất khó

Là người Kinh nhưng ông Khuyến khá

am hiểu văn hóa, phong tục tập quán và

truyền thống của người Cao Lan Ông

chia sẻ rằng Xuân Lương có 9/14 bản

thuộc chương trình 135 (bản đặc biệt

Nông dân Bản Ven thu hoạch chè

Trang 34

gia tăng ô nhiễm

Mùa khô ở ĐBSCL thường kéo dài từ

tháng 12 đến đầu tháng 5 năm sau Thời

gian này lượng mưa không đáng kể và

lượng nước từ sông Mekong đổ về ĐBSCL

rất thấp Theo số liệu từ Bộ Tài nguyên

và Môi trường, mực nước ngầm tại 13

tỉnh ĐBSCL hiện đều hạ thấp và bị xâm

nhập mặn vào mùa khô, trong đó Long

An, Tiền Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long… có

mức hạ thấp mạnh từ 0,3 - 0,5m/năm;

riêng ở Đồng Tháp, có vùng mức sụt

giảm lên đến 0,92m/năm Không chỉ suy

giảm mực nước, ô nhiễm và nhiễm mặn

nước ngầm, các tỉnh ĐBSCL còn phải đối

mặt với nguy cơ sụt lún đất, với tốc độ

lún trung bình 20 - 40mm/năm

Theo Báo cáo Kinh tế thường niên

của Fulbright 2020, nhiều năm nay, giai

đoạn cao điểm mùa khô (tháng 3 - 4

hàng năm), lưu lượng trung bình của

sông Mekong chỉ vào khoảng 1.500 - 1.700m3/s Ước tính từ giữa tháng 3 đến cuối tháng 4, khoảng 45 - 50% diện tích vùng ĐBSCL bị nhiễm mặn Chênh lệch mực nước ngầm trong mùa mưa và mùa khô có thể lên đến 12 - 15m Còn theo Tổng cục Thủy lợi, mùa khô, hạn hán và xâm nhập mặn với tần suất ngày càng lớn, thời gian hạn mặn kéo dài, nguồn nước trên các hồ chứa và dòng sông suy giảm, mực nước ngầm hạ thấp không đủ nguồn nước để vận hành, thậm chí nhiều công trình cấp nước phải dừng hoạt động Ở ĐBSCL, mùa khô 2019 - 2020 có 96.000 hộ dân bị thiếu nước và 196 công trình bị ảnh hưởng nghiêm trọng

Cùng với sự phát triển kinh tế và đô thị hóa, việc gia tăng các hoạt động xả nước thải sinh hoạt và sản xuất vào môi trường đang tác động tiêu cực và gây sức ép ngày càng lớn lên nguồn nước, khiến việc tiếp cận nguồn nước sạch, an

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đối mặt với tình trạng sụt lún đất nghiêm trọng và suy giảm nguồn nước ngầm do khai thác nước ngầm quá mức.

TuẤN aNh

toàn cho sản xuất và sinh hoạt gặp rất nhiều khó khăn PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Cấp thoát nước Việt Nam, cho rằng chất lượng và diện tích rừng đầu nguồn hiện nay giảm, việc trồng rừng bằng cây công nghiệp, cây keo, bạch đàn, cao su… cũng ảnh hưởng lớn đến khả năng giữ nước của các lưu vực; ô nhiễm nguồn nước do hoạt động khai khoáng, sử dụng hóa chất trong công nghiệp, nông nghiệp càng làm cho vấn đề an ninh nguồn nước ở khu vực này trầm trọng thêm

Bảo vệ nguồn nước ngầm bằng cách nào?

Diện tích đất sử dụng để sản xuất nông nghiệp tại khu vực ĐBSCL hiện nay vào khoảng 2,5 triệu hecta (chiếm khoảng 64% tổng diện tích tự nhiên của toàn vùng) Với diện tích này, theo tính toán, nước tưới tiêu cho nông nghiệp sẽ

Nhà máy nước mặt sông Hậu sử dụng nguồn nước mặt từ sông Hậu Giang.

34 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)

Trang 35

Bảo Vệ MÔi TrườNg NướC

Tại TP.HCM, UBND TP vừa ban hành

Kế hoạch thực hiện chương trình Cung cấp nước sạch và chấm dứt khai thác nước ngầm TP.HCM Theo đó, trong năm 2021, TP.HCM sẽ giảm khai thác nước dưới đất 16.650m3/ngày, trong

đó, lượng khai thác nước dưới đất hộ gia đình giảm 8.000m3/ngày; trong khu chế xuất - khu công nghiệp giảm 1.650m3/ngày; bên ngoài khu chế xuất

- khu công nghiệp giảm 3.000m3/ngày;

lượng khai thác nước dưới đất của Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn TNHH Một thành viên giảm 4.000m3/ngày

chiếm 86% lượng nước sử dụng (14%

còn lại cho công nghiệp và dân dụng)

Vì vậy, tiết kiệm nước tưới có ảnh hưởng

rất lớn đến an ninh nguồn nước ở ĐBSCL

trong tương lai

Thời gian qua, người dân ở ĐBSCL

cũng đã từng bước ứng dụng các nghiên

cứu khoa học - công nghệ vào sản xuất

để nâng cao năng suất, tiết kiệm nước

tưới tiêu Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho

rằng ngay cả khi ứng dụng công nghệ

tưới nhỏ giọt thì cũng không tiết kiệm

chi phí bằng một cơn mưa, bởi một cơn

mưa không chỉ giúp người nông dân đỡ

vất vả hơn trên đồng ruộng mà việc giữ

nguồn nước mưa để bổ sung vào nước

ngầm thay vì để nó trôi ra sông, ra suối

lại có ý nghĩa lớn lao hơn rất nhiều

Theo TS Phan Hiếu Hiền (nguyên

giảng viên Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM),

người nông dân có thể bổ sung nguồn

nước ngầm cho đất bằng cách dùng San

Lazer (sử dụng lazer để san phẳng đồng

ruộng theo một độ nghiêng đồng nhất

để thuận tiện canh tác, tưới tiêu, giảm

tốc độ rửa trôi hoa màu và tốc độ chảy

của nước mưa ra sông, suối, qua đó tạo

điều kiện cho đất có đủ thời gian thẩm

thấu nước) ThS Ngô Đức Thọ, chuyên

gia về cỏ Vetiver, thì đề xuất trồng cỏ

này (một loại cỏ có rễ mọc đứng, đâm

sâu, hấp thụ nước tốt để đưa nước mưa

xuống các tầng nước ngầm và giữ chúng

ở đó) để tăng cường độ thẩm thấu của

nước mưa xuống các tầng đất bên dưới

Tuy nhiên, các mô hình ứng phó BĐKH

trong sản xuất nông nghiệp hiện nay ở

ĐBSCL hầu hết đều mang tính tự phát do

người dân nghĩ ra và sáng tạo cho phù

hợp với điều kiện biến động thời tiết,

nguồn nước và các yếu tố khác như vốn

đầu tư, lao động, thị trường… Báo cáo

Kinh tế thường niên của Fubright 2020

cũng cho rằng hầu hết các mô hình hiện

tại ở ĐBSCL chỉ mang tính đối phó và phù

hợp với các mục tiêu ngắn, trung hạn

Điều quan trọng là phải có một giải pháp

vĩ mô, với sự tham gia của cộng đồng

các nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà

nước để giải quyết vấn đề lâu dài

Trong nghiên cứu mang tên “Việt Nam - Hướng tới một hệ thống nước có tính thích ứng, sạch và an toàn”, Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng để bảo vệ

an ninh nguồn nước nói chung và nước ngầm nói riêng, Việt Nam cần tổ chức quản lý có hiệu quả tài nguyên nước, bao gồm phân bổ nguồn nước, bảo vệ tài nguyên nước và khai thác nước hợp

lý WB cũng nhấn mạnh đến việc “nâng cao giá trị các hoạt động có sử dụng nước trong lĩnh vực nông nghiệp”, “phân bổ tỷ

lệ tài nguyên nước cho các đối tượng khai thác, sử dụng nước”; xây dựng được hệ thống “giám sát tài nguyên nước, giám sát khai thác, sử dụng nước” và “kiểm soát tình trạng ô nhiễm” Việc ưu tiên cao

kiểm soát ô nhiễm là cấp bách bởi ở Việt Nam chỉ có 12,5% nước thải đô thị và 71% nước thải công nghiệp được xử lý, các chất thải độc hại này sẽ theo nước mưa ngấm vào lòng đất, gây ô nhiễm nguồn nước ngầm Ở khía cạnh kinh tế, tác động của

ô nhiễm liên quan đến nguồn nước đối với sức khỏe con người có thể làm giảm 3,5% GDP vào năm 2035 nếu như Việt Nam không có kế hoạch và phương pháp tiếp cận thích hợp để bảo vệ nguồn nước Theo PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Cấp thoát nước Việt Nam, các thành phố lớn ở khu vực ĐBSCL có thể bắt đầu với việc từng bước giảm lưu lượng khai thác nước ngầm và tiến tới sử dụng nguồn nước mặt thay thế; nghiên cứu các giải pháp

bổ sung nguồn nước ngầm, hướng tới tạo nguồn nước dự phòng chiến lược trong trường hợp xảy ra các sự cố về nguồn nước mặt, về hệ thống cấp nước, biến đổi khí hậụ Việc đánh giá số lượng, chất lượng nguồn nước, hiện trạng khai thác và sử dụng tài nguyên nước, dự báo

xu thế biến động dòng chảy cũng như mực nước của các tầng chứa nước và nhu cầu sử dụng nước sẽ giúp cơ quan quản

lý ở tầm vĩ mô “phân vùng chức năng của nguồn nước” để đưa ra các chiến lược phù hợp

Nhà máy nước mặt sông Hậu cung cấp nước sạch sinh hoạt và sản xuất cho Khu đô thị công nghiệp Sông Hậu và các khu dân cư lân cận, góp phần ổn định an ninh nước vùng ĐBSCL.

Trang 36

36 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)

Bảo Vệ MÔi TrườNg NướC

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số

44/2021/TT-BTC quy định về khung

giá, nguyên tắc, phương pháp xác định giá

nước sạch sinh hoạt Thông tư này có hiệu

lực thi hành từ ngày 5/8/2021

Thông tư quy định giá nước sạch được

tính đúng, tính đủ các yếu tố chi phí sản

xuất hợp lý, hợp lệ trong quá trình khai

thác, sản xuất, phân phối, tiêu thụ và có lợi

nhuận; phù hợp với chất lượng nước, định

mức kinh tế - kỹ thuật, quan hệ cung cầu

về nước sạch, điều kiện tự nhiên, điều kiện

phát triển kinh tế xã hội của địa phương,

khu vực, thu nhập của người dân trong

từng thời kỳ Nguyên tắc xác định giá nước sạch phải hài hòa quyền, lợi ích hợp pháp của đơn vị cấp nước và khách hàng sử dụng nước Qua đó, khuyến khích khách hàng sử dụng nước tiết kiệm; khuyến khích các đơn

vị cấp nước sạch nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm chi phí, giảm thất thoát, thất thu nước sạch, đáp ứng nhu cầu của khách hàng Đồng thời, thu hút đầu tư vào hoạt động sản xuất, phân phối nước sạch

Khung giá nước sạch được quy định như sau: Đô thị đặc biệt, đô thị

giá nước sạch tại khu vực nông thôn

không được quá 11.000 đồng/m 3

UBND tỉnh Đồng Tháp vừa ban hành Kế hoạch cung

cấp nước sạch trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp giai

đoạn 2021 - 2025 nhằm nâng cao chất lượng cung cấp

nước sạch cho người dân và thực hiện định hướng tăng

cường khai thác nước mặt, hạn chế khai thác nước ngầm

(nước dưới đất), tiến tới chuyển nước ngầm thành nguồn

dự phòng, dự trữ trong cung cấp nước sạch

Theo kế hoạch, UBND TP Cao Lãnh, TP Sa Đéc, huyện Lấp

Vò thực hiện lộ trình chuyển đổi từ nước ngầm sang nước

mặt trong cung cấp nước sạch (đến hết ngày 31/12/2021);

rà soát, thực hiện phương án đầu tư đường ống cấp nước

tại các tiểu khu chưa có đường ống cấp nước và thực hiện

ký hợp đồng cấp nước (thỏa thuận cấp nước) với các đơn

Đồng Tháp: Chuyển đổi từ nước ngầm sang nước mặt trong cung cấp nước sạch

loại 1 tối thiểu 3.500 đồng/m3, tối đa 18.000 đồng/m3 Đô thị loại 2, loại 3, loại

4, loại 5 tối thiểu 3.000 đồng/m3, tối đa 15.000 đồng/m3 Khu vực nông thôn có mức giá tối thiểu 2.000 đồng/m3, tối đa 11.000 đồng/m3 Khung giá nước sạch này đã bao gồm thuế giá trị gia tăng, áp dụng cho mức giá bán lẻ nước sạch bình quân do UBND tỉnh quyết định

Theo Thông tư, giá bán lẻ nước sạch bình quân do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định phải đảm bảo phù hợp với khung giá nước sạch quy định Đối với khu vực đặc thù gồm vùng nước ngập mặn, vùng ven biển, vùng có điều kiện sản xuất nước khó khăn, trường hợp chi phí sản xuất, cung ứng nước sạch cao làm giá bán lẻ nước sạch bình quân của đơn vị cấp nước (sau khi Sở Tài chính thẩm định phương

án giá nước sạch) cao hơn mức giá tối đa trong khung giá quy định tại Thông tư này thì UBND tỉnh căn cứ vào tình hình thực tế, nhu cầu sử dụng nước sạch và thu nhập của người dân để quyết định giá bán nước sạch cho phù hợp Hàng năm, đơn vị cấp nước chủ động rà soát việc thực hiện phương án giá nước sạch và giá nước sạch dự kiến cho năm tiếp theo ngỌc Toan

Trang 37

Bảo Vệ MÔi TrườNg NướC

UBND tỉnh Nghệ An vừa ban hành Quyết định Quy

chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước sạch phục vụ cho mục đích sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Nghệ

An Việc ban hành Quyết định này nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Đồng thời, theo dõi, kiểm soát tốt nhất chất lượng nguồn nước trên cơ sở lựa chọn các thông số đặc thù, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương; tăng cường kiểm soát chặt chẽ chất lượng nguồn nước sử dụng cho mục đích sinh hoạt tại các cơ sở cung cấp nước nhằm đảm bảo sức khỏe cho người dân nhấT anh

Nghệ an ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương

về chất lượng nước sạch

Theo báo cáo mới đây của WHO và UNICEF, năm 2020, cứ 4

người thì có 1 người thiếu nước uống an toàn tại nhà Báo cáo cũng cho rằng nếu các xu hướng hiện tại vẫn tiếp diễn thì vào năm 2030, chỉ 81% dân số thế giới được sử dụng nước uống

an toàn tại nhà và 1,6 tỷ người không có nước uống Để đạt được khả năng tiếp cận phổ cập nước uống được quản lý an toàn vào năm 2030, tốc độ tiến bộ hiện tại ở các nước kém phát triển sẽ cần phải tăng gấp 10 lần Ở những nơi có nguy cơ thiếu nước uống

an toàn cao gấp đôi, nỗ lực này sẽ cần phải tăng tốc thêm 23 lần

Vào cuối tháng 5/2021, trữ lượng hồ chứa trên toàn bang

California (Hoa Kỳ) ước tính chỉ bằng 2/3 trữ lượng thông thường Trang web Save Our Water của Mỹ cũng đưa ra dự báo nhiều khả năng mực nước năm nay có thể còn ít hơn so với năm ngoái - năm được đánh giá là khô hạn thứ 5 trong lịch sử bang California Trong bối cảnh đó, chính quyền bang California đã quyết định mở rộng diện áp đặt tình trạng khẩn cấp do hạn hán đối với gần 50% dân số ở bang này, đồng thời, kêu gọi người dân giảm 15% lượng nước sử dụng Theo Thống đốc bang California Newsom, việc cắt giảm 15% lượng nước sử dụng sẽ giúp tiết kiệm nước đủ để cung cấp cho hơn 1,7 triệu hộ gia đình trong một năm

Vì vậy, người dân hãy tiết kiệm nguồn nước khan hiếm bằng cách giảm các hoạt động như tưới cỏ và tắm trong thời gian ngắn hơn

Mới đây, Bộ Thủy lợi và Nguồn nước Jordan - một trong

những quốc gia thiếu nước nhất thế giới - cho biết nước này đã có kế hoạch xây dựng một nhà máy khử muối ở Biển Đỏ để cung cấp nước uống Theo ông Omar Salameh, người phát ngôn

Bộ Thủy lợi và Nguồn nước Jordan, dự án nhà máy khử muối có giá trị đầu tư khoảng 1 tỷ USD sẽ được xây dựng ở vịnh Aqaba, phía nam Jordan Nhà máy dự kiến sản xuất 250 - 300 triệu mét khối nước uống mỗi năm và sẽ sẵn sàng hoạt động vào năm

2025 hoặc 2026 “Nước đã được khử muối sẽ được dẫn từ Aqaba trên Biển Đỏ đến các khu vực còn lại của đất nước” - ông Salameh chia sẻ Theo thống kê của Jordan, đất nước này cần khoảng 1,3

tỷ mét khối nước sạch/năm, tuy nhiên, hiện tại mới chỉ đáp ứng được 850 - 900 triệu m3/năm do lượng mưa thấp, tình trạng ấm lên toàn cầu, dân số và dòng người tị nạn tăng gia TuỆ

Hàng tỷ người trên thế giới không có nước uống an toàn

Bang California (Hoa Kỳ) kêu gọi người dân giảm sử dụng nước

Jordan xây nhà máy khử muối

ở Biển Đỏ lấy nước uống Đồng Tháp: Chuyển đổi từ nước ngầm sang nước mặt trong cung cấp nước sạch

Công nhân đang vận hành tại Nhà máy nước Hưng

Vinh (Công ty Cổ phần Nước Nghệ An).

vị cấp nước theo quy định để cung cấp nước sạch cho các tiểu khu này Các huyện Châu Thành, Lai Vung thực hiện lộ trình chuyển đổi từ nước ngầm sang nước mặt trong cung cấp nước sạch (đến hết ngày 31/12/2022) Các huyện còn lại thực hiện lộ trình chuyển đổi từ nước ngầm sang nước mặt trong cung cấp nước sạch đến hết ngày 31/12/2023 Riêng

TP Hồng Ngự và huyện Hồng Ngự không còn trạm cấp nước trên địa bàn, không cho phép khoan (thăm dò) giếng mới

Tỉnh Đồng Tháp khuyến khích áp dụng các công nghệ

xử lý nước hiện đại, đáp ứng chất lượng nước theo quy định

và tiết kiệm diện tích đất; khuyến khích xã hội hóa đầu

tư, phát triển cấp nước và quản lý hoạt động cấp nước…

DiỄm Thư

Trang 38

MiNh huy

hữu của nhiều đối tượng khách hàng từ 1,5 - 2%/năm so với mức cho vay hiện tại và giảm 50% số tiền lãi phải thu của các khách hàng đến thời điểm hiện tại (tương đương mức lãi suất cho vay giảm

3 - 4%/năm) Ngoài ra, khách hàng cá nhân tại khu vực miền Nam - nơi đang

có diễn biến dịch Covid-19 phức tạp - vay sản xuất kinh doanh hoặc mua nhà để ở

có nguồn thu nhập từ lương tại MBBank cũng được giảm 2%/năm so với lãi suất

Giảm đến hơn 2%/năm

Ngày 16/7, Vietcombank đã tiếp

tục giảm lãi suất đợt thứ 7 trong năm

với quy mô 1.800 tỷ đồng nhằm hỗ trợ

khách hàng bị ảnh hưởng bởi đại dịch

Covid-19 Theo đó, từ nay đến hết năm

2021, đối với các doanh nghiệp thuộc

9 ngành, lĩnh vực bị ảnh hưởng nặng

nề của dịch sẽ được giảm cao nhất là

1%/năm, các DN còn lại sẽ được giảm

lãi suất tới 1%/năm Với khách hàng cá

nhân, mức giảm cao nhất là tới 1%/năm

với người vay vốn phục vụ sản xuất kinh

doanh và 0,5%/năm với khách hàng

vay vốn phục vụ đời sống Tương tự

Agribank cũng đã dành khoảng 5.500

tỷ đồng để hỗ trợ khách hàng Theo đó,

các khoản vay tại Agribank từ nay đến

cuối năm 2021 sẽ được giảm lãi suất với

mức giảm 1%/năm so với lãi suất cho

vay đang áp dụng đối với dư nợ cho vay

ngắn hạn có lãi suất từ 5%/năm trở lên

và dư nợ cho vay trung, dài hạn có lãi

suất từ 7%/năm trở lên

Không chỉ các NHTM quốc doanh,

nhiều NHTM cũng giảm lãi suất để hỗ trợ

dưỡng, giáo dục, y tế… Bên cạnh đó,

ngoài nguồn vốn ưu đãi trị giá 10.000

tỷ đồng với lãi suất từ 4%/năm, thời hạn vay tối đa 6 tháng dành cho DN xuất khẩu cũng như hỗ trợ các doanh nghiệp khắc phục khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh được triển khai

từ nay đến cuối năm 2021, Sacombank cho biết sẽ tiếp tục đưa ra các gói ưu đãi khác để thiết thực đồng hành cùng khách hàng MBBank cũng đã điều chỉnh giảm lãi suất cho vay đối với dư nợ hiện

Ngân hàng tiếp sức người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng dịch bệnh

Kienlongbank miễn phí hoàn toàn các giao dịch chuyển tiền trong nước từ nay đến hết năm

2021 không giới hạn trong và ngoài hệ thống ngân hàng.

Ngày đăng: 19/10/2022, 17:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Trồng mắc ca là mơ hình cịn khá mới tại tỉnh yên Bái. Tuy nhiên, rất nhiều người dân nơi đây hào hứng với tiềm năng phát triển của loại cây này - Tạp chí Nông Thôn Việt số 67 - Tháng 08.2021
r ồng mắc ca là mơ hình cịn khá mới tại tỉnh yên Bái. Tuy nhiên, rất nhiều người dân nơi đây hào hứng với tiềm năng phát triển của loại cây này (Trang 24)
Trước tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, bà Đỗ - Tạp chí Nông Thôn Việt số 67 - Tháng 08.2021
r ước tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, bà Đỗ (Trang 25)
Qua khảo sát tình hình thực tế tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, PGS.TS  Ngô Thị Phương Lan, Hiệu trưởng Trường  Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn -  Đại học Quốc gia TP.HCM, cũng nhận định  rằng mối liên kết giữa các chủ thể tham  gia chuỗi giá trị du - Tạp chí Nông Thôn Việt số 67 - Tháng 08.2021
ua khảo sát tình hình thực tế tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, PGS.TS Ngô Thị Phương Lan, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP.HCM, cũng nhận định rằng mối liên kết giữa các chủ thể tham gia chuỗi giá trị du (Trang 27)
Tuy nhiều loại hình dịch vụ tại Minh Châu  còn  khá  đơn  giản,  nhưng  khách  đến  tận  hưởng  vẻ  đẹp  hoang  sơ  của  Minh Châu vẫn ngày một nhiều - Tạp chí Nông Thôn Việt số 67 - Tháng 08.2021
uy nhiều loại hình dịch vụ tại Minh Châu còn khá đơn giản, nhưng khách đến tận hưởng vẻ đẹp hoang sơ của Minh Châu vẫn ngày một nhiều (Trang 30)
Mơ hình trồng chè của nông dân xã Xuân Lương được liên kết với HTX  Thân Trường nhằm sản xuất, chế  biến, tiêu thụ sản phẩm. - Tạp chí Nông Thôn Việt số 67 - Tháng 08.2021
h ình trồng chè của nông dân xã Xuân Lương được liên kết với HTX Thân Trường nhằm sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm (Trang 32)
32 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021) - Tạp chí Nông Thôn Việt số 67 - Tháng 08.2021
32 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021) (Trang 32)
Tuy nhiên, các mơ hình ứng phó BĐKH trong sản xuất nông nghiệp hiện nay ở  ĐBSCL hầu hết đều mang tính tự phát do  người dân nghĩ ra và sáng tạo cho phù  hợp với điều kiện biến động thời tiết,  nguồn nước và các yếu tố khác như vốn  đầu tư, lao động, thị - Tạp chí Nông Thôn Việt số 67 - Tháng 08.2021
uy nhiên, các mơ hình ứng phó BĐKH trong sản xuất nông nghiệp hiện nay ở ĐBSCL hầu hết đều mang tính tự phát do người dân nghĩ ra và sáng tạo cho phù hợp với điều kiện biến động thời tiết, nguồn nước và các yếu tố khác như vốn đầu tư, lao động, thị (Trang 35)
2.1.6. Hình thức kế toán và chế độ kế toán - Tạp chí Nông Thôn Việt số 67 - Tháng 08.2021
2.1.6. Hình thức kế toán và chế độ kế toán (Trang 53)
60 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021) - Tạp chí Nông Thôn Việt số 67 - Tháng 08.2021
60 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021) (Trang 60)
gặp hình ảnh thân thuộc. Ảnh: Đỗ Quang Tuấn Hoàng - Tạp chí Nông Thôn Việt số 67 - Tháng 08.2021
g ặp hình ảnh thân thuộc. Ảnh: Đỗ Quang Tuấn Hoàng (Trang 60)
Mơ hình trồng cây đinh lăng của lão nông Cẩm Hà - Tạp chí Nông Thôn Việt số 67 - Tháng 08.2021
h ình trồng cây đinh lăng của lão nông Cẩm Hà (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm