Tạp chí Nông Thôn Việt số 67 - Tháng 08.2021
Trang 22 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)
Trang 3phí phát hành lệnh chuyển tiền đối với: 100%
100 giao dịch chuyển tiền quốc tế đi đầu tiên trên Internet Banking
50 giao dịch chuyển tiền đi bằng đồng CAD đầu tiên trên hệ thống
LienVietPostBank
Ưu đãi về tỷ giá mua bán ngoại tệ:
Đặc biệt đối với đồng CAD và AUD
Thời gian áp dụng:
Từ ngày 15/01/2021 đến hết ngày 31/12/2021
Đối tượng: Khách hàng cá nhân
Trang 44 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)
eVoucher
Từ 01/06 - 31/08/2021
- Quà may mắn: Galaxy Watch Active 2, Vàng 24K, eVoucher,
*Chuyển đến tài khoản/thẻ nội địa
Tặng 50k/lượt giới thiệu tải app Xác thực eKYC
Miễn phí mở tài khoản đẹp 24/7 liên ngân hàng* Miễn phí chuyển tiền
Trang 5Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
Võ Trọng Nghĩa - KTS
Hồ Thị Tú Anh - Nhà báo
Thư ký Tòa soạn
Nguyễn Thị Mai Phương Đặng Thị Thùy Dung
26 Phạm Văn Đồng, Quận Cầu Giấy,
Thành phố Hà Nội Điện thoại: 091 3460692
In tại CT TNHH Quảng cáo và
Thương mại Dương Phong
Khổ in (21 x 29)cm
Ảnh bìa: Du khách nước ngoài
trải nghiệm du lịch nông thôn tại Hội An, Quảng Nam.
vỚi sự Tham gia cỦa
Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Minh Hoan, Chuyên gia Tô Văn Trường, TS Nguyễn Sĩ Dũng, Nguyễn Trọng Khánh, Nguyễn Văn Mỹ, Cẩm Hà, Đông Khánh, Nguyên Thu, Huỳnh Lợi, Bình Nguyên, Trương Thanh Liêm, Minh Huy, Trần Trọng Triết, Đào Thị Thanh Tuyền, Trịnh Viết Hiệp, Đỗ Quang Tuấn Hoàng, Đức Tạo, Ngoan Phạm, Mỹ Lệ, Khuất Linh, Nguyễn Quỳnh, Hồng Nguyễn, lương y Diệp Bình, Tuấn Anh, Thùy Dung, Kim Nhã,
Nguyệt Ánh, Huyền Trang, Anh Khôi, Thiện Anh…
giÁ: 30.000 đồng
www.nongthonviet.com.vn
Quy hoạch vùng trồng, những bài học kinh nghiệm Làng nghề Việt:
Những làng nghề thuốc Nam Làng nghề Việt:
Những làng nghề thuốc Nam
Câu chuyện tri thức
từ thửa ruộng, bờ ao Câu chuyện tri thức
từ thửa ruộng, bờ ao Quy hoạch vùng trồng, những bài học kinh nghiệm Làng nghề Việt:
Những làng nghề thuốc Nam
www.nongthonviet.com.vn
Phát triển
du lịchPhát triển
du lịch
Trang 6Quy hoạch vùng trồng, những bài học kinh nghiệm
Câu chuyện tri thức
từ thửa ruộng, bờ ao
Thay đổi phương thức
hỗ trợ hợp tác xã, nên không?
Du lịch nông thôn:
12
Trang 7Làng nghề Việt:
Những làng nghề thuốc Nam
Báo động suy giảm nước ngầm ở ĐBSCL
Mật ngọt
từ vùng đất ngập mặn
Thú vị bánh căn
Du lịch
nông thôn:
Dễ mà khó!
Ngân hàng tiếp sức người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng dịch bệnh
42
51
48 34
46 38
PLASTICS
VIET RICEOrganic
CÔNG TY CỔ PHẦN HIM LAM
Để ta biết mình còn có nhau!
Trang 8Số ca được điều trị khỏi là 22.946 TP.HCM có số ca mắc Covid-19 nhiều nhất: 72.459 ca.
Trước tình hình lây lan do biến chủng Delta ngày càng tăng, Thủ tướng đã quyết định giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 đối với 19 tỉnh, thành phía Nam trong 14 ngày, từ 0h ngày 19/7, trong đó
3 nơi đang thực hiện và bổ sung 16 địa phương khác Một số địa phương khác như Hà Nội, Đắk Lắk, Khánh Hòa cũng thực hiện các biện pháp giãn cách sau khi có dấu hiệu gia tăng trở lại các ca nhiễm trong cộng đồng Đến 0 giờ ngày 26/7, UBND TPHCM cũng
đã quyết định áp dụng hình thức hạn chế đi lại từ 18 giờ hôm trước đến 6 giờ sáng hôm sau trên toàn địa bàn
Lê Minh Trí làm Viện trưởng VKSND tối cao… Quốc hội cũng đồng
ý giảm 1 Phó Thủ tướng trong nhiệm kỳ 2021-2026 4 Phó Thủ tướng đương nhiệm được phê chuẩn tiếp tục nhiệm kỳ mới gồm:
Phạm Bình Minh, Lê Minh Khái, Vũ Đức Đam và Lê Văn Thành
Ngày 28/7, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ - Lloyd Austin, bắt đầu chuyến thăm Việt Nam 2 ngày Ông là quan chức cấp cao nhất của chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden thăm chính thức Việt Nam tính tới nay
Ngày 7/7, khoảng 1 triệu thí sinh trên cả nước bước vào kỳ thi tốt nghiệp THPT đợt 1 năm 2021 Đây là kỳ thi đặc biệt trong lịch sử thi quốc gia trong bối cảnh dịch Covid-19 lan rộng gần
40 tỉnh, thành Các thí sinh phải có kết quả xét nghiệm âm tính mới được dự thi Tuy nhiên, trong ngày thi vẫn phát hiện một
số thí sinh dương tính với Covid-19 Đợt 2 dự kiến sẽ được tổ chức từ ngày 6 - 7/8/2021 TP.HCM đã đề xuất xét tốt nghiệp đặc cách cho hơn 3.200 thí sinh trên địa bàn nhằm đảm bảo
an toàn phòng chống dịch
Tính đến 28/7, thế giới ghi nhận gần 196 triệu ca nhiễm Covid-19, trong đó gần 4,2 triệu ca tử vong Các nước Đông Nam Á đang loay hoay ứng phó đại dịch Covid-19 khi biến chủng Delta đẩy số ca nhiễm tăng cao kỷ lục Indonesia đã vượt Ấn Độ và Brazil, trở thành quốc gia có số ca mắc theo ngày cao nhất thế giới Tỷ lệ tử vong vì Covid-19 ở nước này bị cho là cao hơn mức trung bình toàn cầu Các quốc gia còn lại cũng ghi nhận số ca nhiễm lên đến hàng chục ngàn ca, gây quá tải hệ thống chăm sóc y tế quốc gia
Ngày 7/7, Tổng thống Haiti - Jovenel Moise đã bị sát hại tại nhà riêng Biến cố này làm gia tăng lo ngại nguy cơ vòng xoáy bất ổn mới tại quốc gia nghèo nhất vùng Caribe, nơi đang đối mặt với chia rẽ chính trị sâu sắc, khủng hoảng nhân đạo, tình trạng thiếu lương thực
Ngày 9/7, một phái đoàn Taliban cho biết, nhóm phiến quân này kiểm soát hơn 85% lãnh thổ Afghanistan Tuy nhiên, Chính phủ Afghanistan hiện vẫn nắm giữ các tỉnh/thành chủ chốt như Kabul, Kandahar, Kunduz, Herat Với thực trạng hiện nay, dư luận lo ngại bất
ổn tại Afghanistan sẽ còn trầm trọng hơn và tiếp diễn trong thời gian tới
Lượng mưa dữ dội ngày 15/7 đã gây ra trận lụt lịch sử ở Đức, Bỉ, Hà Lan và Luxembourg, phá hủy đường phố và nhà cửa, làm ít nhất 180 người chết, hàng nghìn người khác mất tích Nhiều chuyên gia cho rằng tình trạng thời tiết cực đoan này là kết quả hiện tượng nóng lên toàn cầu
Các trận mưa lớn gây ngập lụt ở tỉnh Hà Nam (Trung Quốc) đã khiến ít nhất 56 người chết, thiệt hại ước tính hơn 10 tỉ USD Đây là trận mưa lịch sử với lượng mưa trong 24 giờ gần bằng với lượng mưa trung bình hằng năm của tỉnh Hà Nam
Ngày 23/7, Nhật Bản đã khai mạc Olympic 2020 tại Tokyo sau 1 năm bị hoãn vì dịch Covid-19 Có hơn 11.000 vận động viên đến từ 206 quốc gia và vùng lãnh thổ tham dự Olympic lần này Đặc biệt, các trận đấu sẽ diễn ra mà không có khán giả trực tiếp nhằm hạn chế lây nhiễm Covid-19 trong lúc thủ đô nước Nhật đang trong tình trạng khẩn cấp Cũng trong tháng 7, hai giải đấu lớn trên thế giới là EURO 2020
và COPA AMERICA 2021 cũng được tổ chức với ngôi vô địch lần lượt thuộc về Italia và Argentina
Q U Ố C T Ế
T R O N G N Ư Ớ C
Trang 9Trong thời đại mở cửa và hội nhập, như mọi lĩnh vực
khác, nông nghiệp nước ta cũng sẽ phải cạnh tranh
sòng phẳng với thế giới Để cạnh tranh chắc chắn
phải đưa khoa học và công nghệ tiên tiến vào sản xuất và kinh
doanh nông nghiệp Điều này chỉ có các doanh nghiệp lớn
mới có thể làm được Rất tiếc, nhiều doanh nghiệp lớn muốn
đầu tư vào nông nghiệp đều phải bó tay vì không có đất
Tích tụ ruộng đất vì vậy là một nhu cầu khách quan nếu
chúng ta muốn công nghiệp hóa nông nghiệp Tuy nhiên,
không thể tích tụ ruộng đất bằng cách thu hồi ruộng đất của
các hộ nông dân, cho dù phần lớn các hộ nông dân đã có được
quyền sử dụng đất trên cơ sở được Nhà nước giao miễn phí
Ai cũng hiểu quyền sử dụng đất ở ta là gần như tương đương
với quyền sở hữu Về cơ bản, Nhà nước chỉ có thể thu hồi đất
vì mục đích quốc phòng, an ninh Việc thu hồi đất cho các dự
án phát triển kinh tế vì lợi ích chung mặc dù được pháp luật
cho phép, vẫn gặp phải muôn vàn khó khăn, thách thức trên
thực tế Và trong mọi trường hợp, đất đai vẫn phải được bồi
thường theo giá thị trường
Trong bối cảnh như vậy, tích tụ ruộng đất chỉ có thể xảy ra
khi có sự dịch chuyển xã hội: cư dân nông thôn dịch chuyển
thành cư dân đô thị và lao động nông nghiệp dịch chuyển
thành lao động công nghiệp và dịch vụ
Theo kết quả Tổng điều tra năm 2019, dân số thành thị
của nước ta là trên 33 triệu người, chiếm 34,4% tổng dân số;
dân số nông thôn là khoảng 63 triệu người, chiếm 65,4%
tổng dân số Tỷ trọng lao động trong khu vực công nghiệp
và xây dựng là 31,7% (17,09 triệu người); trong khu vực dịch
vụ là 36,7% (19,81 triệu người); trong khu vực nông nghiệp
là 31,6% (17,05 triệu người)
Số liệu trên cho thấy cư dân sống ở nông thôn và lực lượng lao động làm nông nghiệp của Việt Nam rất lớn Hệ quả là ruộng đất có quá nhiều ông chủ; lối sống tự túc, tự cấp hạn chế khả năng mở rộng thị trường trong nước cho các sản phẩm nông nghiệp; lực lượng lao động trong nông nghiệp quá lớn cũng hạn chế khả năng cạnh tranh quốc tế (nhiều nước trên thế giới chỉ có 3 - 5% lực lượng lao động làm nông nghiệp).Giải pháp chính sách cần được đề ra ở đây là phải đẩy nhanh quá trình đô thị hóa Quá trình đô thị hóa thời gian qua
đã tạo ra một sự chuyển dịch cư dân từ nông thôn ra thành thị Trong 10 năm (2009 - 2019), yếu tố di cư góp phần làm tăng dân số thành thị lên 1,2 triệu người, chiếm 3,5% dân số thành thị Sự dịch chuyển như vậy là quá chậm, chắc chắn cần phải thúc đẩy mạnh mẽ hơn Để làm được điều này, ngoài việc
mở rộng và hình thành các khu đô thị mới, cũng cần tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình di cư Chủ trương xóa bỏ sổ hộ khẩu giấy được Quốc hội thông qua vừa rồi có lẽ là một cố gắng theo hướng này
Ngoài ra, thúc đẩy công nghiệp hóa và phát triển mạnh kinh tế dịch vụ phải được xem là một giải pháp chính sách quan trọng Thực ra, công nghiệp hóa, đô thị hóa và phát triển kinh tế dịch vụ thường đi liền với nhau Các khu công nghiệp có thể tạo động lực cho việc hình thành các khu đô thị
ở xung quanh Các khu đô thị mới lại tạo cầu cho kinh tế dịch
vụ phát triển (và cả cho nông nghiệp phát triển nữa) Tất cả
sẽ tương tác với nhau theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho việc dịch chuyển dân cư từ nông thôn ra thành thị, lao động
từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ Đây sẽ là điều kiện quan trọng nhất để tích tụ ruộng đất và công nghiệp hóa nông nghiệp
TS NguyễN Sĩ DũNg
THời LuậN
Để có một nền nông nghiệp hiện đại, đủ sức cạnh tranh với thế giới thì quan trọng là
phải công nghiệp hóa nông nghiệp Tuy nhiên, công nghiệp hóa nông nghiệp sẽ rất khó khăn nếu đất đai đang được phân chia manh mún như hiện nay Sự manh mún này là
hệ quả của một loạt chính sách đã từng rất đúng đắn trong quá khứ như khoán hộ, giao đất cho hộ gia đình, giao rừng… Vấn đề chỉ là ta đã xem chúng đúng quá lâu
ĐỂ CÔNG NGHIỆP HÓA NÔNG NGHIỆP
Trang 1010 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)
10 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)
góC NHìN
Vừa rồi qua za-lô (zalo) tôi có
nhận được một tin nhắn của
một anh nông dân Anh gửi
một tấm hình chụp lại mấy dòng chữ
viết tay trên giấy tập học trò Nội dung
là nhờ đăng ký tham dự một hội thảo về
kết nối kinh doanh nông sản trực tuyến
Các hội thảo trực tuyến hiện nay thường
yêu cầu đăng ký trực tuyến, nhưng ngặt
nỗi, anh nông dân đó không biết cách
sử dụng các thiết bị thông minh Vì thế,
anh ấy nghĩ ra cách viết tay, nhờ cháu
nội chụp ảnh, rồi gửi qua za-lô đăng ký
Tính ra thì anh nông dân ấy đã rất
nhanh trí, tiếp cận được công nghệ dù
theo cách của mình Tuy vậy, ngẫm nghĩ
lại cũng thấy hơi lo Còn bao nhiêu người
nông dân trên đất nước mình chưa có
điều kiện tiếp cận, sử dụng thành thạo
những thiết bị, công cụ thông minh? Bao
nhiêu người nông dân chưa hình dung
được, cần cù thôi là chưa đủ trong xu thế
phát triển của khoa học, kỹ thuật, công
nghệ, của nền kinh tế tri thức? Và bao
nhiêu lớp đào tạo ngành nghề nông
thôn không mang lại hiệu quả, không
thu hút được người nông dân hăng hái
tham gia
Hiện có nhiều lớp đào tạo nghề nông
thôn đúng nghĩa là dạy nghề nông:
hướng dẫn cho người nông dân kỹ thuật
thế phát triển, nghề nông phải tích hợp giá trị gia tăng bằng hàm lượng khoa học, công nghệ, bằng phương thức kinh doanh nông sản, bằng tinh thần hợp tác của những người nông dân, bằng thái độ tích cực, chủ động, sẵn lòng thích ứng với sự thay đổi Khi người nông dân chủ động tìm hiểu, kết nối với thị trường, thì
sẽ nhận lại thông tin, tín hiệu của thị trường Từ thông tin, tín hiệu đó, người nông dân sẽ hình dung rõ hơn về nhu cầu, xu thế thị trường, hiểu rằng mình cần phải sản xuất theo chuẩn mực của thị trường, nếu không muốn cứ rơi vào vòng lặp “thừa mứa, ế ẩm, rớt giá”.Chương trình xây dựng nông thôn mới trong những năm qua đã có những kết quả đáng tự hào Hạ tầng, cơ sở vật chất ở nông thôn thay đổi theo hướng hiện đại hơn, văn minh hơn, thu nhập của người nông dân dần được cải thiện Tuy nhiên, vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của người dân chưa được định hình
rõ rệt Suy cho cùng, người nông dân trong nông thôn mới, vừa là mục tiêu, vừa là động lực Đích đến của Chương
cây trồng, vật nuôi Nhưng người giảng dạy, hướng dẫn nghề nông lại không phải là người thu mua sản phẩm nuôi trồng của người nông dân nên nhiều khi chưa nắm bắt hết thông tin, xu hướng thị trường Trong khi thị trường mới
là nơi tiêu thụ, người tiêu dùng mới là người quyết định nhu cầu, số lượng bao nhiêu, chất lượng ra sao Đào tạo nghề nông thôn thường chú trọng kỹ thuật, cách thức sản xuất, để sản lượng nhiều, năng suất cao nhưng lại chưa quan tâm đúng mức đến kết nối tiêu thụ, tiêu chuẩn nông sản, nhu cầu thực tế của thị trường… Đào tạo nghề nông thôn có thể hiểu là giúp trang bị kiến thức, kỹ năng nghề “cho” người nông dân Chỉ dừng lại
ở đấy, liệu có đủ không?
Và bây giờ là câu chuyện về nông nghiệp thông minh, nông nghiệp 4.0
Nghề nông giờ đây đâu chỉ quần quật quanh năm, “tay lấm chân bùn”, “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” Nếu
cứ bằng lòng với cách làm nghề nông truyền thống, “gia truyền” qua bao đời, thì nông dân mình vẫn còn nhiều gian khó, nông nghiệp vẫn bấp bênh như đi trên dây Như nhiều ngành nghề khác, nghề nông ngày càng đòi hỏi chiều sâu tri thức, liên tục cập nhật những tiện ích khoa học, kỹ thuật tiên tiến Hòa cùng xu
CâU CHUyỆN TRI THứC
Từ THửa ruộNg, Bờ ao
Tri thức hóa người dân nông thôn là đặt nền móng
vững chắc cho làng quê ngày mai, cho nền nông nghiệp
tương lai Nền móng đó còn quan trọng gấp nhiều lần
nền móng của những công trình hạ tầng.
Trang 11góC NHìN
vững chắc cho làng quê ngày mai, cho nền nông nghiệp tương lai Nền móng
đó còn quan trọng gấp nhiều lần nền móng của những công trình hạ tầng
Lan tỏa tri thức đến người nông dân bắt đầu từ việc hỗ trợ bà con tiếp cận các công cụ, thiết bị thông minh để công việc canh tác, sản xuất hàng ngày trở nên
“thông minh” hơn Phải trao đổi, hướng dẫn cho bà con làm quen với cách làm nông mới, không đợi đến khi “hết gạo chạy rong”, nghề nông mới được nhắc đến Lan toả tri thức đến người nông dân phải được tích hợp: kiến thức nghề nghiệp, kỹ năng nghề nghiệp và thái
độ nghề nghiệp Việc lan tỏa tri thức
phải được thực hiện đồng thời, đồng bộ với hoạt động khuyến nông, kết nối thị trường Muốn đạt được những mục tiêu sâu xa đó, các cơ sở đào tạo và đội ngũ những người tham gia phải nghĩ khác, làm khác Các giáo trình, chương trình dạy nghề cần bổ sung, cập nhật, điều chỉnh liên tục Cũng cần từ bỏ cách thức báo cáo thành tích về số lớp được mở, số người tham gia khóa học mà phải lượng hóa cho được bà con thay đổi nhận thức như thế nào, năng suất, thu nhập tăng thêm bao nhiêu… thông qua các lớp đào tạo Thật nặng lòng khi nghe cán bộ, công chức than phiền: nói mãi mà người nông dân không chịu thay đổi, cứ bám víu cách sản xuất truyền thống Có người dửng dưng: “Đó không phải là việc của tôi, tôi còn “bận trăm công ngàn việc” do cấp trên phân công” Thậm chí có người còn nói, hãy để bà con thất bại, rồi tự rút ra bài học cho mình Nói như vậy, mình có thoái thác trách nhiệm không, có thiếu
đi tính nhân văn không? Tôi cho rằng đó
là cách nói với bà con bằng giọng của
“quan” chứ không phải bằng giọng của người bạn, người đồng hành, và do vậy thiếu sự thấu cảm? Nói một lần, người dân chưa đồng thuận, sao mình không giải thích nhiều lần? Cách này, người dân chưa thông, sao mình không bày cách khác? Mỗi lần thiếu kiên nhẫn, tôi mong mọi người cùng nhớ đến tờ giấy học trò viết tay của anh nông dân, để
tự nhắc mình còn nhiều trách nhiệm và bổn phận!
Một việc nhỏ xíu như tờ giấy học trò viết tay mà ngẫm ra bao điều cần phải thay đổi Thay đổi trước hết từ trong bộ máy quản lý ngành nông nghiệp Thay đổi để không còn suy nghĩ kiểu thoái thác “đó không phải là việc của tôi” Khi muốn, người ta tìm giải pháp Khi không muốn, người ta viện lý do Đâu
có “cái khó” nào làm khó được những người gắn bó mật thiết với nông dân, luôn đau đáu về sự phát triển bền vững của nghiệp nông gia
trình xây dựng Nông thôn mới không
phải là diện mạo bên ngoài với những
tiêu chí được công nhận, mà là sức mạnh
tinh thần, chất lượng sống của người dân
nông thôn được nâng lên từng ngày Sức
mạnh đó đến từ tinh thần tự lực, tự chủ
trong xóm làng, tự quyết định cuộc sống,
quyết không trông chờ, ỷ lại Sức mạnh
đó đến từ tinh thần hợp tác: “mỗi người
vì mọi người, mọi người vị mỗi người”,
phát huy năng lực cá thể, hợp thành
năng lực cộng đồng
Năng lực của mỗi người đâu chỉ có ở
đôi tay cơ bắp, mà còn đến từ kiến thức,
kỹ năng, tri thức tích luỹ được Năng lực
của mỗi người đâu chỉ phản ánh qua giá
trị vật chất, của cải hiện có, mà còn thể
hiện qua sự chuẩn bị cho tương lai, là sự
kết tinh giá trị hữu hình và cả giá trị vô
hình, mà đôi khi, chính giá trị vô hình,
như thái độ sống và làm việc, mới quyết
định sự thành công bền vững “Người
nghèo, nghèo cái túi; người giàu, giàu
cái đầu”, tựa đề một cuốn sách gợi lên
nhiều suy ngẫm Như vậy, tri thức hóa
người dân nông thôn là đặt nền móng
Khi muốn, người ta tìm giải pháp Khi không muốn, người ta viện lý do Đâu có “cái khó” nào làm khó được những người gắn
bó mật thiết với nông dân, luôn đau đáu về sự phát triển bền vững của nghiệp nông gia.
Trang 1212 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)
Quy hoạch vùng trồng, những bài học kinh nghiệm
Cần nói rõ, xưa nay, việc quy
hoạch nông nghiệp của chúng
ta phần lớn chưa có tính hệ
thống và thiếu khoa học
Nhiều bất cập làm quy hoạch
bị phá vỡ
Điều dễ nhận thấy nhất là chuyện
quy hoạch trùng lắp giữa các vùng dẫn
đến tình trạng “được mùa mất giá” hoặc
nơi có nguyên liệu thì không có chỗ tiêu
thụ, nơi có nhà máy sản xuất thì không
có vùng nguyên liệu… Quy hoạch vùng
trồng mía những năm 90 của thế kỷ
trước là một ví dụ khi các tỉnh miền
Trung, miền Bắc, miền Tây Nam bộ gần
như tỉnh nào cũng có vùng trồng mía
theo quy hoạch nhưng nhà máy sản
xuất đường thì tỉnh có tỉnh không Hậu
quả là tới mùa, nơi thiếu mía để sản
xuất, nơi thì để mía trổ cờ ngoài đồng vì
không có nơi tiêu thụ
Quy hoạch thiếu khoa học cộng với
công tác dự báo yếu kém, thiếu chính
xác, thiếu tầm nhìn dài hạn khiến sản
phẩm do nông dân làm ra theo quy
hoạch không đáp ứng đúng nhu cầu thị
trường, khó tiêu thụ, thậm chí, không
tiêu thụ được Thực tế đó là nguyên
nhân khiến nông dân, thậm chí cả chính
quyền địa phương và doanh nghiệp,
không còn mặn mà với việc thực hiện
theo quy hoạch Nông dân phá bỏ quy
hoạch, tự phát sản xuất theo nhu cầu
hoặc lợi ích trước mắt ngày càng nhiều
như ở Tây Nguyên, chỉ vài năm sau khi
bùng nổ việc sản xuất tự phát, diện tích
Tô VăN TrườNg
Để năm 2030 sản xuất nông nghiệp Việt Nam có thể đứng trong số
15 nước phát triển nhất thế giới, cần nhìn lại bài học kinh nghiệm của quy hoạch vùng
– tiền đề cho phát triển nông nghiệp bền vững – để có những điều chỉnh hợp lý hơn.
gây tổn thất không nhỏ cho nông dân và cho xã hội Một thực tế khác cũng khiến quy hoạch dễ dàng bị phá vỡ, đó là việc các xung đột lợi ích khi tiến hành quy hoạch đã chưa được lưu ý đúng mức để
có cách giải quyết Quy hoạch vùng sản xuất lúa tập trung của Đồng bằng sông Hồng đã bị phá vỡ bởi sự hình thành của các khu công nghiệp là một ví dụ Theo quy hoạch, vùng sản xuất lúa tập trung là những vùng “thuận lợi về đất và nước cho sản xuất nông nghiệp” Những vùng như thế này hầu hết đều gần các khu dân cư tập trung Với các
CHuyêN Đề: Quy HoạCH VùNg TrồNg
hồ tiêu của riêng các tỉnh Tây Nguyên đã lên đến 93.000ha (cả nước là 150.000ha) trong khi diện tích hồ tiêu của cả nước theo quy hoạch vùng trồng tầm nhìn đến 2025 chỉ có 50.000ha!
Không tuân thủ quy hoạch, tự phát sản xuất theo kinh nghiệm hoặc lợi ích trước mắt vì nhiều lý do của nông dân, trong đó có nguyên nhân bắt nguồn từ quy hoạch thiếu hợp lý, đã đẩy sản xuất nông nghiệp đi xa hơn vào bế tắc khi tình trạng trồng - chặt, chặt - trồng liên tục xảy ra từ nơi này đến nơi khác và lặp
đi lặp lại từ năm này qua năm khác đã
Để quy hoạch thật sự hỗ trợ sản xuất, cần nâng cao chất lượng quy hoạch và dự báo thị trường trung và dài hạn Ảnh TLN
12 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)
Trang 13ý đến mối liên kết giữa các tỉnh trong cùng một vùng sinh thái nông nghiệp
mà chưa tính đến liên kết lớn hơn giữa các vùng để có thể hình thành mối liên kết chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ nông sản trên địa bàn cả nước Thử hình dung nếu có mối liên kết trong sản xuất lúa gạo giữa Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long thì việc thống nhất cơ cấu giống lúa đã có thể diễn ra, và gạo Việt Nam, nhờ thế,
có thể đã đồng nhất với chất lượng cao
và số lượng lớn đủ phục vụ trong nước cũng như xuất khẩu và từ đó, làm cơ sở cho việc xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam chất lượng cao trên thị trường thế giới chứ không phải chỉ dẫn đầu về số lượng còn chất lượng thì vẫn thua nhiều nước trong khu vực như hiện nay
Một số tồn tại khác trong công tác quy hoạch có thể nói thêm như quy hoạch sản xuất chưa đồng bộ với quy hoạch thủy lợi gây ra tranh chấp nước tưới; không gắn quy hoạch sản xuất với quy hoạch mạng lưới chế biến, logistics/
là mục tiêu kế tiếp chứ không phải là duy nhất Với mục tiêu kép như vậy, cần có chính sách bảo hiểm để nông dân trồng lúa có lợi nhuận đảm bảo như khi sản xuất các cây trồng khác, tương tự như cách mà Nhật Bản, Hàn Quốc đang làm với nông dân sản xuất lúa của họ
Ngoài lúa, các loại cây trồng khác chỉ
nên định hướng quy hoạch để nông dân hoặc địa phương biết lợi thế của từng loại, từ đó, tự quyết định việc sản xuất cho phù hợp; đồng thời, có chính sách hỗ trợ, động viên người sản xuất theo đúng quy hoạch của Nhà nước, chẳng hạn như được Nhà nước hỗ trợ một phần khi có rủi ro thị trường, thiên tai Với quy hoạch này, vai trò của các tổ chức xã hội như hội nông dân, hợp tác xã… là rất quan trọng
Để quy hoạch thật sự hỗ trợ sản xuất, cần nâng cao chất lượng quy hoạch và dự báo thị trường trung và dài hạn, đặt quy hoạch ngành hàng trong quy hoạch tổng thể, quy hoạch quốc gia hài hòa với quy hoạch vùng và nên bỏ quy hoạch theo tỉnh do các giới hạn về hành chính có thể khiến việc tích tụ đất đai hoặc tập trung sản xuất lớn gặp khó khăn Chú trọng việc quy hoạch sản xuất gắn với quy hoạch thị trường, chế biến và hạ tầng/logistics.Khi quy hoạch đã đảm bảo, rất cần các quy định chặt chẽ, cơ sở pháp lý rõ ràng để có thể chế tài kiên quyết các trường hợp dám phá vỡ quy hoạch Đồng thời, xây dựng cơ chế phù hợp, công bằng gắn với sự hỗ trợ đủ mạnh của Nhà nước cả về sản xuất, tiêu thụ nông sản và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp (như xây dựng vùng nguyên liệu, nhà máy chế biến sau thu hoạch…) nhằm gia tăng hiệu quả của chuỗi liên kết giá trị gia tăng từ tổ chức sản xuất đến tiêu thụ nông sản Việc qui tụ ruộng đất phải được đồng tâm thống nhất giữa nông dân, doanh nghiệp và chính quyền địa phương Qui
tụ không nên chỉ theo hình thức mua bán đất (để tránh đầu cơ đất) mà nên mở rộng, có thể theo hình thức góp cổ phần
để được chia cổ tức vào cuối vụ Các cơ quan chức năng cần thường xuyên rà soát quy hoạch để kịp thời điều chỉnh theo quy mô, cơ cấu sản xuất phù hợp với tình hình ở từng giai đoạn cũng như nhu cầu thị trường; sớm tổ chức lại
hệ thống thương mại nông sản, đặc biệt chú ý xây dựng thương hiệu gắn với chỉ dẫn địa lý của mỗi loại nông sản…
doanh nghiệp, những nơi gần khu dân
cư, thuận lợi về hạ tầng kỹ thuật như
giao thông, điện nước… cũng là nơi họ
muốn đặt nhà máy, cơ sở sản xuất nhằm
tiện cho việc phát triển Để có thể tạo
nguồn thu lớn cho ngân sách đồng thời
giải quyết nhanh công ăn việc làm cho
người dân địa phương, chính quyền các
nơi thường dành ưu tiên cho phát triển
công nghiệp thay vì nông nghiệp Và kết
quả, như chúng ta đã thấy!
Chưa tính hết mối liên kết toàn diện
trong quy hoạch lại là một thiếu sót
khác của quy hoạch vùng trồng trong
thời gian qua Trong quy hoạch vùng
trồng của Việt Nam nhiều năm trước,
có 8 vùng sinh thái nông nghiệp được
quy hoạch bao gồm vùng Tây Bắc, vùng
Đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc Trung
bộ, Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đông
Nam bộ và Tây Nam bộ Tám vùng sinh
thái nông nghiệp này dựa trên đặc
điểm tiểu khí hậu, địa hình, một số tính
chất thổ nhưỡng, môi trường sinh thái
tương đồng của các tỉnh trong cùng một
vùng Tuy nhiên, quy hoạch chỉ mới chú
CHuyêN Đề: Quy HoạCH VùNg TrồNg
Trang 1414 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)
CHuyêN Đề: Quy HoạCH VùNg TrồNg
Một trong những giải pháp
được xem là “chiếc đũa thần”
giải quyết triệt để tình trạng giải
cứu nông sản, đồng thời khai
thác tối đa lợi thế thổ nhưỡng,
khí hậu để nâng cao hiệu quả
sản xuất của người nông dân
chính là việc thực hiện trồng
trọt phải theo quy hoạch
Không chỉ trên bình diện cả
nước, từng địa phương thậm
chí từng ngành cũng có quy
hoạch cho riêng mình Tuy vậy,
tình trạng giải cứu nông sản,
điệp khúc “chặt - trồng, trồng
- chặt” như căn bệnh nan y
của nền nông nghiệp vẫn chưa
được chữa khỏi Vì sao như thế?
Dưới đây là ý kiến của một
số chuyên gia về vấn đề này
Sản xuất chưa căn cứ nhu cầu thị
trường là điểm yếu chung của nông dân hiện nay Điều đó thể hiện
cụ thể qua thói quen thấy người khác trồng cây gì, nuôi con gì hiệu quả là
rủ nhau làm theo mà ít chịu suy nghĩ một cách thấu đáo đến việc nuôi, trồng xong sẽ bán cho ai, bán ở đâu, bán như thế nào, càng không quan tâm đến quy hoạch cây trồng, vùng trồng của Nhà nước, dẫn đến phá vỡ quy hoạch vùng trồng Để khắc phục điều này, mỗi vùng, mỗi địa phương cần định hướng quy hoạch cụ thể và sâu rộng trong xã hội, kêu gọi nông dân tôn trọng và tuân thủ quy hoạch
vì đây là việc được tính toán trên cơ
sở khoa học giúp nông dân ổn định
và phát triển sản xuất Về phía Nhà nước, cần quan tâm kêu gọi liên kết sản xuất, hình thành các vùng sản xuất tập trung để có thể quản lý được sản lượng; khắc phục điểm yếu trong xây dựng liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân để đảm bảo cho việc tiêu thụ nông sản; gắn việc hình thành các vùng chuyên canh với chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư chế biến nông sản để tạo nguồn tiêu thụ ổn định, lâu dài tại chỗ cho nông dân trong vùng quy hoạch Một yếu tố khác cần lưu ý nữa là sớm có chính sách đầu tư khu bảo quản, kho trữ nguyên liệu cho chế biến để khắc phục tính chất thời vụ làm ảnh hưởng đến việc tiêu thụ nông sản
Đồng Nai hiện có nhiều vùng
chuyên canh trái cây đặc sản có
diện tích thuộc tốp đầu cả nước Bên
cạnh đó, chương trình hỗ trợ người
dân sản xuất theo quy trình an toàn
được quan tâm triển khai Đến nay,
toàn tỉnh có gần 1.200ha cây trồng
đạt chứng nhận GAP; 105 mã số vùng
trồng trên diện tích gần 22.000ha
với 6 loại cây trồng (chuối, mít, thanh
long, xoài, chôm chôm, chanh) và 41
mã số cơ sở đóng gói Tỉnh đã xây
dựng được 151 chuỗi liên kết sản xuất
và tiêu thụ; 17 dự án cánh đồng lớn
được phê duyệt
Xuyên suốt quá trình xây dựng
Nông thôn mới, Đồng Nai luôn tập
trung đầu tư mạnh về hạ tầng cho
các vùng nông thôn, nhất là đường
giao thông và điện sản xuất, góp
phần tạo điều kiện hình thành nhiều
vùng chuyên canh sản xuất cây công nghiệp, cây ăn trái… Trong đó, không chỉ các tuyến đường liên huyện, liên tỉnh mà các tuyến đường nhựa, đường bê tông nối về các xã, vào tận cánh đồng sản xuất cũng được chú trọng đầu tư, tạo nhiều thuận lợi cho nông dân, doanh nghiệp trong sản xuất
Thời gian tới, tỉnh sẽ tiếp tục đẩy mạnh đầu tư về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông và mở rộng chợ đầu mối nông sản thực phẩm Dầu Giây, cụm công nghiệp chế biến nông sản Long Giao, cụm công nghiệp Phú Túc Tỉnh cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách để thu hút doanh nghiệp đầu tư, xây dựng các chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ, chế biến để nông sản có đầu ra ngày càng bền vững
ÔNg PauL Le, PHó CHủ TịCH TậP ĐoàN CeNTraL reTaiL:
Không chủ động được thị trường
Việt Nam chưa thực hiện được quy hoạch
vùng trồng xuất phát từ thực tế nông sản Việt Nam chủ yếu xuất sang thị trường Trung Quốc và quá phụ thuộc vào thị trường này nên việc xuất khẩu luôn trong thế bị động Sản phẩm xuất đi Trung Quốc nhưng nông dân Việt Nam gần như không hiểu gì về thị trường này, cũng không phải là người chủ động bán mà thương nhân Trung Quốc mới
là người chủ động
Kỹ năng bán hàng là một trong những hạn chế lớn của nông dân Việt Nam Để khắc phục điều này, nông dân Việt Nam cần tìm hiểu kỹ nhu cầu của người tiêu dùng, của thị trường trước khi sản xuất và khi bán hàng, phải xác định rõ sản phẩm thế mạnh của mình là gì, ai cần nó Trong sản xuất, nông dân phải tính chuyện lâu dài và phải nhớ nằm lòng là sản phẩm phải an toàn, đừng nghĩ trồng cho thật nhiều, thật rẻ
Đảm bảo khâu tiêu thụ để giữ vững quy hoạch cây trồng, vùng trồng
Trang 15ÔNg NguyễN THaNH TruyềN,
giáM ĐốC Sở NN&PTNT LoNg aN:
Quan trọng nhất là
thay đổi được tư duy
Ngành nông nghiệp tỉnh Long An xác định
quy hoạch vùng trồng là nhiệm vụ rất quan
trọng của ngành vì vừa đảm bảo mục tiêu xây
dựng vùng hàng hóa tập trung, vừa giúp cho công
tác đầu tư đúng mục tiêu, tránh dàn trải
Trong thời gian qua, đối với từng cây trồng,
vật nuôi chủ lực của tỉnh, Long An có quy hoạch
đề án phát triển cụ thể như: Quy hoạch vùng lúa
chất lượng cao 40.000ha khu vực Đồng Tháp Mười
của tỉnh, Đề án phát triển cây chanh, thanh long,
tôm nước lợ Hiện nay, thực hiện Luật Quy hoạch,
Long An đang tích hợp các nội dung cụ thể vào Quy
hoạch kinh tế xã hội tỉnh đến năm 2030 và tầm
nhìn 2050 để định hướng phát triển Trước mắt
giai đoạn 2021 - 2025, Long An tiếp tục thực hiện
Chương trình ứng dụng công nghệ cao đối với cây
lúa, rau, thanh long, chanh, con bò thịt và con tôm
nước lợ để tạo ra những sản phẩm hàng hóa có lợi
thế cạnh tranh, đảm bảo an toàn thực phẩm, đáp
ứng tốt yêu cầu xuất khẩu hàng hóa sang các thị
trường khó tính và gắn với xây dựng thương hiệu
Từ kết quả thực hiện quy hoạch, chúng tôi nhận
thấy quan trọng nhất là phải thay đổi cho được
nhận thức của cả hệ thống chính trị và người dân,
vì điều đó sẽ giúp thay đổi tư duy từ sản xuất nông
nghiệp nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa tập trung,
ứng dụng công nghệ cao gắn với chuỗi giá trị
Kinh nghiệm thực hiện cũng chỉ ra rằng muốn
quy hoạch vùng sản xuất một cách khoa học cần dựa
vào các yếu tố lợi thế về đất đai, thổ nhưỡng, nhưng
phải đầu tư hạ tầng đồng bộ Công tác tổ chức, triển
khai thực hiện phải có trọng tâm, trọng điểm bám sát
yêu cầu đặt ra nhưng phải vận dụng linh hoạt trong
thực tiễn; tránh đầu tư dàn trải, tập trung phát triển
nông nghiệp theo chiều sâu gắn chặt chẽ với chế biến
và tiêu thụ sản phẩm Bên cạnh đó, chú trọng hỗ trợ
và tạo điều kiện cho Hợp tác xã, các doanh nghiệp sản
xuất đạt tiêu chuẩn chất lượng, mẫu mã Tăng cường
công tác quản lý, giám sát thực hiện quy hoạch để
đảm bảo phát triển ngành có định hướng, bền vững,
nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác
quy hoạch ngành nông nghiệp trên địa bàn; chỉ đạo
tổ chức thực hiện có hiệu quả các nội dung quy hoạch
phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương
CHuyêN Đề: Quy HoạCH VùNg TrồNg
BÌNh NguyêN - ThÙy DuNg ghi
ÔNg PHạM VăN TấN, PHó giáM ĐốC PHâN ViệN Cơ ĐiệN Và CÔNg NgHệ Sau THu HoạCH
Thiếu nhiều điều kiện hỗ trợ
Quy hoạch sản xuất nông nghiệp nói chung hay quy hoạch vùng
trồng nói riêng là việc làm rất cần thiết nhằm hạn chế cảnh “được mùa - mất giá”, “trồng - chặt, chặt - trồng” gây thiệt hại cho nông dân và tổn thất cho xã hội Bên cạnh đó, quy hoạch vùng trồng sẽ giúp việc đầu
tư khoa học, công nghệ và cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp thuận lợi, hiệu quả hơn Khó khăn hiện nay trong việc quy hoạch vùng trồng của Việt Nam là việc thiếu dữ liệu chính xác và đầy đủ về đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu, thời tiết, thủy lợi… cũng như thông tin các loại cây trồng; đặc biệt, thiếu nhiều thông tin và các dự báo về thị trường tiêu thụ cho các loại nông sản Mặt khác, sản xuất nông nghiệp của Việt Nam còn nhỏ lẻ, manh mún trong khi bảo hiểm nông nghiệp còn quá non yếu nên nông dân chưa mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực mới trong nuôi trồng theo quy hoạch
Những năm qua, An Giang
đã hình thành được nhiều vùng sản xuất chuyên canh quy
mô lớn như vùng trồng xoài tượng da xanh hơn 6.000ha (Chợ Mới), vùng trồng nếp Phú Tân hơn 20.000ha mỗi vụ, vùng nuôi cá tra tập trung khép kín ứng dụng công nghệ 600ha (Châu Phú)…
Hiện nay theo Luật Quy hoạch mới nhất, sẽ không có quy hoạch ngành chỉ có quy hoạch tổng thể của tỉnh Từ quy hoạch tổng thể, các ngành chuyên môn sẽ định hướng cụ thể để xây dựng và hình thành những vùng chuyên canh lớn Trong quá trình triển khai, công tác chỉ đạo điều hành và phối hợp giữa ngành và địa phương rất quan trọng, là yếu tố quyết định sự thành công của kế hoạch Ngoài ra, khâu duy trì tuyên truyền, vận động
và đưa những tiến bộ khoa học kỹ thuật đến với người dân là rất cần thiết Thời gian qua, tỉnh đã tổ chức tập huấn cho nông dân và cán bộ
cơ sở những kiến thức cần thiết trong sản xuất cũng như tiếp cận
thị trường Đồng thời, hỗ trợ cho người sản xuất, các trang trại ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, xây dựng được các mô hình mẫu Tuy nhiên, công tác quản lý vùng chuyên canh cũng gặp không
ít khó khăn do tập quán sản xuất đơn lẻ, chưa có sự gắn kết và tính đồng thuận cao trong việc hình thành vùng sản xuất tập trung theo mô hình kinh tế hợp tác Do
đó, việc thực hiện các quy trình
kỹ thuật sản xuất như VietGAP, GlobalGAP, SRP, hữu cơ… trên quy
mô lớn luôn là thách thức của ngành nông nghiệp Trong điều kiện hiện nay, đặc biệt việc ứng dụng công nghệ số đã được 2 Bộ trưởng Bộ NN&PTNT và Bộ Thông tin Truyền thông chỉ đạo tại Hội nghị trực tuyến về Chuyển đổi số trong nông nghiệp và phát triển nông thôn vào ngày 18/6/2021 sẽ
là khởi đầu cho cuộc cách mạng phát triển các vùng nguyên liệu quy mô, chất lượng, có kiểm soát; kết nối được với các thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước
ÔNg NguyễN Sĩ LâM,giáM ĐốC Sở NN&PTNT aN giaNg:
Sự phối hợp giữa ngành và địa phương là yếu tố quyết định
Trang 16quy hoạch sản xuất cây ăn trái
nhằm phục vụ tiêu thụ nội địa
và xuất khẩu Thực tế cho thấy
việc canh tác cây ăn trái mang
lại thu nhập cao hơn so với
trồng lúa; vì vậy nhiều nông dân
mạnh dạn hưởng ứng việc phát
triển vườn cây ăn trái…
Tăng nhanh về diện tích
Theo Bộ NN&PTNT, hiện nay cả nước
có khoảng 1,13 triệu hecta cây ăn trái,
riêng các tỉnh vùng ĐBSCL có 377.700ha,
chiếm 33,3% so với cả nước Cây ăn trái
ở ĐBSCL được trồng khá đa dạng, mùa
nào cũng có thu hoạch; trong đó, các đối
tượng cây trồng chủ lực như sầu riêng,
thanh long, xoài, chôm chôm, nhãn, bưởi,
cam, mít, chuối, chanh… được nông dân
đẩy mạnh đầu tư sản xuất và đã hình
thành một số vùng sản xuất tập trung,
qui mô lớn Điển hình như vùng trồng
thanh long tại Long An và Tiền Giang;
xoài tại Đồng Tháp, An Giang và Tiền
Giang; sầu riêng ở Tiền Giang, Bến Tre
và Vĩnh Long; nhãn ở Vĩnh Long, Đồng
Tháp và TP Cần Thơ; bưởi da xanh ở Bến
Tre, Sóc Trăng; bưởi năm roi ở Vĩnh Long;
quýt đường ở Đồng Tháp, Hậu Giang;
năm nay giá bưởi da xanh dao động từ 35.000 - 50.000 đồng/kg, có lúc vượt lên 55.000 đồng/kg Cùng với giá cao thì bưởi da xanh luôn hút hàng, thương lái tìm đến vườn để thu mua Chính điều này
mà 8 công bưởi da xanh của tôi đảm bảo thu nhập mỗi năm khoảng 1 tỷ đồng,
so ra cây lúa hoặc một số loại cây khác không bằng được” Ông Đặng Văn Nám, ngụ xã Kế Thành, huyện Kế Sách (Sóc Trăng) khoe: “Tôi trồng bưởi da xanh từ năm 2010 Đến năm thứ 5, 8 công vườn bưởi trái sai oằn, thương lái vào tận vườn mua với giá 40.000 - 60.000 đồng/kg Thấy bưởi da xanh rất hiệu quả nên tôi
mở rộng lên 32 công, cho thu nhập hơn
khóm (dứa) ở Tiền Giang, Hậu Giang và Kiên Giang; chôm chôm ở Bến Tre, Vĩnh Long; mít Thái ở Tiền Giang, Hậu Giang
Có thể thấy, diện tích cây ăn trái ở ĐBSCL tăng liên tục từ năm 2010 đến nay Nếu như năm 2010, diện tích cây
ăn trái toàn vùng là 287.300ha, thì đến năm nay là 377.700ha, tăng 90.400ha
Nhiều loại cây tăng mạnh về diện tích như thanh long, sầu riêng, khóm, xoài, chuối, bưởi, mít thái, chôm chôm…
chứng tỏ cây ăn trái đang là lợi thế để người dân chuyển đổi từ đất lúa kém hiệu quả sang cây trái
Ông Đào Văn Minh, ngụ xã Quới Sơn, huyện Châu Thành (Bến Tre) tiết lộ: “Mấy
Hướng dẫn chúng tôi tham quan vựa
mít Thái được xem là lớn nhất tỉnh Hậu
Giang, ông Nguyễn Thanh Tú, ngụ xã
Đông Phước A huyện Châu Thành - người đã có trên
20 năm mua bán mít Thái - bức xúc nói: “Có khi mới
chiều hôm trước mua 15.000 đồng/kg mít trái loại
1, 9.000 đồng/kg loại 2, gom được 20 tấn thì thương
lái báo vô giá rớt, thu vô mỗi loại giảm 5.000 đồng/
kg Lỗ trên 100 triệu trong tích tắc vậy đó ”
Theo ông Vi Văn Long ngụ tại thành phố Cần Thơ: “Hiện nay, việc tiêu thụ mít Thái phụ thuộc gần như hoàn toàn vào thị trường Trung Quốc Giá mua - bán mít tại vườn thì hoàn toàn do thương lái quyết định và chủ yếu mua bán bằng miệng, không
có giấy tờ hợp đồng gì nên đã xảy ra không ít vụ
“bỏ cọc chạy lấy người” mà thiệt hại luôn nghiêng
về phía nông dân Biết vậy nhưng phải chịu”
Việc mua bán bị chèn ép là vậy nhưng theo nhiều
ĐồNg BằNg SÔNg Cửu LoNg
Quy hoạch mở rộng vùng cây ăn trái
Quy hoạch và câu chuyện cây mít Thái
Nông dân thu hoạch mít Thái.
Diện tích cây ăn trái ở ĐBSCL liên tục tăng.
16 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)
Trang 17CHuyêN Đề: Quy HoạCH VùNg TrồNg
3 tỷ đồng mỗi năm; số tiền trong mơ đối
với người dân nông thôn”
Ông Phạm Thiện Nghĩa, Chủ tịch
UBND tỉnh Đồng Tháp cho hay, xoài là
một trong những cây ăn trái chủ lực của
ĐBSCL, chiếm khoảng 48% tổng diện
tích xoài cả nước Trong đó, tỉnh Đồng
Tháp hiện có diện tích trồng xoài khoảng
12.171ha, lớn nhất vùng ĐBSCL, với sản
lượng hàng năm gần 124.000 tấn Để
quy hoạch loại cây thế mạnh này, ngay từ
những năm 2005 - 2006, tỉnh Đồng Tháp
đã tập trung đầu tư nhiều nguồn lực cho
ngành hàng xoài từ việc đầu tư hạ tầng
kỹ thuật, hệ thống đê bao chống lũ, ứng
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào
sản xuất như cải tạo giống, xử lý ra hoa
rải vụ, áp dụng kỹ thuật bao trái đến việc
sản xuất xoài theo tiêu chuẩn thực hành
nông nghiệp tốt (GAP); công nghệ sau
thu hoạch đã từng bước được áp dụng;
ứng dụng công nghệ Blockchain trong
truy xuất nguồn gốc, xây dựng “Mô hình
cây xoài nhà tôi” bán hàng qua mạng
Từ đó, đã hình thành nên vùng nguyên
liệu xoài tập trung chủ yếu ở huyện Cao
Lãnh và TP Cao Lãnh Đồng Tháp đã lựa
chọn cây xoài là 1 trong 5 ngành hàng
thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông
nghiệp của tỉnh nhằm nâng cao giá trị
và tăng thu nhập cho người trồng xoài
Hướng tới mục tiêu bền vững
Quy hoạch phát triển nông nghiệp
bền vững ở vùng ĐBSCL thích ứng với biến
đổi khí hậu đến năm 2030, tầm nhìn 2045
nhà vườn ở Tây Nam bộ, so ra, vẫn chưa có loại cây
ăn trái nào lợi nhuận hấp dẫn như mít Thái Theo
họ, nhà vườn có thể thu lãi gần 100 triệu đồng trên một công đất (1.000m2) khi trúng giá, nên nếu làm bài toán so sánh đơn giản thì trồng mít có lãi nhiều hơn trồng lúa từ 8 đến 10 lần Hấp dẫn là vậy nên không khó hiểu khi cục diện bản đồ cây ăn trái vốn có của miền Tây Nam bộ đang biến động mạnh khiến quy hoạch cây trồng chung bị phá vỡ và các cơ quan chuyên môn hết sức lo lắng Tính đến tháng 5/2021, khu vực ĐBSCL có trên 40.000ha mít Thái đang thu
hoạch, nhiều nhất là tỉnh Đồng Tháp với trên 10.000ha; Hậu Giang xấp xỉ 5.800ha; An Giang với trên 3.500ha; Tiền Giang 3.200ha; Long An 1.200ha
Trước sự phát triển quá nhanh diện tích trồng cũng như sự bấp bênh trong khâu tiêu thụ của mít Thái, một
số nông dân đã chuyển sang một số cây ăn trái khác Ông Kim Sang, ngụ huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long cho biết: “Tôi đã đốn bỏ 1.000 gốc mít Thái để trồng vú sữa Lò Rèn và thanh nhãn Hy vọng sẽ khấm khá hơn” Câu chuyện trồng chặt - chặt trồng, có vẻ vẫn rất thời
sự với cây mít Thái!
xác định đến năm 2030, diện tích canh tác lúa toàn vùng ĐBSCL còn 1,6 triệu hecta (giảm khoảng 300.000ha, để chuyển sang trồng cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản) Diện tích trồng lúa khi đó mỗi năm còn khoảng 3,1 triệu hecta (giảm 1 triệu hecta do giảm diện tích canh tác và giảm tăng vụ); sản lượng lúa dự kiến giảm còn 17,3 triệu tấn/năm (giảm khoảng 6,3 triệu tấn) Việc giảm đất lúa nhằm đẩy mạnh phát triển cây ăn để phục vụ xuất khẩu, tăng thu nhập cho nông dân
Dự kiến đến 2030, sẽ mở rộng diện tích cây ăn trái tại ĐBSCL lên khoảng 650.000ha, ở các vùng chuyển đổi từ đất lúa kém hiệu quả do bị xâm nhập mặn, khu vực có địa hình cao Ngành nông nghiệp sẽ nghiên cứu và ứng dụng các loại giống cây trồng có năng suất, chất lượng cao và chống chịu tốt với biến đổi khí hậu; hỗ trợ nông dân các biện pháp canh tác bền vững, giảm chi phí; tăng cường liên kết giữa nông dân và các hợp tác xã với doanh nghiệp tiêu thụ Song song đó, đầu tư nâng cao công nghệ chế biến, bảo quản; hình thành các khu, cụm công nghiệp chế biến trái cây công nghệ cao gắn với vùng chuyên canh và các trung tâm dịch vụ hậu cần để kết nối
ra thị trường quốc tế Ngoài ra, tiến hành xây dựng vùng trồng, đảm bảo truy xuất nguồn gốc đáp ứng các yêu cầu mới của các thị trường nhập khẩu; thúc đẩy đàm phán mở cửa thị trường mới để tăng cường xuất khẩu…
Ông Lê Thanh Tùng, Phó Cục trưởng
Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT) cho rằng:
“Song hành cùng việc đầu tư nâng cao chất lượng cây trái thì ngành nông nghiệp đẩy mạnh hỗ trợ nông dân thực hiện việc rải vụ, nhằm tránh tình trạng thu hoạch đồng loạt dẫn tới rớt giá” Hiện nay, việc rải vụ trái cây đã được các tỉnh ĐBSCL quan tâm chỉ đạo, nông dân
có nhiều kinh nghiệm và áp dụng thành công quy trình kỹ thuật rải vụ Thống kê cho thấy, hiệu quả kinh tế của 5 loại cây được chọn để rải vụ gồm (thanh long, xoài, chôm chôm, sầu riêng, nhãn) tăng
từ 1,5 - 2 lần so sản xuất chính vụ Tuy nhiên việc mở rộng diện tích trồng cây ăn trái cũng bộc lộ những hạn chế như nhiều vườn có nguồn giống chất lượng thấp; trồng mật độ quá dày để khai thác tối đa quỹ đất; sử dụng phân bón và chất kích thích quá nhiều để nâng tối đa năng suất; sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá liều lượng, nồng độ để phòng trừ dịch hại… Nhưng đáng chú ý nhất là việc
tổ chức sản xuất chưa theo quy hoạch và định hướng của địa phương, còn mang tính tự phát Sự liên kết giữa sản xuất và thu mua để tiêu thụ sản phẩm còn lỏng lẻo, nên giá cả bấp bênh, chưa ổn định Vấn đề chuyển đổi cây trồng từ đất lúa sang trồng cây ăn quả đòi hỏi phải có vốn đầu tư lớn Trong khi đó các địa phương lại chưa hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch chuyển đổi gắn với thời vụ, vùng chuyển đổi, cây trồng, tiêu thụ sản phẩm Đây là những nhược điểm cần khắc phục trong thời gian tới
TrưƠNg ThaNh LiêM
Trang 1818 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)
THời Sự
CẨM hÀ
Tại cuộc họp báo do Tổng cục Thống kê tổ
chức đầu tháng 7 vừa qua, một phóng viên
thắc mắc: theo số liệu thống kê, mức chi
tiêu bình quân của hộ gia đình cho một thành viên
đang đi học trong 12 tháng là hơn 7 triệu đồng
(chưa tới 600.000 đồng/tháng) Mức này, theo anh,
quá thấp so với thực tế Khi được giải thích mới
hiểu, hóa ra đây là mức chi tiêu đã loại trừ hoàn
toàn chi phí ăn uống, sinh hoạt!
Tránh ngộ nhận
Cũng dễ gây hiểu nhầm như vậy, lượng tiêu thụ
rượu bia, theo cơ quan thống kê, bình quân đạt 1,3
lít/người/tháng trong cả năm 2020; thấp hơn đáng
kể so với số liệu của Bộ Y tế và Hiệp hội Bia - Rượu
- Nước giải khát Việt Nam
Nguyên nhân, như ông Phạm Hoài Nam, Vụ
trưởng Vụ Thống kê Dân số và Lao động (Tổng cục
Thống kê) giải thích, là do cơ quan này chỉ tính sản
lượng rượu bia mua về để sử dụng trong gia đình,
mà không tính đến lượng tiêu thụ ở các nhà hàng,
các dịp liên hoan, lễ tiệc ngoài gia đình Dễ thấy là
nếu ai đó không đọc kỹ và hiểu rõ cách tính toán
thống kê, họ rất có thể hồ nghi hoặc (tệ hơn) là
đưa ra những kết luận vội vàng, không chính xác
Một trong những “ngộ nhận” thường thấy nhất
liên quan đến tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Nếu
chỉ đơn thuần nhìn vào công bố “kinh tế Việt Nam
tăng trưởng GDP quý II ước đạt 6,61%, 6 tháng là
5,64%” thì có thể thấy khá an tâm, nhất là khi so với
tốc độ tăng trưởng 0,39% của quý II/2020 và 1,82%
của 6 tháng đầu năm 2020 Đầu tàu kinh tế của cả
nước - TP.HCM - vẫn đạt mức tăng trưởng 5,46%, cao
hơn nhiều so với mức tăng trưởng GRDP 1,02% của
cùng kỳ năm trước, bất chấp việc vừa phải trải qua
1 tháng thực hiện giãn cách xã hội (tính đến cuối
tháng 6/2021) Đà Nẵng đạt 4,9%, bật lên từ mức
tăng trưởng âm rất sâu của năm 2020 (-9,77%) Cần Thơ là 5,6%, Hà Nội là 5,91%, Hải Phòng lên tới 13,5%, Bình Dương là 7,23%, Đồng Nai là 5,74% Tuy nhiên, rất cần lưu ý rằng, tốc độ tăng trưởng này được so với nền tăng trưởng rất thấp của quý II
và 6 tháng đầu năm 2020 - thời điểm kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng nghiêm trọng của Covid-19 và các biện pháp phòng chống dịch được thắt chặt hơn nhiều so với cách làm linh hoạt hơn hiện nay.Thực tế, tốc độ tăng trưởng quý II và 6 tháng đầu năm đều thấp hơn so với kịch bản tăng trưởng được ban hành kèm theo Nghị quyết 01/NQ-CP, cũng như kịch bản được điều chỉnh trong quý I/2021 Các địa phương được coi là “trọng điểm tăng trưởng kinh tế” đều tăng trưởng thấp hơn tốc độ chung của cả nước, trong đó có TP.HCM, vốn đóng góp khoảng 22% GDP và từ 26,5% đến 27,5% ngân sách cả nước
Dữ liệu có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo sự thành công
cho mọi kế hoạch, quyết định hay định hướng chính sách hiểu sai
hoặc hiểu chưa đầy đủ dữ liệu sẽ dẫn tới các quyết định sai lầm
18 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)
Trang 19Có rất nhiều người trong độ tuổi lao động không
đi làm và không có thu nhập, nhưng không được coi là thất nghiệp, bởi khái niệm “thất nghiệp” bao gồm nhiều tiêu chí: không lao động và không chủ động tìm việc Một người giúp việc nhà trong thời
kỳ giãn cách xã hội bị mất việc, sẵn sàng làm việc nhưng không thể chủ động tìm việc (vì chị ấy không thể đi làm), thì vẫn không được tính là thất nghiệp
- chuyên gia này nêu một trong rất nhiều ví dụ Bên cạnh đó, chất lượng việc làm (tính bền vững, mức thu nhập hợp lý, điều kiện lao động…) cũng là những yếu tố không thể bỏ qua Tóm lại, không thể nói chung chung về “thất nghiệp” mà cần có sự phân nhóm rất cụ thể để thiết kế những chính sách riêng phù hợp nhằm cải thiện chất lượng của thị trường lao động, đảm bảo an sinh xã hội
Để đạt mục tiêu tăng trưởng 6,5%, trong hai quý cuối năm, tốc độ tăng trưởng GDP phải đạt con số 7,2%, nhưng theo ông Lê Trung Hiếu, Vụ trưởng Vụ
Hệ thống tài khoản quốc gia (Tổng cục Thống kê), đây là một nhiệm vụ hết sức khó khăn
Đó là chưa kể một số “điểm mờ” vẫn khiến một
số nhà kinh tế cảm thấy chưa được thuyết phục hoàn toàn Sau khi được Tổng cục Thống kê tiến hành đánh giá lại, điều chỉnh tăng 25%, GDP theo giá hiện hành ước tính đạt 9 triệu tỷ đồng năm
2021, mà chưa làm rõ được phần tăng này đến từ đâu, ngay cả khi tính theo phương pháp sản xuất (sản xuất cao lên 25%, thì phần cao lên đó được sử dụng vào đâu: tiêu dùng, tích lũy hay xuất khẩu)
Bên cạnh đó, với mức tăng này, chuỗi số liệu GDP đột nhiên “đứt gãy” vì khi điều chỉnh thì lẽ ra phải tính lại từ năm đầu tiên, nhưng cơ quan thống
kê quốc gia chưa làm việc này Khi nước Mỹ điều chỉnh hệ thống số liệu thống kê theo phương pháp SNA2008, họ phải tính lại toàn bộ chuỗi số từ năm
1930 đến nay…
Gộp chung vào một giỏ dễ sai lầm
Tương tự, việc nhận diện đúng thị trường lao động việc làm để từ đó đánh giá tác động và thiết
kế chính sách phù hợp cũng không dễ dàng nếu chỉ đọc lướt qua số liệu
Tháng 07/2021, Tổng cục Thống kê, trong một điều tra chuyên sâu về lao động việc làm dưới tác động của đại dịch Covid-19, cho biết, trong quý II/2021, lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm là 49,9 triệu người, giảm 65.000 người so với quý trước
và tăng gần 1,8 triệu người so với cùng kỳ năm trước
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động là gần 1,2 triệu người, tăng 87.100 người so với quý trước
và giảm 82.100 người so với cùng kỳ năm trước…
Một câu hỏi nảy sinh gần như ngay lập tức: Vì sao
số người có việc lại tăng bất chấp làn sóng Covid-19 thứ 4 - dữ dội nhất tại Việt Nam từ đầu dịch đến nay?
“Các biện pháp phòng chống dịch lần này đã thay đổi theo hướng khoanh vùng cách ly và nỗ lực duy trì sản xuất kinh doanh Nhưng cũng cần hiểu đúng rằng con số gần 1,8 triệu người có việc làm tăng thêm so với cùng kỳ năm trước không phải là thành quả đáng vui mừng Đó là mức tăng trên một nền so sánh thấp So với trạng thái cân bằng bình thường của nền kinh tế (thường tăng thêm khoảng 3,4 - 3,5 triệu việc làm/năm) thì điều này có nghĩa
là đã có khoảng 1,7 triệu người bị tước đi cơ hội lao
Theo Tổng cục Thống kê, trong quý II/2021, lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm tăng gần 1,8 triệu người so với cùng kỳ năm trước Ảnh: Công nhân làm việc tại một nhà máy chế biến trái cây.
Dữ liệu có ý nghĩa quan
trọng trong việc đảm
bảo sự thành công cho
mọi kế hoạch, quyết
định hay định hướng
chính sách
Trang 2020 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)
Không dựa trên một nghiên cứu cụ
thể có số liệu thống kê chính thức
nào, bài viết được tác giả tổng hợp
thông tin từ quá trình làm việc thực
tế tại các địa phương và tham khảo
tư liệu của các đồng nghiệp
Hợp tác xã (HTX) được coi là
nòng cốt phát triển kinh tế
hợp tác của Việt Nam trong
thời gian qua Mặc dù các nguyên tắc
hoạt động của HTX dựa trên tính tự chủ
- tự quản lý - tự chịu trách nhiệm trong
hoạt động nhưng bên cạnh đó, HTX còn
cần tới sự hỗ trợ từ bên ngoài mà các
chính sách hỗ trợ là một trong những
yếu tố quan trọng Vậy phương thức hỗ
trợ HTX hiện nay ra sao? Hiệu quả của
việc này thế nào?
Nhiều chính sách hỗ trợ HTX…
Tính đến thời điểm hiện tại, có rất
nhiều quy định của Nhà nước về các
chính sách hỗ trợ riêng cho lĩnh vực HTX
đang còn hiệu lực Có thể điểm qua vài
quy định cụ thể Điều 6 trong Luật HTX
2012 (từ khoản 1 tới khoản 4) quy định
rõ các hình thức hỗ trợ, ưu đãi của nhà
nước đối với HTX trong các lĩnh vực như
đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; xúc
tiến thương mại, mở rộng thị trường; ứng
dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ
mới; tiếp cận vốn và quỹ hỗ trợ phát triển
HTX; tạo điều kiện tham gia các chương
trình mục tiêu, chương trình phát triển
NguyễN TrọNg KháNh
(Liên đoàn HTX Raiffeisen
CHLB Đức – DGRV)
THay Đổi PHươNg THứC
Hỗ Trợ HợP TáC xã,
NêN KHÔNg?
Những bất cập khiến chính sách giảm hiệu quả
Sự thiếu nhất quán giữa các ban ngành khi thực hiện chính sách hỗ trợ trong lĩnh vực đào tạo, đặc biệt là về nội dung và tần suất đào tạo là một ví dụ Thiếu sự phối hợp, các đơn vị thực hiện việc hỗ trợ đào tạo theo kế hoạch riêng của từng đơn vị dẫn đến nội dung đào tạo bị trùng lặp, chồng chéo, gây lãng phí về nguồn lực mà hiệu quả và chất lượng đào tạo không cao Bên cạnh đó, mức hỗ trợ cho công tác đào tạo cho các HTX còn thấp, chỉ đủ để bồi dưỡng ngắn hạn thông qua hình thức tập huấn chứ chưa tổ chức thành hệ thống đào tạo chuyên sâu nên công tác đào tạo chưa đạt được kết quả như mong muốn.Một bất cập quan trọng khác là việc HTX khó tiếp cận nguồn vốn vay tín dụng
từ các ngân hàng thương mại dù đã có chính sách ưu đãi lãi suất cũng như hình thức cho vay đối với HTX Lý do của việc khó tiếp cận này là do các ngân hàng thương mại không có nguồn vốn riêng
để thực hiện chính sách hỗ trợ HTX theo quy định Trong khi đó, mức cho vay của các quỹ hỗ trợ phát triển HTX lại thấp,
kinh tế - xã hội; ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế khác theo quy định của pháp luật về thuế; ưu đãi
lệ phí đăng ký HTX/LH HTX theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí
Các nghị định, quyết định, các chương trình hỗ trợ theo khối ngành do Chính phủ ban hành (như Nghị định 193 NĐ-CP
về chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với HTX/LH HTX (chương VI); Quyết định
167 QĐ-TTg về triển khai đề án Lựa chọn, hoàn thiện, nhân rộng mô hình HTX kiểu mới giai đoạn 2021 - 2025; Quyết định
1804 QĐ/TTg về triển khai chương trình
Hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, HTX giai đoạn 2021 - 2025…) Các thông tư hướng dẫn của bộ, ngành liên quan mà trong
đó HTX là một trong các chủ thể hưởng lợi; các chương trình hỗ trợ riêng căn cứ theo quy định của pháp luật và các chính sách từ Chính phủ của các địa phương…
Trong thực tế, những chính sách hỗ trợ HTX cũng như kinh tế hợp tác của Nhà nước thời gian qua đã tác động hết sức tích cực đến hoạt động và sự phát triển của loại hình kinh tế này Tuy nhiên, qua quá trình thực thi, các chính sách hỗ trợ cũng bộc lộ những hạn chế nhất định
20 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)
Trang 21Ý KiẾN
trường hỗ trợ bình đẳng, thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh trong việc nâng cao năng lực tổ chức để đáp ứng nhu cầu phát triển chung
Đối với hệ thống xây dựng, triển khai chính sách, cần xây dựng hệ thống đánh giá hiệu quả hoạt động của HTX dựa trên bản chất của loại hình này để có những tiêu chí chính sách hỗ trợ phù hợp, hiệu quả Bên cạnh đó, nên cân nhắc tới việc thành lập nhóm làm việc bao gồm các
tổ chức chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các chuyên gia trong lĩnh vực phát triển HTX Nhóm làm việc này có thể thực hiện những nghiên cứu, khảo sát đánh giá nhu cầu, năng lực của các HTX để góp
ý xây dựng các chính sách, tiêu chí phù hợp Các nội dung của chính sách cần có hướng dẫn chi tiết về cơ quan thực hiện, các quy định cụ thể về tài chính, hướng dẫn chi tiết về các khoản mục có thể giải ngân nhằm đảm bảo các cơ quan thực hiện chính sách nắm rõ vai trò, cách thức triển khai mang lại hiệu quả tối đa cho các chính sách hỗ trợ và lợi ích cho chủ thể được hỗ trợ Hệ thống đào tạo khung
về HTX cho các chủ thể liên quan (cơ quan xây dựng chính sách, cơ quan thực hiện chính sách, các chủ thể tiếp nhận chính sách) cũng cần được tính đến để đảm bảo tính khả thi của chính sách.Sau cùng, nhưng cũng là điều quan trọng nhất, cần thay đổi cách nhìn nhận
về HTX theo đúng bản chất của nó HTX được sinh ra bởi thành viên, do thành viên làm chủ, phục vụ lợi ích của thành viên thông qua các hoạt động kinh doanh, vì vậy, tuy có những đặc trưng riêng (như quyền bỏ phiếu ngang nhau không phụ thuộc vào số vốn góp; khách hàng đầu tiên của HTX chính là thành viên; chia lãi theo mức độ sử dụng dịch vụ), còn lại, HTX hoạt động không khác
gì các loại hình doanh nghiệp khác Do vậy, cần thay đổi phương thức hỗ trợ để tạo sân chơi bình đẳng cho HTX, để HTX không bị coi là tổ chức của những người yếu thế, qua đó, thúc đẩy sự phát triển HTX một cách bền vững
sách hoặc lựa chọn sai chủ thể được hỗ trợ làm lãng phí nguồn lực và giảm tính hiệu quả của chính sách Một số chính sách còn thiên về hướng quản lý nhiều hơn là hỗ trợ Một điều quan trọng khác
là các HTX, tuy đã có những biến chuyển nhất định trong hoạt động nhưng những hạn chế như không đủ năng lực
về quản lý, vận hành; không đủ khả năng đối ứng; không có tài sản thế chấp; thiếu chủ động, tự chủ, tự quản lý, tự chịu trách nhiệm… vẫn còn Những hạn chế này trở thành rào cản khiến việc tiếp nhận chính sách của các HTX gặp không ít khó khăn
Cùng với quá trình thực hiện còn nhiều bất cập và một số quy định, chính sách chưa đáp ứng đúng nhu cầu thực
tế, những hạn chế tự thân của HTX cũng
đã “góp phần” khiến hiệu quả thực thi các chính sách hỗ trợ chưa được như mong muốn
Một số khuyến nghị về giải pháp
Từ những vấn đề nêu trên, cần nhìn nhận lại phương thức hỗ trợ cũng như quá trình xây dựng, triển khai chính sách
để có sự điều chỉnh phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả chính sách, đáp ứng đúng nhu cầu, nâng cao khả năng tự chủ của các HTX
Ở cấp độ quy định trong luật, liệu có cần quy định các hình thức hỗ trợ chi tiết như trong Luật HTX 2012 đang quy định không? Nếu có quy định thì nên quy định như thế nào để xây dựng được hành lang pháp lý vừa đảm bảo quyền lợi của HTX mà vẫn phát huy được tính
tự chủ, tự quản lý, tự chịu trách nhiệm để HTX có thể phát huy nội lực cũng như tận dụng được sự hỗ trợ?
Ở các nước phát triển, HTX được coi
là một loại hình doanh nghiệp, vì vậy, những quốc gia có xây dựng luật HTX không qui định về hình thức hỗ trợ cho loại hình này mà chỉ có những chính sách hỗ trợ chung cho khối kinh tế mà trong đó HTX là một thành phần Điều này tạo cho các HTX cũng như các thành phần khác trong một ngành có một môi
tiêu chí cho vay cũng chưa thực sự phù
hợp với nhu cầu của các HTX
Công tác giao đất, cho thuê đất đối
với HTX theo chính sách cũng tồn tại
nhiều vấn đề Một số quy định hiện
hành của Luật Đất đai 2013 về quyền sử
dụng, chuyển nhượng, nhận, cho tặng
đất nông nghiệp đang khiến quá trình
tích tụ đất sản xuất của HTX gặp khó
khăn Một số địa phương thì không còn
quỹ đất để thực hiện chính sách hỗ trợ
Thực tế cho thấy quá trình thực hiện
chính sách chưa được thông suốt phần
nhiều do các quy định hoặc hướng dẫn
thực hiện chưa rõ ràng, bộ máy thực hiện
chính sách còn chồng chéo, chưa được
phân công cụ thể Một số chính sách còn
tập trung nhiều vào chỉ tiêu phát triển số
lượng mà chưa tập trung vào nâng cao
chất lượng hoạt động của HTX, dẫn tới
việc nhiều HTX được thành lập vội vàng,
chưa được chuẩn bị kỹ về năng lực, chưa
xác định rõ được bản chất, vai trò và mô
hình kinh doanh nên khi đi vào hoạt
động khó phát triển
Ngoài ra, nhiều tiêu chí hỗ trợ được
đề ra chưa phù hợp dẫn tới việc người
thực thi hiểu không đúng nội hàm chính
Sơ chế rau tại HTX Nông Nghiệp Sản Xuất Thương Mại Dịch Vụ Phước Thịnh (Long An).
Trang 2222 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)
22 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)
Bắc Giang có hơn 28.000ha vải thiều,
trong đó có 15.500ha sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, 340ha theo tiêu chuẩn GlobalGAP Tổng sản lượng tiêu thụ vải thiều toàn tỉnh vụ năm nay đạt trên 215.000 tấn, tăng trên 50.000 tấn so với vụ năm 2020 Tiêu thụ tại thị trường nội địa đạt trên 126.000 tấn (58,6%) và xuất khẩu trên 89.000 tấn (41,4%) Giá bán bình quân cả vụ ước đạt 19.800 đồng/kg, giá xuất khẩu dao động từ 30.000 - 55.000 đồng/kg Riêng ở các nước Nhật Bản, Pháp, Đức, Hà Lan… giá bán ở mức rất cao, từ 350.000 - 450.000 đồng/kg Tổng doanh thu từ vải thiều và các dịch vụ phụ trợ của tỉnh Bắc Giang đạt trên 6.800 tỷ đồng
Chủ động, chính xác trong kế hoạch ứng phó
Năm nay, theo đánh giá của cơ quan chuyên môn và người dân, vải thiều được mùa hơn so với năm trước Trong khi đó, dịch Covid-19 lại diễn biến hết sức phức tạp ngay tại địa bàn Bắc Giang nên dự báo việc tiêu thụ sản phẩm vốn
đã khó sẽ càng thêm khó
Trước bối cảnh đó, chính quyền huyện Lục Ngạn - thủ phủ vải thiều - đã xây dựng 3 kịch bản cho việc tiêu thụ nông sản chủ lực này, trong
đó kịch bản đã được áp dụng là tiêu thụ 70%
trong nước (khoảng 130.000 tấn), 30% xuất
khẩu (khoảng 50.000 tấn) Phương án tiêu thụ vải ở thị trường trong nước sẽ gồm: kênh tiêu thụ trên sàn thương mại điện tử; các chợ đầu mối; các tập đoàn phân phối có hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại lớn; các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu; các chợ truyền thống, tiểu thương, xe cóc, điểm cân nhỏ; sản lượng vải loại 2, 3 chuyển chế biến sấy và chế biến khác Để chủ động ứng phó với tình huống xấu nhất là không bán hết vải thiều, huyện Lục Ngạn cũng hỗ trợ người dân xây dựng hơn nghìn lò sấy vải Đây được xem là phương án cuối cùng trong tiêu thụ vải thiều
Về phía tỉnh, nhận định dịch bệnh diễn biến phức tạp sẽ hạn chế việc xuất khẩu tiểu ngạch, thương nhân nước ngoài sẽ khó sang Việt Nam mua bán trực tiếp trong khi việc lưu thông hàng hóa giữa các tỉnh thành trong nước nhiều khả năng gặp khó do lệnh phong tỏa, giãn cách để phòng chống dịch của các địa phương, lãnh đạo tỉnh Bắc Giang ngay từ sớm đã có văn bản báo cáo Chính phủ và gửi các địa phương đề nghị tạo điều kiện cho vải thiều lưu thông bằng các
“luồng xanh” thuận lợi Tỉnh cũng chủ động lập hai tổ công tác hỗ trợ xuất khẩu vải thiều đóng chốt tại cửa khẩu các tỉnh Lào Cai, Lạng Sơn Hai
tổ này sẽ theo nắm thông tin, xử lý tại chỗ những khó khăn trong quá trình lưu thông qua cửa khẩu, hướng dẫn doanh nghiệp, thương nhân
Không còn là giải cứu!
THời Sự NÔNg NgHiệP
Tiêu thụ vải thiều giữa mùa dịch:
ĐôNg KháNh
Trang 23quy định chống dịch của từng địa phương trên đường vận chuyển
Một trong những nhiệm vụ quan trọng mà người dân Lục Ngạn tập trung làm là bảo vệ vùng vải thiều
an toàn Các chốt kiểm soát tiến hành giám sát chặt chẽ người ra vào, xét nghiệm Covid-19 nhanh các đối tượng như lái xe, thương nhân đến thu mua vải thiều… để kịp thời khoanh vùng, cách ly, ngăn chặn dịch bệnh Trong các thôn làng, suốt thời gian thu hoạch, các chủ hộ trồng vải tuân thủ hết sức nghiêm túc khuyến cáo 5K, “nhà nào ở yên nhà nấy” không giao thiệp, qua lại để phòng tránh dịch bệnh lây lan làm ảnh hưởng đến việc thu hoạch cũng như mua bán và chất lượng sản phẩm
Năm nay, hầu hết lao động ngoại tỉnh từ Lạng Sơn, Hải Dương, Thanh Hóa, Thái Nguyên… đều không đến Lục Ngạn vì Bắc Giang đang là tâm dịch, do vậy, nhân công thu hoạch khan hiếm Để khắc phục, huyện thông qua các đoàn thể như Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ và lực lượng vũ trang huy động hơn 2.800 thành viên thành lập 317 tổ, chuyên giúp chính quyền rà soát, thống kê các hộ trồng vải có nhu cầu về lao động
để bố trí nhân lực hỗ trợ bà con thu hoạch kịp thời
Đối với vải thiều xuất khẩu, địa phương yêu cầu các cơ sở thực hiện một cách nghiêm túc các quy định
về vệ sinh an toàn thực phẩm trong tất cả các khâu từ thu mua, đóng gói tới vận chuyển Các lô vải thiều Lục Ngạn, dù tiêu thụ trong nước hay xuất khẩu, đều có giấy chứng nhận
an toàn dịch bệnh Covid-19
Sự hỗ trợ hiệu quả
Thực tế những ngày qua, ngoài xuất khẩu thuận lợi, nhiều bộ ngành, đoàn thể, địa phương, doanh nghiệp trong nước đã chung tay hỗ trợ Bắc Giang tiêu thụ vải thiều
Trong nước, chính quyền tỉnh Bắc Giang từ sớm
đã kết nối với các tập đoàn phân phối, hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại như: Aeon, Central Retail,
MM Mega Market, Vincom, Lotte, Big C, Saigon Co.op, Fivimart và Citimart… nhằm đưa quả vải lên kênh phân phối này; trong đó Tập đoàn VinCommerce dự kiến thu mua 2.000 tấn vải phân phối trên trang thương mại điện tử và tại hệ thống hơn 2.500 cửa hàng, siêu thị VinMart, VinMart+ trên toàn quốc Tập
đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam cam kết tiêu thụ ít nhất 180 tấn vải thiều Lục Ngạn Các hãng hàng không như: Vietnam Airlines, Vietjet Air, Bamboo Airways và ngành đường sắt cũng đã tích cực hỗ trợ vận chuyển vải với giá ưu đãi Nhiều cá nhân, tổ chức trong nước cùng tham gia hỗ trợ tiêu thụ vải thiều Bắc Giang trên mạng Sàn thương mại điện tử Sendo còn quyết định giao mặt tiền trên Facebook và hướng dẫn nông dân livestream bán vải Tỉnh Đoàn Bắc Giang cắt cử cán bộ đoàn các cấp bám sát, hỗ trợ nông dân trong khâu thu hoạch, đóng gói, hướng dẫn cách thức thao tác trên các kênh bán hàng trực tuyến cho đến khi người dân sử dụng thành thục
Hiệu quả từ việc tận dụng công nghệ
Điểm mới đặc biệt trong việc tiêu thụ vải thiều năm nay của Bắc Giang là đẩy mạnh giao dịch thương mại điện tử, tăng cường kết nối trực tuyến trong điều kiện dịch Covid-19 diễn biến phức tạp Việc vải thiều được bán đồng loạt trên các sàn thương mại điện tử lớn ở Việt Nam (Sendo, Voso (Viettel Post), Tiki, Shopee, Postmart (VNpost), Lazada và Alibaba) được xem là bước đột phá trong việc tiêu thụ vải năm nay Để đảm bảo chất lượng vải, sau khi khách chốt đơn trên sàn, nông dân Bắc Giang dồn lực thu hoạch vải cho kịp, sau đó đóng thùng xốp, giữ lạnh đúng quy cách, dán tem truy xuất nguồn gốc và vận chuyển nhanh bằng mọi hình thức (xe lạnh, máy bay) về các địa phương Các đơn hàng tới tay người tiêu dùng trong vòng 2 - 3 ngày
Có thể nói đây là lần đầu tiên vải thiều Bắc Giang được tổ chức phân phối một cách bài bản và có hệ thống trên các sàn thương mại điện tử lớn Hoạt động này đã giúp vải thiều Bắc Giang tiếp cận với thị trường trong nước và quốc tế nhanh, rộng hơn, phù hợp với phương thức bán hàng thời kỳ công nghệ 4.0 và tình hình dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp
*
Phán đoán tình hình chính xác, chủ động, sáng tạo trong kế hoạch ứng phó, được cả nước chung sức hỗ trợ, mùa vải năm nay Bắc Giang không chỉ tiêu thụ sản phẩm rất tốt giữa lúc dịch bệnh đang hoành hành tại địa phương mà thông qua việc này còn rút được nhiều kinh nghiệm quý giá, đồng thời cung cấp cho nhiều địa phương khác những bài học thực tiễn về giải pháp tiêu thụ sản phẩm trong điều kiện địa phương bùng phát dịch bệnh
Sau khi chinh phục thị trường khó tính như Nhật Bản, australia, vải thiều Lục Ngạn đã chính thức được xuất khẩu chính ngạch vào
Eu, hưởng những ưu đãi từ hiệp định EVFTa Một số thị trường xuất khẩu mới của vải thiều Bắc giang như:
Campuchia, Lào, Thái Lan, Malaysia cũng cho thấy nhiều tín hiệu tích cực
Không còn là giải cứu!
Câu CHuyệN NÔNg NgHiệP
Vải thiều Lục Ngạn năm nay được đánh giá được mùa, và giá
cả tương đương với năm 2020
Trang 2424 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)
Câu CHuyệN NÔNg NgHiệP
Trồng mắc ca là mô hình còn khá mới tại tỉnh yên Bái Tuy nhiên, rất nhiều người dân nơi đây hào hứng với tiềm năng phát triển của loại cây này
ĐẶNg ThÙy
Hợp tác phát triển cây mắc ca
Mới đây, làm việc với Hiệp hội Mắc
ca Việt Nam, ông Nguyễn Thế Phước, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Yên Bái, đã nhất trí chủ trương phát triển cây mắc ca tại Yên Bái Cam kết sẽ đồng hành và tạo mọi điều kiện để Hiệp hội Mắc ca Việt Nam phát triển cây mắc
ca trên địa bàn tỉnh, ông Nguyễn Thế Phước đề nghị Hiệp hội Mắc ca Việt Nam tiếp tục phối hợp với địa phương khảo sát, xác định địa điểm, quy mô và diện tích trồng phù hợp với yêu cầu sinh thái của cây mắc ca để từ đó tỉnh xem xét, xác định diện tích trồng cây mắc ca phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế, xã hội của tỉnh Ông đề nghị Hiệp hội giới thiệu các dòng mắc ca phù hợp với từng tiểu vùng khí hậu của tỉnh cũng như hỗ trợ kỹ thuật trồng, chăm sóc cây cho người dân Đồng thời, kết nối các doanh nghiệp vào đầu tư xây dựng mô hình chuỗi giá trị trong việc phát triển cây mắc ca trên địa bàn
Ông Nguyễn Thế Phước cho biết sẽ
tổ chức thống kê, đánh giá kết quả sản xuất trồng mắc ca trong thời gian qua
Từ đó, tuyên truyền, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân thực hiện đúng kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và sơ chế hạt mắc ca theo quy định của Bộ NN&PTNT Tỉnh cũng sẽ tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp đầu tư nhằm tạo ra hình mẫu, làm nòng cốt trong phát triển cây mắc
ca trên địa bàn tỉnh
Đại diện Hiệp hội Mắc ca Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Lân Hùng, Phó Chủ tịch Hiệp hội, cho biết, Hiệp hội Mắc ca Việt Nam cam kết sẽ cung ứng giống và bao tiêu toàn bộ sản phẩm đầu ra cho bà con trồng mắc ca tại địa phương
Năm 2015, ông Đinh Văn Thành
(xã Gia Hội, huyện Văn Chấn,
tỉnh Yên Bái) mua 400 cây
giống mắc ca từ Đắk Lắk về trồng thử
nghiệm xen vào diện tích chè Shan của gia
đình Dù chỉ để cây mắc ca mọc tự nhiên,
nhưng đến năm 2020, với một số cây cho
bói, ông Thành đã thu được hơn 1 tạ quả
Tiềm năng mắc ca
Giống như gia đình ông Thành, những
năm qua, một số hộ ở huyện Văn Chấn
cũng đã thử nghiệm trồng cây mắc ca và
hầu hết cho kết quả khả quan Cây mắc
ca sinh trưởng tốt tại Yên Bái ngay cả
trong điều kiện thời tiết giá lạnh Nhận
thấy tiềm năng phát triển cây mắc ca
tại địa phương, năm 2020, Hiệp hội Mắc
ca Việt Nam đã hỗ trợ huyện Văn Chấn
trồng thử nghiệm 5ha mắc ca tại xã Gia
Hội Được trồng xen với chè Shan với mật
độ 150 cây/ha, sau hơn 6 tháng, cây mắc
ca đã sinh trưởng thêm 70 - 80cm
Từ những tín hiệu khả quan bước đầu,
năm 2021, huyện Văn Chấn chủ trương
mở rộng mô hình trồng mắc ca Theo
đó, huyện đã phê duyệt và triển khai đề
án trồng cây mắc ca xen chè tại 5 xã, thị trấn, gồm xã Gia Hội, Nậm Búng, Đồng Khê, thị trấn Sơn Thịnh và thị trấn Nông trường Trần Phú Mục tiêu đến năm 2025
sẽ trồng trên 400ha cây mắc ca xen chè
Theo Sở NN&PTNT tỉnh Yên Bái, hiện toàn tỉnh có 56,66ha cây mắc ca, trong
đó, có 51,66ha trồng tập trung, 5ha trồng xen canh với chè Do mới trồng nên sản lượng thu hoạch còn ít Tuy nhiên, kết quả bước đầu cũng cho thấy hiệu quả kinh tế khá cao Sau khi khảo sát, Hiệp hội Mắc ca Việt Nam cũng đánh giá Yên Bái là tỉnh có điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng thích hợp để trồng cây mắc ca, đặc biệt là tại các huyện Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải
Triển vọng từ mô hình trồng mắc ca tại yên Bái
Lãnh đạo UBND tỉnh Yên Bái và Hiệp hội Mắc ca Việt Nam ký kết biên bản ghi nhớ về việc
hợp tác phát triển cây mắc ca trên địa bàn tỉnh Yên Bái giai đoạn 2021 - 2025.
UBND tỉnh Yên Bái đã giao Chi cục Kiểm lâm tỉnh thực hiện đề tài khoa học “Thử nghiệm trồng cây mắc ca tại các huyện phía Tây của tỉnh Yên Bái” để đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số loài cây mắc ca với 2 phương thức là trồng thuần loài và trồng xen kẽ
Cụ thể, tổ chức triển khai tại 3 huyện Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải trên diện tích 12ha, trong đó, 8ha trồng thuần loài và 4ha trồng xen chè
Trang 25TiN TổNg Hội NN&PTNT
ThẢo Vi
Chuyển giao tiến bộ về nông nghiệp, nông thôn và Giám định chất lượng nông sản, vật tư nông nghiệp Tuy mới được thành lập nhưng các đơn vị này đã hoàn thành việc xây dựng kế hoạch hoạt động
Lãnh đạo Tổng hội đã chủ động tham gia đóng góp ý kiến với Trung ương chuẩn bị tổng kết Nghị quyết 26/TW
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
tham gia và đóng góp những ý kiến thiết thực cho 3 hội thảo do Bộ NN&PTNT và VCCI tổ chức Ngoài ra, Ban Khoa học và Công nghệ của Tổng hội đã phối hợp với Viện Nghiên cứu văn hóa triển khai nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động văn hóa trong Xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2021 -
Theo báo cáo của Tổng hội
NN&PTNT VN (Tổng hội), trong
6 tháng đầu năm 2021, đại
dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã
ảnh hưởng nặng nề tới tình hình kinh
tế - xã hội của cả nước nói chung và các
hoạt động của Tổng hội nói riêng Tuy
nhiên, với sự chỉ đạo của Thường trực,
Ban Thường vụ và nỗ lực của Văn phòng,
các Ban tham mưu, các đơn vị trực thuộc,
Tổng hội đã đạt được những kết quả
nhất định
Về công tác tổ chức, Tổng hội đã kết
nạp thêm 1 hội viên mới là Hội NN&PTNT
tỉnh Nghệ An; thành lập mới Trung tâm
Xúc tiến tiến thương mại và Phát triển
nguồn nhân lực; ra mắt Trung tâm
Tổng hội NN&PTNT Việt Nam
đẩy mạnh các hoạt động
xúc tiến thương mại
Trước tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, bà Đỗ
Thị Kim Liên (Shark Liên) đã có nhiều hoạt động hỗ trợ những
người có hoàn cảnh khó khăn trong đại dịch
Theo đó, bà Đỗ thị Kim Liên đã dành 500 triệu đồng triển khai
Chương trình “Gói tình Shark Liên - gửi nghĩa đồng bào” Số tiền
này sẽ dùng để mua sản phẩm, hàng hoá thiết yếu dành tặng
những người dân nghèo có hoàn cảnh khó khăn, gia đình chính
sách, gia đình thương binh liệt sỹ Ngoài ra, Shark Liên sẽ tặng
10.000 thẻ bảo hiểm cho người nghèo Cụ thể, các trường hợp
bệnh nhân tử vong do Covid -19 có gia cảnh khó khăn, không đủ
điều kiện lo hậu sự sẽ được nhận hỗ trợ toàn bộ chi phí mai táng Nhằm giúp những bạn trẻ lập nghiệp bị ảnh hưởng bởi đại dịch, Shark Liên chủ trương mua ủng hộ sản phẩm của các đơn vị khởi nghiệp để làm quà tặng người nghèo với mong muốn mang đến cho các bạn trẻ mới lập nghiệp một cơ hội được đưa các sản phẩm tâm đắc của mình vào những gói quà tình nghĩa
Hưởng ứng lời kêu gọi “1000 suất ăn miễn phí/ngày hỗ trợ cho cán bộ trong các đội Truy vết COVID” của Hội Doanh Nhân Trẻ Việt Nam, bà Đỗ Thị Kim Liên đã gửi tới Hội 100 triệu đồng, đồng thời, đứng ra kêu gọi cộng đồng chung tay đóng góp TAM DIỆP
SHarK LiêN TặNg 10.000 THẻ Bảo HiểM CHo Người NgHèo
2025” Ban Xúc tiến thương mại và Kết nối doanh nghiệp cũng phối hợp với Trung tâm Xúc tiến thương mại nông nghiệp Bộ NN&PTTN tổ chức 3 chương trình Bác sĩ nông học An Giang và Đồng Tháp; tổ chức thành công 2 hội nghị kết nối trực tuyến cho vải thiều huyện Lục Ngạn (tỉnh Bắc Giang) và mận Tam Hoa (tỉnh Lào Cai)
Bên cạnh đó, các thành viên, hội viên
và đơn vị trực thuộc Tổng hội tiếp tục tham gia tích cực các hoạt động an sinh
xã hội như: Chương trình Cầu Nông thôn
- Tạp chí Nông thôn Việt, ủng hộ quỹ xin phòng chống Covid-19, phối hợp với
vắc-Bộ Tư lệnh vắc-Bộ đội biên phòng chuẩn bị phát động chương trình thiện nguyện mang tên Nghĩa tình biên giới…Tại cuộc họp, các đại biểu đã thảo luận và đóng góp ý kiến để thống nhất nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới
Cụ thể, tiếp tục đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Thường trực, Ban Thường vụ cho phù hợp với tình hình và diễn biến của đại dịch Covid-19; lên kế hoạch tổ chức một số buổi làm việc của Ban Thường vụ Tổng hội với lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và các bộ, ngành, hiệp hội; thực hiện chương trình bình chọn Thương hiệu Vàng nông nghiệp Việt Nam lần thứ 7 năm 2021 Song song
đó, xây dựng kế hoạch cụ thể để Tổng hội tích cực tham gia vào kế hoạch tái
cơ cấu lại ngành nông nghiệp, tham gia xây dựng các chủ trương chính sách lớn thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng…
Chiều 8/7/2021, Thường trực Tổng hội họp đánh giá kết quả hoạt động 6 tháng đầu năm và
đề ra nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2021.
Trang 2626 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)
NÔNg THÔN Mới
Trong phát triển kinh tế nông nghiệp, du lịch nông thôn được xem là
“con gà đẻ trứng vàng” Thế nhưng làm thế nào để hoạt động du lịch nông thôn
phát huy hiệu quả vẫn là câu hỏi cần giải đáp thấu đáo.
NguyỆT áNh – BaN DuNg
rất quan tâm đến các giải pháp nhằm tạo thêm các giá trị gia tăng cho sản phẩm nông nghiệp, phát huy tiềm năng
du lịch nông thôn và từ đó tạo thành chuỗi giá trị hiệu quả trong kinh tế nông nghiệp Cũng do vậy nên trong bộ tiêu chí đánh giá các sản phẩm của Chương trình Mỗi xã một sản phẩm, có tiêu chí đánh giá nhóm sản phẩm dịch vụ du lịch cộng đồng và điểm du lịch Các tiêu chí này nhằm hướng đến việc xây dựng một điểm đến du lịch chất lượng, độc đáo, phát huy được sức mạnh cộng đồng nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội, góp phần phát triển xây dựng nông thôn mới tại địa phương Bộ NN&PTNT cũng đã phê duyệt và bắt đầu triển khai dự án chỉ đạo điểm hỗ trợ đối với 10 làng văn hóa -
du lịch cộng đồng gắn với Chương trình xây dựng Nông thôn mới tại một số địa phương, nhằm phát triển mô hình kiểu mẫu, nhân rộng tới các địa phương khác
Tiềm năng lớn
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWOT),
du lịch nông thôn có 3 loại hình chính
là du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp
và du lịch di sản Trong đó, du lịch sinh
thái chủ yếu dựa vào tự nhiên thông qua
các hoạt động tham quan với mục đích
thưởng ngoạn phong cảnh, tìm hiểu về
động thực vật hoang dã ở địa phương; du
lịch nông nghiệp tập trung vào các hoạt
động tham quan nông trại trồng trọt,
chăn nuôi, tham gia các khóa học làm
vườn hoặc chế biến nông sản, các triển
lãm nông nghiệp, lễ hội văn hóa với mục
đích trải nghiệm và học hỏi; du lịch di sản
khai thác giá trị văn hóa hệ thống di sản
nông thôn bao gồm các đền chùa, tượng
đài, di tích lịch sử, nghệ thuật, các điểm
khảo cổ… Dựa theo cách phân loại của
UNWOT, Việt Nam được đánh giá là có
tiềm năng lớn để phát triển loại hình du
lịch nông thôn, nhất là sau 10 năm triển
khai Chương trình xây dựng Nông thôn mới, bộ mặt nông thôn Việt Nam đã có nhiều thay đổi tích cực, môi trường được cải thiện Bên cạnh đó, với Chương trình Mỗi xã một sản phẩm cũng như phong trào khởi nghiệp đang phát triển rầm rộ tại các địa phương, việc khai thác các giá trị văn hóa truyền thống, sinh thái nông nghiệp đã góp phần giúp các sản phẩm
du lịch nông thôn ngày càng phổ biến và
đa dạng Không chỉ thu hút du khách nội địa, du khách quốc tế cũng vô cùng thích thú với các tour du lịch có gắn với nông nghiệp và nông thôn Sự gắn kết giữa sản xuất nông nghiệp đơn thuần với du lịch tham quan, trải nghiệm các quy trình sản xuất hàng hóa cũng đã mở ra hướng kinh doanh mới, tăng thêm nguồn thu cho nông dân
Ông Nguyễn Minh Tiến, Cục trưởng - Chánh Văn phòng Điều phối Nông thôn mới Trung ương, cho biết Bộ NN&PTNT
Phát triển du lịch nông thôn,
làm gì để bền vững?
Du khách nước ngoài trải nghiệm hoạt động sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam.
Trang 27TP.HCM, lưu ý làng nghề và du lịch nông thôn là hai thành tố có thể bổ sung cho nhau để cùng phát triển Phải làm thế nào để làng nghề là một điểm nhấn của
du lịch nông thôn, thỏa mãn được nhu cầu rất lớn của du khách trong việc tìm hiểu, trải nghiệm văn hóa ở nông thôn
Khi gắn du lịch với làng nghề, chúng ta cũng có thể mở rộng thêm các vấn đề liên quan đến trách nhiệm: trách nhiệm với nghề truyền thống, trách nhiệm với việc bảo tồn tài nguyên văn hóa ở nông thôn Khai thác làng nghề để làm du lịch không những giúp đa dạng sản phẩm
du lịch mà còn góp phần duy trì, phát triển làng nghề
Việc áp dụng khoa học công nghệ trong các hoạt động du lịch cộng đồng nhằm tối ưu hoá phát triển du lịch như xây dựng phần mềm quản lý điểm đến;
ứng dụng kết nối các điểm du lịch với các điểm homestay, đặt phòng, đặt tour trực tuyến; tham quan thực tế ảo 3D… cũng đã được lưu ý trong thời gian vừa qua Điều đáng băn khoăn là hầu hết mang tính tự phát, chưa đảm bảo tính hệ thống nên trên bình diện cả nước vẫn chưa phát huy được tác dụng Để có dữ liệu tốt cho du lịch nông thôn nói chung, nhiều chuyên gia cho rằng cần phải có một nhạc trưởng thực sự quyền năng thì mới có thể giải
Làm thế nào?
Theo số liệu của Tổng cục Du lịch, cả
nước hiện có khoảng 400 điểm phục vụ
cho du lịch nông nghiệp, nông thôn Tuy
nhiên, theo TS Ngô Thị Thu Trang, Phó
Giám đốc Trung tâm Phát Triển Nông
thôn - Saemaul Undong, chưa có nhiều
sản phẩm du lịch nông thôn thực sự độc
đáo để hấp dẫn du khách “Đang có sự
trùng lặp ở nhiều địa phương Ví dụ đi du
lịch vùng Tây Nam bộ ở đâu cũng thấy bắt
cá, chèo xuồng, dù mỗi địa phương đều
có những giá trị đặc thù riêng Điển hình
như Bến Tre có làng văn hóa du lịch Chợ
Lách với thế mạnh về hoa, cây kiểng; An
Giang có làng văn hóa dân tộc Chăm với rất
nhiều sản phẩm nông nghiệp đặc thù của
tộc người này”, TS Ngô Thị Thu Trang chia
sẻ Theo bà, các địa phương cần chú trọng
khai thác tính đặc thù của vùng miền và
tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo
Khi triển khai Chương trình Mỗi làng
một sản phẩm, các địa phương đã có chú
ý đến việc khôi phục, bảo tồn các làng
nghề Đây là hướng đi đúng Nhưng nhìn
chung, sự kết hợp này vẫn còn thiếu sự
kết dính cần thiết, vì thế chỉ cần có một
tác động nhỏ là mối liên kết này bị đứt
gãy TS Ngô Thanh Loan, nguyên Trưởng
Bộ môn Du lịch Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia
quyết được căn cơ vấn đề này
Qua khảo sát tình hình thực tế tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, PGS.TS Ngô Thị Phương Lan, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP.HCM, cũng nhận định rằng mối liên kết giữa các chủ thể tham gia chuỗi giá trị du lịch nông thôn hiện còn khá lỏng lẻo Nhiều doanh nghiệp lữ hành liên kết với người dân để cung cấp sản phẩm, dịch vụ du lịch nông nghiệp chỉ bằng giao ước miệng, nên ẩn chứa nhiều rủi ro Theo bà, các chủ thể bao gồm chính quyền địa phương, doanh nghiệp
lữ hành, người dân, đơn vị nghiên cứu… đều có vai trò quan trọng khác nhau, do vậy, sự liên kết, phối hợp chặt chẽ, quy
củ thì việc vận hành chuỗi giá trị du lịch nông nghiệp mới đạt hiệu quả cao, đem lại lợi ích tốt nhất cho tất cả các bên.PGS.TS Phạm Trung Lương - Phó Viện trưởng Viện Môi trường và Phát triển bền vững, thì cho rằng cộng đồng là yếu tố cực kỳ quan trọng cho phát triển du lịch nông thôn nhưng năng lực của cộng đồng hiện nay đang rất yếu Vì vậy, cần hướng dẫn cách làm du lịch cho người dân tại địa phương song song với nâng cao năng lực quản lý của nhà nước về du lịch Các điểm đến du lịch nông thôn phải được quy hoạch để các doanh nghiệp lữ hành có cơ
sở để đầu tư Khi quy hoạch, cần phải hiểu
du lịch nông thôn là khai thác giá trị điển hình của vùng nông thôn để phát triển các sản phẩm du lịch Đây cũng là cách để nhận diện nhu cầu đích thực của khách du lịch khi đến vùng nông thôn
Để con gà “du lịch nông thôn” đẻ được trứng vàng, còn cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành có liên quan, trong đó ít nhất là giữa hai ngành nông nghiệp và du lịch Thiếu một quy hoạch tổng thể thì mơ ước phát triển bền vững du lịch nông thôn sẽ khó thành hiện thực!
NÔNg THÔN Mới
TRANG THÔNG TIN NÀY CÓ SỰ PHỐI HỢP CỦA VĂN PHÒNG ĐIỀU PHỐI NÔNG THÔN MỚI TRUNG ƯƠNG
Hồ Tà Đùng nhìn từ một homestay tại xã Đắk Som, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.
Trang 2828 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)
Vốn sinh ra và lớn lên giữa thiên nhiên nên dù phát triển đến đâu, trong sâu thẳm mỗi con người, thiên nhiên vẫn là máu thịt Các nước tiên tiến, sau thời gian cuồng phát triển công nghiệp, đang tìm cách phục hồi thiên nhiên với giá đắt gấp bội.
NguyễN VăN MỸ
Việt Nam không thiếu tài nguyên du lịch Tiếc
là nhiều địa phương chưa nhìn ra Phổ biến
là chưa biết cách khai thác, tận dụng Một
phần do thiếu toàn tâm toàn ý vì tư duy nhiệm kỳ
Nhưng cũng có tự tin quá lố và cả tự ti thái quá
Người Việt ở quê, chỗ nào cũng chân tình, cởi mở,
hiếu khách với nụ cười đôn hậu Đây là nguồn tài
nguyên nhân văn du lịch vô giá, cần phải được giữ gìn
Người quê thích ở nhà xây Người phố thiếu không
gian, khát cây xanh và nhiều thứ tự nhiên khác, chỉ
nông thôn mới đáp ứng được Tiếc là lâu nay, du lịch
chưa thật sự kết nối được với nông thôn, nông nghiệp
Làm du lịch nông thôn, dễ mà khó!
Dù chưa có liên kết chặt chẽ nhưng vẫn xuất hiện
những mô hình du lịch nông nghiệp, nông thôn hiệu
quả và ấn tượng Làng rau Trà Quế (Quảng Nam) lúc
nào cũng nườm nượp khách Đường quốc lộ đến Trà
Quế có lối đi riêng cho du khách đi xe đạp Bản Sìn
Suối Hồ (người H’Mông, Lai Châu) sạch đẹp như vườn
địa đàng sót lại ở hạ giới, bản cách biên giới Việt Nam
- Trung Quốc chưa tới 2km, số chỗ lưu trú bằng 1/4
dân bản Bản Thái Hải (người Tày, Thái Nguyên) là nơi
dân bản tự hào vì “sống chung bản, làm chung việc,
ăn chung nhà, xài chung tiền” Mọi người đùm bọc,
thương yêu, chăm sóc nhau như đại gia đình Cụm
du lịch cộng đồng Mai Hịch (người Thái, Hòa Bình) với
NÔNg THÔN Mới
Cảnh quan tại Khu du lịch Xóm Ải (Hòa Bình).
Lễ hội đua bò tại vùng nông thôn Bảy Núi (An Giang).
Trang 29NÔNg THÔN Mới
thống” bởi du lịch, đâu cứ phải ra nước ngoài hay đi
xa Bớt dịch là nên tổ chức ngay du lịch trong tỉnh Vừa tốn ít thời gian, chi phí thấp, vừa trải nghiệm để yêu quê mình hơn và rủ khách tới Làm family tour, thuê xe hoặc tự lái xe gia đình, đi xe buýt 2 tầng Hop
On Hop Off ở TP.HCM, Hà Nội, Hội An Có thể đi xe gắn máy, xe đạp… khám phá quê mình
Thành lập bộ phận chỉ đạo phối hợp giữa Văn phòng Điều phối Nông thôn mới và Tổng cục Du lịch để phát triển du lịch bền vững Du lịch gắn nông nghiệp và nông thôn để bảo tồn kiến trúc, làng nghề, tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt hạn chế đô thị hóa kệch cỡm Tổ chức các cuộc thi “Đường làng đẹp nhất”,
“Vườn nhà xinh nhất”, “Điểm check-in độc đáo nhất”,
“Homestay sáng tạo nhất”, “Làng, bản du lịch cộng đồng hiệu quả nhất”… từ địa phương ra toàn quốc tạo hiệu ứng và kích cầu du lịch Lựa chọn các nhà tư vấn thực tiễn, có mô hình hiệu quả, dám đồng hành
và bảo hành dự án Thí điểm xây dựng du lịch cộng đồng, từng bước mở rộng
Cần câu quan trọng hơn con cá Thay vì cho vài chục triệu, tặng máy lạnh, nhà vệ sinh thì tặng lãi suất hoặc cho vay ưu đãi đầu tư Làm cho mình, để kiếm tiền chứ không phải để báo cáo, đăng báo, kiểu phong trào Bài toán kinh tế, hiệu quả và bền vững là
ưu tiên số 1 Quy hoạch phát triển từng vùng, tránh kiểu làm du lịch “sinh sản vô tính”, lạm dụng các thuật ngữ, đua nhau làm homestay, farmstay cung vượt quá cầu, phát triển ồ ạt như Bản Lác (Hòa Bình)
và một số nơi khác
Nhiều mô hình du lịch cộng đồng đã góp phần thay đổi diện mạo bản làng Từ tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập, nộp ngân sách cho đến đẩy lùi các tệ nạn “Muốn bớt cỏ dại, phải trồng thêm hoa”
hàng chục homestay, biến bản nghèo thành điểm
sáng Nông thôn mới Ấp Cồn Chim (Trà Vinh), làng
quê Nam bộ hiền hòa, toàn nhà lá, mà khách tứ xứ
mê mệt Ấp Cồn Sơn (Cần Thơ) nức tiếng gần xa bởi cá
tràu biết bay, làm xiếc và bốn mùa sum suê cây trái…
Nét chung của các điểm đến này là thuận thiên
với 4 không: “không hóa chất độc hại”, “không tận
diệt sản vật”,“không karaoke”, “không tệ nạn” (ma
túy, mại dâm, rượu chè, cờ bạc)
Thực tế đã chứng minh những mô hình sáng tạo
nhất là của nông dân, chứ không phải các nhà tư vấn
Bản Sìn Suối Hồ, bản Thái Hải và nhiều homestay thiết
kế độc đáo, các chuyên gia chỉ góp ý thêm về nghiệp
vụ Chỉ sắp xếp lại một chút là các vườn nho Hồng Ngự,
vườn chà là Sa Đéc (cùng ở Đồng Tháp) trở thành điểm
check-in thú vị của du khách Từ lâu những vườn hoa
Sa Đéc, vườn hồng Lai Vung (Đồng Tháp), vườn nho
Ninh Thuận (nay có thêm Tuy Phong, Bình Thuận),
vườn chôm chôm và sầu riêng Bến Tre, vườn dâu đỏ
Phú Yên, vườn cam Cao Phong (Hòa Bình), vườn vải
thiều Lục Ngạn (Bắc Giang), Thanh Hà (Hải Dương)…
đã trở thành điểm hẹn của du khách gần xa
Quy mô hơn là đồi chè Thanh Chương và cánh
đồng bạt ngàn hoa hướng dương ở Nghệ An Huyện
Tiên Phước (Quảng Nam) có trường gia lũy, là hệ
thống hàng rào và lối vào nhà bằng đá xếp, đẹp như
mê cung Rất nhiều đoạn đường Nông thôn mới của
các tỉnh đẹp hơn tranh Nhiều danh thắng các địa
phương còn hoang sơ, chỉ cần vài điểm nhấn check-in
sáng tạo là có thể làm du lịch
Vài đề nghị nhỏ
Sau đại dịch, xu thế du lịch nông thôn, nông
nghiệp lên ngôi, phát triển cùng với du lịch “truyền
TRANG THÔNG TIN NÀY CÓ SỰ PHỐI HỢP CỦA VĂN PHÒNG ĐIỀU PHỐI NÔNG THÔN MỚI TRUNG ƯƠNG
T hời gian qua, Hội NN&PTNT tỉnh Bắc Ninh (thành
viên Tổng hội NN&PTNT VN) đã tuyên truyền vận
động hội viên thi đua sản xuất VAC giỏi đạt nhiều kết
quả tốt Trong đó tiêu biểu là mô hình trồng sen nuôi
cá, kết hợp du lịch của anh Bùi Công Thành (thị trấn
Gia Bình, huyện Gia Bình)
Anh Thành đã cải tạo khu đầm chiêm trũng thuộc
thôn Thủ Pháp mà người dân bỏ hoang đã lâu, xây dựng
thành công mô hình 10ha trồng sen (giống sen lòng
vàng có nguồn gốc từ Huế) và nuôi cá (chuối hoa, chép,
trôi, trắm đen có thể tận dụng thức ăn tự nhiên trong
ao sen) Hạt sen của anh được thương lái đặt mua với giá ổn định 50.000 đồng/kg cho doanh thu khoảng
500 triệu đồng/vụ Hiện nay, anh Thành đang tiến hành trồng thêm giống sen tía để lấy bát ăn tươi và giống sen lấy củ để gối vụ thu hoạch
Ngoài ra anh Thành còn xây dựng mô hình tham quan, kết hợp dịch vụ chụp ảnh, biến đầm sen của anh thành điểm thu hút khách trải nghiệm có tiếng Với giá
vé vào là 40.000 đồng/lượt người Vào mùa sen nở, mỗi ngày đầm sen của anh đón 40 - 50 lượt khách, cho doanh thu hơn 200 triệu đồng/vụ KIM NHÃ
MÔ HìNH TrồNg SeN KẾT HợP Du LịCH ở BắC NiNH
Trang 3030 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)
Không ồn ào, sầm uất như nhiều khu du lịch biển khác vào
mỗi mùa hè, Minh Châu có sức quyến rũ rất riêng…
Xã đảo Minh Châu thuộc huyện
đảo Vân Đồn (Quảng Ninh),
cách đất liền chừng 1 giờ đi tàu
cao tốc hoặc 2 giờ đi tàu gỗ từ bến tàu Cái
Rồng Nhìn từ xa, hòn đảo như một “viên
ngọc xanh” nổi lên giữa biển
Một giờ đồng hồ lênh đênh trên tàu
cao tốc không làm du khách thấy phiền
vì sóng biển trong vịnh thật hiền hòa Du
khách có thể yên vị ngắm nhìn những
khối đá vôi lớn nhỏ với nhiều hình thù kỳ
thú trên biển, thả trôi tầm mắt theo từng
đoàn thuyền đánh cá đang căng buồm ra
khơi hoặc chỉ đơn giản ngồi ngắm mặt
nước trong veo mà không bị xô đẩy hay
lắc lư vì sóng Đặt chân lên đảo, du khách
lập tức bị cuốn hút bởi khung cảnh bình
yên với những rặng phi lao cao vút kéo dài
hơn chục cây số từ Minh Châu đến Quan
Lạn Làng quê hiền hòa ẩn hiện phía sau
từng đàn trâu nhởn nhơ gặm cỏ trên đồng,
xung quanh là hoa mua, hoa dại bung nở
rực rỡ Đảo Minh Châu có nhiều bãi tắm
đẹp: Chương Nẹp, Nhánh Rìa, Cồn Trụi (bãi
Rùa), Bể Thích (còn gọi là bãi Robinson)…
Các bãi tắm với cát trắng mịn nằm thoai
thoải bên mặt biển xanh, nhẹ nhàng sóng
vỗ Buổi sáng bơi lội hay dạo bước đón
bình minh trên biển sớm trong khung
cảnh này quả thật rất tuyệt vời
Một trong những điểm nhấn khá đặc
NgoaN PhẠM
khu resort Minh Chau Beach và là một trong số những người ra đảo Minh Châu làm dịch vụ du lịch sớm nhất - cho biết mới 5 năm trước, đất trên đảo còn rất rẻ, thậm chí có thể xin đất dựng nhà ở mà chẳng mấy ai tính toán gì nhiều Năm
2014, Minh Châu bắt đầu có điện lưới
Hạ tầng giao thông sau đó cũng được chính quyền chú trọng đầu tư Du lịch hình thành cùng cơ sở hạ tầng phát triển
đã kéo giá đất ở Minh Châu hiện nay lên
bị bão quật tan tác, rừng trâm vẫn hồi sinh mạnh mẽ sau đó, xanh tươi và đơm hoa kết trái vào dịp cuối năm Với người dân Minh Châu, “Thần Mộc” đã từng cứu người dân đảo qua nạn đói hoành hành năm 1945 nhờ trái ngọt của mình Rừng quốc gia trên đảo cũng là nơi hấp dẫn với
du khách ưa thích tìm hiểu, nghiên cứu các loài động thực vật nhiệt đới…
Minh Châu còn có một đặc sản mà hầu
Rừng trâm ở Minh Châu.
hết du khách tới đây đều khó bỏ qua, đó
là các món ăn làm từ sá sùng Sá sùng Minh Châu nổi tiếng dày mình, chắc thịt, thơm và ngọt Người dân Minh Châu bắt
sá sùng ngay trên bờ cát để chế biến món
ăn cho du khách Sá sùng ăn tươi hoặc sá sùng khô chế biến đều rất ngon Tuy nhiều loại hình dịch vụ tại Minh Châu còn khá đơn giản, nhưng khách đến tận hưởng vẻ đẹp hoang sơ của Minh Châu vẫn ngày một nhiều Nhà nghỉ, quán ăn, nơi cho thuê xe máy… đang nối nhau mọc lên trên đảo Nhiều gia đình đã bắt đầu cải tạo nhà cửa, vườn tược để làm nơi lưu trú cho khách… Hai năm trước, gia đình cô Bùi Thị Sợi ở thôn Ninh Hải, xã Minh Châu sống đơn thuần với nghề đào
sá sùng và vớt sứa Nay thì cô đã cải tạo,
mở rộng ngôi nhà nằm sát mặt đường làm nơi lưu trú cho khách Mùa du lịch (từ tháng 4 đến tháng 8 hàng năm), cả nhà
cô phục vụ du khách Từ tháng 9 đến hết tháng 3 năm sau, mọi người lại tiếp tục đi biển Cuộc sống của gia đình cô, nhờ đó,
đã có phần khấm khá hơn xưa
NÔNg THÔN Mới
30 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)
Trang 31NÔNg THÔN Mới
Qua 7 năm triển khai, dự án sản xuất nông nghiệp hữu cơ tại TP hội an (Quảng Nam) đã tạo cơ hội cho ngành nông nghiệp phát triển song cũng đặt ra không ít thách thức trước xu hướng hiện tại.
MỸ LỆ
Hội an organic
Với sự hỗ trợ của chính quyền
thành phố và Trung tâm Hành động vì sự phát triển đô thị, Hội
An hiện có 9 dự án sản xuất rau hữu cơ ở các địa phương: Cẩm Thanh, Cẩm Châu, Cẩm
Hà, Cẩm Kim trên diện tích gần 3,2ha của 2 nhóm nông dân, 1 hộ cá thể và 2 hợp tác xã
Bà Trần Huỳnh Hải Yến, thành viên Ban điều phối Hệ thống đảm bảo cùng tham gia (PGS) Hội An, nhận định: Dự án đã đưa nông nghiệp Hội An phát triển bền vững;
điển hình, sự gắn kết giữa mô hình sản xuất nông nghiệp với du lịch đã thu hút hàng nghìn du khách đến Hội An tham quan, trải nghiệm, từ đó, tạo việc làm và thu nhập cao cho nhiều hộ nông dân
Chị Nguyễn Thị Đông thuộc hộ cá thể Hiền Đông ở phường Cẩm Châu chia sẻ: “Các sản phẩm của tôi đã được thẩm định cấp chứng nhận hữu cơ PGS Hội An lần thứ 5
Thời điểm trước dịch, nguồn thu rất vững, thu nhập nông thôn mà 6 - 7 triệu đồng/
tháng là rất lớn” Ông Lê Nhương sản xuất gần 2.000m2 tại HTX Rau hữu cơ và Du lịch Thanh Đông (đã được cấp chứng nhận hữu
cơ PGS lần 1) và tổ Rau hữu cơ Đồng Giá, cho hay: “Tôi đã vận động nhiều nông dân cùng sản xuất rau hữu cơ và đang cố gắng
để cuối năm nay tổ sản xuất rau hữu cơ Đồng Giá đạt chuẩn PGS Hội An” Ở Hội An,
TRANG THÔNG TIN NÀY CÓ SỰ PHỐI HỢP CỦA VĂN PHÒNG ĐIỀU PHỐI NÔNG THÔN MỚI TRUNG ƯƠNG
hiện có 0,8ha diện tích sản xuất rau hữu cơ được chứng nhận hữu cơ PGS Hội An và gần 2,4ha đang chuyển đổi
Nói về PGS Hội An, không thể không
kể đến cộng đồng doanh nghiệp Ông Lê Hoàng Hà, Giám đốc Công ty TNHH Trải nghiệm sinh thái Hội An Etour, cho rằng
từ khi hình thành, mô hình sản xuất nông nghiệp gắn với du lịch không chỉ giúp doanh nghiệp quảng bá nét đẹp văn hóa
và nông sản đặc trưng của địa phương mà còn lan tỏa những câu chuyện đẹp về sự bền bỉ, tâm huyết của người dân sản xuất NNHC “Làm NNHC cũng như phát triển du lịch phải đảm bảo 3 khía cạnh của sự phát triển bền vững: môi trường, kinh tế và xã hội Trên cơ sở đó, chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ
để tạo cơ hội tốt nhất cho hoạt động sản xuất NNHC lan tỏa”, ông Hà trao đổi.Liên tiếp gần 2 năm, kinh tế Hội An bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh Covid-19 Tuy nhiên, theo bà Nguyễn Thị Vân, Trưởng phòng Kinh tế TP Hội An, lao động nông nghiệp không bị thất nghiệp như các ngành kinh tế khác và tạm ổn về thu nhập Còn theo chị Trần Thị Thu, chủ cửa hàng thực phẩm Sạch và xanh cho biết: “Các nhóm sản xuất cần đa dạng sản phẩm, đầu tư các kênh quảng bá nhãn hiệu “Hội An organic” để thay đổi nhận thức về sử dụng thực phẩm sạch và tạo sự tin cậy cho khách hàng”.Phó Chủ tịch UBND TP Nguyễn Thế Hùng cho biết Hội An sẽ tiếp tục ưu tiên nguồn lực
để phát triển nông nghiệp, nhất là NNHC khi kinh tế phục hồi Theo ông, để NNHC phát triển bền vững, chính người trực tiếp canh tác phải thay đổi cách ứng xử với nông nghiệp Các địa phương sản xuất nông nghiệp phải làm mới mô hình, phù hợp lợi thế, tiềm năng
về địa lý, thổ nhưỡng Hội An cũng rất cần sự chung tay từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh để hỗ trợ nông dân có thêm điều kiện nâng cao giá trị thương hiệu “Hội An organic” đã được Bộ Khoa học - Công nghệ công nhận tháng 5/2019
Tiếp tục nâng cao giá trị thương hiệu
“Hội An organic” Ảnh: Mỹ Lệ
• Trong 6 tháng đầu năm 2021,
tỉnh Long An đã có 9 xã được
công nhận đạt chuẩn NTM, vượt
2 xã so với kế hoạch đề ra Đến
nay toàn tỉnh có 103/161 xã đạt
chuẩn NTM, chiếm 64% tổng số
xã toàn tỉnh Ngoài ra, tỉnh cũng
đã công nhận 3 xã đạt chuẩn
NTM nâng cao, nâng tổng số xã
NTM nâng cao của tỉnh lên 8 xã
• Theo kế hoạch, tỉnh Lào Cai
phấn đấu đến năm 2025, toàn
tỉnh có 4 đơn vị cấp huyện duy
trì và được công nhận đạt chuẩn
NTM Trong đó, TP Lào Cai và
huyện Bảo Thắng tiếp tục duy
trì hoàn thành nhiệm vụ NTM;
huyện Bảo Yên, Văn Bàn được
công nhận đạt chuẩn NTM;
huyện Bảo Thắng đạt chuẩn
NTM nâng cao Đối với cấp xã,
phấn đấu có 94/127 xã duy trì và
đạt chuẩn NTM
• Thực hiện phong trào thi đua
“Phụ nữ Hòa Bình chung sức
xây dựng NTM”, từ đầu năm đến
nay, các cấp Hội LHPN trong
tỉnh đã phối hợp thực hiện các
hoạt động xây dựng khu dân cư
NTM kiểu mẫu, vườn mẫu Cụ
thể, trồng mới 77km đường hoa,
228 cây xanh; quét dọn 886km
Trang 3232 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)
Nằm giáp ranh với huyện Đồng hỷ và huyện Võ Nhai thuộc tỉnh Thái Nguyên - vựa chè nổi tiếng của miền Bắc, Xuân Lương của huyện yên Thế tỉnh Bắc giang cũng là vùng trồng chè
lâu đời…
Tuy nhiên, nếu chè Thái Nguyên
đã có tiếng từ lâu trên thị
trường thì thương hiệu chè Bản
Ven của Xuân Lương chỉ mới được biết
đến trong vài năm gần đây Gắn với tên
tuổi chè Bản Ven là tên một người, ông
Thân Nhân Khuyến…
Đánh thức một vùng chè
Trên đường đưa chúng tôi đến thăm
các đồi chè ở bản Ven, ông Khuyến,
nguyên Chủ tịch UBND xã Xuân Lương,
vui miệng nói: “Tiền không phải là lá
nhưng với người Cao Lan ở Xuân Lương,
lá lại chính là tiền!”
Theo ông Khuyến, đến lá chè tươi già ở
Xuân Lương cũng có thể bán được 30.000
đồng/kg, còn búp chè tươi thì có lúc lên
đến 60.000 đồng/kg Ông nói vui: “Chỉ
cần hái lá bán là có tiền mà còn nghèo
thì lỗi là của chính mình chứ gì nữa!”
Trò chuyện cùng ông về cây chè, tôi
nhận ra ông có thể nói về nó cả ngày
không biết chán Nhắc đến cây chè là
mắt ông lại sáng lên… Theo ông, khí
hậu ôn hòa, thổ nhưỡng phù hợp đã cho
cây chè Xuân Lương có những hương vị
đặc biệt Chè Xuân Lương khi hãm sẽ
cho ra nước chè có màu xanh vàng, vị
đậm, thoảng hương cốm nhẹ Trước đây,
mỗi gia đình trong xã chỉ trồng chè trên vài thửa đất, cây chè cằn cỗi già nua, từ chăm sóc, thu hoạch, chế biến đến tiêu thụ đều theo tập tục cũ nên chất lượng sản phẩm, giá thành đều thấp Không
có đầu ra ổn định, người Cao Lan ở Xuân Lương bỏ dần khâu chế biến, chỉ trồng chè để cung cấp lá chè tươi cho các nhà máy chế biến ở tỉnh Thái Nguyên
Năm 2011, khi còn là cán bộ của Phòng Kinh tế hạ tầng huyện Yên Thế, trong một lần đi công tác đến Xuân Lương, thấy bà con người Cao Lan ở Xuân Lương trồng chè rồi mang sang Thái Nguyên bán, ông Thân Nhân Khuyến thắc mắc: “Dân Cao Lan trồng được chè,
có kinh nghiệm làm chè mà sao không
tự làm sản phẩm cho riêng mình?”
Không lâu sau đó, như một cơ duyên, ông Thân Nhân Khuyến được luân chuyển về Xuân Lương và trở thành Chủ
hồNg NguyễN
giấc mơ chè xuân Lương
tịch UBND xã vùng cao này Bắt tay vào việc vận động thành lập Hợp tác xã Thân Trường, ông cũng là người đầu tiên góp vốn vào HTX và tự tìm tòi, học hỏi công nghệ mới trong việc trồng, thu hoạch, bảo quản, chế biến chè Không biết bao nhiêu công khó đã bỏ ra để có thể xây dựng được quy trình chuẩn theo kỹ thuật mới cho sản phẩm chè Xuân Lương… Nắm bắt được cách trồng và công nghệ thu hoạch, bảo quản, chế biến chè, ông Khuyến vận động, hướng dẫn người dân Cao Lan thay đổi cách làm chè, kết hợp giữa kinh nghiệm làm theo kiểu xưa với công nghệ mới để vừa có năng
Trang 33Lương ngày càng đậm đà, độc đáo hơn Chẳng hạn như trang bị máy sao chè thay cho việc sao chè bằng tay đã tránh cho lá chè bị ôi hoặc quá lửa mà năng suất lại cao hơn, rút ngắn thời gian, hay việc vần đổi công hái chè giúp người Cao Lan kịp thời thu hoạch chè đúng thời điểm lá chè đạt chất lượng cao nhất…
Bản Ven, nơi có diện tích trồng chè lớn nhất xã (hơn 23ha) Xuân Lương, vốn trước đây có hơn 60 hộ nghèo nay đã giảm xuống còn 35 hộ Các hộ dân trong bản nhờ mạnh dạn đầu tư theo hướng thâm canh cây chè và áp dụng khoa học
kỹ thuật trong trồng và chế biến mà thu nhập đã khá hơn trước, bình quân khoảng
150 - 200 triệu đồng (trên 1ha chè) sau khi
đã trừ chi phí Nhiều hộ ở bản Ven đã xây được nhà cao cửa rộng
Chè Bản Ven ngày nay đã là một trong những sản phẩm chủ lực của địa phương, ổn định từ sản lượng đến chất lượng, được người tiêu dùng ưa chuộng Nhờ có thương hiệu mạnh, giá chè tươi
ở bản Ven nói riêng và Xuân Lương nói chung cũng theo đó mà tăng lên từ mức 12.000 đồng/kg thành 60.000 đồng/kg như hiện nay Chưa dừng lại ở đó, những người làm chè ở Xuân Lương còn đang
mơ đến một ngày chè Xuân Lương có thể bước ra thế giới và giá chè Bản Ven sẽ còn cao hơn nữa khi họ tiếp tục cải thiện chất lượng sản phẩm đặc trưng của mình…
khó khăn), là nơi sinh sống chủ yếu của người dân tộc Cao Lan Người Cao Lan vốn sống khép kín và kinh nghiệm làm chè của họ ít khi được truyền ra ngoài
“Chè Xuân Lương đựng ống bương treo gác bếp” không chỉ là câu đúc kết kinh nghiệm lưu hương, giữ chè mà còn hàm
ý nói đến sự kín đáo, không tiết lộ ra bên ngoài cách làm chè của người Cao Lan
Theo ông Khuyến, cách bảo quản chè Xuân Lương kiểu xưa đã giữ cho chè luôn khô và hương vị chè còn nguyên đến 80
- 90% Gìn giữ bí quyết riêng này kết hợp với việc cải tiến cách trồng trọt, chăm sóc cây chè theo quy trình VietGAP và sử dụng các thiết bị máy móc hiện đại với công nghệ, kỹ thuật mới trong việc chọn lá chè, chọn thời điểm thu hoạch, cải tiến quy trình chế biến nên hương
vị chè Xuân
Mỗi xã MộT SảN PHẩM
suất vừa giữ được chất lượng riêng của
chè địa phương Để có thể xây dựng và
phát triển sản xuất, xây dựng thương
hiệu cũng như tìm thị trường cho sản
phẩm chè Xuân Lương, ông Khuyến đề
xuất việc phát triển diện tích trồng chè
để hình thành vùng chuyên canh của xã
nhằm đảm bảo nguyên liệu sản xuất
Ý kiến này của ông nhận được sự đồng
thuận mạnh mẽ của người Cao Lan và
chính quyền địa phương Các vườn cây
tạp được cải tạo thành những cánh đồng
chè HTX Thân Trường trở thành nơi trung
gian kết nối người trồng chè với các nhà
khoa học, các chủ doanh nghiệp trong
việc chuyển giao khoa học kỹ thuật từ
sản xuất đến chế biến và tiêu thụ sản
phẩm Năm 2015, sau một thời gian áp
dụng kỹ thuật sản xuất, chế biến mới,
chất lượng chè Xuân Lương cải thiện rõ
nét Thương hiệu chè Bản Ven của HTX
Thân Trường ra đời trên cơ sở đó
Từ vài chục hecta (năm 2012), đến
nay, cùng với sự phát triển của thương
hiệu chè Bản Ven, diện tích chè ở Xuân
Lương đã phát triển đến gần 300ha,
năng suất thời điểm cao nhất đạt tới 15
tấn/ha, cao hơn nhiều lần so với bình
quân chung toàn huyện Yên Thế
Thoát nghèo ở vùng đất khó
Là người Kinh nhưng ông Khuyến khá
am hiểu văn hóa, phong tục tập quán và
truyền thống của người Cao Lan Ông
chia sẻ rằng Xuân Lương có 9/14 bản
thuộc chương trình 135 (bản đặc biệt
Nông dân Bản Ven thu hoạch chè
Trang 34gia tăng ô nhiễm
Mùa khô ở ĐBSCL thường kéo dài từ
tháng 12 đến đầu tháng 5 năm sau Thời
gian này lượng mưa không đáng kể và
lượng nước từ sông Mekong đổ về ĐBSCL
rất thấp Theo số liệu từ Bộ Tài nguyên
và Môi trường, mực nước ngầm tại 13
tỉnh ĐBSCL hiện đều hạ thấp và bị xâm
nhập mặn vào mùa khô, trong đó Long
An, Tiền Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long… có
mức hạ thấp mạnh từ 0,3 - 0,5m/năm;
riêng ở Đồng Tháp, có vùng mức sụt
giảm lên đến 0,92m/năm Không chỉ suy
giảm mực nước, ô nhiễm và nhiễm mặn
nước ngầm, các tỉnh ĐBSCL còn phải đối
mặt với nguy cơ sụt lún đất, với tốc độ
lún trung bình 20 - 40mm/năm
Theo Báo cáo Kinh tế thường niên
của Fulbright 2020, nhiều năm nay, giai
đoạn cao điểm mùa khô (tháng 3 - 4
hàng năm), lưu lượng trung bình của
sông Mekong chỉ vào khoảng 1.500 - 1.700m3/s Ước tính từ giữa tháng 3 đến cuối tháng 4, khoảng 45 - 50% diện tích vùng ĐBSCL bị nhiễm mặn Chênh lệch mực nước ngầm trong mùa mưa và mùa khô có thể lên đến 12 - 15m Còn theo Tổng cục Thủy lợi, mùa khô, hạn hán và xâm nhập mặn với tần suất ngày càng lớn, thời gian hạn mặn kéo dài, nguồn nước trên các hồ chứa và dòng sông suy giảm, mực nước ngầm hạ thấp không đủ nguồn nước để vận hành, thậm chí nhiều công trình cấp nước phải dừng hoạt động Ở ĐBSCL, mùa khô 2019 - 2020 có 96.000 hộ dân bị thiếu nước và 196 công trình bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Cùng với sự phát triển kinh tế và đô thị hóa, việc gia tăng các hoạt động xả nước thải sinh hoạt và sản xuất vào môi trường đang tác động tiêu cực và gây sức ép ngày càng lớn lên nguồn nước, khiến việc tiếp cận nguồn nước sạch, an
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đối mặt với tình trạng sụt lún đất nghiêm trọng và suy giảm nguồn nước ngầm do khai thác nước ngầm quá mức.
TuẤN aNh
toàn cho sản xuất và sinh hoạt gặp rất nhiều khó khăn PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Cấp thoát nước Việt Nam, cho rằng chất lượng và diện tích rừng đầu nguồn hiện nay giảm, việc trồng rừng bằng cây công nghiệp, cây keo, bạch đàn, cao su… cũng ảnh hưởng lớn đến khả năng giữ nước của các lưu vực; ô nhiễm nguồn nước do hoạt động khai khoáng, sử dụng hóa chất trong công nghiệp, nông nghiệp càng làm cho vấn đề an ninh nguồn nước ở khu vực này trầm trọng thêm
Bảo vệ nguồn nước ngầm bằng cách nào?
Diện tích đất sử dụng để sản xuất nông nghiệp tại khu vực ĐBSCL hiện nay vào khoảng 2,5 triệu hecta (chiếm khoảng 64% tổng diện tích tự nhiên của toàn vùng) Với diện tích này, theo tính toán, nước tưới tiêu cho nông nghiệp sẽ
Nhà máy nước mặt sông Hậu sử dụng nguồn nước mặt từ sông Hậu Giang.
34 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)
Trang 35Bảo Vệ MÔi TrườNg NướC
Tại TP.HCM, UBND TP vừa ban hành
Kế hoạch thực hiện chương trình Cung cấp nước sạch và chấm dứt khai thác nước ngầm TP.HCM Theo đó, trong năm 2021, TP.HCM sẽ giảm khai thác nước dưới đất 16.650m3/ngày, trong
đó, lượng khai thác nước dưới đất hộ gia đình giảm 8.000m3/ngày; trong khu chế xuất - khu công nghiệp giảm 1.650m3/ngày; bên ngoài khu chế xuất
- khu công nghiệp giảm 3.000m3/ngày;
lượng khai thác nước dưới đất của Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn TNHH Một thành viên giảm 4.000m3/ngày
chiếm 86% lượng nước sử dụng (14%
còn lại cho công nghiệp và dân dụng)
Vì vậy, tiết kiệm nước tưới có ảnh hưởng
rất lớn đến an ninh nguồn nước ở ĐBSCL
trong tương lai
Thời gian qua, người dân ở ĐBSCL
cũng đã từng bước ứng dụng các nghiên
cứu khoa học - công nghệ vào sản xuất
để nâng cao năng suất, tiết kiệm nước
tưới tiêu Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho
rằng ngay cả khi ứng dụng công nghệ
tưới nhỏ giọt thì cũng không tiết kiệm
chi phí bằng một cơn mưa, bởi một cơn
mưa không chỉ giúp người nông dân đỡ
vất vả hơn trên đồng ruộng mà việc giữ
nguồn nước mưa để bổ sung vào nước
ngầm thay vì để nó trôi ra sông, ra suối
lại có ý nghĩa lớn lao hơn rất nhiều
Theo TS Phan Hiếu Hiền (nguyên
giảng viên Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM),
người nông dân có thể bổ sung nguồn
nước ngầm cho đất bằng cách dùng San
Lazer (sử dụng lazer để san phẳng đồng
ruộng theo một độ nghiêng đồng nhất
để thuận tiện canh tác, tưới tiêu, giảm
tốc độ rửa trôi hoa màu và tốc độ chảy
của nước mưa ra sông, suối, qua đó tạo
điều kiện cho đất có đủ thời gian thẩm
thấu nước) ThS Ngô Đức Thọ, chuyên
gia về cỏ Vetiver, thì đề xuất trồng cỏ
này (một loại cỏ có rễ mọc đứng, đâm
sâu, hấp thụ nước tốt để đưa nước mưa
xuống các tầng nước ngầm và giữ chúng
ở đó) để tăng cường độ thẩm thấu của
nước mưa xuống các tầng đất bên dưới
Tuy nhiên, các mô hình ứng phó BĐKH
trong sản xuất nông nghiệp hiện nay ở
ĐBSCL hầu hết đều mang tính tự phát do
người dân nghĩ ra và sáng tạo cho phù
hợp với điều kiện biến động thời tiết,
nguồn nước và các yếu tố khác như vốn
đầu tư, lao động, thị trường… Báo cáo
Kinh tế thường niên của Fubright 2020
cũng cho rằng hầu hết các mô hình hiện
tại ở ĐBSCL chỉ mang tính đối phó và phù
hợp với các mục tiêu ngắn, trung hạn
Điều quan trọng là phải có một giải pháp
vĩ mô, với sự tham gia của cộng đồng
các nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà
nước để giải quyết vấn đề lâu dài
Trong nghiên cứu mang tên “Việt Nam - Hướng tới một hệ thống nước có tính thích ứng, sạch và an toàn”, Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng để bảo vệ
an ninh nguồn nước nói chung và nước ngầm nói riêng, Việt Nam cần tổ chức quản lý có hiệu quả tài nguyên nước, bao gồm phân bổ nguồn nước, bảo vệ tài nguyên nước và khai thác nước hợp
lý WB cũng nhấn mạnh đến việc “nâng cao giá trị các hoạt động có sử dụng nước trong lĩnh vực nông nghiệp”, “phân bổ tỷ
lệ tài nguyên nước cho các đối tượng khai thác, sử dụng nước”; xây dựng được hệ thống “giám sát tài nguyên nước, giám sát khai thác, sử dụng nước” và “kiểm soát tình trạng ô nhiễm” Việc ưu tiên cao
kiểm soát ô nhiễm là cấp bách bởi ở Việt Nam chỉ có 12,5% nước thải đô thị và 71% nước thải công nghiệp được xử lý, các chất thải độc hại này sẽ theo nước mưa ngấm vào lòng đất, gây ô nhiễm nguồn nước ngầm Ở khía cạnh kinh tế, tác động của
ô nhiễm liên quan đến nguồn nước đối với sức khỏe con người có thể làm giảm 3,5% GDP vào năm 2035 nếu như Việt Nam không có kế hoạch và phương pháp tiếp cận thích hợp để bảo vệ nguồn nước Theo PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Cấp thoát nước Việt Nam, các thành phố lớn ở khu vực ĐBSCL có thể bắt đầu với việc từng bước giảm lưu lượng khai thác nước ngầm và tiến tới sử dụng nguồn nước mặt thay thế; nghiên cứu các giải pháp
bổ sung nguồn nước ngầm, hướng tới tạo nguồn nước dự phòng chiến lược trong trường hợp xảy ra các sự cố về nguồn nước mặt, về hệ thống cấp nước, biến đổi khí hậụ Việc đánh giá số lượng, chất lượng nguồn nước, hiện trạng khai thác và sử dụng tài nguyên nước, dự báo
xu thế biến động dòng chảy cũng như mực nước của các tầng chứa nước và nhu cầu sử dụng nước sẽ giúp cơ quan quản
lý ở tầm vĩ mô “phân vùng chức năng của nguồn nước” để đưa ra các chiến lược phù hợp
Nhà máy nước mặt sông Hậu cung cấp nước sạch sinh hoạt và sản xuất cho Khu đô thị công nghiệp Sông Hậu và các khu dân cư lân cận, góp phần ổn định an ninh nước vùng ĐBSCL.
Trang 3636 Tạp chí số 67 (tháng 08/2021)
Bảo Vệ MÔi TrườNg NướC
Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số
44/2021/TT-BTC quy định về khung
giá, nguyên tắc, phương pháp xác định giá
nước sạch sinh hoạt Thông tư này có hiệu
lực thi hành từ ngày 5/8/2021
Thông tư quy định giá nước sạch được
tính đúng, tính đủ các yếu tố chi phí sản
xuất hợp lý, hợp lệ trong quá trình khai
thác, sản xuất, phân phối, tiêu thụ và có lợi
nhuận; phù hợp với chất lượng nước, định
mức kinh tế - kỹ thuật, quan hệ cung cầu
về nước sạch, điều kiện tự nhiên, điều kiện
phát triển kinh tế xã hội của địa phương,
khu vực, thu nhập của người dân trong
từng thời kỳ Nguyên tắc xác định giá nước sạch phải hài hòa quyền, lợi ích hợp pháp của đơn vị cấp nước và khách hàng sử dụng nước Qua đó, khuyến khích khách hàng sử dụng nước tiết kiệm; khuyến khích các đơn
vị cấp nước sạch nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm chi phí, giảm thất thoát, thất thu nước sạch, đáp ứng nhu cầu của khách hàng Đồng thời, thu hút đầu tư vào hoạt động sản xuất, phân phối nước sạch
Khung giá nước sạch được quy định như sau: Đô thị đặc biệt, đô thị
giá nước sạch tại khu vực nông thôn
không được quá 11.000 đồng/m 3
UBND tỉnh Đồng Tháp vừa ban hành Kế hoạch cung
cấp nước sạch trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp giai
đoạn 2021 - 2025 nhằm nâng cao chất lượng cung cấp
nước sạch cho người dân và thực hiện định hướng tăng
cường khai thác nước mặt, hạn chế khai thác nước ngầm
(nước dưới đất), tiến tới chuyển nước ngầm thành nguồn
dự phòng, dự trữ trong cung cấp nước sạch
Theo kế hoạch, UBND TP Cao Lãnh, TP Sa Đéc, huyện Lấp
Vò thực hiện lộ trình chuyển đổi từ nước ngầm sang nước
mặt trong cung cấp nước sạch (đến hết ngày 31/12/2021);
rà soát, thực hiện phương án đầu tư đường ống cấp nước
tại các tiểu khu chưa có đường ống cấp nước và thực hiện
ký hợp đồng cấp nước (thỏa thuận cấp nước) với các đơn
Đồng Tháp: Chuyển đổi từ nước ngầm sang nước mặt trong cung cấp nước sạch
loại 1 tối thiểu 3.500 đồng/m3, tối đa 18.000 đồng/m3 Đô thị loại 2, loại 3, loại
4, loại 5 tối thiểu 3.000 đồng/m3, tối đa 15.000 đồng/m3 Khu vực nông thôn có mức giá tối thiểu 2.000 đồng/m3, tối đa 11.000 đồng/m3 Khung giá nước sạch này đã bao gồm thuế giá trị gia tăng, áp dụng cho mức giá bán lẻ nước sạch bình quân do UBND tỉnh quyết định
Theo Thông tư, giá bán lẻ nước sạch bình quân do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định phải đảm bảo phù hợp với khung giá nước sạch quy định Đối với khu vực đặc thù gồm vùng nước ngập mặn, vùng ven biển, vùng có điều kiện sản xuất nước khó khăn, trường hợp chi phí sản xuất, cung ứng nước sạch cao làm giá bán lẻ nước sạch bình quân của đơn vị cấp nước (sau khi Sở Tài chính thẩm định phương
án giá nước sạch) cao hơn mức giá tối đa trong khung giá quy định tại Thông tư này thì UBND tỉnh căn cứ vào tình hình thực tế, nhu cầu sử dụng nước sạch và thu nhập của người dân để quyết định giá bán nước sạch cho phù hợp Hàng năm, đơn vị cấp nước chủ động rà soát việc thực hiện phương án giá nước sạch và giá nước sạch dự kiến cho năm tiếp theo ngỌc Toan
Trang 37Bảo Vệ MÔi TrườNg NướC
UBND tỉnh Nghệ An vừa ban hành Quyết định Quy
chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước sạch phục vụ cho mục đích sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Nghệ
An Việc ban hành Quyết định này nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Đồng thời, theo dõi, kiểm soát tốt nhất chất lượng nguồn nước trên cơ sở lựa chọn các thông số đặc thù, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương; tăng cường kiểm soát chặt chẽ chất lượng nguồn nước sử dụng cho mục đích sinh hoạt tại các cơ sở cung cấp nước nhằm đảm bảo sức khỏe cho người dân nhấT anh
Nghệ an ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương
về chất lượng nước sạch
Theo báo cáo mới đây của WHO và UNICEF, năm 2020, cứ 4
người thì có 1 người thiếu nước uống an toàn tại nhà Báo cáo cũng cho rằng nếu các xu hướng hiện tại vẫn tiếp diễn thì vào năm 2030, chỉ 81% dân số thế giới được sử dụng nước uống
an toàn tại nhà và 1,6 tỷ người không có nước uống Để đạt được khả năng tiếp cận phổ cập nước uống được quản lý an toàn vào năm 2030, tốc độ tiến bộ hiện tại ở các nước kém phát triển sẽ cần phải tăng gấp 10 lần Ở những nơi có nguy cơ thiếu nước uống
an toàn cao gấp đôi, nỗ lực này sẽ cần phải tăng tốc thêm 23 lần
Vào cuối tháng 5/2021, trữ lượng hồ chứa trên toàn bang
California (Hoa Kỳ) ước tính chỉ bằng 2/3 trữ lượng thông thường Trang web Save Our Water của Mỹ cũng đưa ra dự báo nhiều khả năng mực nước năm nay có thể còn ít hơn so với năm ngoái - năm được đánh giá là khô hạn thứ 5 trong lịch sử bang California Trong bối cảnh đó, chính quyền bang California đã quyết định mở rộng diện áp đặt tình trạng khẩn cấp do hạn hán đối với gần 50% dân số ở bang này, đồng thời, kêu gọi người dân giảm 15% lượng nước sử dụng Theo Thống đốc bang California Newsom, việc cắt giảm 15% lượng nước sử dụng sẽ giúp tiết kiệm nước đủ để cung cấp cho hơn 1,7 triệu hộ gia đình trong một năm
Vì vậy, người dân hãy tiết kiệm nguồn nước khan hiếm bằng cách giảm các hoạt động như tưới cỏ và tắm trong thời gian ngắn hơn
Mới đây, Bộ Thủy lợi và Nguồn nước Jordan - một trong
những quốc gia thiếu nước nhất thế giới - cho biết nước này đã có kế hoạch xây dựng một nhà máy khử muối ở Biển Đỏ để cung cấp nước uống Theo ông Omar Salameh, người phát ngôn
Bộ Thủy lợi và Nguồn nước Jordan, dự án nhà máy khử muối có giá trị đầu tư khoảng 1 tỷ USD sẽ được xây dựng ở vịnh Aqaba, phía nam Jordan Nhà máy dự kiến sản xuất 250 - 300 triệu mét khối nước uống mỗi năm và sẽ sẵn sàng hoạt động vào năm
2025 hoặc 2026 “Nước đã được khử muối sẽ được dẫn từ Aqaba trên Biển Đỏ đến các khu vực còn lại của đất nước” - ông Salameh chia sẻ Theo thống kê của Jordan, đất nước này cần khoảng 1,3
tỷ mét khối nước sạch/năm, tuy nhiên, hiện tại mới chỉ đáp ứng được 850 - 900 triệu m3/năm do lượng mưa thấp, tình trạng ấm lên toàn cầu, dân số và dòng người tị nạn tăng gia TuỆ
Hàng tỷ người trên thế giới không có nước uống an toàn
Bang California (Hoa Kỳ) kêu gọi người dân giảm sử dụng nước
Jordan xây nhà máy khử muối
ở Biển Đỏ lấy nước uống Đồng Tháp: Chuyển đổi từ nước ngầm sang nước mặt trong cung cấp nước sạch
Công nhân đang vận hành tại Nhà máy nước Hưng
Vinh (Công ty Cổ phần Nước Nghệ An).
vị cấp nước theo quy định để cung cấp nước sạch cho các tiểu khu này Các huyện Châu Thành, Lai Vung thực hiện lộ trình chuyển đổi từ nước ngầm sang nước mặt trong cung cấp nước sạch (đến hết ngày 31/12/2022) Các huyện còn lại thực hiện lộ trình chuyển đổi từ nước ngầm sang nước mặt trong cung cấp nước sạch đến hết ngày 31/12/2023 Riêng
TP Hồng Ngự và huyện Hồng Ngự không còn trạm cấp nước trên địa bàn, không cho phép khoan (thăm dò) giếng mới
Tỉnh Đồng Tháp khuyến khích áp dụng các công nghệ
xử lý nước hiện đại, đáp ứng chất lượng nước theo quy định
và tiết kiệm diện tích đất; khuyến khích xã hội hóa đầu
tư, phát triển cấp nước và quản lý hoạt động cấp nước…
DiỄm Thư
Trang 38MiNh huy
hữu của nhiều đối tượng khách hàng từ 1,5 - 2%/năm so với mức cho vay hiện tại và giảm 50% số tiền lãi phải thu của các khách hàng đến thời điểm hiện tại (tương đương mức lãi suất cho vay giảm
3 - 4%/năm) Ngoài ra, khách hàng cá nhân tại khu vực miền Nam - nơi đang
có diễn biến dịch Covid-19 phức tạp - vay sản xuất kinh doanh hoặc mua nhà để ở
có nguồn thu nhập từ lương tại MBBank cũng được giảm 2%/năm so với lãi suất
Giảm đến hơn 2%/năm
Ngày 16/7, Vietcombank đã tiếp
tục giảm lãi suất đợt thứ 7 trong năm
với quy mô 1.800 tỷ đồng nhằm hỗ trợ
khách hàng bị ảnh hưởng bởi đại dịch
Covid-19 Theo đó, từ nay đến hết năm
2021, đối với các doanh nghiệp thuộc
9 ngành, lĩnh vực bị ảnh hưởng nặng
nề của dịch sẽ được giảm cao nhất là
1%/năm, các DN còn lại sẽ được giảm
lãi suất tới 1%/năm Với khách hàng cá
nhân, mức giảm cao nhất là tới 1%/năm
với người vay vốn phục vụ sản xuất kinh
doanh và 0,5%/năm với khách hàng
vay vốn phục vụ đời sống Tương tự
Agribank cũng đã dành khoảng 5.500
tỷ đồng để hỗ trợ khách hàng Theo đó,
các khoản vay tại Agribank từ nay đến
cuối năm 2021 sẽ được giảm lãi suất với
mức giảm 1%/năm so với lãi suất cho
vay đang áp dụng đối với dư nợ cho vay
ngắn hạn có lãi suất từ 5%/năm trở lên
và dư nợ cho vay trung, dài hạn có lãi
suất từ 7%/năm trở lên
Không chỉ các NHTM quốc doanh,
nhiều NHTM cũng giảm lãi suất để hỗ trợ
dưỡng, giáo dục, y tế… Bên cạnh đó,
ngoài nguồn vốn ưu đãi trị giá 10.000
tỷ đồng với lãi suất từ 4%/năm, thời hạn vay tối đa 6 tháng dành cho DN xuất khẩu cũng như hỗ trợ các doanh nghiệp khắc phục khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh được triển khai
từ nay đến cuối năm 2021, Sacombank cho biết sẽ tiếp tục đưa ra các gói ưu đãi khác để thiết thực đồng hành cùng khách hàng MBBank cũng đã điều chỉnh giảm lãi suất cho vay đối với dư nợ hiện
Ngân hàng tiếp sức người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng dịch bệnh
Kienlongbank miễn phí hoàn toàn các giao dịch chuyển tiền trong nước từ nay đến hết năm
2021 không giới hạn trong và ngoài hệ thống ngân hàng.