1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tổng hop 13-15-16

4 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 76,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Exchange Rate Changes and Inflation in Post-Crisis Asian Economies: VAR Analysis of the Exchange Rate Pass-Through: Những thay đổi của tỷ giá và lạm phát trong thời kỳ hậu khủng hoảng ở

Trang 1

1 Exchange Rate Changes and Inflation in Post-Crisis Asian Economies: VAR Analysis of the Exchange Rate Pass-Through: Những thay đổi của tỷ giá và lạm phát trong thời kỳ hậu khủng hoảng ở các nền Kinh Á Châu: Phân tích VAR về tác động trung chuyển của tỷ giá:

Những ảnh hưởng tác động trung chuyển của sự thay đổi tỷ giá vào những giá cả nội địa ở các nền kinh tế Á Châu được dùng làm phân tích hồi quy bao gồm những chỉ số giá và những biến số

vĩ mô nội địa cũng như tỷ giá hối đoái Kết quả từ phân tích hồi quy chỉ ra rằng:

1) Mức độ tác động trung chuyển của tỷ giá hối đoái lên giá nhập khẩu là khá cao trong những nhóm nước khủng hoảng

2) Tác động trung chuyển lên CPI hầu như là thấp, ngoại lệ đáng chú ý là Indonesia

3) Ở Indonesia, cả sự tác động của các biến chính sách tiền tệ đến cú sốc tỷ giá và CPI lên các cú sốc tiền tệ là rõ ràng, to lớn và rất quan trọng Vì thế, chính sách tiền tệ có điều chỉnh của Indonesia cũng như mức độ cao của sự phản ứng của CPI đối với sự thay đổi của tỷ giá hối đoái là những nhân tố quan trọng dẫn đến những ảnh hưởng leo thang của lạm phát giá cả trong nước và sự sụt giảm mạnh tỷ giá hối đoái danh nghĩa trong thời kỳ hậu khủng hoảng

Việc bị ảnh hưởng khủng hoảng của các nước Á Châu tạo ra những kinh nghiệm phong phú về

cú sốc ban đầu của sự sụt giảm tiền tệ Trong những nước khác như Hàn Quốc, một sự sụt giảm danh nghĩa mạnh được theo sau bởi một sự đảo ngược mạnh vài tháng sau đó, với những ảnh hưởng nhỏ lên lạm phát trong nước Ở những nước khác như Indonesia, một sự sụt giảm mạnh dẫn đến lạm phát cao, để mà tỷ giá hối đoái thực không làm thay đổi nhiều đến xúc tiến xuất khẩu Nếu mức độ tác động trung chuyển cao thì sự thay đổi tỷ giá sẽ thay đổi giá cả liên quan,

sự điều chỉnh trong cán cân thương mại sẽ tương đối nhanh chóng Ví dụ, hàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên mắc nếu tác động trung chuyển là cao, để mà chính sách khuyến khích người tiêu dùng từ hàng nhập khẩu sang hàng nội địa sẽ diễn ra và cán cân bên ngoài sẽ được điều chỉnh đúng trong vài tháng Mặc khác, nếu mức độ tác động trung chuyển là thấp thì tỷ giá không có tác động nhiều đến cán cân thương mại

Một điều quan trọng khác là sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa tỷ giá hối đoái và giá cả trong nước bao gồm cả mậu dịch và phi mậu dịch Giả định rằng một nước từng trải qua thâm hụt mậu dịch và xem nhẹ tỷ giá hối đoái, điều đó sẽ là một cơ chế để tạo nên sự canh trạnh xuất khẩu mạnh mẽ hơn, dẫn đến sự cải thiện trong cán cân bên ngoài Tuy nhiên, nếu giá cả trong nước nhìn chung đáp ứng sự sụt giảm của tỷ giá hối đoái danh nghĩa từng trường hợp một thì tác động trung chuyển không chỉ đến giá nhập khẩu mà còn đên CPI nói chung, sau đó bất kỳ sự cạnh tranh xuất khẩu nào từ sự sụt giảm danh nghĩa đều bị bỏ qua Một sự liên kết của sự sụt giảm danh nghĩa và lạm phát cao để lại sự cạnh tranh xuất khẩu không đổi, trong khi những công ty và định chế tài chính có khoản nợ ngoại tệ ròng bị đè nặng bởi những khoản nợ thực và những khoản nợ xấu lớn hơn Vì thế, từ quan điểm của việc sử dụng sự thay đổi tỷ giá như một công cụ để điều chỉnh (giảm thâm hụt và có thể làm thặng dư) cán cân thương mại, tác động đến giá cả nhập khẩu và cả giá bán buôn để buộc người tiêu dùng trong nước chuyển sang dùng hàng nội là tốt, nhưng tác động trung chuyển đến CPI, tăng tất cả các loại giá cả là tệ hại

Nghiên cứu sự ảnh hưởng trung chuyển từ sự thay đổi tỷ giá đên giá nhập khẩu, giá bán buôn và giá tiêu dùng của các nước Đông Á kết hợp với mô hình phân tích hồi quy đã chỉ ra vài các phát hiện mới quan trọng:

Trang 2

Thứ nhất, mức độ tác động trung chuyển lên các cú sốc tỷ giá khác nhau lên các chỉ số giá khác nhau: Ảnh hưởng tác động trung chuyển là lớn nhất lên chỉ số giá nhập khẩu, thứ hai là lên PPI

và nhỏ nhất là CPI

Thứ hai, mức mức độ phản ứng của giá trong nước trước những cú sốc tỷ giá hối đoái ở Indonesia lớn hơn so với ở các nước khác Sự phản ứng của CPI lên cú sốc tỷ giá đặc biệt lớn ở Indonesia so với các nước khác Hơn nữa, chỉ có Indonesia thể hiện một phản ứng lớn và có ý nghĩa của CPI đến những cú sốc PPI, ngụ ý việc truyền tải thông suốt của những cú sốc từ PPI đến CPI

Thứ ba, một sự khác nhau đáng kể trong hậu khủng hoảng lạm phát giữ Indonesia và các nước bị ảnh hưởng khủng hoảng khác là do sự phản ứng của chính sách tiền tệ của Ngân hàng Indonesia Chỉ có Indonesia sự phản ứng của những biến của chính sách tiền tệ lên cú sốc tỷ giá và CPI lên

cú sốc chính sách tiền tệ là rõ ràng, lớn và có ý nghĩa thống kê

Thứ tư, khi tập trung vào thời kỳ hậu khủng hoảng, sự khác nhau trong ảnh hưởng tác động trung chuyển vào CPI trở thành rõ ràng hơn giữa Indonesia và các nước bị ảnh hưởng khủng khoảng khác

2 Nghiên cứu so sánh mô hình kiểm định đơn vị gốc với mô hình dữ liệu và một kiểm định giản đơn (A COMPARATIVE STUDYOF UNIT ROOT TESTS WITH

PANEL DATA AND A NEW SIMPLE TEST):

Từ khi xuất hiện bài viết của Levin và Lin (1992, 1993), thì việc sử dụng mô hình kiểm định dữ liệu đơn vị gốc trở nên rất phổ biến giữa những nhà nghiên cứu thực nghiệm với một tập hợp mô hình dữ liệu Bây giờ nó là một tranh luận nhìn chung đã được chấp nhận thường được sử dụng kiểm định đơn vị gốc như kiểm định Dickey±Fuller (DF), được mở rộng thành các kiểm định Dickey±Fuller (ADF) và Phillips±Person còn khả năng trong việc phân biệt đơn vị gốc bằng không từ những lựa chọn thay thế tĩnh và dùng làm dữ liệu bảng thử nghiệm đơn vị gốc là một cách làm tăng khả năng của kiểm định đơn vị gốc dựa vào một chuỗi thời gian giản đơn Kiểm định Levin ±Lin, cũng được mở rộng bởi Im Pesanran và Shin (1997), được gọi là kiểm định IPS, và một thay thế đơn giản do Fisher (1932), được gọi là kiểm định Fisher Trình bày kết quả

từ những thí nghiệm Monte Carlo so sánh với bộ 3 kiểm định này Cuối cùng, bài viết xem xét một kiểm định dựa vào bất đẳng thức Bonferroni và dẫn đến thử nghiệm Monte Carlo để so sánh kiểm định này với kiểm định Fisher

Kết luận chính của bài viết là kiểm định Fisher đơn giản và dễ hiểu để dùng và là một kiểm định hay hơn kiểm định LL và IPS Vài kiểm định bảo thủ khác (có thể áp dụng trong trường hợp kiểm định tương quan) dựa vào giới hạn Bonferroni cũng được cho là kém hơn kiểm định Fisher

Một vấn đề lớn với kiểm định tích hợp trong mô hình dữ liệu là sự vội vã để khái quát những kiểm định được dùng trong dữ liệu đơn biến cho mô hình dữ liệu dưới những giả định mà hầu như không có ý nghĩa trong thực tế Có nhiều sự tập trung vào các chi tiết kỹ thuật và ít câu hỏi được trả lời Điều này làm cho nó không thật sự hữu ích trong thực tế

3 Phát triển tài chính và hành vi đầu tư năng động: Bằng chứng từ mô hình hồi quy tự động (vector autoregression):

Áp dụng mô hình hồi quy tự động dữ liệu các công ty từ 36 quốc gia để nghiên cứu mối quan hệ năng động giữa các điều kiện tài chính doanh nghiệp và đầu tư Bằng cách sử dụng chức năng

Trang 3

phản ứng để tách các yếu tố cơ bản (chẳng hạn như lợi nhuận biên của đầu tư) từ các yếu tố tài chính (chẳng hạn như tiềm lực tài chính nội bộ) ảnh hưởng đến mức độ đầu tư Bài viết cũng tìm

ra những tác động của các yếu tố tài chính vào việc đầu tư có ý nghĩa lớn hơn ở các nước có hệ thống tài chính kém phát triển hơn Những phát hiện của bài viết nhấn mạnh vài trò của sự phát triển tài chính trong việc cải thiện vấn đề trợ cấp và phát triển vốn

Không giống như các lý thuyết đầu tư tân cổ điển, bài viết đã dựa vào thông tin bất cân xứng nhấn mạnh vai trò của rủi ro đạo đức và sự lựa chọn bất lợi vào một quyết định của công ty để đầu tư vào các giá trị vật chất và con người Kết quả là sự đối lập cổ điển giữa các biến thực và các biến tài chính bị phá vỡ Hay nói cách khác, các biến tài chính có thể có một tác động lên các biến thực như mức độ của đầu tư và lãi suất thực cũng như ảnh hưởng và mở rộng những cú sốc ngoại sinh cho nền kinh tế

Giá trị ròng của một công ty có thể được dùng như một tài sản thế chấp để làm giảm chi phí đại diện với sự hiện diện của thông tin bất cân xứng giữa người cho vay và người vay Trong mô hình này thì quyết định đầu tư của công ty không chỉ phụ thuộc vào hiện giá của năng suất biên của vốn mà còn phụ thuộc vào mức độ thế chấp sẵn có của công ty khi họ ký vào hợp đồng vay mượn Có một sự thật rằng các công ty dường như thích nguồn tài chính bên trong hơn so với bên ngoài cho quỹ đầu tư của họ Mối liên hệ giữa chi phí tài chính bên ngoài và các quyết định đầu tư không chỉ làm sáng tỏ tính năng động của chu kỳ kinh doanh mà còn đưa ra một nhân tố quan trọng trong sự hiểu biết về sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế Ước lượng mối quan hệ giữa đầu tư và các biến tài chính là một thử thách vì thật khó cho một kinh tế gia quan sát thấy giá trị ròng và các cơ hội đầu tư của công ty Về lý thuyết, việc đo lường các cơ hội đầu

tư là hiện giá của khoản lợi tương lai mong đợi từ vốn đầu tư tăng thêm, gọi chung là biên q

(marginal q) Khó khăn trong việc xác định biên q, dẫn đến kết quả thấp trong khả năng mở

rộng của mô hình q, gây ra những tính toán các thông số chi phí điều chỉnh không hợp lý Một cách đo lường được sử dụng rộng rãi khả năng của các quỹ nội bộ là dòng tiền Tuy nhiên dòng tiền hoàn toàn tương quan với khả năng sinh lời trong tương lai của đầu tư Điều này làm khó phân biệt sự phản hồi của đầu tư đến các nhân tố cơ bản, như lợi nhuận biên và các nhân tố tài chính, như giá trị ròng

Bài viết đóng góp lý thuyết về những ràng buộc tài chính và đầu tư Đó là mối quan hệ phức tạp giữa các cơ hội đầu tư và tình trạng tài chính của các công ty trong khi cho phép sự đa dạng trong mức độ của các biến Nhờ cách tiếp cận mô hình hồi quy (VAR) mà các kết quả không dựa vào những giả định, cho rằng việc dùng lý thuyết q về đầu tư hoặc phương trình Euler là cần thiết Bằng cách phân tích trực giao chức năng phản hồi chúng ta có thể chia sự phản hồi của đầu

tư thành những cú sốc đến từ dạng nhân tố cơ bản hoặc tài chính Cuối cùng, bài viết đưa ra bằng chứng cho rằng đầu tư vào các công ty đang hoạt động ở các nước tài chính kém phát triển cần đưa ra những mô hình năng động phù hợp với các ràng buộc tài chính hiện có ở nước đó

Bài viết này đã dùng cách tiếp cận mô hình VAR để phân tích những dữ liệu của công ty và chỉ

ra rằng khả năng thanh khoản của các quỹ nội bộ quan trọng hơn là việc công ty thực hiện một quyết định đầu tư ở những nước nơi mà hệ thống tài chính không phát triển tốt Ý nghĩa hơn nữa

là bài viết đã tìm thấy sự tác động của các cú sốc đến chứng khoán tiền hay dòng tiền có ý nghĩa cao hơn đối với những công ty ở những quốc gia có trình độ phát triển tài chính thấp Ở các nước tài chính kém phát triển, khi mức độ đầu tư của các công ty bị hạn chế vì khả năng tiếp cận được nguồn tài chính bên ngoài của họ bị ảnh hưởng bởi những cú sốc đến các quỹ nội bộ thì sự tích lũy của vốn sẽ ít hiệu quả hơn, vì vậy, dẫn đến phát triển kinh tế chậm hơn Bài viết đã đóng góp

lý thuyết về những ràng buộc tài chính và những quyết định đầu tư cũng như lý thuyết tài chính

và phát triển

Ngày đăng: 18/04/2022, 09:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w