Mục tiêu của chính sách tiền tệ Để đảm bảo ổn định nền kinh tế, giữ vững sự cân bằng trong tăng trưởng, pháttriển nền kinh tế của các thị trường quan trọng.. Thực trạng chính sách tiền t
Trang 2BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC
Họ và tên Phân công công việc
Vũ Ngọc Anh Chính sách tiền tệ ở Việt Nam 2020
Trần Thị Bình Lời mở đầu, chính sách tiền tệ ở Việt Nam 2018, kết luận,
hoàn thiện bài tiểu luận
Nguyễn Thị Chanh Chính sách tiền tệ ở Việt Nam 2020, đề xuất một số giải
pháp
Hoàng Thị Kiều Chinh Chính sách tiền tệ ở Việt Nam 2018
Hoàng Văn Đại Chính sách tiền tệ ở Việt Nam 2019
Trương Văn Đoàn Cơ sở lý luận của chính sách tiền tệ
Lương Thị Khánh Dư Chính sách tiền tệ ở Việt Nam 2019
Trang 3BẢNG ĐÁNH GIÁ CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM
Tập thể nhóm đánh giá mức độ hoàn thành công việc (Tối đa 100%)
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
Chính sách tiền tệ là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cực kì quan trọng củanhà nước trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là nền kinh tế thị trường mở mà ViệtNam đang hướng đến Chính sách tiền tệ có ảnh hưởng lớn đến các biến số vĩ mô như:công ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm phát Ngoài ra, nó còn có nhiệm vụ tácđộng vào nhiều hướng nhằm: tạo ra đầu tư, tạo ra tiết kiệm và tạo ra sự ổn định tiền tệ,
ổn định giá, ổn định tỷ giá hối đoái Như vậy, chính sách tiền tệ góp phần vào sự thànhcông hay thất bại của sự phát triển kinh tế Nhận thức được tầm quan trọng của chínhsách tiền tệ đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và nền kinh tế Việt Nam nóiriêng, trên cơ sở những kiến thức đã được học từ thầy cô và tài liệu tham khảo, với
môn học Kinh tế học vĩ mô, nhóm em xin chọn đề tài “Chính sách tiền tệ và việc vận dụng chính sách tiền tệ ở Việt Nam từ 2018 đến 2020” với mong muốn được hiểu cũng
như làm rõ hơn về vấn đề này Nội dung nghiên cứu bao gồm các chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp
Về mục đích nghiên cứu: nghiên cứu xem tác động của chính sách tiền tệ đến cácbiến số kinh tế vĩ mô, từ đó đánh giá hiệu quả của chính sách tiền tệ tại Việt Nam tronggiai đoạn 2018-2020
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu: đưa ra cơ sở lý luận về chính sách tiền tệ,
sự vận dụng chính sách tiền tệ ở Việt Nam từ năm 2018 đến 2020 và đề xuất các nhómgiải pháp nhằm nâng cao chính sách tiền tệ tại Việt Nam trong thời gian tới
Về ý nghĩa khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu: chính sách tiền tệ gópphần vào sự thành công hay thất bại của sự phát triển kinh tế Ở Việt Nam, Chính sáchtiền tệ và công cụ của nó đang từng bước hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với nềnkinh tế Với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam việc lựa chọn các công cụ nào và sửdụng nó ra sao ở các giai đoạn cụ thể của nền kinh tế luôn là một vấn đề thường xuyênphải quan tâm theo dõi và giải quyết đối với các nhà hoạch định và điều hành chínhsách tiền tệ quốc gia, các nhà nghiên cứu kinh tế Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tếtrong nước và quốc tế như hiện nay thì việc nghiên cứu về chính sách tiền tệ là mộtvấn đề có ý nghĩa lý luận thực tiễn cao Việt Nam xác định mục tiêu tăng trưởng kinh
tế - công bằng xã hội, vì vậy việc lựa chọn giải pháp để xây dựng và điều hành chínhsách tiền tệ quốc gia có hiệu quả nhất vẫn là một vấn đề khó khăn và phức tạp
Trang 6NỘI DUNG NGHIÊN CỨUCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN VỀ NGHIÊN CỨU.
1.1 Mục tiêu và công cụ của chính sách tiền tệ
1.1.1 Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Để đảm bảo ổn định nền kinh tế, giữ vững sự cân bằng trong tăng trưởng, pháttriển nền kinh tế của các thị trường quan trọng Giữa thị trường hàng hóa và thị trườngtiền tệ luôn phải giữ cân bằng, nếu hai thị trường này không cân bằng nhau, lượng tiềntrong lưu thông lớn hơn (nhỏ hơn) giá trị hàng hóa sẽ xảy ra tình trạng lạm phát (hoặcgiảm phát) Điều này xảy ra sẽ không có lợi cho nền kinh tế Vì vậy, ngân hàng trungương thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lênlượng cung tiền, nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp, giảm lạmphát Ổn định nền kinh tế với:
- Mức sản lượng cân bằng (Y*) bằng mức sản lượng tiềm năng (Yp)
- Thất nghiệp thực tế bằng thất nghiệp tự nhiên
- Lạm phát ở mức vừa phải
1.1.2 Công cụ của chính sách tiền tệ.
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc: là tỷ lệ tối thiểu giữa tiền mặt so với tiền gửi mà ngân hàng
trung ương quy định các ngân hàng thương mại phải thực hiện Ngân hàng thương mạichỉ được phép dự trữ lượng tiền mặt lớn hơn mức quy định chứ không được dự trữmức thấp hơn Nếu lượng tiền mặt giảm thấp hơn so với quy định thì ngân hàngthương mại đó phải đi vay bổ sung vào phần thiếu hụt đó, thông thường vay từ ngânhàng trung ương Sự gia tăng hay giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương
sẽ làm thay đổi lượng cung tiền trên thị trường tiền tệ
- Lãi suất chiết khấu: là lãi suất mà ngân hàng trung ương áp dụng đối với khoản tiền
cho ngân hàng thương mại vay Bằng cách quy định lãi suất chiết khấu cao hay thấp,ngân hàng trung ương có thể tác động đến dự trữ tiền mặt tại các ngân hàng thươngmại
- Nghiệp vụ thị trường mở: Ngân hàng trung ương thay đổi cơ sở tiền khi thực hiện việc
mua bán chứng từ có giá, chứng khoán trên thị trường mở
✓ Muốn mở rộng tiền tệ: mua chứng từ có giá, chứng khoán trên thịtrường, do đó sẽ đẩy tiền mặt vào lưu thông
✓ Muốn thu hẹp tiền tệ: bán chứng từ có giá, chứng khoán, thu tiền về,giảm lượng tiền mặt trong xã hội
Trang 7Hai công cụ trên của ngân hàng trung ương làm thay đổi số nhân tiền, còn công
cụ nghiệp vụ thị trường mở làm thay đổi cơ sở tiền Do cung tiền (MS) bằng cơ sở tiềnnhân với số nhân tiền tệ, thực thi nghiệp vụ thị trường mở sẽ làm thay đổi cung tiền
1.2 Nguyên tắc điều hành chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ là những quyết định của chính phủ nhằm tác động đến lượngcung tiền và lãi suất Chính phủ sẽ căn cứ vào vị trí mà sản lượng thực tế (hay còn gọi
là mức sản lượng cân bằng Y*) so với sản lượng tiềm năng (Yp) để quyết định thựchiện chính sách tiền tệ mở rộng hay thu hẹp
1.2.1 Trường hợp nền kinh tế hoạt động chưa hết năng lực (Y* < Yp)
Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng làm tăng lượng
↑MS → i↓ → (C, I, X)↑ → AD↑ → Y↑
1.2.2 Trường hợp nền kinh tế lạm phát cao (Y* > YP)
Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt làm giảm lượng
cung tiền bằng cách:
Bán ra chứng từ có giá (chứng khoán)
Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Tăng lãi suất chiết khấu
Cơ chế tác động: ↓MS → i↑ → (C, I, X) ↓ → AD↓ → Y↓
Trang 81.3 Định lượng chính sách tiền tệ
Giả định rằng mục tiêu của chính sách tiền tệ thay đổi lượng cung tiền trong nềnkinh tế nhằm đạt được sản lượng tiềm năng (YP) Vấn đề đặt ra là cần điều chỉnhlượng cung tiền một mức là bao nhiêu để sản lượng cân bằng thay đổi một mức (∆Y) (∆Y =YP – Y)
Ngân hàng nhà nước điều chỉnh cung tiền một mức thì sản lượng cân bằng củanền kinh tế thay đổi một mức (∆Y)
1.4 Những hạn chế của chính sách tiền tệ
Trong phân tích lý thuyết chúng ta thấy chính sách tiền tệ rất hiệu quả trong việcthực thi chính sách vĩ mô nhưng thực tế chính sách tiền tệ gặp phải một số vấn đề làmcho nó không hiệu quả như trong lý thuyết bởi vì:
Độ trễ của chính sách: Trên thị trường tiền tệ có nhiều giao dịch đã được thoảnthuận từ trước khi có chính sách tiền tệ mới ban hành vì vậy sự tác động của chínhsách đến điều chỉnh hành vi của các chủ thể trên thị trường có độ trễ nhất định
Mức độ tác động tác động của chính sách tiền tệ phụ thuộc vào hệ số phản ảnhmối quan hệ giữa cầu tiền với lãi suất: khi lãi suất thay đổi sẽ tác động đến lượng cầutiền trong nền kinh tế
Sự nhạy cảm của đầu tư với lãi suất: điều này phản cho tâm lý, kỳ vọng của nhàđầu tư, định chế tài chính Chính phủ sử dụng công cụ lãi suất chiết khấu để điều chỉnhlượng cung tiền trong nền kinh tế, nhưng thực tế rất khó xác khối lượng dự trữ quámức của các ngân hàng trung gian nhằm đối phó với lãi suất chiết thay đổi Ngoài ra,khi nền kinh tế suy thoái, ngân hàng trung ương có giảm lãi suất để kích thích tăngtrưởng kinh tế, nhưng thực tế rất nhiều doanh nghiệp không tham vay vốn với lãi suấtthấp để mở rộng kinh doanh trong bối cảnh suy thoái kinh tế, và ngược lại
Trang 9CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
2.1 Thực trạng chính sách tiền tệ và việc vận dụng chính sách tiền tệ ở Việt Nam năm 2018
Năm 2018 tăng trưởng tín dụng thấp, nhưng tăng trưởng kinh tế vẫn cao, phản ánh tính hiệu quả của dòng vốn tín dụng và sự phát triển cân đối, hợp lý hơn của thị trường tài chính.
Tính tới thời điểm cuối năm 2018, kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, lạm phát đượckiểm soát Tăng trưởng GDP năm 2018 của đất nước đạt 7,08% cao nhất trong giaiđoạn 2008 – 2018 Sản xuất công nghiệp tiếp tục giữ ở mức cao, tăng hơn 11,4%.Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn tiếp tục tăng trưởng ấn tượng 13,7% Tổngmức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 12,7% Khách quốc tế trongnăm đạt 15,5 triệu lượt, tăng 11,7% Xuất siêu ở mức kỷ lục 7,2 tỷ USD Thành lậpmới doanh nghiệp tiếp tục tăng mạnh Các doanh nghiệp đăng ký thành lập mới vớivốn đăng ký tăng 14,1%, tổng vốn đăng ký mới và bổ sung đạt hơn 3,8 triệu tỷ đồng.Hơn 34 nghìn doanh nghiệp trở lại hoạt động Trong năm 2018, thị trường tiền tệ tíndụng hoạt động trong bối cảnh chính sách tiền tệ được điều hành theo hướng chủ động,linh hoạt và thận trọng, phối hợp với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ
mô khác nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Việc điều hành chính sách tiền tệ thận trọng,kiên định với mục tiêu ổn định vĩ mô đã giúp thị trường có những điểm sáng như tăngtrưởng tín dụng chậm lại, tỷ giá và mặt bằng lãi suất ổn định trong bối cảnh kinh tế thếgiới nhiều biến động trái chiều
2.1.1 Kiểm soát lạm phát
Trong năm 2018, yếu tố bất lợi nhất trong điều hành CSTT thực hiện mục tiêukiểm soát, đó là những diễn biến phức tạp của giá cả thế giới Do chiến tranh thươngmại Mỹ - Trung và bất ổn chính trị ở Trung Đông, khiến mặt hàng lương thực thựcphẩm, giá dầu lúc tăng cao, lúc giảm sâu Chỉ số giá lương thực, thực phẩm tăng đáng
kể trong 9 tháng, đạt đỉnh trong tháng 4 với 91,71 điểm, sau đó liên tục giảm cho tớithời điểm kết thúc quý 3/2018 và tiếp tục đà giảm nhẹ trong tháng 9 đạt mức 84,77điểm Giá dầu sau khi giảm trong 2 tháng đầu năm, tăng mạnh trở lại bắt đầu từ tháng3/2018; giảm nhẹ trong tháng 8, dao động ở mức 73 USD/thùng; và bật tăng vào ngày25/9 lên mức 81,20 USD/thùng, mức cao nhất kể từ năm 2014 Tính đến hết ngày29/11/2018, giá dầu Brent và WTI tăng lần lượt 33% và 30% so với mức trung bình
Trang 10năm 2017 Tuy nhiên, NHNN đã kiểm soát được lạm phát ổn định trong năm, không
có những cú sốc về giá cả, chỉ số giá tiêu dùng bình quân cả năm khoảng 3,5%, lạmphát cơ bản bình quân năm 2018 tăng 1,48% so với bình quân năm 2017
Đồ thị 1: Diễn biến LPCN-CPI năm 2018
Kiểm soát được lạm phát ổn định ở mức này, xét từ góc độ của CSTT có thểthấy, NHNN đã kiểm soát tốt cung tiền, chủ động trong việc điều chỉnh lượng cungtiền tác động đến lạm phát, điều này được phản ánh bởi diễn biến lạm phát cơ bảnđược kiểm soát tương đối hợp lý, hài hòa với mức độ tăng/giảm giá hàng hóa do tácđộng bởi các yếu tố phi tiền tệ, đảm bảo kiểm soát được lạm phát ở mức mục tiêu Dovậy, ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định tài chính vẫn là ưu tiên lớn nhất trong điều hànhCSTT nhằm kiểm soát lạm phát Hỗ trợ tích cực cho kiểm soát lạm phát ngoài việcđiều tiết cung tiền hợp lý, thì việc kiểm soát nợ xấu, nâng cao hiệu quả sử dụng dòngtiền (vốn tín dụng) cũng có tác động tốt đến kiểm soát lạm phát (đồ thị 1)
2.1.2 Hỗ trợ tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế thế giới có sự phục hồi nhưng không mấy thuận lợi cho ViệtNam Mặc dù tăng trưởng kinh tế thế giới 6 tháng cuối năm có dấu hiệu chậm lại sovới đầu năm, nhưng cả năm vẫn đạt mức tăng 3,9% (IMF dự báo) Diễn biến kinh tếthế giới như vậy cũng ảnh hưởng bất lợi đến việc tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam vẫn đạt kết quả khả quan Theo thông báo của Tổng cụcThống kê cho thấy, GDP năm 2018 tăng 7,08% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăngcao nhất cùng kỳ kể từ năm 2008 trở về đây Đáng chú ý, nhập siêu hàng hóa từ HànQuốc và Trung Quốc của Việt Nam sau 11 tháng đều giảm và xuất siêu sang Hoa Kỳ
và EU đều tăng so cùng kỳ năm 2017; Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm
2018 ước tính đạt 19,1 tỷ USD, tăng 9,1% so với năm 2017 Trong năm 2018, còn có6.496 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là9,89 tỷ USD, tăng 59,8% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó có 1.113 lượt góp vốn,
Trang 11mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 4,25 tỷ USD
và 5.383 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăngvốn điều lệ với giá trị 5,64 tỷ USD Đạt được kết quả này không thể không có sự đónggóp tích cực của CSTT Năm 2018, mặc dù tăng trưởng tín dụng được kiểm soát chặtchẽ dưới 15%, nhưng dòng vốn được ưu tiên tập trung vào các ngành sản xuất, chếbiến chế tạo, nông nghiệp nông thôn góp phần đáng kể vào việc cải thiện cơ cấu kinhtế
2.1.3 Ổn định thị trường tiền tệ
Năm 2018 phản ánh bức tranh "một thị trường tài chính tiền tệ ổn định" trong bốicảnh thị trường tài chính quốc tế cũng không ít những biến động khó lường Mặc dùvậy, thị trường tiền tệ Việt Nam vẫn giữ được ổn định
Trên thị trường tiền tệ Việt Nam năm 2018, lãi suất và tỷ giá đã giữ được ổnđịnh Tỷ giá VND trong năm tăng khoảng 2,4% nằm trong mục tiêu điều hành là tỷ giádao động tăng từ mức 2-3% trong năm 2018; lãi suất VND nhìn chung ổn định, có xuhướng tăng nhẹ vào những tháng cuối năm, tính chung cả năm lãi suất tiền gửi bìnhquân tăng từ 5,11% năm 2017 lên 5,25% năm Lãi suất cho vay bình quân từ mức8,86% năm 2017 lên khoảng 8,91% Mặt bằng lãi suất huy động đồng Việt Nam phổbiến ở mức 0,6%-1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng;4,3%-5,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,3%-6,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; Kỳ hạn trên 12tháng ở mức 6,5%-7,3%/năm Lãi suất cho vay đồng Việt Nam phổ biến khoảng 6%-9%/năm đối với ngắn hạn và 9%-11%/năm đối với trung và dài hạn Nguyên nhân tănglãi suất chủ yếu do lạm phát kỳ vọng tăng và các TCTD cơ cấu lại nguồn vốn để đápứng lộ trình thực hiện các tỷ lệ an toàn trong năm 2019 như tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vaytrung dài hạn giảm xuống 40% và chuẩn bị tăng vốn cấp 2 theo “Đồ thị 2”
Đồ thị 2: Diễn biến tỷ giá năm 2018
Trang 12Tỷ lệ M2/GDP đến cuối năm 2018 ước khoảng 168%, tăng thấp hơn so với bìnhquân giai đoạn 2012-2016 Tín dụng năm 2018 ước tăng 14-15%, thấp hơn 3-4 điểmphần trăm so với năm 2017 Đây cũng là mức thấp nhất từ năm 2015 đến nay Tỷ lệ tíndụng/GDP khoảng 134%, tăng 1,7 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2017, mức tăngthấp nhất kể từ năm 2015 Cung tiền, tín dụng đang dần được kiểm soát chặt chẽ đểđảm bảo mục tiêu ổn định vĩ mô Vấn đề tăng trưởng tín dụng thấp, mà tăng trưởngkinh tế vẫn đạt mục tiêu, được đánh giá là điểm tích cực trong diễn biến thị trường tiền
tệ năm nay Nếu như những năm trước đây, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thì đều dựavào tăng trưởng tín dụng Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng cao thường đi kèm với rủi rotín dụng, đó là nợ xấu tăng cao, hậu quả là dẫn đến lạm phát cao vì dòng tiền bơm rakhông tạo hiệu quả trong việc tạo ra giá trị sản phẩm mới, lạm phát cao dẫn đến bất ổn
vĩ mô Năm 2018 tăng trưởng tín dụng thấp, nhưng tăng trưởng kinh tế vẫn cao, nóphản ánh tính hiệu quả của dòng vốn tín dụng và sự phát triển cân đối, hợp lý hơn củathị trường tài chính Điều này sẽ càng thu hút các nhà đầu tư vào Việt Nam; Tốc độtăng tổng phương tiện thanh toán chủ yếu không phải tác động từ yếu tố tín dụng, mà
do việc tài sản có ngoại tệ, đồng nghĩa với việc NHNN mua được nhiều ngoại tệ cho
dự trữ ngoại hối, yếu tố này cũng tác động Thanh khoản của thị trường được đảm bảo:
Hệ số LDR năm nay là 87,5 % thấp hơn một chút so với năm 2017 (87,8), với mứcnày thị trường luôn đảm bảo được khả năng thanh khoản Điều này cho thấy, các tổchức tín dụng đã nâng cao được khả năng quản trị nguồn vốn của mình cùng với việchiệu quả điều tiết tiền tệ của NHNN, dòng vốn không bị để tồn đọng cao cho việc bảođảm thanh khoản Mặc dù những tháng cuối năm nhiều NHTM tăng lãi suất huy độngvốn để huy động vốn, nó không phản ánh tính thanh khoản kém dồi dào, nó cho thấytính chủ động của các TCTD trong việc cân đối nguồn vốn của mình sát với cung cầuvốn thị trường Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng phản ánh tương đối chính xáccung, cầu vốn trên thị trường Năm 2018, trên thị trường liên ngân hàng lãi suất quađêm VND tăng từ mức bình quân khoảng 1,53% trong đầu năm lên khoảng 3% trongnửa cuối năm 2018 Điều này cũng phản ánh tính thời vụ của thị trường tiền tệ trongnăm
Điều đáng nói là CSTT đã hỗ trợ tích cực cho quá trình tái cơ cấu hệ thống cácNHTM, như tái cơ cấu nguồn vốn, nâng cao chất lượng sử dụng nguồn vốn do cácbiện pháp thắt chặt tăng trưởng tín dụng và các yêu cầu về tăng tỷ lệ đảm bảo an toàn
Trang 13vốn trong hoạt động, cũng như các biện pháp hỗ trợ thanh khoản kịp thời cho cácTCTD.
2.1.4 Thực hiện đồng bộ, linh hoạt các công cụ CSTT
Năm 2018, NHNN đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 10/01/2018 và Chỉthị số 04/CT-NHNN ngày 02/8/2018 về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháptrọng tâm trong năm 2018, đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả Trên cơ sở
đó, NHNN đã triển khai đồng bộ các giải pháp CSTT và hoạt động ngân hàng, đạtđược các mục tiêu đề ra từ đầu năm, qua đó góp phần quan trọng trong kiểm soát lạmphát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý đồng thời đảm bảo antoàn hoạt động của các tổ chức tín dụng, cụ thể:
Trong năm 2018, NHNN đã thực hiện đồng bộ, linh hoạt các công cụ CSTT để
ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, góp phần kiểm soát lạm phát ở mức 3,54% và hỗtrợ tăng trưởng kinh tế đạt 7,08%, cao nhất trong 11 năm trở lại đây Đến cuối năm
2018, tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 12,5% so với cuối năm 2017
Về điều hành chính sách tiền tệ trong năm 2018, NHNN đã thực hiện đồng bộ,linh hoạt các công cụ CSTT để ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, góp phần kiểmsoát lạm phát ở mức 3,54% và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế đạt 7,08% - cao nhất trong 11năm trở lại đây Đến cuối năm 2018, tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 12,5%
so với cuối năm 2017 “NHNN điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô
và tiền tệ, tập trung điều tiết và đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh khoản cho các TCTD.Mặt bằng lãi suất của các TCTD năm 2018 về cơ bản ổn định, lãi suất cho vay phổbiến khoảng 6-9%/năm đối với ngắn hạn, trung - dài hạn khoảng 9-11%/năm Tỷ giá
và thị trường ngoại tệ ổn định, thông suốt, NHNN tiếp tục mua được ngoại tệ bổ sung
dự trữ ngoại hối” Tỷ giá và thị trường ngoại tệ ổn định, thông suốt, NHNN tiếp tụcmua được ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối Nhà nước Trong năm 2018, NHNN đãchủ động và linh hoạt điều tiết thị trường ngoại hối, điều hành tỷ giá trung tâm linhhoạt, phối hợp đồng bộ các công cụ CSTT, điều tiết thanh khoản, lãi suất tiền VNDhợp lý để ổn định thị trường, có điều kiện bổ sung dự trữ ngoại hối, góp phần kiểmsoát lạm phát Nhờ đó, tỷ giá và thị trường ngoại tệ ổn định, thanh khoản đảm bảo, cácgiao dịch ngoại tệ diễn ra thông suốt, nhu cầu mua-bán ngoại tệ hợp pháp của nền kinh
tế được đáp ứng đầy đủ, kịp thời Công tác tái cơ cấu hệ thống các TCTD gắn với xử
lý nợ xấu, qua hơn 1 năm triển khai Quyết định 1058, năng lực tài chính của các
Trang 14TCTD được củng cố, vốn điều lệ tăng dần; chất lượng quản trị điều hành của cácTCTD từng bước được nâng cao để tiệm cận với thông lệ quốc tế; cơ cấu tổ chức bộmáy kiểm tra, giám sát ở tất cả các cấp từng bước được kiện toàn, ngăn ngừa xung độtlợi ích; tình trạng sở hữu chéo được giảm thiểu Công tác thanh tra, giám sát được tăngcường đã góp phần ngăn chặn, phát hiện và xử lý kiên quyết các rủi ro, tồn tại và saiphạm của TCTD, thúc đẩy các TCTD triển khai tái cơ cấu gắn với xử lý nợ xấunghiêm túc, có hiệu quả Ước tính đến cuối tháng 12/2018, toàn hệ thống các TCTD đã
xử lý được 149,22 nghìn tỷ đồng nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống TCTD là1,89%, giảm so với mức 2,46% cuối năm 2016 và mức 1,99% cuối năm 2017
2.2 Thực trạng chính sách tiền tệ và việc vận dụng chính sách tiền tệ ở Việt Nam năm 2019
Năm 2019 là một năm thắng lợi đối với nền kinh tế Việt Nam khi duy trì được tăng trưởng cao và bền vững trong bối cảnh suy giảm thương mại toàn cầu, các rủi ro
vĩ mô nảy sinh và gia tăng suốt năm Đặc biệt, tăng trưởng của Việt Nam được duy trì chủ yếu do khu vực sản xuất và bán lẻ.
Thực tế, ngành sản xuất tăng trưởng mạnh là đầu tàu kéo thương mại phát triển.Xuất khẩu của Việt Nam, vẫn đạt khoảng 8% so cùng kỳ (tính tới thời điểm tháng 11-2019), trong bối cảnh chiến tranh thương mại đang tạo ra những bất ổn trong kinh tếthế giới Đây là mức tăng trưởng khá ấn tượng so các nước khác trong khu vực và giúpthặng dư thương mại đạt mức kỷ lục với mức xuất siêu 11 tháng năm 2019 lên đến 9,1
tỷ USD Bên cạnh đó, bán lẻ được kỳ vọng vượt qua mức của năm 2018 khi đã tăng12,6% so cùng kỳ (tính tới tháng 11) Các chuyên gia kinh tế đã kỳ vọng mức tăngtrưởng sẽ được duy trì một cách bền vững trong điều kiện vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài (FDI) đang và sẽ tiếp tục đổ vào nền kinh tế Về điều hành chính sách tiền tệ,Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam đã có một năm thành công khi sử dụngnhững chính sách hợp lý, linh hoạt để ổn định tỷ giá, kiềm chế lạm phát nhằm thúc đẩytăng trưởng kinh tế (TTKT) Trong năm, cơ quan điều hành đã chủ động sử dụng mộtloạt các công cụ thị trường tiền tệ như hạ lãi suất điều hành, hạ lãi suất thông qua kênhtín phiếu/thị trường mở, hạ tỷ giá mua vào song song việc điều chỉnh tăng dần tỷ giátrung tâm phù hợp diễn biến thị trường VND tiếp tục nằm trong nhóm những đồngtiền ổn định nhất khu vực bất chấp những bất ổn địa chính trị và các sự kiện kinh tếtoàn thế giới Cặp tỷ giá USD/VND gần như duy trì đà ổn định xuyên suốt trong hầu