ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc Số /ĐA UBND Bà Rịa Vũng Tàu, ngày tháng năm 2019 ĐỀ ÁN Thực hiện chế định Thừa phát lại trên địa bàn tỉn[.]
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐỀ ÁN Thực hiện chế định Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Phần I
CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
Thực hiện chủ trương cải cách tư pháp, xã hội hóa một số nội dung công tác
tư pháp, Đảng ta đã ban hành nhiều văn kiện quan trọng Ngày 02 tháng 01 năm
2002, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm
công tác tư pháp trong thời gian tới xác định “Nghiên cứu việc xã hội hóa một số
hoạt động bổ trợ tư pháp” Đây là chủ trương lớn và quan trọng, phù hợp với kinh
nghiệm lịch sử pháp luật của Việt Nam, phù hợp với xu hướng xã hội hóa một số hoạt động bổ trợ tư pháp của các nước tiên tiến trên thế giới và quan trọng hơn là đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của xã hội nước ta trong giai đoạn hội nhập và phát triển Từ đó, chủ trương xã hội hóa một số hoạt động thi hành án dân sự tiếp tục được khẳng định trong Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của
Bộ chính trị, đó là “Từng bước thực hiện việc xã hội hóa và quy định những hình
thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một
số công việc thi hành án dân sự”, mà cụ thể hơn là “nghiên cứu chế định Thừa phát lại, trước mắt có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương, sau vài năm, trên cơ sở đó tổng kết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo”.
Ngày 14 tháng 11 năm 2008, Quốc hội khóa XII đã thông qua Nghị quyết số 24/2008/QH12 về việc thi hành Luật Thi hành án dân sự, trong đó, giao cho Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số địa phương Ngày 19 tháng 02 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 224/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh” Ngày 24 tháng 7 năm 2009, Chính phủ ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 03/2009/TT-BTP ngày 30 tháng 9 năm 2009 Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Tài chính và Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch số 12/2010/TTLT-BTP-BTC-TANDTC ngày 24 tháng 6 năm 2010 Bộ Tư pháp phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch số 13/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 07 tháng 7 năm 2010 Đây là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cơ bản đầy đủ quy định về quản lý và hoạt động của văn phòng thừa phát lại thí điểm tại thành phố Hồ Chính Minh
DỰ THẢO
Trang 2Qua thực tế triển khai thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh bước đầu đã khẳng định những thành công của mô hình này góp phần cung cấp những luận cứ cho việc hoàn thiện pháp luật về tố tụng và thi hành
án dân sự, cũng như đổi mới hệ thống tổ chức cơ quan Thi hành án Sau khi hết thời hạn thí điểm theo Nghị quyết số 24/2008/QH12, việc tổng kết, báo cáo Quốc hội về kết quả thí điểm tiến hành chưa kịp thời, làm phát sinh vấn đề về giá trị pháp lý của hoạt động Thừa phát lại kể từ khi hết thời hạn thí điểm Vì vậy, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 4 đã thông qua Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23 tháng 11 năm 2012, trong đó, giao cho Chính phủ tiếp tục tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2015 và tiến hành tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện thí điểm để báo cáo Quốc hội tại kỳ họp cuối năm 2015 Căn cứ vào Nghị quyết này, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 510/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm 2013 về việc phê duyệt Đề án “Tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại” theo đề nghị của Bộ Tư Pháp Ngày 24 tháng 6 năm 2013, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 1531/QĐ-BTP về việc chọn địa phương mở rộng thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại Theo đó, Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định mở rộng địa bàn thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại 12 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Ngày 18 tháng 10 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 135/2013/NĐ-CP sửa đổi,
bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh
Tại Báo cáo 538/BC-CP ngày 19 tháng 10 năm 2015 về tổng kết việc triển khai tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23 tháng 11 năm 2012 của Quốc hội cho rằng việc thực hiện chế định Thừa phát lại trong thời gian tới là rất cần thiết, nhằm xã hội hóa mạnh
mẽ hơn nữa hoạt động bổ trợ tư pháp nói chung và thi hành án dân sự nói riêng, góp phần thực hiện tốt chủ trương của Đảng về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; về cải cách hành chính, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế
Ngày 26 tháng 11 năm 2015, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 107/2015/QH13 về thực hiện chế định Thừa phát lại Theo Nghị quyết của Quốc Hội, chấm dứt việc thí điểm và cho thực hiện chế định Thừa phát lại trong phạm vi
cả nước kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 Để triển khai thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13 của Quốc hội, ngày 14 tháng 01 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ
số 107/2015/QH13 của Quốc hội; ngày 01 tháng 6 năm 2016, Bộ Tư pháp có Công văn số 1786/BTP-BTTP gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về triển khai thực hiện chế định Thừa phát lại
Như vậy, việc triển khai thực hiện chủ trương Thừa phát lại đã được Đảng
và Nhà nước tổ chức công phu với những lộ trình và bước đi phù hợp, xây dựng
cơ sở pháp lý làm nền tảng cho việc thực hiện thí điểm thành công chế định Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh và nhân rộng tại một số tỉnh, thành phố trực
2
Trang 3thuộc Trung ương để có đầy đủ cơ sở lý luận cho việc triển khai áp dụng chế định Thừa phát lại trên phạm vi cả nước
II CƠ SỞ THỰC TIỄN
1 Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội
Bà Rịa - Vũng Tàu là một tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Nam Bộ Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, phía Bắc giáp với tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp với Thành phố Hồ Chí Minh, phía Đông giáp với tỉnh Bình Thuận, phía nam giáp với Biển Đông Đây chính là cửa ngõ hướng ra Biển Đông của các tỉnh trong khu vực miền Đông Nam Bộ, do vậy tỉnh có vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế khu vực và quốc gia Sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, vừa có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của khu vực phía Nam, vừa chịu tác
số hơn 1,490 triệu dân bao gồm 08 đơn vị hành chính cấp huyện trong đó có thành phố Vũng Tàu, thành phố Bà Rịa là hai trung tâm kinh tế - chính trị lớn của tỉnh Trong những năm qua, nền kinh tế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng và toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và xây dựng hệ thống chính trị Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh luôn đạt ở mức cao và được đánh giá là địa phương năng động, sáng tạo, luôn đi đầu trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cải cách hành chính, cải cách
tư pháp trong đó có công tác xã hội hóa một số các hoạt động bổ trợ tư pháp
Thành phố Vũng Tàu tiền thân là Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo, là một bán đảo giáp Bà Rịa và huyện Long Điền qua sông Cỏ May, nằm trên bán đảo cùng tên và có cả đảo Long Sơn và đảo Gò Găng, cách Thành phố Hồ Chí Minh 125 km
về phía Đông Nam theo đường bộ và 80 km theo đường chim bay, đây là cửa ngõ quan trọng của vùng Đông Nam Bộ ra biển Với sức hút đầu tư công nghiệp lớn, đóng vai trò là đô thị hạt nhân trong sự phát triển kinh tế - xã hội của cả tỉnh
Thành phố Bà Rịa cách thành phố Hồ Chí Minh 90km về hướng Đông Bắc, cách thành phố Vũng Tàu 25km về hướng Nam, là đầu mối giao thông đường
bộ quan trọng của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có vai trò kết nối các đô thị trong hệ thống đô thị hành lang Quốc lộ 51 của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam như thành phố Biên Hòa - Nhơn Trạch - Đô thị mới Phú Mỹ với thành phố Vũng Tàu, đồng thời do Bà Rịa có vị thế là tâm điểm của 03 tuyến Quốc lộ quan trọng là Quốc lộ 51, Quốc lộ 55 và Quốc lộ 56 nên thành phố Bà Rịa còn là trung tâm kết nối vùng trung du Đông Nam Bộ, có thể tiếp cận với hệ thống cảng biển đang phát triển của Vũng Tàu và Phú Mỹ Thành phố Bà Rịa là trung tâm hành chính - chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, là hạt nhân thúc đẩy quá trình đô thị hoá của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Theo đánh giá tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2018 (Báo cáo số 257/BC-UBND ngày 02 tháng 11 năm 2018 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), các ngành và lĩnh vực kinh tế tại Bà Rịa - Vũng Tàu tiếp tục giữ mức tăng trưởng khá và tăng vượt mức chỉ tiêu kế hoạch đề ra Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) trừ dầu thô và khí đốt ước tăng 8,73% Hầu hết các sản phẩm chủ yếu đều có tăng trưởng với mức tăng từ 0,82% đến 46,49%; đặc
Trang 4biệt tác động vào tăng trưởng công nghiệp có yếu tố giá thép năm 2018 tăng cao
so với 2017, các nhà máy thép tăng sản lượng và đóng góp lớn vào tăng trưởng giá
năm 2018, các khu công nghiệp đã thu hút được 54 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký quy đổi tương đương 2,2 tỷ USD, đầu tư chủ yếu vào các lĩnh vực khí hóa lỏng, sản xuất kẽm thỏi và ốc vít chất lượng cao; nhựa; linh kiện ô tô, xe máy… Tính đến hết tháng 10/2018, tổng diện tích đất thuê trong các khu công nghiệp là 2.677 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy là 46,84% trên tổng số khu công nghiệp (15 khu công nghiệp) và 71,29% trên số khu công nghiệp đã xây dựng hạ tầng (10 khu công nghiệp) Thu hút được khoảng 2.600 lao động, nâng tổng số lao động đang làm việc tại các khu công nghiệp lên 58.138 lao động
Về thu hút đầu tư của doanh nghiệp: các doanh nghiệp đã đầu tư hoàn thành
15 dự án đầu tư nước ngoài và 13 dự án đầu tư trong nước; với tổng vốn đầu tư đăng ký là 797 triệu USD và 3.125 tỷ đồng Đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài:
Dự kiến năm 2018, cấp mới 44 dự án và điều chỉnh tăng vốn 14 dự án, tổng vốn
có 351 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký 27.324 triệu USD, trong đó: trong khu công nghiệp 189 dự án, 10.973 triệu USD; ngoài khu công nghiệp 162 dự án, 16.351 triệu USD Đầu tư của doanh nghiệp trong nước: Dự kiến năm 2018, cấp mới 59 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký 18.768 tỷ đồng Lũy kế đến cuối năm 2018, trên địa bàn tỉnh có 532 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký 276.005 tỷ đồng, trong đó: trong khu công nghiệp 187 dự
án, 118.943 tỷ đồng và ngoài khu công nghiệp 345 dự án với tổng vốn đầu tư đăng
ký là 157.062 tỷ đồng
Về phát triển doanh nghiệp: Đã cấp giấy chứng nhận đăng ký cho 1.368 doanh nghiệp thành lập mới, với tổng vốn đăng ký 13.871 tỷ đồng, tăng 24,13% so cùng kỳ; đăng ký tăng vốn cho 114 doanh nghiệp, với số vốn tăng 2.134 tỷ đồng, bằng 49,51% so cùng kỳ; cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động cho 228 chi nhánh, văn phòng đại diện; đăng ký giải thể 183 doanh nghiệp; đăng ký tạm ngưng hoạt động cho 304 doanh nghiệp Số doanh nghiệp tạm ngưng, hoạt động trở lại
đăng ký hoạt động, trong đó số doanh nghiệp thực tế đang hoạt động là 8.402
những kết quả nêu trên đã góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội
1 Thép chiếm tỷ trọng 35% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp Mặc dù vào tháng 6/2018, thị trường Mỹ áp thuế chống phá giá đối với thép cuộn Việt Nam nhưng sản lượng xuất khẩu sang thị trường Mỹ của các doanh nghiệp thép ở tỉnh vẫn ổn định và tăng trưởng do các doanh nghiệp của tỉnh không nằm trong danh sách áp thuế chống phá giá từ Mỹ.
2
Nhà máy sản xuất phụ gia xi măng, bột từ và vật liệu xây dựng từ tái chế xỉ thép của Cty CP Thành Đại Phú mỹ; Kho bãi tổng hợp, nhà xưởng cho thuê và dịch vụ logistics của Công ty TNHH Green HC; Nhà máy ống thép mạ kẽm nhúng nóng Hoa Sen Phú Mỹ của Công ty TNHH Một thành viên Hoa Sen Phú Mỹ; Nhà máy sản xuất tấm tường Panel Bê tông (Tấm tường Acotec) của Công ty TNHH Acotec Hoàng Vũ; Nhà máy sản xuất giàn giáo - coppha và kết cấu thép của Công ty CP
Cơ Khí Võ Đình; Nhà máy sản xuất sơ mi rơ mooc Đức Hùng của Công ty TNHH Vận Tải Minh Phong Toppro; Nhà xưởng thiết kế và gia công các sản phẩm may mặc của Công ty TNHH E-Top Việt Nam; Nhà máy sản xuất và gia công sợi, vải và hạt nhựa Haosheng Vina của Cty TNHH Haosheng vina; Nhà máy pha chế các sản phẩm dầu nhớt của Cty TNHH SHL Asean VN; Xưởng gia công, dán phủ bề mặt gõ nội thất của Công ty TNHH Đại Không gian; Tuyến ống truyền tải nước sạch
từ nhà máy Hồ Đen đến vòng xoay Quốc lộ 51B - đường 3/2 thành phố Vũng Tàu của Công ty CP Cấp nước BRVT; Công ty TNHH Gaylin; Nhà máy sản xuất mạch nha INTERMALT Việt Nam của Cty TNHH Intermalt VN; Cty TNHH thép Tungho VN - GĐ2 của Cty TNHH thép Tungho VN; Cty TNHH Fullxin VN; Nhà máy sản xuất nguyên liệu thức ăn chăn nuôi toàn cầu của CJ Cheiljedang Corporation; Công ty TNHH Nitori Bà Rịa - Vũng Tàu; Cty TNHH Dongjin VN; Nhà máy may túi xách chất lượng cao của Ông Lee Jaedo.
3 Gồm: vốn đầu tư cấp mới 1.782 triệu USD; vốn đầu tư tăng thêm 170 triệu USD.
4 Gồm: 245 doanh nghiệp hết thời hạn tạm ngưng tự động hoạt động trở lại; 46 doanh nghiệp hoạt động trở lại trước thời hạn.
4
Trang 5trên địa bàn tỉnh
Định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực trong năm 2019, trong đó về
đầu tư phát triển: Tiếp tục triển khai thực hiện kêu gọi đầu tư theo danh mục các
dự án kêu gọi, thu hút vốn đầu tư nước ngoài đến năm 2020, trong đó tập trung lĩnh vực dịch vụ logistics, du lịch, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, phát triển nhà ở, xây dựng đô thị mới ; danh mục dự án kêu gọi đầu tư trong lĩnh vực xã hội hóa Tổ chức các cuộc tiếp xúc với các nhà đầu tư có năng lực, kêu gọi đầu tư các dự án có quy mô lớn trên địa bàn tỉnh: Núi Dinh, Safari, khu
đô thị Tây Nam Bà Rịa;…; các dự án du lịch tuyến ven biển Vũng Tàu Long Hải -Phước Hải - Xuyên Mộc và huyện Côn Đảo, Trung tâm Logistics Cái Mép Hạ; Tiếp tục thực hiện các giải pháp hỗ trợ, thúc đẩy các dự án đầu tư: Khu đô thị Bàu Trũng, KDL mũi Nghinh phong, KDL Marina City - Tuần Châu, khu đô thị Gò Găng…Duy trì hoạt động Japan Desk tại Bà Rịa - Vũng Tàu và chuyên gia xúc tiến Hàn Quốc
về xúc tiến đầu tư nhằm nâng cao năng lực xúc tiến đầu tư và tăng cường kênh thông tin giữa nhà đầu tư và các cơ quan quản lý nhà nước Triển khai Dự án “Phát triển kinh tế dựa trên tiềm năng, lợi thế của tỉnh” của cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản Đẩy mạnh các hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm góp phần nâng cao năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
1.1 Khả năng sử dụng các dịch vụ pháp lý nói chung và dịch vụ lập vi bằng nói riêng:
Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ dân sự, kinh tế phát triển đa chiều
và phức tạp dẫn đến nhiều tranh chấp và vi phạm pháp luật do những mâu thuẫn khác nhau về lợi ích Nhu cầu đối với các dịch vụ pháp lý cũng phát triển mạnh dẫn tới sự hình thành nhiều tổ chức có nhiệm vụ hỗ trợ về mặt pháp luật cũng như cung cấp dịch vụ pháp lý cho xã hội như Luật sư, Công chứng, Trọng tài thương mại, Hòa giải thương mại, Giám định tư pháp Sự gia tăng các tranh chấp và vi phạm pháp luật như hiện nay đã tạo ra quá tải đối với cơ quan tư pháp trong việc xử lý các
vi phạm, tranh chấp về trình tự, thủ tục điều tra, thu thập chứng cứ, xác minh hiện trạng, lấy lời khai, tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật đến việc cung cấp, tống đạt các văn bản tố tụng dân sự và thi hành án đều do các cơ quan nhà nước thực hiện Bộ máy chưa đủ về nhân sự với trình độ, phương tiện làm việc chưa đáp ứng, vì vậy tình trạng án tồn đọng chưa xử, bản án đã có hiệu lực pháp luật chưa được thi hành đang là thực tế phải giải quyết
Pháp luật nước ta đã quy định nhiều nguyên tắc cơ bản cho việc điều chỉnh các quan hệ dân sự Một trong những nguyên tắc đó là nguyên tắc cung cấp chứng
cứ và tự chứng minh Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định: Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là
có căn cứ hợp pháp Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự
Như vậy, pháp luật dân sự đã quy định rõ, khi có quyền lợi dân sự bị xâm phạm, các bên có quyền khởi kiện để được bảo vệ, nhưng có nghĩa vụ phải xuất trình chứng cứ để chứng minh yêu cầu đó là hợp pháp, nếu không đưa ra được hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh
Trang 6hoặc chứng minh không đầy đủ đó, nguyên tắc này không những chỉ áp dụng trong lĩnh vực dân sự, mà cả trong các lĩnh vực khác như kinh tế, thương mại, hành chính, lao động
Mặc dù đã được Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định, pháp luật hiện hành lại chưa có một cơ chế hữu hiệu, cụ thể để cá nhân, tổ chức thu thập, xác lập được các chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình Chứng cứ có vai trò rất quan trọng đối với
vụ án, trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp Tuy nhiên, việc thu thập và xuất trình chứng cứ để chứng minh là rất khó khăn, văn bản của các bên tự xác lập, sự kiện pháp lý tự các bên xác nhận chắc chắn không bảo đảm giá trị pháp lý
và độ tin cậy
Trong khi đó, Thừa phát lại với trình độ pháp luật, kỹ năng soạn thảo văn bản có thể lập vi bằng với hình thức, nội dung và hình ảnh lưu lại sự kiện giúp tạo lập chứng cứ, bổ sung nguồn chứng cứ để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự
Việc sử dụng các dịch vụ pháp lý như luật sư, đấu giá, công chứng tại tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ từ các cấp, chính quyền, người dân, tổ chức trên địa bàn tỉnh, qua đó giảm tải công tác hành chính
tư pháp cho Uỷ ban nhân dân cấp xã, cấp huyện theo đúng chủ trương của Đảng
và Nhà nước về cải cách hành chính và đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ công, việc triển khai thực hiện chế định Thừa phát lại trong đó có dịch vụ lập vi bằng giúp cho cá nhân, cơ quan, tổ chức ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác Vi bằng của Thừa phát lại là công cụ để cá nhân, cơ quan, tổ chức tự bảo vệ mình trong quá trình đàm phán, ký kết, thực hiện các giao dịch dân sự, hạn chế tranh chấp, rủi ro về pháp lý trong các giao dịch dân sự, cũng như xác lập các chứng cứ để bảo vệ mình trong quá trình hòa giải, thương lượng hoặc xét xử, dịch vụ lập vi bằng sẽ đáp ứng được nhu cầu rất lớn, phong phú, đa dạng trên nhiều lĩnh vực, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho cá nhân, cơ quan, tổ chức
1.2 Đối với công tác xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp thi hành bản án:
- Việc xác minh điều kiện thi hành án tại Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay, đối với tất cả các vụ việc (trừ việc trả tiền, tài sản, tiêu hủy, sung công…) thì cơ quan thi hành án đều tiến hành xác minh về nhân thân, tài sản Việc xác minh thi hành
án chủ yếu thông qua chính quyền cấp xã; cơ quan quản lý hộ khẩu, đất đai, xây dựng, bồi thường giải tỏa, ngân hàng, các cơ quan quản lý chuyên ngành khác khi xác minh các vụ việc có liên quan Việc xác minh gặp một số khó khăn như: đương sự vắng nhà, ở xa hoặc cư trú ở nhiều nơi khác nhau; đương sự đang thụ hình; tài sản ở nhiều địa phương khác nhau; xác minh tài khoản phải thông qua ngân hàng; đất hộ gia đình, đất có sai lệch về diện tích, ranh giới, chủ sử dụng; tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng khác mà đương sự chưa đăng ký hoặc đã chuyển dịch qua nhiều chủ… vì vậy, việc xác minh gặp nhiều khó khăn, mất nhiều thời gian và phải xác minh qua nhiều cơ quan khác nhau mới có được kết quả
- Về trực tiếp thi hành bản án:
6
Trang 7Số lượng làm công tác thi hành án, hiện nay toàn tỉnh có 117/118 biên chế, còn thiếu 01 biên chế so với chỉ tiêu được phân bổ
Kinh phí hoạt động của các cơ quan thi hành án dân sự do ngân sách nhà nước cấp Trung bình năm 2016: 30.987.903 đồng/01 biên chế; năm 2017: 35.714.286 đồng/01 biên chế; năm 2018 là 39.213.115 đồng/01 biên chế Kinh phí này chỉ bảo đảm chi cho hoạt động chi thường xuyên, còn kinh phí chi cho hoạt động chuyên môn nghiệp vụ hiện đang thiếu, nhất là kinh phí phục vụ xác minh, tống đạt và giải quyết án
Số lượng việc: Theo báo cáo của Cục Thi hành án dân sự tỉnh, năm 2018 trung bình mỗi Chấp hành viên trên địa bàn tỉnh phải tổ chức thi hành 279 việc Trong đó 3 Chi Cục có tỷ lệ số việc cao nhất là: Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu 361 việc/1CHV; Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ 403 việc/1CHV; Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa 502 việc/1CHV Chính
vì thế tình trạng án tồn, các vụ việc phải thi hành án bị chuyển từ năm này sang năm khác là khó tránh khỏi (Theo báo cáo của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh, số lượng tồn chuyển kỳ sau: năm 2016 là: 4.674 việc; năm 2017: 5.120 việc và năm
2018 là 6.094 việc)
Với sự ra đời của Thừa phát lại, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lựa chọn dịch vụ thi hành án tốt nhất, từ đó việc thực thi bản án, quyết định của Tòa án
sẽ nhanh chóng, kịp thời Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Thừa phát lại xác minh điều kiện thi hành án, vốn là một điều kiện tiên quyết trong việc tổ chức thi hành án, mà Luật Thi hành án xác định đó là trách nhiệm của người được thi hành án, nhưng vì nhiều lý do, cá nhân, cơ quan, tổ chức không thể tự mình thực hiện được việc xác minh Tuy nhiên, đối với những vụ cưỡng chế phức tạp, phải huy động lực lượng, phải thông qua cấp ủy, chính quyền địa phương và Ban chỉ đạo Thi hành án dân sự thì Thừa phát lại sẽ gặp nhiều khó khăn trong khâu phối hợp, chỉ đạo
1.3 Hoạt động tống đạt văn bản của Tòa án và cơ quan Thi hành án:
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, là một tỉnh phát triển mạnh về kinh tế, văn hóa, xã hội, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũng phát sinh nhiều vấn đề liên quan đến tội phạm hình sự và các tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động, hành chính… số lượng án phải giải quyết năm sau thường tăng hơn năm trước, không chỉ có lượng
án nhiều mà xét về quy mô, tính chất, mức độ của từng loại án cũng phức tạp hơn
rất nhiều tạo ra một áp lực rất lớn lên cơ Tòa án và cơ quan Thi hành án (Phụ lục 1
và Phụ lục 2 đính kèm)
Theo quy định tại Điều 173 Bộ Luật Tố tụng dân sự về các phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng thì việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản
tố tụng được thực hiện bằng 06 phương thức, gồm: cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trực tiếp; cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng qua bưu điện; cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng qua người thứ ba được ủy quyền; cấp, tống đạt, thông báo bằng phương tiện điện tử theo yêu cầu của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác phù hợp với quy định của pháp luật về giao dịch điện tử; niêm yết công khai và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng Mặc dù
Trang 8trong Bộ luật tố tụng dân sự quy định nhiều phương thức cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng như trên, nhưng thực tế hiện nay tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu,
cơ quan Tòa án và cơ quan Thi hành án dân sự tùy điều kiện thực tế của đơn vị và địa phương để áp dụng phương thức cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng, cụ thể:
- Tại Tòa án: hiện nay Tòa án hai cấp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chủ yếu sử dụng hai phương thức cấp, tống đạt chính, gồm: cấp, tống đạt trực tiếp và cấp, tống đạt qua đường bưu điện, các phương thức còn lại rất ít khi sử dụng Trong đó, phương thức tống đạt nhanh và hiệu quả nhất là tống đạt trực tiếp cho người tham gia tố tụng, theo đó, cán bộ Tòa án được phân công (thường là Thư ký hoặc một nhân viên hợp đồng) sẽ trực tiếp đến nơi cư trú của đương sự để giao văn bản tố tụng Trường hợp người được tống đạt không có mặt tại địa chỉ nơi cư trú hoặc không chịu ký nhận văn bản thì cán bộ Tòa án lập biên bản về việc không tống đạt được và tiến hành niêm yết công khai theo quy định Đây là phương thức tống đạt nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo giao văn bản cho chính đương sự hoặc người thân cùng địa chỉ (có biên bản giao nhận văn bản để làm căn cứ giải quyết vụ án) Tuy nhiên, do hiện nay tình hình biên chế Ngành Tòa án nói chung đang trong quá trình tinh giản nên rất khó khăn, tình trạng thiếu Thư ký xảy ra ở tất cả các Tòa án trong tỉnh, do vậy mỗi Thư ký phải đảm nhận một công việc rất lớn, không còn thời gian để đi tống đạt trực tiếp, các Tòa án phải chọn giải pháp thay thế là giao cho nhân viên hợp đồng như lái xe hoặc bảo vệ kiêm việc tống đạt, mặt khác đối với những đơn vị có địa bàn rộng như Tòa án tỉnh, thị xã Phú Mỹ, huyện Xuyên Mộc thì việc tống đạt trực tiếp gặp rất nhiều khó khăn Đối với phương thức tống đạt qua đường bưu điện cũng được các Tòa án áp dụng phổ biến vì tiện lợi và không cần người đi tống đạt trực tiếp, cùng lúc có thể tống đạt một số lượng văn bản lớn và tại nhiều địa bàn khác nhau Tuy nhiên, nhược điểm của phương thức này là kết quả tống đạt chậm, nhiều trường hợp đã qua ngày mời làm việc mà kết quả tống đạt vẫn chưa được trả về Mặt khác, rất nhiều trường hợp bưu điện trả lại văn bản do không có người nhận hoặc sai địa chỉ, thậm chí có trường hợp nhân viên bưu điện không yêu cầu người nhận ghi họ tên và quan hệ với người được tống đạt, nên Tòa án không thể dùng kết quả tống đạt đó để làm căn cứ giải quyết
án, điều này gây khó khăn không nhỏ cho việc giải quyết án
- Tại Cơ quan Thi hành án dân sự: Nhu cầu tống đạt các văn bản, giấy tờ của cơ quan thi hành án dân sự hiện nay, mỗi năm toàn tỉnh có nhu cầu tống đạt khoảng từ 18.000 đến 20.000 văn bản, giấy tờ Việc tống đạt văn bản, giấy tờ về thi hành án do Chấp hành viên, thư ký trực tiếp tống đạt hoặc qua đường bưu điện (đối với trường hợp ở xa) Việc chuyển văn bản tống đạt qua đường bưu điện, nếu đương sự có địa chỉ cụ thể, thì việc tống đạt qua đường bưu điện dễ dàng, còn đối với các đương sự không có địa chỉ rõ ràng (như không có thôn, ấp) thì bưu điện không phát thư đến được
Từ thực trạng trong công tác thi hành án dân sự như hiện nay, việc mở các Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh sẽ giảm tải áp lực cho cán bộ, chấp hành viên trong công tác xác minh, tống đạt và tổ chức thi hành án Khi thừa phát lại thực hiện đúng, đầy đủ các thủ tục tống đạt theo quy định của Luật Thi hành án
8
Trang 9dân sự sẽ giúp Chấp hành viên và cơ quan Thi hành án dân sự tránh được những vi phạm làm phát sinh khiếu nại, tố cáo khi đương sự, người có quyền lợi liên quan cho rằng mình không nắm được nội dung của các văn bản, giấy tờ do cơ quan Thi hành án dân sự phát hành
2 Sự quyết tâm của địa phương trong việc thực hiện chế định Thừa phát lại:
Ngay sau khi Quyết định số 101/QĐ-TTg ngày 14 tháng 01 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13 của Quốc hội, ngày 27 tháng 01 năm 2016, Uỷ ban nhân dân tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu đã có Công văn số 647/UBND-VP về việc triển khai Quyết định số 101/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trong đó Uỷ ban nhân dân tỉnh giao cho Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với các sở, ngành có liên quan căn cứ Quyết định số 101/QĐ-TTg ngày 14 tháng 01 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ để tham mưu, đề xuất Uỷ ban nhân dân tỉnh tổ chức triển khai thực hiện theo quy định Ngày 29 tháng 3 năm 2016, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã có Công văn số 1945/UBND-VP gửi Bộ Tư pháp xin ý kiến hướng dẫn, triển khai thực hiện chế định Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; trước đó ngày 18 tháng 02 năm 2016, Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã có Công văn
số 224, 225/STP-BTTP gửi cơ quan Tòa án nhân dân tỉnh và Cục Thi hành án dân
sự tỉnh đề nghị cung cấp số liệu phục vụ xây dựng Đề án Sau khi tổng hợp các ý kiến góp ý của các sở, ngành và Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Sở Tư pháp đã hoàn chỉnh dự thảo Đề án Thừa phát lại và báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh đã tổ chức họp giữa các sở, ngành liên quan và đã đi đến thống nhất, tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khách quan, đến nay Uỷ ban nhân dân tỉnh chưa đăng ký với Bộ Tư pháp để tổ chức triển khai thực hiện chế định Thừa phát
lại trên địa bàn tỉnh (Ý kiến giải trình cụ thể được nêu tại Công văn số
1301/UBND-VP ngày 19/02/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh).
Nhằm tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ được giao theo Chương trình trọng tâm
về cải cách tư pháp của Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã đưa nội dung xây dựng
“Đề án thực hiện chế định Thừa phát lại” vào Kế hoạch số 32/KH-UBND ngày
11/3/2019 về việc triển khai thực hiện Chương trình công tác trọng tâm về cải cách
tư pháp năm 2019 trên địa bàn tỉnh Theo đó, Uỷ ban nhân dân tỉnh giao cho Sở
Tư pháp chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan để tham mưu Uỷ ban nhân dân tỉnh triển khai thực hiện Để đảm bảo về tiến độ thời gian, tiếp tục hoàn thiện
Đề án thực hiện chế định Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh, Sở Tư pháp đã đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh, Cục Thi hành án dân sự tỉnh tiếp tục quan tâm, phối hợp cung cấp thực trạng việc tống đạt các loại văn bản, giấy tờ hiện nay và số liệu cũng như kết quả giải quyết các vụ án của Ngành Tòa án, Thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh từ năm 2016 đến năm 2018 Sau khi nhận được kết quả trả lời từ Tòa
án và Cục Thi hành án dân sự tỉnh, Sở Tư pháp hoàn thiện Đề án và tham mưu Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện các bước tiếp theo
Có thể nói, điều này thể hiện sự quyết tâm của Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh và các ngành, các cấp trong việc triển khai thi hành chế định Thừa phát lại Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu mong nhận được sự ủng hộ của
Trang 10Bộ Tư pháp, các cấp các ngành ở Trung ương quan tâm, chỉ đạo để Bà Rịa - Vũng Tàu thực hiện chủ trương chế định Thừa phát lại tại tỉnh nhà Tại địa phương, Tỉnh
ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ chỉ đạo sát sao và tạo điều kiện tốt nhất về vật chất lẫn tinh thần đảm bảo cho sự thành công của việc thực hiện chế định Thừa phát lại
Phần II
QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN
I QUAN ĐIỂM
1 Tổ chức và thực hiện chế định Thừa phát lại phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, bảo đảm sự ổn định chính trị, bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
2 Tổ chức và thực hiện chế định Thừa phát lại phải xuất phát và phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị - xã hội, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; gắn với đổi mới công tác cải cách tư pháp và cải cách hành chính của địa phương
3 Phát huy và tích cực vận động nguồn lực của toàn xã hội trong quá trình thực hiện, tạo môi trường thuận lợi cho việc xã hội hóa hoạt động Thừa phát lại trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chịu sự quản lý của Nhà nước, đặt dưới
sự giám sát của cơ quan dân cử và nhân dân; sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong hoạt động Thừa phát lại
4 Kế thừa và phát huy những kết quả đạt được của chế định Thừa phát lại được thực hiện thí điểm tại các địa phương trong cả nước; tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm thực hiện phù hợp với thực tiễn và đáp ứng xu thế phát triển của tỉnh
5 Tổ chức và thực hiện chế định Thừa phát lại phải vững chắc, có trọng tâm, trọng điểm, có quy hoạch phát triển với những bước đi và giải pháp phù hợp theo định hướng của Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp
II MỤC TIÊU
1 Mục tiêu chung:
Triển khai chế định Thừa phát lại nhằm thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động tư pháp, giảm tải các công việc cho cơ quan thi hành án dân sự, hỗ trợ tích cực cho Tòa án trong công tác giải quyết án, góp phần trực tiếp bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức
Thừa phát lại được tổ chức và thực hiện góp phần cho sự phát triển kinh tế,
ổn định chính trị - xã hội của địa phương
2 Mục tiêu cụ thể:
a) Xây dựng và tổ chức thực hiện chế định Thừa phát lại nhằm triển khai chủ trương xã hội hóa trong hoạt động bổ trợ tư pháp, tăng cường năng lực, hiệu quả trong hoạt động thi hành án dân sự cũng như công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh
10