Nhiệm vụ tổ chức vận dụng chế độ sổ kế toán Để kết hợp được các loại sổ sách có kết cấu và nội dung phản ánh khác nhau theo một trình tự ghi chép nhất định trong cùng một quá trình hạch
Trang 1Phần II: Tổ chức vận dụng chế độ chứng từ, tài khoản kế toán, sổ và báo cáo kế toán
Nội dung
Mục tiêu
Hiểu được sổ kế toán, các loại sổ kế toán
Hiểu được nguyên tắc tổ chức sổ kế toán
Hiểu được nội dung tổ chức sổ kế toán
Hiểu được trình tự ghi chép các loại sổ
kế toán tổng hợp khác nhau theo các
Giới thiệu nội dung tổ chức sổ kế toán,
từ việc thiết kế loại sổ, nội dung ghi chép, trình tự ghi, mối quan hệ giữa các sổ
Giới thiệu bốn hình thức sổ quy định theo chế độ kế toán Việt Nam
Hướng dẫn họcBÀI 3: TỔ CHỨC VẬN DỤNG CHẾ ĐỘ SỔ KẾ TOÁN
Trang 2TÌNH HUỐNG KHỞI ĐỘNG BÀI
Tình huống dẫn nhập
Ông Trần Long được mời tư vấn tổ chức sổ cho công ty GMD, với các đặc điểm sau:
Công ty cổ phần GMD có tổng tài sản là 10 tỷ đồng, chuyên
kinh doanh sản xuất ba loại hàng A, B, C Nguyên liệu để
chế tạo ba sản phẩm này bao gồm 20 loại chính và phụ Các
vật liệu được dự trữ tại ba kho khác nhau Quy trình sản
xuất sản phẩm được thực hiện chuyên môn hóa tại từng
phân xưởng Phân xưởng 1 chuyên sản xuất sản phẩm A,
phân xưởng 2 chuyên sản xuất sản phẩm B, và phân xưởng
3 sản xuất sản phẩm C Công ty có quan hệ mua bán thường xuyên với 20 nhà cung cấp và 30
khách hàng trong cả nước Việc thanh toán tiền hàng theo ký kết là 30% thanh toán ngay bằng
tiền, số còn lại thanh toán trong một tháng
Công tác kế toán tại đơn vị được thực hiện thủ công, 5 người kế toán có trình độ cao đẳng
Yêu cầu và trình độ quản lý khá cao và chặt chẽ
Câu hỏi
Nếu anh (chị) là Trần Long, việc tổ chức sổ kế toán tổng hợp và chi tiết tại doanh nghiệp với
các thông tin trên thế nào là hiệu quả?
Trang 3Phần II: Tổ chức vận dụng chế độ chứng từ, tài khoản kế toán, sổ và báo cáo kế toán
3.1 Khái quát chung về tổ chức vận dụng chế độ sổ kế toán
3.1.1 Khái niệm sổ kế toán
Sổ kế toán là hình thức biểu hiện của phương pháp
đối ứng tài khoản Sổ kế toán là phương tiện để
thực hiện phương pháp tài khoản Sổ kế toán chính
là phương tiện vật chất cơ bản để hệ thống hóa các
số liệu kế toán trên cơ sở chứng từ gốc và các tài
liệu kế toán khác Do yêu cầu quản lý đối với các
đối tượng kế toán khác nhau nên sổ kế toán cũng có
nhiều loại Mỗi loại sổ kế toán khác nhau về:
Chức năng ghi chép của sổ
Hình thức và nội dung kết cấu của sổ
Phương pháp ghi chép các thông tin trên sổ
Cơ sở số liệu ghi chép vào sổ
3.1.2 Phân loại sổ kế toán (1)
Phân loại sổ theo phương pháp ghi
o Sổ ghi đơn: Là sổ mở và ghi không theo quan hệ đối ứng Sổ này được mở cho các tài khoản ngoài bảng cân đối kế toán
o Sổ ghi kép: Là sổ mở và ghi theo nguyên tắc đối ứng tài khoản Đây là các sổ
mở cho các tài khoản trong bảng cân đối kế toán theo chức năng kế toán tổng hợp và chi tiết
Phân loại sổ theo chức năng hệ thống hóa số liệu
o Sổ nhật ký: Là sổ hệ thống hóa số liệu theo trình tự thời gian, không phân biệt đối tượng hạch toán
o Sổ cái: Là sổ hệ thống hóa số liệu kế toán theo đối tượng cụ thể
o Sổ liên hợp: Là sổ kết hợp ghi theo thời gian và theo đối tượng trong cùng một quá trình ghi
Phân loại sổ theo mức độ tổng hợp hay chi tiết
o Sổ tổng hợp: Là sổ mở cho tài khoản tổng hợp Trên sổ tổng hợp các đối tượng được ghi theo thước đo giá trị Số liệu trên sổ tổng hợp
là cơ sở để lập các báo cáo tài chính
o Sổ chi tiết: Là sổ chi tiết hóa một đối tượng tổng hợp đã được theo dõi trên sổ tổng hợp
Trên sổ chi tiết các đối tượng được ghi theo thước đo hiện vật, thời gian, và giá trị
o Sổ liên hợp: Là sổ kết hợp chức năng kế toán tổng hợp và chi tiết trên cùng một quá trình ghi
(1) Tham khảo từ Bài giảng tổ chức hạch toán kế toán, khoa kế toán trường ĐH Kinh tế quốc dân, 2003
Trang 4 Phân loại theo hình thức kết cấu của sổ
o Theo hình thức bên ngoài: Sổ quyển, sổ tờ rời
o Theo hình thức bên trong: Sổ hai bên, sổ một bên, và sổ bàn cờ
3.1.3 Nhiệm vụ tổ chức vận dụng chế độ sổ kế toán
Để kết hợp được các loại sổ sách có kết cấu và nội dung phản ánh khác nhau theo một
trình tự ghi chép nhất định trong cùng một quá trình hạch toán, đòi hỏi kế toán phải
làm tốt các nhiệm vụ chủ yếu sau:
Xác định rõ đặc điểm kinh doanh của đơn vị, chỉ
rõ tính chất của hoạt động kinh tế – tài chính phát sinh (đơn giản hay phức tạp), quy mô đơn
vị (lớn, nhỏ, trung bình), khối lượng nghiệp vụ phát sinh (nhiều, ít)… Đồng thời phải căn cứ vào yêu cầu và trình độ quản lý, trình độ kế toán (cao hay thấp, đồng đều hay không đồng đều) cũng như căn cứ vào điều kiện và phương tiện vật chất phục vụ cho công tác kế toán (thủ công hay cơ giới) để xác định hình thức
tổ chức sổ kế toán phù hợp
Nắm vững các nguyên tắc cơ bản quy định cho từng hình thức tổ chức sổ kế toán
như số lượng và kết cấu sổ sách, trình tự ghi chép và tính toán các chỉ tiêu… Tuyệt đối không được áp dụng một cách chắp vá, tuỳ tiện giữa các mẫu sổ của các hình thức khác nhau, gây khó khăn cho việc kiểm tra, chỉ đạo, đối chiếu số liệu
Nắm vững tài khoản và nội dung phản ánh của các tài khoản trong từng loại sổ,
cách thức ghi chép, sửa chữa sai sót, nhầm lẫn (nếu có), cách thức thu thập, xử lý
và tổng hợp thông tin từ các loại sổ khác nhau
Nắm được nội dung công việc ghi chép, phản ánh hàng ngày (hoặc định kỳ), công
việc phải làm cuối tháng, cuối quý, cuối năm… trong từng hình thức tổ chức sổ kế toán đã xác định để sao cho việc ghi chép tổng hợp, cung cấp thông tin được nhanh, nhạy, kịp thời, chính xác và tiết kiệm
3.2 Nguyên tắc tổ chức vận dụng chế độ sổ kế toán
Mặc dù có nhiều hình thức tổ chức sổ kế toán khác nhau nhưng trong mọi trường hợp,
khi tổ chức hệ thống sổ kế toán trong từng đơn vị đều phải tuân thủ các nguyên tắc
chung sau đây:
Bảo đảm tính thống nhất giữa hệ thống tài khoản với việc xây dựng hệ thống sổ
Trang 5Phần II: Tổ chức vận dụng chế độ chứng từ, tài khoản kế toán, sổ và báo cáo kế toán
Kết cấu và nội dung
Hệ thống sổ kế toán có rất nhiều loại với kết cấu và nội dung phản ánh khác nhau tuỳ thuộc vào từng đối tượng phản ánh cụ thể Bởi vậy, việc lựa chọn hình thức tổ chức sổ kế toán nào (hay hệ thống sổ kế toán nào) phải phù hợp với năng lực và trình độ của cán bộ quản lý nói chung và cán bộ kế toán nói riêng Có như vậy mới thuận lợi cho việc ghi chép, đối chiếu, kiểm tra và tổng hợp số liệu kế toán, cung cấp thông tin kịp thời, chính xác
Tổ chức hệ thống sổ kế toán phải đảm bảo tính khoa học, tiết kiệm và tiện lợi cho
kiểm tra kế toán
Do sổ sách kế toán có nhiều loại với nội dung, kết cấu, cách thức, trình tự ghi chép khác nhau nên việc kết hợp các loại sổ sách này phải bảo đảm tính khoa học, sao cho việc ghi chép vừa dễ dàng, thuận lợi lại vừa tiết kiệm, tốn ít công sức, việc ghi chép giữa các loại sổ sách không bị trùng lặp Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra, đối chiếu số liệu giữa các loại sổ sách với nhau được nhanh chóng
Chỉ được mở một hệ thống sổ kế toán chính
thức theo một trong các hình thức tổ chức sổ kế toán quy định
Mỗi một đơn vị chỉ được lựa chọn một trong các hình thức tổ chức sổ kế toán mà chế độ quy định (nhật ký chung, nhật ký – sổ cái, nhật ký chứng từ, chứng từ ghi sổ) Mỗi một hình thức tổ chức sổ kế toán đã nêu có một hệ thống sổ sách tương ứng bao gồm cả sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết với nội dung, cách thức
và trình tự ghi chép khác nhau Sổ kế toán phải dùng mẫu in sẵn hoặc phải đóng bằng giấy kẻ sẵn Đối với sổ đóng thành quyển phải đánh số trang và dấu giáp lai
và mọi sổ sách đều phải có chữ ký của thủ trưởng đơn vị
Phải mở sổ kế toán và khoá sổ kế toán theo đúng
quy định
Việc mở sổ kế toán được tiến hành khi bắt đầu niên độ kế toán (hoặc khi bước vào hoạt động kinh doanh) Khi kết thúc kỳ kế toán (tháng, quý, năm), kế toán phải tiến hành cộng sổ, khoá
sổ kế toán Trong một số trường hợp cần thiết (kiểm kê tài sản, kiểm tra kế toán, giải thể, sáp nhập, chia, tách, hợp nhất…), kế toán cũng cần phải tiến hành cộng sổ, tính ra tổng số phát sinh tăng, phát sinh giảm và số dư cuối kỳ của tài khoản phản ánh trên sổ kế toán
Việc ghi chép trên sổ kế toán phải rõ ràng, dễ đọc và phải ghi bằng mực tốt, không
phai Số liệu phản ánh trên sổ sách phải liên tục, có hệ thống, không được bỏ cách dòng hoặc viết xen kẽ, đè chồng lên nhau Tuyệt đối không được tẩy xoá, làm nhoè, làm mất số đã ghi Trường hợp sai sót, nhầm lẫn, cần sửa chữa phải theo đúng phương pháp quy định thích hợp (cải chính, bổ sung, ghi đỏ)
Trang 63.3 Nội dung tổ chức vận dụng chế độ sổ kế toán
3.3.1 Lựa chọn hình thức tổ chức sổ kế toán
Tuỳ theo đặc điểm cụ thể của từng đơn vị về quy mô, về tính chất hoạt động, về ngành
nghề kinh doanh, về trình độ cán bộ, về yêu cầu thông tin cung cấp cho quản lý, về
điều kiện và phương tiện vật chất hiện có…, công việc quan trọng đầu tiên của tổ chức
hệ thống sổ kế toán là lựa chọn hình thức tổ chức sổ kế toán thích hợp Sổ kế toán ở
mỗi một hình thức tổ chức sổ kế toán khác nhau sẽ khác nhau về số lượng sổ cần
dùng, loại sổ sử dụng, kết cấu của sổ, trình tự và cách thức ghi chép, và nguồn số liệu
dùng để ghi sổ
3.3.2 Lựa chọn chủng loại và số lượng sổ kế toán
Mỗi một hình thức tổ chức sổ kế toán đều gắn với
một hệ thống sổ sách kế toán tương ứng, trong đó
bao gồm cả hệ thống sổ kế toán tổng hợp và hệ
thống sổ kế toán chi tiết Tuy nhiên, không phải cứ
sử dụng hình thức tổ chức sổ kế toán nào là đơn vị
bắt buộc phải sử dụng toàn bộ hệ thống sổ sách của
hình thức sổ kế toán đó mà việc sử dụng những sổ
sách nào trong từng hình thức tổ chức sổ là hoàn toàn phụ thuộc vào công tác tổ chức
sổ kế toán
Để việc lựa chọn chủng loại và số lượng sổ sách kế toán sử dụng phù hợp trong từng
đơn vị, khi lựa chọn sổ sách, cần phải chú ý các tiêu thức sau:
Đặc điểm và loại hình sản xuất, kinh doanh của đơn vị
Quy mô sản xuất của đơn vị
Yêu cầu cung cấp thông tin cho quản lý
Đặc điểm tổ chức quản lý hoạt động sản xuất – kinh doanh
Số lượng tài khoản tổng hợp và tài khoản chi tiết sử dụng
V.v…
Từ những căn cứ trên, tổ chức sổ kế toán có nhiệm vụ xác định hệ thống sổ kế toán sử
dụng trong đơn vị mình
3.3.3 Tổ chức xây dựng, thiết kế quy trình ghi chép sổ kế toán
Trên cơ sở hình thức tổ chức sổ kế toán và hệ thống
sổ kế toán đã lựa chọn, phù hợp với trình tự ghi
chép chung của mỗi hình thức, tổ chức sổ kế toán
phải xây dựng, thiết kế được quy trình ghi chép sổ
kế toán các loại cho phù hợp với đơn vị mình Quy
trình đó phải chỉ rõ công việc hàng ngày, định kỳ
(5, 7, 10 ngày….), công việc cuối tháng, cuối quý,
cuối năm mà kế toán phải tiến hành trên từng loại
sổ và trong toàn hệ thống sổ mà đơn vị sử dụng (ghi chép, tổng hợp, phân loại, đối
Trang 7Phần II: Tổ chức vận dụng chế độ chứng từ, tài khoản kế toán, sổ và báo cáo kế toán
chiếu, kiểm tra và thu thập số liệu….) Quy trình cũng phải chỉ rõ trách nhiệm của
từng cá nhân, bộ phận trong việc ghi chép, đối chiếu, kiểm tra…
Tổ chức tốt việc xây dựng, thiết kế quy trình ghi chép vào sổ sách kế toán không
những giúp cho việc ghi chép thông tin kế toán được rõ ràng, đơn giản, dễ kiểm tra,
tiết kiệm chi phí hạch toán mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân công, phân
nhiệm kế toán, bảo đảm cho thông tin kế toán có độ tin cậy cao
3.3.4 Tổ chức quá trình ghi chép vào sổ kế toán
Tổ chức quá trình ghi chép vào sổ kế toán là quá trình phản ánh các chứng từ hợp lệ,
hợp pháp, hợp lý vào sổ sách kế toán Trên cơ sở phân loại chứng từ, kế toán tiến hành
xác định bản chất nghiệp vụ và ghi chép các nghiệp vụ đã phản ánh trên chứng từ vào
từng loại sổ sách có liên quan Nội dung tổ chức quá trình ghi chép vào sổ kế toán
bao gồm:
Lựa chọn sổ phù hợp với nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh
Lựa chọn phương tiện kỹ thuật ghi sổ
Xác định trách nhiệm của người ghi sổ
Xây dựng mối quan hệ đối chiếu, cung cấp số liệu của các loại sổ
3.3.5 Tổ chức quá trình bảo quản, lưu trữ sổ kế toán
Sổ kế toán nói riêng và tài liệu kế toán nói chung phải được bảo quản và lưu trữ theo
pháp luật hiện hành của Nhà nước về bảo vệ tài liệu lưu trữ Tổ chức quá trình bảo
quản, lưu giữ sổ kế toán phải:
Xây dựng được quy trình ghi chép, xử lý, sử dụng và lưu giữ sổ các loại ở từng
khâu, từng nơi, từng bộ phận, từng cá nhân… gắn với trách nhiệm của họ
Phải phân loại, sắp xếp sổ thuộc từng loại; trong đó cần sắp xếp theo thứ tự thời
gian phát sinh theo mỗi niên độ kế toán, bảo đảm hợp lý, dễ tra cứu, sử dụng khi cần thiết
Theo quy định hiện hành, các sổ kế toán tổng hợp có thời gian lưu trữ trên 20 năm,
còn các sổ và thẻ kế toán chi tiết lưu trữ trong thời gian 20 năm tính từ khi kết thúc niên độ kế toán
3.4 Các hình thức sổ kế toán
3.4.1 Hình thức sổ kế toán
Hình thức sổ kế toán là việc kết hợp các loại sổ
sách với nội dung và kết cấu khác nhau trong cùng
một quá trình hạch toán theo một trình tự hạch
toán nhất định nhằm cung cấp các chỉ tiêu cần
thiết cho quản lý kinh tế gọi là hình thức tổ chức
Sổ sách, Sổ sách – Báo cáo tạo thành hình thức sổ kế toán
Trang 8Hình thức Nhật ký – Sổ cái là hình thức kết hợp việc ghi chép theo thời gian và theo
hệ thống vào trong một quyển sổ gọi là Nhật ký – Sổ cái Sổ này là sổ hạch toán tổng
hợp duy nhất, trong đó phản ánh tất cả các tài khoản mà doanh nghiệp sử dụng (cả hai
bên Nợ - Có) được mở trên cùng trang sổ Căn cứ ghi vào sổ là chứng từ gốc hoặc
bảng tổng hợp chứng từ gốc, mỗi chứng từ ghi một dòng vào Nhật ký - Sổ cái
Nhật ký – Sổ cái gồm hai phần:
Phần Nhật ký: Là phần ghi hàng ngày các nghiệp
vụ phát sinh theo trình tự thời gian Phần này bao gồm các cột “Ngày tháng ghi sổ”, cột “Số hiệu”, cột “Ngày tháng” của chứng từ, cột “Diễn giải”
nội dung nghiệp vụ và cột “Số phát sinh” của nghiệp vụ
Phần Sổ cái: được phản ánh cho cả hai bên Nợ và
Có của từng tài khoản kế toán Toàn bộ tài khoản
mà đơn vị sử dụng sẽ được phản ánh ở phần
Sổ cái này Phần này dùng để phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo nội dung kinh tế (theo từng tài khoản kế toán)
Bên cạnh sổ kế toán tổng hợp, trong hình thức này, kế toán còn sử dụng một số sổ
kế toán để hạch toán chi tiết như sổ chi tiết tài sản cố định; sổ chi tiết vật liệu,
sản phẩm, hàng hoá; sổ chi phí sản xuất – kinh doanh, dịch vụ; sổ chi tiết tiền gửi,
tiền vay; sổ chi tiết doanh thu; sổ chi tiết giá vốn; sổ chi tiết thanh toán với người bán,
hiệu
Ngày tháng
Diễn giải
Số phát sinh
Trang 9Phần II: Tổ chức vận dụng chế độ chứng từ, tài khoản kế toán, sổ và báo cáo kế toán
Việc ghi chép sổ sách theo hình thức Nhật ký – Sổ cái được tiến hành theo trình tự sau:
Hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp chứng từ gốc cùng loại
đã được kiểm tra, kế toán định khoản và ghi vào Nhật ký – Sổ cái Mỗi chứng từ hoặc
bảng tổng hợp chứng từ gốc cùng loại được ghi một dòng vào cả 2 phần Nhật ký và
Sổ cái của tài khoản liên quan Cuối tháng, sau khi đã phản ánh toàn bộ chứng từ vào
Nhật ký – Sổ cái, tính ra số phát sinh trong kỳ và số dư cuối kỳ của từng loại tài
khoản Trên cơ sở đó, tiến hành kiểm tra, đối chiếu số liệu trên Nhật ký – Sổ cái theo
các quan hệ cân đối sau:
Tổng số phát sinh ở phần
Nhật ký
=
Tổng số phát sinh Nợ của tất cả các tài khoản (phần Sổ cái)
=
Tổng số phát sinh Có của tất cả các tài khoản (phần Sổ cái)
Tổng số dư bên Nợ của tất cả các tài khoản =
Tổng số dư bên Có của tất cả các tài khoản Đối với các sổ, thẻ kế toán chi tiết cuối tháng, kế toán cũng phải tiến hành cộng số
phát sinh Nợ, số phát sinh Có và tính ra số dư cuối kỳ của từng đối tượng (nếu có)
Trên cơ sở đó, kế toán lập bảng tổng hợp chi tiết cho từng tài khoản Số liệu này sẽ
được dùng làm căn cứ để đối chiếu với số phát sinh Nợ, số phát sinh Có và số dư cuối
kỳ (nếu có) của từng tài khoản tổng hợp tương ứng trên Nhật ký – Sổ cái
Trình tự ghi sổ theo hình thức Nhật ký – Sổ cái được khái quát qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 3.1: Trình tự ghi sổ theo hình thức Nhật ký – Sổ cái
Hình thức tổ chức sổ kế toán Nhật ký – Sổ cái đơn giản, dễ làm, dễ kiểm tra, thích hợp
với các đơn vị có quy mô nhỏ, ít nghiệp vụ phát sinh, số lượng tài khoản sử dụng
không nhiều Tuy nhiên, việc ghi chép còn quá nhiều trùng lặp, không phù hợp với
các đơn vị kế toán vừa và lớn Mặt khác, do tất cả các tài khoản mà đơn vị sử dụng
được phản ánh trên cùng một quyển sổ nên sổ quá cồng kềnh, không thuận lợi cho
việc phân công lao động kế toán
Chứng từ gốc
Sổ, thẻ kế toán chi tiết
Bảng tổng hợp chứng từ gốc
Trang 10Ví dụ 3.1: Tại doanh nghiệp LKT (là doanh nghiệp nhỏ và vừa, áp dụng chế độ kế
toán theo Quyết định 48/2006/QĐ-BTC), giả sử tháng 5/2010 có thông tin về số dư
một số tài khoản như sau (đơn vị tính triệu đồng):
TK 111: 100
TK 112: 1000
TK 152: 300
TK 331 (dư Có): 200
Giả sử tháng 5/2010 doanh nghiệp có một số nghiệp vụ kinh tế phát sinh sau:
1 Ngày 2/5 trả bớt nợ người bán bằng tiền mặt, phiếu chi số 01/5, số tiền 80
2 Ngày 3/5 rút tiền gửi ngân hàng nhập quỹ tiền mặt, phiếu thu số 01/5, số tiền 280
3 Ngày 10/5 mua nguyên liệu nhập kho, hóa đơn số X3456, giá mua chưa thuế 300,
thuế GTGT 10% chưa thanh toán người bán
4 Ngày 20/5 xuất kho vật liệu cho sản xuất sản phẩm, phiếu xuất kho 030/5, tổng giá
8 Ngày 26/5 rút tiền gửi ngân hàng nhập quỹ tiền mặt, phiếu thu số 02/5 số tiền 200
9 Ngày 31/5 chi trả lương công nhân thuê ngoài là 80 (phiếu chi số 04/5)
Giả sử công ty chỉ có các thông tin và nghiệp vụ trên, việc ghi Nhật ký - Sổ cái được
thể hiện như sau (xem biểu 3.1):
Trang 11Diễn giải
Số phát
Trang 123.4.3 Hình thức Nhật ký chung
Hình thức Nhật ký chung rất thuận lợi cho việc ghi
chép, đối chiếu, kiểm tra, phù hợp với mọi đơn vị
hạch toán cơ sở nhất là trong điều kiện áp dụng kế
toán máy Tuy nhiên, việc ghi chép còn khá nhiều
trùng lặp, do vậy, đã tăng khối lượng công việc kế
toán, không thích hợp với doanh nghiệp áp dụng kế
toán thủ công có quy mô lớn
Đặc điểm tổ chức sổ theo hình thức này là việc toàn
bộ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được phản ánh
vào một quyển sổ gọi là Nhật ký chung theo trình tự thời gian Từ sổ này, các đối tượng được chuyển tiếp vào ghi Sổ cái các tài khoản liên quan Đối với những đối tượng phát sinh thường xuyên, nhằm giảm nhẹ công việc ghi Sổ cái, các nghiệp vụ được ghi nhật ký đặc biệt (nhật ký phụ) Cuối tháng (hoặc định kỳ), cộng các Nhật ký phụ, lấy số tổng cộng ghi vào Sổ cái tài khoản liên quan Lưu ý rằng, một nghiệp vụ
đã ghi nhật ký chung thì không ghi nhật ký đặc biệt và ngược lại
Đơn vị: ………
Địa chỉ: ………
Mẫu S03a – DN (Ban hành theo QĐ số 15/2006/QĐ – BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng BTC)
Diễn giải Đã ghi
Sổ cái Dòng
Số hiệu tài khoản Nợ Có
Số trang trước chuyển sang
Trang 13Phần II: Tổ chức vận dụng chế độ chứng từ, tài khoản kế toán, sổ và báo cáo kế toán
Đơn vị: ………
Địa chỉ: ………
Mẫu S03b – DN (Ban hành theo QĐ số 15/2006/QĐ – BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng BTC)
phát sinh Sau khi đã kiểm tra, đối chiếu bảo đảm khớp, đúng, số liệu ghi trên Sổ cái,
Bảng cân đối số phát sinh và Bảng tổng hợp chi tiết (được tổng hợp từ các sổ, thẻ kế
toán chi tiết), kế toán lập các báo cáo kế toán
Sơ đồ 3.2: Trình tự ghi sổ theo hình thức Nhật ký chung
Báo cáo tài chính