1. Trang chủ
  2. » Tất cả

05-MAN309-Bai 3-v1.0

16 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 827,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI 3: HOẠCH ĐỊNH NĂNG LỰC SẢN XUẤT Mục tiêu  Giúp học viên nắm được những vấn đề cơ bản về công suất và hoạch định năng lực sản xuất trong doanh nghiệp.. Thực chất và vai trò của hoạ

Trang 1

BÀI 3: HOẠCH ĐỊNH NĂNG LỰC SẢN XUẤT

Mục tiêu

 Giúp học viên nắm được những vấn đề

cơ bản về công suất và hoạch định năng lực sản xuất trong doanh nghiệp

 Biết ứng dụng các phương pháp đã học trong hoạch định năng lực sản xuất

 Có khả năng đánh giá được năng lực sản xuất của doanh nghiệp

 Đọc kỹ và hiểu rõ về lý thuyết

 Nghiên cứu trước các ví dụ minh họa

 Biết ứng dụng các công thức để giải các

bài tập

 Tham khảo các tài liệu quản trị sản xuất

của các tác giả khác

 Làm bài tập đầy đủ

Thời lượng học

 12 tiết

 Thực chất và phân loại năng lực sản xuất

 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạch định năng lực sản xuất

 Các phương pháp hỗ trợ hoạch định năng lực sản xuất

Trang 2

TÌNH HUỐNG DẪN NHẬP

Tình huống: Không ngừng nâng cao năng lực sản xuất của công ty Bình Tân

Công ty SX-HTD Bình Tân (Bita’s) được thành lập ngày 15/06/1991 Tiền thân của Bita’s

là xí nghiệp hợp doanh cao su Tân Bình (Tabifac) có trụ sở 22 Âu Cơ, phường 17 quận Tân Bình

Việc thành lập công ty Bita’s dựa trên nền tảng kinh tế vô cùng

khó khăn do xí nghiệp Tabifac chuyên sản xuất kinh doanh các

sản phẩm cao su nhựa cho các nước Đông Âu Khi các nước

Đông Âu tan rã những năm 1989-1990 đã kéo theo Tabifac

Như vậy Bita’s đã khởi nghiệp từ con số âm với lực lượng lao

động ban đầu 300 người đầy tâm huyết khôi phục lại một ngành

nghề truyền thống

Năm 1994, Ban giám đốc Công ty đến một số nước như Trung

Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan để học tập các kỹ thuật mới trong ngành sản xuất giày và tranh thủ phát triển thị trường Sau khi về nước, công ty Bita's đã bắt đầu đầu tư

kỹ thuật sản xuất giày vải và giày giả da (đế cao su) Sản phẩm mới này được xuất khẩu sang thị trường liên minh Châu Âu và được người tiêu dùng chấp nhận Trong giai đoạn 1996-2001 công ty đã đầu tư gần 10 tỷ đồng để nhập dây chuyền sản xuất dép nhựa PVC, PU tiên tiến

từ Italia, Hàn Quốc, Đài Loan Công ty cũng chú trọng việc tạo dựng thương hiệu, đặc biệt

là việc nâng cao chất lượng sản phẩm, do vậy mà được người tiêu dùng bình chọn là

“Hàng Việt Nam chất lượng cao”, “Hàng được ưa chuộng nhất”, đồng thời cũng nhận được chứng chỉ ISO 9001–2000

Giai đoạn 2002 – 2006, công ty đã di dời toàn bộ thiết bị sản xuất đến nhà xưởng mới tại Hương lộ 2, quận Bình Tân với diện tích 25 ngàn m2, vốn đầu tư gần 25 tỷ đồng Công ty tiếp tục đầu tư 10 dây chuyền may khâu, 01 dây chuyền tạo hình và nhiều thiết bị chuyên dùng khác nhằm mở rộng sản xuất

Với sự nỗ lực không ngừng, đến nay, Công ty đã mở văn phòng đại diện tại nhiều nước trên thế giới như Trung Quốc, Đức, Italia, Mỹ và đã được thị trường trong và ngoài nước biết đến

Câu hỏi

Làm thế nào Bita’s nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm? Ý nghĩa của việc nghiên cứu năng lực sản xuất là gì?

Từ ví dụ trên bài học này chúng ta sẽ tìm hiểu xem vậy thực chất năng lực sản xuất là gì? Nó

được đo lường và đánh giá bằng những tiêu chí nào?

Trang 3

3.1 Thực chất và vai trò của hoạch định năng lực sản xuất

 Khái niệm: Năng lực sản xuất hay còn gọi là công

suất là khả năng sản xuất sản phẩm và cung ứng dịch vụ của máy móc thiết bị, lao động và các bộ phận của một doanh nghiệp trong một đơn vị thời gian nhất định (tháng, quý, năm ) trong điều kiện xác định

Năng lực sản xuất có thể tính cho một phân xưởng, một công đoạn sản xuất, một dây chuyền hay toàn

bộ hệ thống sản xuất Trong trường hợp các bộ phận sản xuất sắp xếp theo quy trình công nghệ, năng lực sản xuất được xác định ở khâu yếu nhất

Năng lực sản xuất là một đại lượng động, có thể thay đổi theo thời gian và điều kiện sản xuất Nếu thay đổi số lượng thiết bị, diện tích sản xuất, bố trí phân giao công việc cho nhân viên hợp lý, cải tiến quản lý thì năng lực sản xuất sẽ thay đổi

 Đơn vị đo lường công suất khá đa dạng

o Đối với những doanh nghiệp chỉ sản suất một loại sản phẩm hoặc một nhóm sản phẩm, công suất được tính đơn giản bằng cách đo lượng đầu ra Ví dụ như

số tấn than trong một ngày, số thuê bao điện thoại trong một tháng, số bom bia trong một quý

o Đối với những doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm mà có tính chất không giống nhau, người ta có thể quy đổi về cùng một đơn vị chẳng hạn như tấn trên một giờ hay giờ công trên một tháng, sau đó tổng hợp lại thành mức công suất chung

o Đối với một số loại dịch vụ người ta có thể đo theo lượng đầu vào chẳng hạn như hãng hàng không sử dụng chỗ ghế còn trống trên một tháng, bệnh viện sử dụng đơn vị là giường bệnh sẵn sàng trong một tháng, sức chứa của một rạp chiếu bóng trong một buổi chiếu, các hãng dịch vụ sữa chữa đo giờ lao động một tháng Công suất (năng lực sản xuất) là vấn đề quan trọng có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nếu nhu cầu nhỏ hơn công suất đã xây dựng, công suất bị lãng phí gây tốn kém, giảm khả năng huy động và sử dụng vốn Những quyết định về công suất vừa mang tính chiến lược dài hạn vừa mang tính tác nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng duy trì hoạt động và phương hướng phát triển của từng doanh nghiệp

Có nhiều loại công suất khác nhau Nghiên cứu đồng thời các loại công suất đó cho phép đánh giá trình độ quản lý, sử dụng công suất một cách chính xác và toàn diện hơn

 Công suất thiết kế:là giới hạn tối đa về năng lực sản xuất mà doanh nghiệp có thể thực hiện được trong những điều kiện thiết kế, các điều kiện đó có thể là:

o Máy móc thiết bị hoạt động bình thường, không bị gián đoạn, không bị hỏng hóc hoặc bị mất điện;

o Những yếu tố đầu vào được đảm bảo đầy đủ như nguyên liệu, nhiên liệu, lao động

Trang 4

o Thời gian làm việc của doanh nghiệp hợp với chế độ làm việc theo quy định hiện hành Trong thực tế, công suất thiết kế là mức năng lực sản xuất khó có thể đạt được nhưng nó đóng một vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá mức độ sử dụng năng lực sản xuất của doanh nghiệp

 Công suất mong đợi (công suất hiệu quả): là tổng

đầu ra tối đa mà doanh nghiệp mong muốn có thể đạt được khi tuân thủ các tiêu chuẩn, quy trình công nghệ, khả năng điều hành sản xuất, kế hoạch duy trì, bảo dưỡng, cân đối các hoạt động Tuy nhiên không phải là lúc nào doanh nghiệp cũng tổ chức được các điều kiện theo đúng các chuẩn mực, tiêu chuẩn đã đề ra mà thường có những trục trặc bất thường làm cho khối lượng sản phẩm sản xuất ra sẽ không đúng như dự kiến mong đợi

 Công suất thực tế: là mức sản lượng (đầu ra) thực tế mà doanh nghiệp đạt được trong những điều kiện thực tế trong một đơn vị thời gian

Từ ba khái niệm công suất trên người ta có thể sử dụng đồng thời hai chỉ tiêu đó là mức độ sử dụng và mức độ hiệu quả của công suất để đánh giá trình độ quản lý sử dụng công suất của doanh nghiệp:

Công suất thực tế Mức hiệu quả của công suất =

Công suất thực tế Mức độ sử dụng công suất =

Mỗi chỉ tiêu chỉ phản ánh một khía cạnh của quản trị công suất, đôi khi mức độ hiệu quả có thể cao nhưng mức độ sử dụng công suất lại rất thấp Điều này phản ánh trình

độ quản lý sử dụng công suất không tốt Ngược lại, mức độ sử dụng công suất cao nhưng mức hiệu quả lại không cao do chi phí sửa chữa, vận hành cao và quản lý máy móc, thiết bị chưa tốt

Ví dụ 1: Công suất thiết kế của một dây chuyền sản xuất là 80 sản phẩm/ngày Công

suất hiệu quả là 40 sản phẩm/ngày và sản lượng hiện tại là 36 sản phẩm/ngày Hãy tính mức hiệu quả và mức sử dụng của dây chuyền?

Sản lượng thực tế Mức sử dụng =

Công suất thiết kế

36

80

Sản lượng thực tế Mức hiệu quả =

Công suất hiệu quả

36

40

Việc xây dựng và lựa chọn công suất chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố Khi tiến hành xây dựng kế hoạch công suất cần tiến hành đánh giá, phân tích những nhân tố chủ yếu sau đây:

Trang 5

 Nhu cầu sản phẩm và đặc điểm của sản phẩm hoặc dịch vụ Sự ổn định của nhu cầu và tính đồng nhất của sản phẩm và dịch vụ tạo điều kiện thuận lợi và dễ dàng cho lựa chọn phương án công suất Khi những chi tiết giống nhau thì khả năng của

hệ thống để sản xuất những chi tiết này thường nhanh hơn nếu như những chi tiết thường xuyên thay đổi Ngược lại, sản phẩm và dịch vụ càng đa dạng và thường xuyên thay đổi thì việc quyết định lựa chọn công suất sẽ khó khăn và phức tạp

 Đặc điểm và tính chất của công nghệ sử dụng Quyết định lựa chọn công suất phải

dựa trên sự phân tích, đánh giá trình độ, tính chất và năng lực của công nghệ Chúng có ảnh hưởng quyết định đến công suất của dây chuyền sản xuất và của doanh nghiệp Việc lựa chọn công suất phải tính đến xu hướng phát triển của công nghệ trong tương lai

 Yếu tố về con người Khả năng sản xuất phụ thuộc

rất lớn vào trình độ chuyên môn, kỹ năng, sự đào tạo, kinh nghiệm và trình độ tổ chức lao động…

Bên cạnh đó, còn có những chính sách khuyến khích người lao động, ý thức và tinh thần tổ chức cũng có ảnh hưởng tới công suất

 Diện tích mặt bằng, nhà xưởng Diện tích mặt bằng

và nhà xưởng là điều kiện quan trọng liên quan đến khả năng quyết định lựa chọn công suất Ngoài khả năng diện tích sản xuất, hệ thống kho tàng bến bãi tập kết và giao nhận nguyên liệu sản phẩm, công suất còn phụ thuộc vào khả năng thiết kế mặt bằng, bố trí trang thiết bị trong khu vực sản xuất Bố trí mặt bằng phải quan tâm đến những điều kiện như là ánh sáng, điều hoà thông gió, đây là những nhân tố có thể ảnh hưởng tới hiệu suất của công việc

 Những yêu cầu của doanh nghiệp Những quy định về lượng hàng dự trữ, quy trình

kiểm tra, kiểm soát chất lượng sản phẩm cũng ảnh hưởng tới công suất

 Các yếu tố bên ngoài khác Ngoài những yếu tố bên trong như phân tích ở trên, việc lựa chọn công suất còn phải xem xét đến những yếu tố bên ngoài như những tiêu chuẩn, quy định về sản phẩm, những quy định của chính phủ về thời gian lao động, nguyên tắc an toàn lao động; tình hình thị trường và mức độ cạnh tranh

Do công suất có ảnh hưởng đến khả năng phát triển

của doanh nghiệp trong dài hạn và ngắn hạn nên việc

lựa chọn công suất rất quan trọng Để xác định công

suất thích hợp cho doanh nghiệp ta cần dựa vào các

căn cứ sau đây:

 Mức độ yêu cầu của thị trường hiện tại và tương lai

đối với loại sản phẩm, dịch vụ đang xét Mức độ yêu cầu này được xác định thông qua điều tra thị trường

và dự báo

 Khả năng chiếm lĩnh thị trường, thị phần dự kiến

 Khả năng cung cấp các yếu tố đầu vào, nhất là đối với các loại nguyên vật liệu nhập khẩu

Trang 6

 Khả năng đặt mua các thiết bị công nghệ có công suất phù hợp

 Năng lực về tổ chức, điều hành sản xuất

 Khả năng về vốn

 Đảm bảo tính linh hoạt Tính linh hoạt thể hiện ở chỗ phương án công suất đưa ra đáp ứng được những nhu cầu trước mắt và dự tính trước nhu cầu thay đổi trong tương lai

 Phải có tính tổng hợp Cần tính đến sự tương quan giữa các khâu và các bộ phận, cân đối giữa các bộ phận sản xuất chính và bộ phận sản xuất phụ

 Tính đến yếu tố mùa vụ Đối với các doanh nghiệp sản xuất có tính chất thời vụ, phương án công suất đưa ra cần tìm ra những sản phẩm và dịch vụ bổ sung để khắc phục tính thời vụ đó

 Phải xây dựng nhiều phương án công suất khác nhau để lựa chọn phương án công suất tối ưu

 Phải tính đến đặc điểm về nguyên vật liệu và nguồn vốn huy động Khi quyết định lựa chọn phương án công suất cần phân tích xem xét kỹ mối quan hệ của công suất với quy mô và đặc điểm nguyên liệu sử dụng để sản xuất sản phẩm

 Tính toán đến các chi phí sau khi đầu tư máy móc như chi phí bảo dưỡng, chi phí quản lý, nguyên nhiên liệu để từ đó chủ động về nguồn tài chính và kế hoạch bảo

dưỡng nhằm đảm bảo khai thác tối ưu về công suất

Phân tích điểm hoà vốn là tìm ra mức công suất mà ở đó

doanh nghiệp có chi phí bằng doanh thu Phương pháp

này được sử dụng để xác định những quyết định ngắn hạn

về công suất Muốn phân tích hoà vốn ta phải đánh giá

được chi phí cố định và chi phí biến đổi và doanh thu

Chi phí cố định là chi phí không phụ thuộc vào mức công

suất của doanh nghiệp, nó xuất hiện ngay cả khi không có

đơn vị sản phẩm nào được làm ra Thí dụ khấu hao máy móc thiết bị, chi phí thuê mặt bằng, nhà xưởng, lãi suất ngân hàng

Chi phí biến đổi là chi phí thay đổi theo số lượng sản phẩm được làm ra Thành phần chủ yếu của chi phí biến đổi là nguyên vật liệu, lương, vận chuyển

Tại điểm hoà vốn có tổng doanh thu bằng tổng chi phí

Trang 7

Chi phí cố định là FC;

Chi phí biến đổi cho một đơn vị sản phẩm là V;

Tổng chi phí là TC;

Tổng doanh thu là TR;

Giá bán một đơn vị sản phẩm là Pr;

Khối lượng sản xuất là Q

Tại điểm hoà vốn TR = TC

P V

Về mặt giá trị ta có:

HV

V

P

Nếu doanh nghiệp có nhiều mặt hàng, ta có thể tính doanh thu hòa vốn theo công thức sau:

HV

i

i i

FC TR

V

P

Trong đó:

Pi là giá của mặt hàng i;

Vi là chi phí biến đổi của mặt hàng i;

FC là tổng chi phí cố định;

%Wi là cơ cấu của doanh thu

Ví dụ 2: Sản phẩm A của một công ty có chi phí cố định là 1000 USD/năm; chi phí biến đổi trên một đơn vị sản phẩm là 2USD/đơn vị sản phẩm; giá bán một sản phẩm

là = 4USD Hãy xác định điểm hòa vốn theo sản lượng và doanh thu?

Điểm hòa vốn theo sản lượng:

Hướng dẫn:

HV

Điểm hòa vốn theo doanh thu:

HV

Ví dụ 3: Công ty An Phúc kinh doanh 5 mặt hàng chủ yếu là A, B, C, D, E Chi phí

cố định hàng tháng của công ty là 20 triệu đồng Giá bán, chi phí biến đổi và doanh thu từng loại mặt hàng của tháng trước được cho trong bảng dưới đây, hãy xác định điểm hòa vốn của công ty?

Trang 8

Đơn vị tính: (triệu đồng)

biến đổi

Doanh thu tháng trước

Hướng dẫn:

i

P

1

i

i i

P

V

Điểm hòa vốn của công ty này là:

HV

i

i i

0, 26 V

P

 Các tình huống trong việc ra quyết định lựa chọn công suất

Lý thuyết quyết định là phương pháp phân tích để lựa chọn hành động có lợi nhuận Người ta phân lý thuyết quyết định ra làm 3 loại mô hình, phụ thuộc vào mức độ chắc chắn của kết quả Ba loại mô hình quyết định đó là:

o Ra quyết định dưới điều kiện chắc chắn, trong

đó người ra quyết định biết chắc chắn hậu quả hay kết quả của bất kì quyết định được lựa chọn nào Trong thực tế, nhiều người do biết trước thông tin liên quan đến công việc kinh doanh của mình đã kịp nắm bắt cơ hội, ra quyết định kịp thời và gặt hái được thành công lớn

Ví dụ như người ra quyết định hoàn toàn biết chắc chắn là sau khi gửi tiền tiết kiệm ở ngân hàng sẽ nhận được số tiền lớn hơn trong tương lai Hoặc khi giá nguyên vật liệu thay đổi có thể dự đoán được nhu cầu và giá của sản phẩm sẽ thay đổi như thế nào

o Ra quyết định dưới điều kiện không chắc chắn, trường hợp này người ra quyết định không biết điều gì sẽ xảy ra đối với kết quả của mỗi cách lựa chọn của mình Thí dụ không thể biết chắc chắn tuần tới mưa hay nắng; thị trường chứng khoán ngày mai tăng hay giảm; đội bóng đá nào vô địch trong mùa giải tới

Trang 9

o Ra quyết định dưới điều kiện rủi ro, doanh nghiệp không thể biết chắc điều gì

có thể sẽ xảy ra trong tương lai nhưng có thể dự đoán được xác suất xảy ra đối với từng tình huống quyết định

Ví dụ ta không biết chắc chắn tay vợt nào sẽ vô địch trong trận chung kết tuần tới nhưng có thể dự đoán được xác suất 70% tay vợt A sẽ dành chiến thắng Khi ra quyết định dưới điều kiện chắc chắn, người ra quyết định biết được hậu quả hành động của mình sẽ có được kết quả tốt nhất Còn khi ra quyết định dưới điều kiện rủi ro, người ra quyết định sẽ cố gắng tối đa hoá lợi nhuận mong đợi của mình Cách tiếp cận ra quyết định điển hình được dùng là tối đa hóa giá trị tiền tệ mong đợi Các chỉ tiêu để ra quyết định dưới điều kiện không chắc chắn thường xem xét đến các chỉ tiêu maximax, maximin và may rủi ngang nhau

 Ra quyết định trong điều kiện không chắc chắn

Trong điều kiện không chắc chắn, doanh nghiệp phải lựa chọn phương án công suất sao cho có lợi nhất đối với từng tình huống xảy ra.Quyết định lựa chọn này phụ thuộc hoàn toàn vào mức độ sẵn sàng chấp nhận rủi ro của các doanh nghiệp Để đưa ra những quyết định lựa chọn các phương án, người ta

sử dụng các chỉ tiêu sau:

o Maximax Chỉ tiêu này giúp người ra quyết định tìm ra cách lựa chọn tối ưu trong các cách lựa chọn đã cho kết quả về lợi nhuận mong đợi tối đa Doanh nghiệp có mức chấp nhận rủi ro cao, tin tưởng sẽ thu được lợi nhuận cao nhất với phương

án công suất lựa chọn Phương pháp này được tính bằng cách xác định giá trị tiền tệ mong đợi thu được lớn nhất của từng phương án và lựa chọn phương án

có lợi nhuận cao nhất, vì thế đây còn gọi là chỉ tiêu lạc quan

o Maximin Chỉ tiêu này giúp người ra quyết định chọn ra trong số các phương án công suất lựa chọn có giá trị thua lỗ nếu xảy ra là thấp nhất Phương án được lựa chọn là phương án có giá trị tiền tệ mong đợi lớn nhất trong những giá trị mong đợi nhỏ nhất mà mỗi phương án thu được, đây còn gọi là chỉ tiêu bi quan

o May rủi ngang nhau Chỉ tiêu này giúp người ra quyết định tìm ra kết quả trung bình lớn nhất trong

số các phương án công suất lựa chọn Theo chỉ tiêu này, doanh nghiệp chấp nhận một mức mạo hiểm trung bình Người ta chọn phương án có giá trị tiền tệ mong đợi trung bình lớn nhất trong các phương án đưa ra Tiếp cận theo phương pháp này giả định rằng mọi xác suất xảy ra đối với các tình huống là ngang nhau, may cũng như rủi

Để hiểu rõ chúng ta lấy ví dụ sau:

Ví dụ 4: Giả sử công ty Minh Phú cần tiến hành lựa chọn các phương án công suất trong điều kiện không chắc chắn Sau khi phân tích tình hình và tính toán

Trang 10

giá trị mong đợi thu được của từng phương án trong các tình huống cụ thể, các

số liệu được cho ở bảng sau:

Đơn vị: tỷ đồng

Lợi nhuận theo thị trường

thuận lợi

Thị trường thuận lợi

Thị trường không thuận lợi

Hãy lựa chọn phương án công suất bằng cách sử dụng các chỉ tiêu trên

Theo dữ liệu của bài ra, ta có:

Trường hợp sử dụng chỉ tiêu maximax, ta chọn phương án 1, xây dựng doanh nghiệp với quy mô lớn có giá trị tiền tệ mong đợi lớn nhất là 250 tỷ đồng

Trường hợp sử dụng chỉ tiêu maximin, ta chọn phương án 4 là doanh nghiệp không làm gì cả với giá trị mong đợi là không bị thua lỗ

Trường hợp sử dụng chỉ tiêu may rủi ngang nhau, ta chọn phương án 2 là xây dựng doanh nghiệp với quy mô nhỏ, vì giá trị mong đợi trung bình thu được của phương án này cao nhất là 80 tỷ đồng

 Ra quyết định trong điều kiện rủi ro

Để lựa chọn công suất, người ta tính tổng giá trị tiền tệ mong đợi của từng phương án bằng cách lấy xác suất nhân với giá trị mong đợi của từng tình huống, rồi cộng các giá trị đó lại theo từng phương

án Quyết định sẽ lựa chọn phương án nào có tổng giá trị tiền tệ mong đợi lớn nhất Có thể biểu diễn cách tính bằng công thức sau:

Giá trị tiền tệ mong đợi EMViEMVijSijmax

Trong đó:

EMVi: là giá trị tiền tệ mong đợi của phương án i;

EMVij: là giá trị tiền tệ mong đợi theo tình huống j của phương án i;

Sij: là xác suất theo tình huống j của phương án i

Ví dụ 5: Vẫn dùng số liệu đã cho của Công ty Minh Phú ở ví dụ trên nhưng có bổ sung thêm điều kiện là lúc này doanh nghiệp biết được xác suất của từng tình huống cụ thể như sau: nhu cầu thị trường rất thuận lợi có xác suất là 0,5, nhu cầu thị trường thuận lợi xác suất là 0,3 và nhu cầu thị trường không thuận lợi có xác suất là 0,2 Hãy lựa chọn phương án công suất trong điều kiện này

Đối với phương án quy mô lớn, ta có:

EMV1 = 250  0,5 + 80  0,3 + (–100)  0,2 = 129 tỷ đồng

Ngày đăng: 18/03/2022, 23:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w