07 FIN101 Bai 5 v1 0 doc Bài 5 Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ v1 0 83 BÀI 5 NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Mục tiêu Nội dung Hiểu được bản chất và cơ cấu tổ chức của Ngân hàn[.]
Trang 1Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ
BÀI 5: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
Hiểu được bản chất và cơ cấu tổ chức của
Ngân hàng Trung ương
Hiểu được mục tiêu, tính chất và tác động
của các công cụ chính sách tiền tệ đối với
nền kinh tế
Thời lượng học
8 tiết
Giới thiệu cho sinh viên các kiến thức
cơ bản về Ngân hàng Trung ương, vị trí, vai trò của Ngân hàng Trung ương đối với nền kinh tế
Giới thiệu cho sinh viên các kiến thức
về chính sách tiền tệ và điều hành chính sách tiền tệ
Trang 2TÌNH HUỐNG DẪN NHẬP
Tình huống
Công ty Alpha ký hợp đồng sản xuất sô cô la dài hạn cho công ty
1402 với thời hạn là 10 năm Hiện nay ông Quang đang xác định
giá cho lô hàng của mình sẽ bán, và nhận được tư vấn là ông
không được đặt một mức giá cố định mà phải điều chỉnh tăng dần
qua các năm vì lạm phát được dự báo là sẽ cao trong thời gian tới
do chính phủ hiện nay đang thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng
nhằm kích thích phát triển kinh tế Ông Quang không hiểu tại sao
phát triển kinh tế lại liên quan tới chính sách tiền tệ, và tại sao
chính sách tiền tệ nới lỏng lại có liên quan tới lạm phát
Câu hỏi
Anh chị có thể tư vấn cho ông Quang tại sao lại có lạm phát, lạm phát có tác hại gì mà ông Quang phải điều chỉnh giá cả cho lô hàng của mình qua mỗi năm?
Anh chị hãy giúp ông Quang hình dung được các chính sách tiền tệ có tác động gì tới nền kinh tế,
và những công cụ chính sách tiền tệ khác nhau nhằm tác động tới yếu tố nào trong nền kinh tế?
Trang 3Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ
5.1 Ngân hàng trung ương (NHTW)
5.1.1 Sự ra đời và phát triển của NHTW
Sự ra đời của NHTW bắt nguồn từ sự phân hóa của hệ
thống ngân hàng Qua thời gian, các NHTW ngày càng
hoàn thiện và đảm nhận tốt chức năng quản lý nhà nước
trong lĩnh vực tiền tệ Quá trình ra đời của NHTW trải
qua các giai đoạn sau:
Sự phân hoá hệ thống ngân hàng
Ðến thế kỷ XVII, các ngân hàng đã được công nhận như một doanh nghiệp kinh
doanh trên lĩnh vực tiền tệ Trong thời kỳ này, bên cạnh các nghiệp vụ như huy
động tiền gửi, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh thương phiếu…, các ngân hàng được phép phát hành tiền dưới dạng các chứng thư, kỳ phiếu thay cho vàng Lúc đầu, các kỳ phiếu ngân hàng chỉ được phát hành khi có một khoản tiền vàng thực sự gửi vào ngân hàng (đảm bảo bằng vàng) Tuy nhiên, đến cuối thế kỉ XVII, các ngân hàng bắt đầu lợi dụng ưu thế của mình để phát hành một khối lượng lớn các kỳ phiếu tách rời khỏi dự trữ vàng để cho vay, điều này đe doạ dự trữ vàng và khả năng chuyển đổi ra vàng của các kỳ phiếu được phát hành
Đến cuối thế kỷ XVIII, lưu thông hàng hóa được
mở rộng cả về phạm vi và quy mô Trong bối cảnh
ấy, việc nhiều ngân hàng phát hành nhiều loại giấy
bạc khác nhau đã cản trở quá trình phát triển kinh
tế Nhà nước không thể kiểm soát được khối lượng
tiền trong lưu thông và càng không thể kiểm soát
được tính chất đảm bảo của lượng tiền lưu thông
đó Ngoài ra, dân chúng cũng có sự lựa chọn kỳ
phiếu của các ngân hàng; kỳ phiếu của các ngân
hàng lớn chiếm lĩnh thị trường, đẩy kỳ phiếu của các ngân hàng nhỏ ra khỏi lưu
thông Tình trạng này kéo dài dẫn đến sự bất ổn trong lưu thông tiền tệ Trước tình
hình đó, Nhà nước buộc phải can thiệp nhằm thiết lập trật tự và sự thống nhất cho việc phát hành tiền, đảm bảo an toàn cho các giấy chứng nhận nợ của các ngân hàng Sự can thiệp này dẫn đến việc chỉ còn một số ngân hàng lớn được quyền phát hành tiền kèm theo nghiệp vụ kinh doanh (ngân hàng phát hành), các ngân hàng khác chỉ được kinh doanh hoạt động tiền tệ và tín dụng, không được phép phát hành tiền Các ngân hàng này được quyền mở tài khoản và thanh toán bù trừ thông qua ngân hàng phát hành, biến ngân hàng phát hành thanh trung tâm thanh toán Từ lúc này, hệ thống ngân hàng được phân thành hai cấp: các ngân hàng phát hành và hệ thống các ngân hàng trung gian (không có chức năng phát hành nhưng
có chức năng kinh doanh tiền tệ)
Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, để thống nhất việc phát hành tiền, Nhà nước chỉ cho phép một ngân hàng phát hành uy tín nhất được quyền phát hành tiền Các ngân hàng phát hành khác được chuyển thành các ngân hàng thương mại Chẳng hạn như ở Anh, vào năm 1694, quyền phát hành tiền tập trung vào 10 ngân hàng
Trang 4lớn nhất, sau đó vào năm 1844 chỉ có duy nhất Ngân hàng Anh (Bank of England) được phép phát hành tiền, các ngân hàng khác chỉ được phép phát hành hạn chế trong giới hạn của đạo luật Ngân hàng Anh 1844 Tương tự, ở Đức, năm 1875 có đến 33 ngân hàng tư nhân được phép phát hành
tiền, và quyền lực này sau đó được tập trung vào
Ngân hàng Ðức (Bundesbank) trước Chiến tranh
thế giới thứ nhất Hầu hết các nước châu Âu (trừ
Italia và Thuỵ Sĩ) cùng với một vài nước thuộc
châu Á và châu Phi như Nhật, Algeria đã hình
thành ngân hàng phát hành với quyền lực và sự ưu tiên từ Chính phủ Tất cả các ngân hàng này, với những mức độ khác nhau, từng bước thực hiện các chức năng của NHTW Với ý nghĩa như vậy, khái niệm “NHTW” bắt đầu được nhắc đến từ cuối thế kỷ XIX
Hoàn thiện NHTW - Giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến nay
Đây là giai đoạn hoàn thiện hoạt động NHTW về tổ chức, chức năng, đồng thời là giai đoạn thành lập một loạt các NHTW mới Giai đoạn này được đánh dấu bởi một số mốc đáng ghi nhớ sau:
Nhà nước tiến hành tách rời chức năng độc quyền phát hành tiền ra khỏi chức năng kinh doanh tiền tệ trực tiếp với công chúng của các NHTW Các ngân hàng phát hành bây giờ chỉ được phép phát hành tiền mà không còn được kinh doanh tiền tệ Hoạt động này được thực hiện trước hết ở Ngân hàng Anh, và sau đó ở các ngân hàng phát hành của các nước khác
Từ năm 1920, hàng loạt các NHTW mới được thành lập do ảnh hưởng của NHTW Anh, Pháp, và đặc biệt do khuyến cáo của Hội nghị Tài chính - Tiền tệ lần thứ nhất khi khẳng định việc thành lập NHTW là cần thiết không những cho sự ổn định tiền
tệ và tín dụng trong nước mà còn tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ quốc tế về thương mại và tài chính Các ngân hàng này khi mới thành lập đã ngay lập tức mang đầy đủ bản chất của một NHTW vì sự cần thiết của nó đã được chứng minh qua kinh nghiệm các NHTW đang hoạt động
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1929-1933 và sự phát triển của học thuyết Keynes về sự cần thiết của vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế, cũng như ảnh hưởng của khối lượng tiền cung ứng đến các biến số kinh tế vĩ mô,
đã tạo nên sự thay đổi toàn bộ nhận thức của các quốc gia về vai trò của NHTW Phần lớn các nhà nước đã tiến hành quốc hữu hoá hoặc thành lập mới ngân hàng phát hành thuộc sở hữu nhà nước (ví dụ, ngân hàng Anh được quốc hữu hóa năm
1947, NHTW Pháp năm 1946, NHTW Canada năm 1938, NHTW Ðức năm 1939)
Ở một số nước, ngân hàng phát hành không hoàn toàn thuộc sở hữu nhà nước nhưng hoạt động vẫn mang tính nhất như một ngân hàng của nhà nước và cơ quan quản lý cao nhất của nó là do nhà nước bổ nhiệm và miễn nhiệm (Mỹ, Nhật)
Lịch sử ra đời của một số NHTW trên thế giới
NHTW lâu đời nhất trên thế giới là NHTW Thụy Điển Riksbank Ngân hàng được thành lập năm 1668 với sự trợ giúp của các thương gia Hà Lan Đến năm 1694, Ngân hàng Anh được một thương nhân người Scotland William Paterson thành lập tại London theo yêu
Trang 5Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệcầu của chính phủ Anh để giúp trang trải chi phí chiến tranh Ngân hàng Nhật Bản được thành lập 1882 trong Cải cách Minh Trị Cục Dự trữ liên bang Mỹ được Quốc hội Mỹ thành lập năm 1913 theo Luật Glass-Owen Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa bắt đầu vai trò như một ngân hàng trung ương vào năm 1979 Đến năm 2000, Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa đã trở thành một NHTW hiện đại Mô hình NHTW hiện đại nhất hiện nay là NHTW Châu Âu Đây là ngân hàng trung ương độc lập nhất thế giới, chịu trách nhiệm ổn định tiền tệ cho khu vực sử dụng đồng Euro
Mô hình này xuất phát từ quan điểm Nhà nước tập quyền Chính sách tiền tệ là một bộ phận của chính sách kinh tế vĩ mô, do vậy NHTW, cơ quan thực thi chính sách tiền tệ, phải thuộc Chính phủ thì Chính phủ mới có mức tập quyền cao, mới tạo được sự ổn định cần thiết về chính trị và kinh tế, huy động được mọi nguồn lực phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế Mô hình này được áp dụng ở phần lớn các nước Châu Á
và các nước XHCN trước đây Thành công của các nước công nghiệp mới Đông Á nơi NHTW là một bộ phận trong chính phủ là một bằng chứng thuyết phục về sự phù hợp của mô hình này đối với các nước Á Ðông
QUỐC HỘI
Trang 6Theo mô hình này, NHTW có quyền quyết định việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ mà không bị ảnh hưởng bởi các áp lực chi tiêu của Ngân sách hoặc các áp lực chính trị khác Chính phủ và NHTW chỉ có quan hệ hợp tác chứ không có quan hệ chi phối Điển hình của mô hình này là Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), NHTW Thuỵ
sĩ, Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB)…
Xuất phát điểm của mô hình này dựa trên quan điểm
dân chủ cổ truyền của Hy Lạp, La Mã Người Châu Âu
chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng tự do và dân chủ của triết
học Hy Lạp, La Mã cổ đại, cho rằng khái niệm dân tộc,
nhân dân luôn lớn hơn khái niệm quốc gia Nếu NHTW
trực thuộc Chính phủ, không có gì đảm bảo rằng
NHTW sẽ luôn thực hiện chính sách tiền tệ vì lợi ích của nhân dân Vì vậy, NHTW phải đặt dưới sự giám sát của toàn dân, mà đại diện là Quốc Hội
Tuy nhiên, không phải tất cả các NHTW tổ chức theo mô hình này đều đảm bảo sự độc lập hoàn toàn khỏi áp lực của Chính phủ khi thực hiện chính sách tiền tệ Mức độ độc lập của mỗi NHTW phụ thuộc vào sự chi phối của cơ quan đứng đầu Nhà nước, vào cơ chế lập pháp và nhân sự của Ngân hàng Trung ương
5.1.2.2 Ngân hàng trung ương - Độc lập hay phụ thuộc với Chính phủ?
Những lý luận ủng hộ mô hình NHTW độc lập với Chính phủ
Các lý luận ủng hộ mô hình NHTW độc lập với
Chính phủ cho rằng một NHTW độc lập sẽ thực
hiện chính sách tiền tệ tốt hơn, đảm bảo được giá
trị đồng tiền và kiềm chế được lạm phát Theo
nhiều nhà kinh tế, các chính trị gia trong xã hội dân
chủ thường tập trung vào các mục tiêu ngắn hạn
(như giảm thất nghiệp, lãi suất) để có thể tiếp tục
thắng cử ở những cuộc bầu cử tiếp theo, và do đó
bỏ qua những mục tiêu dài hạn như ổn định giá trị
đồng tiền Các chính trị gia cũng thường sử dụng những giải pháp ngắn hạn để giải quyết những vấn đề kinh tế dù chúng có thể có những tác động tiêu cực trong dài hạn Ví dụ tốc độ tăng lượng cung tiền nhanh có thể làm lãi suất giảm trước mắt, nhưng sau đó có thể lại làm lãi suất tăng khi lạm phát tăng lên Như vậy, một NHTW độc lập với Chính phủ sẽ tránh được các “chu kỳ kinh tế chính trị” NHTW
sẽ hoạt động vì lợi ích của nhân dân hơn là vì lợi ích của một nhóm chính trị gia Bên cạnh đó, một NHTW trực thuộc cũng có thể phải chịu sức ép của Chính phủ
để tài trợ các khoản thâm hụt ngân sách Điều này có thể gây áp lực lạm phát đối với nền kinh tế Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, ở những nước có NHTW độc lập với chính phủ thì tỷ lệ lạm phát cũng được duy trì ở mức thấp
Những lý luận phản đối mô hình NHTW độc lập với Chính phủ
Bên cạnh những lý luận ủng hộ mô hình NHTW độc lập với Chính phủ, cũng có những ý kiến phản đối Một số ý kiến cho rằng khi NHTW trực thuộc Chính phủ, Chính phủ có thể kết hợp hài hòa, hiệu quả cả chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, tập trung các nguồn lực tốt nhất cho sự phát triển kinh tế, tránh trường hợp
Trang 7Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệhai chính sách hoạt động trái chiều, triệt tiêu ảnh hưởng của nhau Ngoài ra, một số
ý kiến khác cũng cho rằng, chính phủ cũng quan tâm đến những vấn đề dài hạn của đất nước, chứ không hoàn toàn tập trung vào những mục tiêu ngắn hạn, do vậy hoàn toàn có thể hướng chính sách tiền tệ đến các mục tiêu dài hạn
Xu thế phổ biến hiện nay
Trong những năm gần đây, ngày càng nhiều các NHTW chuyển sang áp dụng mô hình NHTW độc lập với Chính phủ Các lý thuyết kinh tế cũng như bằng chứng thực nghiệm đã cho thấy các NHTW độc lập hơn thường có những chính sách tiền
tệ tốt hơn, điều này là một động lực khiến các NHTW theo xu thế này
Sự độc lập của NHTW trên thế giới Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed Reserve Systems - Fed): là một trong những NHTW
độc lập nhất trên thế giới Mọi quyết định do Fed đưa ra không cần phải thông qua Tổng thống hay bất kỳ một cơ quan Chính phủ nào mà chỉ phải báo cáo với Quốc hội Fed độc lập cả về việc lập các mục tiêu của chính sách tiền tệ lẫn việc sử dụng các công
cụ để thực hiện các mục tiêu đó
Ngân hàng Anh (Bank of England): Cho đến năm 1997, NHTW Anh phụ thuộc nhiều
vào Chính phủ, khi các quyết định tăng hoặc giảm lãi suất đều do Bộ trưởng bộ Tài chính quyết định Ðến tháng 5/1997, khi Công đảng lên cầm quyền, Bộ trưởng bộ Tài chính Anh đã trao quyền quyết định lãi suất cho NHTW Anh, tuy nhiên, Chính phủ có quyền phủ quyết quyết định của NH và ấn định lãi suất trong những điều kiện đặc biệt
và trong một thời gian nhất định Quyết định về lãi suất do Ủy ban chính sách tiền tệ quyết định, Ủy ban này bao gồm thống đốc và 4 quan chức khác của NHTW, cùng với
4 chuyên gia kinh tế do Bộ trưởng Tài chính chỉ định
Ngân hàng Nhật Bản (Bank of Japan): Trước năm 1998, NHTW Nhật trực thuộc
Chính phủ, với quyền quyết định cuối cùng thuộc về Bộ Tài chính Ðến năm 1998, luật Ngân hàng Nhật Bản mới đã thay đổi điều này Ngoài việc xác định mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định giá cả, bộ luật mới này cũng giao nhiều quyền tự chủ hơn cho NHTW Nhật Bộ Chính phủ cũng mất quyền kiểm soát NHTW Nhật trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là quyền cách chức các quan chức NH cao cấp
Ngân hàng Trung ương Châu Âu (European Central Bank - ECB): được thành lập
theo Hiệp ước Maastricht, là ngân hàng độc lập nhất trên thế giới ECB độc lập về cả mục tiêu lẫn công cụ so với Liên minh châu Âu, chính phủ và ngân hàng trung ương các nước trong khu vực đồng euro Mục tiêu cao nhất của ECB là ổn định giá trị đồng tiền
Trang 8Ðể cho giá trị đồng tiền ổn định, đảm bảo đủ phương tiện tiền tệ cho nhu cầu lưu thông, việc phát hành tiền đòi hỏi phải tuân theo những quy tắc nghiêm ngặt
Các nguyên tắc phát hành tiền
Nguyên tắc phát hành tiền dựa trên cơ sở đảm bảo bằng vàng (trữ kim): Việc
phát hành giấy bạc ngân hàng vào lưu thông phải được đảm bảo bằng vàng hiện hữu trong kho của NHTW NHTW phải đảm bảo việc tự do đổi giấy bạc ngân hàng ra vàng khi có yêu cầu Mỗi nước, vào từng thời kỳ khác nhau, áp dụng nguyên tắc này một cách khác nhau (về mức độ bảo đảm vàng) Nhìn chung, trên thế giới có 3 hình thức đảm bảo bằng vàng như sau:
o Nhà nước quy định một hạn mức phát hành (trong hạn mức: đảm bảo bằng chứng khoán chính phủ, quá hạn mức: 100% vàng) Hình thức này áp dụng ở Anh (1844-1938), sau đó Italia, Nhật, Thuỵ Ðiển Hạn chế của phương thức phát hành này là cứng nhắc, gây nên sự thiếu hụt tiền tệ trong lưu thông, đặc biệt khi có sự chảy máu vàng khỏi quỹ của NHTW hoặc có nhu cầu đột biến về tiền tệ Trong thực tế, từ 1928, hạn mức này được điều chỉnh liên tục bởi sự thay đổi thường xuyên của nhu cầu tiền tệ của nền kinh tế
o Quy định mức tối đa lượng giấy bạc trong lưu thông và không quy định mức
dự trữ vàng làm đảm bảo cho lượng giấy bạc đó Nguyên tắc này được áp dụng tại Pháp từ năm 1870 đến 1928, theo đó quy định không được phép thay đổi lượng giấy bạc tối đa Nguyên tắc này cũng được Anh áp dụng từ 1939 đến
1941, tuy nhiên quy định linh hoạt hơn Pháp khi cho rằng NTHW có quyền điều chỉnh để tăng hạn mức phát hành bất kỳ khối lượng này và vào bất kỳ thời gian nào trong giai đoạn quy định
o Quy định mức dự trữ vàng tối thiểu cho khối lượng giấy bạc phát hành Phần còn lại được đảm bảo bằng các thương phiếu, chứng khoán Chính phủ và các tài sản có khác
Ví dụ, Hà Lan quy định chỉ cần duy trì 40% dự trữ vàng cho tổng lượng tiền phát hành, ở Bỉ, tỷ lệ này là 1/3, còn ở Mỹ quy định 35% dự trữ vàng so với tổng số tiền gửi phát hành cùng với 40% dự trữ cho tiền giấy phát hành
Nhìn chung, nguyên tắc phát hành tiền dựa trên đảm bảo bằng vàng kém linh hoạt, phần nào tách rời khối lượng tiền phát hành ra khỏi nhu cầu lưu thông hàng hoá Sau khủng hoảng 1929-1933 và đặc biệt sau Thế chiến II, các nước đã giảm, ngừng hoặc huỷ bỏ yêu cầu dự trữ vàng cho lượng tiền phát hành, chuyển đổi sang
cơ chế phát hành tiền linh hoạt hơn
Nguyên tắc phát hành tiền dựa trên nhu
cầu về tiền của nền kinh tế Theo cơ chế
này, việc phát hành tiền không phụ thuộc
vào khối lượng vàng, NHTW phát hành tiền
dựa trên những nghiên cứu về nhu cầu tiền
tệ của nền kinh tế Ưu điểm của cơ chế này
là linh hoạt, căn cứ vào nhu cầu tiền tệ
của nền kinh tế và được phát hành trên cơ sở khối lượng hàng hoá, dịch vụ
Trang 9Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệluân chuyển được thể hiện bằng các giấy tờ có giá của Chính phủ hoặc của doanh nghiệp
Các kênh phát hành tiền:
o Cho Chính phủ vay: Ðể đảm bảo nguyên tắc phát hành tiền, NHTW thường yêu cầu CP phải có tài sản thế chấp Các tài sản này đảm bảo giúp cho các NHTW có thể thu hút lượng tiền lưu thông qua các hoạt động trên thị trường
mở Cơ chế này làm yếu năng lực kiểm soát tiền tệ, chứa đựng nguy cơ lạm phát tiềm năng nên ngày càng ít được sử dụng
o Phát hành qua nghiệp vụ thị trường mở (sẽ được nghiên cứu kỹ hơn trong phần chính sách tiền tệ)
o Phát hành qua các NH trung gian: dưới hình thức cho vay tái chiết khấu (sẽ được nghiên cứu kỹ hơn trong phần CSTT)
o Phát hành qua thị trường vàng và ngoại tệ: NHTW tham gia thị trường ngoại tệ
để nhằm dự trữ ngoại hối, điều chỉnh tỷ giá khi cần thiết Ðồng thời với việc mua vàng, ngoại tệ trên thị trường, NHTW thực hiện việc phát hành trực tiếp tiền ra lưu thông
5.1.3.2 Ngân hàng của các Ngân hàng
Với vai trò là Ngân hàng của các NHTM, NHTW thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng sau:
NHTW mở tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng thương mại
Tiền gửi dự trữ bắt buộc: Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các ngân hàng phải duy
trì trong một tài khoản không hưởng lãi đặt tại NHTW Mức dự trữ này do NHTW quy định, được xác định bằng một tỷ lệ nhất định trên tổng số dư tiền gửi của ngân hàng Chế độ dự trữ bắt buộc ở các nước khác nhau, các thời kỳ khác nhau có thể khác nhau, song nhìn chung dự trữ bắt buộc đều mang tính pháp luật, gửi tại NHTW và không được hưởng lãi
Chức năng:
o Ðảm bảo khả năng thanh toán trước nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng, đảm bảo an toàn cho hệ thống NHTM Ngày nay, cùng với sự phát triển của thị trường tài chính, xu hướng chứng khoán hoá trong hoạt động ngân hàng và sự
ra đời của các hình thức bảo hiểm tiền gửi, các ngân hàng có nhiều cách thức
để đảm bảo khả năng thanh toán của mình hơn, do vậy tỷ lệ dự trữ bắt buộc ngày càng giảm ở hầu hết các quốc gia
o Một công cụ của chính sách tiền tệ (nghiên cứu ở phần chính sách tiền tệ)
Tiền gửi thanh toán: Khoản tiền gửi của các NH tại NHTW để đảm bảo nhu cầu
chi trả trong thanh toán giữa các ngân hàng khác hoặc nhu cầu giao dịch với NHTW
NHTW cho vay đối với các NHTM:
Trang 10NHTW cho các NHTM vay chủ yếu dưới hình thức tái chiết khấu các chứng khoán ngắn hạn do các NHTM nắm giữ Thông qua hành vi này, NHTW cấp vốn cho hoạt động của NHTM, tạo điều kiện cho hoạt động của các NHTM
Ngoài ra, NHTW còn đóng vai trò quan
trọng trong việc đảm bảo an toàn của hệ
thống ngân hàng thông qua vai trò “người
cho vay cuối cùng” của mình Khi một
ngân hàng có nguy cơ phá sản và sự phá
sản đó có thể ảnh hưởng đến sự an toàn của
5.1.3.3 Ngân hàng trung ương (NHTW) là Ngân hàng của Nhà nước
Là một định chế tài chính đảm nhận việc thực thi chính sách tiền tệ và đảm bảo sự ổn định của thị trường tài chính, NHTW còn là ngân hàng của Nhà nước NHTW cung cấp các dịch vụ ngân hàng và nhiều dịch vụ khác cho Nhà nước
Cố vấn, đại diện cho Nhà nước
o Cố vấn cho Chính phủ về các chính sách Tài chính-tiền tệ
o Đại diện Nhà nước trong các quan hệ với nước ngoài trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng (ký kết các hiệp ước quốc tế, đại diện cho nhà nước tại các
tổ chức tài chính quốc tế như IMF, WB, ADB)
Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và tín dụng:
o Xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ
o Phê duyệt, cấp giấy phép hoạt động cho các NHTM, các tổ chức tín dụng…, thu hồi giấy phép, đình chỉ hoạt động…
o Quy định các quy chế hoạt động cho các NHTM, các tổ chức tín dụng…
o Ðảm bảo sự ổn định của hệ thống ngân hàng
Trang 11Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ
o Thanh tra, kiểm tra hoạt động của hệ thống ngân hàng
Trang 125.2 Quá trình cung ứng tiền tệ
5.2.1 Các chủ thể trong quá trình cung ứng tiền tệ
Hình 5.3 Các chủ thể trong quá trình cung ứng tiền tệ
Ngân hàng trung ương - cơ quan giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng và chịu trách nhiệm thực thi chính sách tiền tệ
Các ngân hàng thương mại (các tổ chức nhận tiền gửi) - các trung gian tài chính huy động gửi và cung cấp tín dụng cho nền kinh tế
Người gửi tiền
Người vay tiền từ các ngân hàng thương mại
Trong bốn chủ thể trên, Ngân hàng trung ương đóng vai trò quan trọng nhất trong quá trình cung ứng tiền tệ
5.2.2 Ngân hàng trung ương và lượng tiền cơ sở
5.2.2.1 Bảng cân đối kế toán (giản lược) của NHTW
Việc thực thi chính sách tiền tệ của NHTW liên quan đến những hoạt động làm thay đổi bảng cân đối kế toán của NHTW Vì vậy, trong phần này, chúng ta sẽ nghiên cứu một bảng cân đối kế toán đơn giản (chỉ gồm 4 khoản mục) của một NHTW để tạo điều kiện cho sự phân tích quá trình cung ứng tiền tệ ở phần sau
- Chứng khoán chính phủ
- Các khoản cho vay chiết khấu đối với Ngân
hàng thương mại
- Tiền trong lưu thông (C)
- Dự trữ của các ngân hàng thương mại (R)
o Tiền mặt trong lưu thông (C) là số lượng tiền mặt đang lưu thông nằm trong tay dân chúng (ngoài hệ thống ngân hàng) Số tiền mặt trong lưu thông nằm trong hệ thống ngân hàng được tính vào dự trữ ngân hàng
Trang 13Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ
o Dự trữ ngân hàng (R) bao gồm dự trữ tại NHTM và dự trữ của NHTM đặt tại
NHTW
Cả hai khoản mục này đều rất quan trọng trong quá trình cung ứng tiền tệ vì sự gia tăng của một hay cả hai khoản mục này sẽ làm tăng khối lượng tiền cung ứng (trong điều kiện những nhân tố khác không đổi) Đây chính là lượng tiền cơ sở của nền kinh tế (monetary base - MB)
Tài sản có
Hai khoản mục tài sản có trong Bảng cân đối kế toán của NHTW bao gồm:
o Chứng khoán chính phủ Loại tài sản này bao gồm những chứng khoán chính phủ do Kho bạc phát hành NHTW cung cấp vốn cho hệ thống ngân hàng bằng cách mua chứng khoán, do đó làm tăng số chứng khoán chính phủ nắm giữ Do
đó, chứng khoán chính phủ tăng đồng nghĩa với việc cung tiền tăng
o Các khoản vay chiết khấu NHTW có thể cho các NHTM vay thông qua việc tái chiết khấu các chứng từ có giá Do đó khi khoản mục này tăng, lượng tiền
cung ứng sẽ tăng
Như vậy, có thể thấy hai tài sản này đóng vai trò hết sức quan trọng Sự thay đổi của các tài sản này sẽ làm dự trữ ngân hàng thay đổi, từ đó dẫn đến sự thay đổi cung tiền
5.2.2.2 Ngân hàng trung ương và quá trình kiểm soát lượng tiền cơ sở (MB)
Như phân tích trong phần 2.1, lượng tiền cơ sở bằng tiền mặt trong lưu thông (C) cộng với tổng dự trữ của hệ thống ngân hàng (R)
MB = C + R NHTW có thể kiểm soát lượng tiền cơ sở thông qua
việc mua bán chứng khoán chính phủ trên thị trường
mở, hoặc qua việc cung cấp các khoản vay chiết khấu
cho các ngân hàng thương mại
Nghiệp vụ thị trường mở
Cách phổ biến được nhiều NHTW trên thế giới áp
dụng để làm thay đổi lượng tiền cơ sở là thông qua
nghiệp vụ thị trường mở
NHTW mua chứng khoán trên thị trường mở
o NHTW mua chứng khoán từ các NHTM: Giả sử NHTW mua $100 trái phiếu
chính phủ từ NHTM và thanh toán bằng séc Lúc bấy giờ, dự trữ ngân hàng sẽ tăng lên $100 và chứng khoán chính phủ do NHTW nắm giữ sẽ tăng thêm
$100 Lượng tiền cơ sở do vậy tăng thêm $100
o NHTW mua chứng khoán từ các cá nhân, tổ chức phi ngân hàng: Tương tự, nếu NHTW mua $100 trái phiếu chính phủ từ các cá nhân, tổ chức phí ngân hàng và thanh toán bằng séc Nếu người bán gửi séc đó vào tài khoản đặt tại NHTM thì dự trữ ngân hàng sẽ tăng lên $100, còn nếu người bán quyết định đổi séc ra tiền mặt thì tiền mặt trong lưu thông sẽ tăng lên $100 Trong cả hai trường hợp, lượng tiền cơ sở đều tăng lên $100, tuy nhiên tác động đến lượng tiền cơ sở và dự trữ ngân hàng có thể khác nhau
Trang 14NHTW bán chứng khoán trên thị trường mở
Nghiệp vụ bán chứng khoán trên thị trường chứng
khoán ngược lại với nghiệp vụ mua chứng khoán,
làm cho số lượng chứng khoán trái phiếu chính phủ
nắm giữ giảm và lượng tiền cơ sở giảm tương ứng
Lưu ý là nghiệp vụ thị trường mở có thể được thực
hiện với các tài sản khác ngoài chứng khoán chính
phủ, ví dụ ngoại hối Hoạt động can thiệp của
NHTW trên thị trường ngoại hối cũng làm thay đổi
lượng tiền cơ sở
Cho vay chiết khấu
Khi NHTW cho NHTM vay dưới hình thức chiết khấu các chứng từ có giá, các khoản vay chiết khấu bên tài sản có sẽ tăng và tương ứng là dự trữ ngân hàng bên tài sản nợ, làm cho lượng tiền cơ sở tăng
5.2.2.3 Quá trình tạo tiền gửi của hệ thống ngân hàng thương mại – Mô hình
đơn giản
Sau khi nghiên cứu cách thức các NHTW kiểm soát
lượng tiền cơ sở và nghiên cứu hoạt động của các
NHTM, chúng ta có đủ công cụ cần thiết để nghiên
cứu quá trình tạo tiền gửi của các NHTM
Giả sử NHTM A nhận được $100 tiền gửi, tỷ lệ dự trữ
bắt buộc là 10% NHTM A sẽ giữ lại $10 và cho vay
$90 Người vay tiền lại gửi số tiền vay vào NHTM B
Như vậy tiền gửi tại NHTM B lại tăng lên $90 và làm
tăng dự trữ của NHTM B và của hệ thống ngân hàng,
từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng NHTM B lại tiếp
tục giữ 10% tỷ lệ dự trữ bắt buộc và cho vay số tiền còn lại Giả sử quá trình này liên tục tiếp diễn, tổng số tiền gửi vào hệ thống ngân hàng sẽ tăng từ $100 ban đầu lên
Hinh 5.5: Quá trình tạo tiền gửi đơn giản (giả sử tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10%)
Quá trình tạo tiền gửi như trên được gọi là mô hình số nhân tiền tệ đơn giản Trong ví
dụ trên, với tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% thì số nhân tiền đơn giản là 10 Công thức tổng quát của số nhân tiền tệ đơn giản là:m 1
r
, trong đó m là số nhân tiền tệ, r là tỷ lệ
dự trữ bắt buộc
Lưu ý, mô hình số nhân tiền tệ đơn giản dựa trên nhiều giả định:
Số tiền cho vay được người đi vay tiếp tục gửi vào hệ thống ngân hàng
Các ngân hàng chỉ giữ dự trữ bắt buộc và cho vay toàn bộ dự trữ vượt mức
Trang 15Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ
Vi phạm những giả định này sẽ khiến cho số nhân tiền đơn giản không còn chính xác
Vì vậy, trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ mở rộng, nghiên cứu đầy đủ hơn về số nhân tiền Chúng ta sẽ nghiên cứu hành vi và mối quan hệ giữa bốn chủ thể trong quá trình cung ứng tiền để có thể xây dựng được một mô hình cung ứng tiền tệ có tính thực tế hơn
5.2.2.4 Mô hình cung ứng tiền tệ và số nhân tiền tệ
Khi xác định mô hình cung tiền, chúng ta sử dụng M1 (tiền mặt cộng tiền gửi không
kỳ hạn) để đo lượng tiền cung ứng Mặc dù trên thực tế, các nhà hoạch định chính sách thường sử dụng M2, tuy nhiên ở đây chúng ta vẫn sử dụng M1 vì mô hình này đơn giản hơn, nhưng vẫn cung cấp cho chúng ta một cái nhìn cơ bản về quá trình cung ứng tiền tệ
Mối quan hệ giữa lượng tiền cung ứng và lượng tiền cơ sở
MS = m x MB
MS là lượng tiền cung ứng (M1)1
m là số nhân tiền tệ
MB là lượng tiền cơ sở
Số nhân tiền tệ cho chúng ta biết lượng cung tiền sẽ thay đổi như thế nào khi lượng tiền cơ sở thay đổi Số nhân tiền tệ phản ánh ảnh hưởng của các nhân tố khác ngoài lượng tiền cơ sở lên lượng cung tiền, ví dụ như quyết định của người gửi tiền về việc giữ tiền hay gửi tiền vào ngân hàng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc của NHTW, dự trữ vượt mức của các NHTM
Tính toán số nhân tiền tệ
Trong mô hình đơn giản, chúng ta không đề cập đến ảnh hưởng của quyết định nắm giữ tiền/tiền gửi của dân chúng hay quyết định giữ dự trữ vượt mức của các NHTM đến quá trình tạo tiền gửi Trong mô hình này, chúng ta sẽ chú ý đến những yếu tố trên Dự trữ ngân hàng sẽ bao gồm dự trữ bắt buộc (Required Reserve - RR) và dự trữ vượt mức (Excess Reserve - ER)
Giả định: Lượng tiền mặt người dân muốn giữ (Currency - C) và dự trữ vượt mức của ngân hàng (ER) tỷ lệ thuận với tiền gửi (Deposit - D) và đặt: