• i1 ; ouoc HOI KHOA XIV DOAN B~ BlEU ouoc nor TiNH BONG THAp CQNG HC)AxA HQI CHiT NGHiA VI~T NAM DQcI~p TV do H~nh phuc S6 35IDDBQH VP V/v dong gop y kiSn dir thao Lu~t sua d6i, b6 sung mQt s6 di€u c[.]
Trang 1• i1.;
DOAN B~ BlEU ouoc nor
TiNH BONG THAp
DQc I~p - TV do - H~nh phuc
V / v dong gop ykiSn dir thao Lu~t sua d6i,
b6 sung mQt s6 di€u cua Luat Ban hanh
van ban quy pham phap luat
fJ6ng Thap, ngay 24 thang 4 ndm 2020
- Thtrong tnrc HQi d6ng nhan dan Tinh;
- Uy ban nhan dan Tinh;
- Uy ban Mat tr~ T6 quoc Viet Nam Tinh;
- Cac vi dai bieu Quoc hQidon vi tinh D6ng Thap;
- Cac Sa,nganh: Cong an,Toa an, Vien kiem sat, Tu phap.
- HQiLuat gia tinh D6ng Thap;
- HDND, UBND cac huyen, thi, thanh pho.
Tai ky h9P tlnr 8, Quoc hQi dll thao luan, choykien Ifilld~u d6i voi du an Luat sua d6i, b6 sung mot s6 diSu cua Lu~t Ban hanh van ban quy pham phap lu~t Sau khi ti~p thu, chinh ly du thao Luat, Uy ban Thuong vu Quoc hQi dS nghj ti~p t\1Clay yki~n gop y hoan chinh dv an Lu~t d8 trinh Qu6c thong qua t';likY h9P l~n thu 9, QU6c hQikhoa XIV.
Do diSu ki~n phong ch6ng djch b~nh Covid-19, Doan d';li bi8u Qu6c hQi tinh D6ng Thap khong t6 chuc HQi nghi lay y ki~n dong gop Lu~t Tran tr9ng dS nghi quy
co quan nghien Clm, dong gop y ki~n b&ngvan ban d6i v6i d\l'anLu?t neu tren.
- Cac tai li~u co lien quan dSn d\l' thao Lu~t du9'c dang tren C6ng thong tin di~n tir tinh D6ng Thap https: ll dongthap.gov.vnI, m\1cG6py dv thao van ban. Y kiSn dong gop xin gui vS Van phong Doan d';libi8u Qu6c hQitruac ngay 07 thang 5 nam 2020, gui kern file qua email: chithienl006@gmail.com.
Rfrtmong dugc S\l'quan tam, g6p y cua quy cO'quan gop ph~ hoan chinh d\l'thao Lu~t,dam bao tinh d6ng bQ,ch?t che, khathitrong t6 chuc thvc hi~n.
Trang 2của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Kính gửi: Các vị đại biểu Quốc hội Tại kỳ họp thứ 8 (tháng 10/2019), Quốc hội đã thảo luận, cho ý kiến về dự án
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
(Luật BHVBQPPL) Ngay sau kỳ họp Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội
(UBTVQH) đã chỉ đạo cơ quan chủ trì thẩm tra phối hợp với cơ quan trình dự án
và các cơ quan có liên quan nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội
để chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Luật
Dưới đây, UBTVQH xin báo cáo về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự
thảo Luật
1 Về phạm vi sửa đổi, bổ sung Luật
Nhiều ý kiến nhất trí với phạm vi sửa đổi Luật là chỉ sửa đổi, bổ sung một số
điều như đề nghị của Chính phủ Bên cạnh đó, một số ý kiến đề nghị sửa đổi thêm
để tháo gỡ một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn liên quan đến các vấn đề
như lập chương trình, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra; một số ý kiến đề nghị mở
rộng phạm vi để sửa đổi toàn diện Luật
UBTVQH nhận thấy, Luật BHVBQPPL mới được ban hành và có hiệu
lực hơn 03 năm; các nội dung, chính sách của Luật mới được triển khai thực
hiện nên cần có thời gian để kiểm chứng, đánh giá Do đó, UBTVQH thống nhất
với Chính phủ đề nghị chưa sửa đổi toàn diện Luật này mà chỉ mở rộng sửa đổi,
bổ sung thêm một số nội dung trong thực hiện thực sự có vướng mắc, bất cập và
đã đạt được sự đồng thuận, nhất trí cao
2 Về bổ sung một số quy định về bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng
trong xây dựng, ban hành VBQPPL
Bên cạnh các ý kiến nhất trí với việc sửa đổi, bổ sung một số quy định về
bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng, ban hành VBQPPL như trong
dự thảo Luật, có ý kiến đề nghị cân nhắc việc sửa đổi, bổ sung này vì việc bảo
đảm sự lãnh đạo của Đảng đã được quy định đầy đủ trong Luật hiện hành
UBTVQH xin báo cáo như sau: bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng là nguyên
tắc chủ đạo, xuyên suốt trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta,
trong đó có hoạt động xây dựng pháp luật Nguyên tắc này cũng đã được Luật
hiện hành thể chế hoá cụ thể trong từng khâu của quy trình xây dựng, ban hành
VBQPPL (các điều 39, 65, 88, 98, 102, 124) và việc thực hiện nguyên tắc này
Trang 32
trên thực tế tại Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan khác ở trung ương và các địa phương thời gian qua cơ bản đầy đủ, nghiêm túc Việc sửa đổi, bổ sung trong dự thảo Luật lần này là để tiếp tục khẳng định, làm rõ và sâu sắc hơn cơ chế bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong hoạt động xây dựng, ban hành VBQPPL Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho sửa đổi, bổ sung quy định như trong dự thảo Luật
3 Về phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong xây dựng VBQPPL
Có ý kiến đề nghị quy định rõ hơn trong Luật về trách nhiệm phản biện
xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN) trong xây dựng VBQPPL
UBTVQH nhận thấy, Chương VI của Luật MTTQVN đã quy định về hoạt động phản biện xã hội của MTTQVN đối với dự thảo văn bản pháp luật; tuy nhiên, cả trong Luật MTTQVN và văn bản quy định chi tiết thi hành đều chưa quy định rõ phản biện xã hội được thực hiện như thế nào trong quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL
Do đó, tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, đồng thời thể chế hóa chủ trương của Đảng về việc “xem xét đưa hoạt động phản biện xã hội của MTTQVN và các tổ chức chính trị - xã hội vào quy trình xây dựng, ban hành
của MTTQVN (bao gồm cả các tổ chức chính trị - xã hội là thành viên của Mặt trận) trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản; quy định rõ thời điểm phản biện xã hội được thực hiện trong giai đoạn tổ chức lấy ý kiến về dự thảo văn bản
và văn bản phản biện xã hội phải được gửi kèm theo hồ sơ dự án gửi thẩm định, thẩm tra, trình cơ quan có thẩm quyền; các nội dung khác liên quan đến phản biện xã hội được thực hiện theo quy định của Luật MTTQVN
4 Về trách nhiệm chủ trì việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật, nghị quyết
Tại kỳ họp thứ 8, Chính phủ trình Quốc hội 2 phương án như sau:
- Phương án 1: sửa đổi Luật theo hướng cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án (gọi chung là cơ quan trình) chủ trì tiếp thu, chỉnh lý dự thảo
- Phương án 2: giữ như quy trình hiện hành là cơ quan thẩm tra chủ trì giúp UBTVQH tiếp thu, chỉnh lý dự thảo, nhưng bổ sung quy định tại phiên họp Quốc hội, sau khi UBTVQH báo cáo Quốc hội việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý
dự thảo thì cơ quan trình dự án trình bày ý kiến của mình về báo cáo này của UBTVQH
Trong cả 2 phương án thì UBTVQH vẫn trực tiếp chỉ đạo việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo
Qua thảo luận, nhiều ý kiến đề nghị giữ như quy trình hiện hành giao cơ quan thẩm tra chủ trì giúp UBTVQH tiếp thu, chỉnh lý dự thảo, nhưng cần rà soát, bổ sung quy định nhằm làm rõ hơn trách nhiệm của các chủ thể trong việc
1 Thông báo Kết luận số 160-TB/TW ngày 15/01/2020 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Kết luận số 62-KL/TW ngày 08/12/2009 của Bộ Chính trị khóa X về tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội
Trang 4tiếp thu, chỉnh lý dự thảo và các khâu khác của quy trình ban hành luật, pháp lệnh, nghị quyết; một số ý kiến tán thành hướng sửa đổi như Phương án 1
Về vấn đề này, UBTVQH xin báo cáo như sau:
Việc giao cơ quan trình dự án chủ trì tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật không phải là vấn đề mới mà đã được thực hiện ở giai đoạn trước năm 2003 (theo Luật BHVBQPPL năm 1996).2 Tuy nhiên, từ năm 2003, việc chủ trì giúp UBTVQH tiếp thu, chỉnh lý dự thảo đã được giao cho cơ quan thẩm tra (theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHVBQPPL năm 2002) Quy trình này được duy trì và hoàn thiện qua các lần sửa đổi Luật BHVBQPPL (năm 2008 và năm 2015),
đã đóng góp tích cực vào việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, giúp Quốc hội ban hành được số lượng lớn các luật trong gần 2 thập kỷ qua3, tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng
- an ninh, bảo đảm quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân và hội nhập quốc tế trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Từ năm 2003 đến nay, quy trình này đã được thực hiện ổn định, cơ bản không có vướng mắc; trong Tờ trình, Chính phủ vẫn khẳng định quy trình như hiện nay “vẫn đang phát huy tốt tác dụng; một số vấn đề vướng mắc, bất cập là do quá trình thực thi chưa tốt, chưa phát huy hết trách nhiệm của các cơ quan tham gia vào quá trình này”4; Báo cáo của cơ quan soạn thảo tổng kết 3 năm thi hành Luật BHVBQPPL năm 2015 không chỉ ra được những bất cập, hạn chế của việc
cơ quan thẩm tra chủ trì giúp UBTVQH tiếp thu, chỉnh lý dẫn đến phải thay đổi, chuyển giao nhiệm vụ này cho cơ quan trình dự án như phương án 1 Chính phủ
đề xuất Nếu thay đổi như đề xuất sẽ tác động lớn đến quy trình, có thể dẫn đến chậm trễ, không bảo đảm ban hành luật kịp thời để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn
và cũng khó khả thi, khó bảo đảm tiến độ chương trình làm việc của Quốc hội.5
Hơn nữa, theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội có nhiệm vụ “làm luật
và sửa đổi luật”6, đòi hỏi các cơ quan của Quốc hội phải chủ động giúp Quốc hội
2 Khoản 1 Điều 45 của Luật BHVBQPPL năm 1996 quy định:
“1 Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự án luật, Quốc hội có thể xem xét dự án luật tại một hoặc nhiều kỳ
họp của Quốc hội Trong trường hợp dự án luật được xem xét tại nhiều kỳ họp của Quốc hội, thì trong lần xem xét đầu, Quốc hội thảo luận và cho ý kiến về đối tượng, phạm vi điều chỉnh, nội dung cơ bản và những vấn đề
còn có ý kiến khác nhau của dự án luật Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật có trách nhiệm
tiếp thụ, chỉnh lý dự án.”
Tuy nhiên, trong quy trình xem xét, thông qua hoặc đối với dự án luật được xem xét theo quy trình tại nhiều
kỳ họp của Quốc hội thì ở các giai đoạn tiếp theo, Luật giao Đoàn Thư ký kỳ họp phối hợp với cơ quan thẩm tra
và cơ quan soạn thảo tiếp thụ ý kiến của đại biểu Quốc hội, dự kiến chỉnh lý dự án và báo cáo với Uỷ ban thường
vụ Quốc hội trước khi trình Quốc hội quyết định
3 Qua tổng kết Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị (khoá IX) cho thấy: trong 20 năm từ
1986 - 2005, Quốc hội ban hành được 140 văn bản luật (trung bình 07 luật/năm); tuy nhiên, trong 15 năm tiếp theo từ 2005 đến hết 2019, Quốc hội đã ban hành được 282 văn bản luật (trung bình 19 luật/năm)
4 Tờ trình số 510/TTr-CP ngày 18/10/2019 của Chính phủ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trang 10
5 Nếu sửa quy trình theo Phương án 1 của Chính phủ thì với cách thức và thời gian tổ chức kỳ họp Quốc hội như hiện nay (có 3 - 4 tháng giữa 2 kỳ họp) thì sẽ không thể có đủ thời gian để vừa nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý theo
ý kiến đại biểu Quốc hội vừa tiến hành thẩm tra lại để báo cáo UBTVQH xem xét trước khi trình Quốc hội; nhất
là đối với những dự án phức tạp mà UBTVQH phải xem xét, cho ý kiến 2 - 3 lần
6 Khoản 1 Điều 70 của Hiến pháp năm 2013
Trang 54
trong việc “đặt ra quy định”; tại các kỳ họp Quốc hội, đại biểu Quốc hội đề xuất nhiều chính sách mới được Quốc hội chấp nhận chứ không đơn thuần Quốc hội chỉ thảo luận và biểu quyết thông qua luật Vì vậy, tiếp thu ý kiến của nhiều đại biểu Quốc hội, trên cơ sở Phương án 2 do Chính phủ đề xuất, UBTVQH đề nghị cho giữ quy định hiện hành về trách nhiệm chủ trì giúp UBTVQH tiếp thu, chỉnh lý dự thảo, nhưng có bổ sung một số quy định nhằm làm rõ và nâng cao hơn trách nhiệm của từng cơ quan tham gia vào quá trình tiếp thu, chỉnh lý Cụ thể:
- Bổ sung quy định cơ quan trình dự án phải có ý kiến bằng văn bản báo cáo UBTVQH về những nội dung các cơ quan dự kiến giải trình, tiếp thu, chỉnh
lý, trong đó nêu rõ những vấn đề có ý kiến khác với dự thảo báo cáo và đề xuất phương án tiếp thu, chỉnh lý (điểm b khoản 7 Điều 74, điểm b khoản 2 Điều 75, điểm e khoản 1 Điều 77);
- Bổ sung quy định đối với những chính sách mới được đại biểu Quốc hội đề nghị bổ sung vào dự thảo luật thì trong trường hợp cần thiết, theo yêu cầu của UBTVQH, cơ quan trình dự án có trách nhiệm tổ chức đánh giá tác động (điểm
a khoản 2 Điều 75, điểm b khoản 2 Điều 76);
- Luật hóa vào quy trình việc UBTVQH tổ chức Hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách để thảo luận, cho ý kiến đối với những dự án, dự thảo có những vấn đề quan trọng, vấn đề lớn còn nhiều ý kiến khác nhau (điểm d khoản 2 Điều 75);
Đồng thời, UBTVQH cũng đã chỉ đạo rà soát sửa đổi, bổ sung một số quy định khác để nâng cao hơn nữa trách nhiệm của các cơ quan ngay từ giai đoạn lập đề nghị, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, như: bổ sung, quy định rõ hơn trách nhiệm của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong việc tham gia thẩm tra Chương trình XDLPL, các dự án, dự thảo (các điều 47, 63 và 68a); bổ sung trách nhiệm của cơ quan soạn thảo, thẩm định, thẩm tra trong việc rà soát hệ thống pháp luật có liên quan đến dự án, dự thảo để bảo đảm tính thống nhất với hệ thống pháp luật (các điều 55, 58, 59, 62, 64, 90, 92 và 93); giữ lại quy định
Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp phải có báo cáo đánh giá
về các vấn đề thuộc lĩnh vực phụ trách khi được lấy ý kiến về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh (khoản 2 Điều 36) Trong dự thảo Luật vẫn tiếp tục giữ quy định
cơ quan trình dự án có quyền báo cáo với Quốc hội ý kiến của mình về những vấn đề khác với Báo cáo giải trình, tiếp thu để Quốc hội xem xét, quyết định (khoản 8 Điều 74, điểm a khoản 3 Điều 75)
5 Về việc bổ sung hình thức ban hành VBQPPL
5.1 Về việc bổ sung hình thức Nghị quyết liên tịch giữa UBTVQH, Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQVN
- Bên cạnh các ý kiến nhất trí với việc bổ sung hình thức nghị quyết
liên tịch này, có ý kiến đề nghị quy định rõ việc xây dựng nghị quyết này chỉ để hướng dẫn các nội dung liên quan đến giám sát, phản biện xã hội, quy trình
Trang 6hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân; có
ý kiến đề nghị không bổ sung hình thức văn bản này vì cho rằng bản chất đây chỉ là quy chế phối hợp, quy định mối quan hệ làm việc giữa các cơ quan với nhau, không phải là quy phạm pháp luật
UBTVQH thấy rằng, nhiều nội dung cần thiết được quy định trong hình thức văn bản này (như nội dung về giám sát, phản biện xã hội, công tác hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân) thực chất là nội dung triển khai thi hành luật, liên quan đến trách nhiệm thực hiện cần có sự phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức ở cả trung ương và địa phương Do đó, cần thiết phải có VBQPPL để điều chỉnh các quan hệ xã hội này
để bảo đảm cơ sở pháp lý và hiệu lực thi hành
Về nội dung của nghị quyết liên tịch, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, tại Điều 18 đã bổ sung quy định rõ việc ban hành nghị quyết liên tịch để “hướng dẫn một số vấn đề cần thiết trong công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân”
- Có ý kiến đề nghị làm rõ sự khác nhau giữa quy định “Nghị quyết liên
tịch giữa UBTVQH hoặc Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQVN” và quy định “Nghị quyết liên tịch giữa UBTVQH, Chính phủ với
Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQVN”
UBTVQH xin báo cáo như sau: việc ban hành nghị quyết liên tịch giữa 2
cơ quan (giữa UBTVQH hoặc Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương
MTTQVN) hay 3 cơ quan (giữa UBTVQH và Chính phủ với Đoàn Chủ tịch
Ủy ban Trung ương MTTQVN) phụ thuộc vào nội dung cần quy định trong Nghị quyết đó, tức là phạm vi liên quan đến 2 cơ quan thì 2 cơ quan liên tịch ban hành, nếu liên quan đến 3 cơ quan thì 3 cơ quan liên tịch ban hành
5.2 Về việc bổ sung hình thức thông tư liên tịch giữa Tổng Kiểm toán nhà nước với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
- Bên cạnh các ý kiến nhất trí với việc bổ sung hình thức thông tư liên tịch này, có ý kiến đề nghị không bổ sung, vì cho rằng Tòa án là cơ quan có quyền tư pháp duy nhất, có quyền áp dụng pháp luật để xét xử tranh chấp giữa các bên, nên việc quy định cơ quan thực hiện quyền tư pháp liên tịch với cơ quan hành pháp
là không phù hợp
UBTVQH xin báo cáo như sau: việc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tham gia ban hành thông tư liên tịch với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ đã được quy định trong Luật hiện hành để bảo đảm việc phối hợp trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của luật và quá trình thực hiện thời gian qua không có vướng mắc Trong dự thảo Luật sửa đổi lần này chỉ bổ sung thẩm quyền của Tổng Kiểm toán nhà nước được tham gia ban hành thông tư liên tịch với các chủ thể hiện có để bảo đảm phù hợp với các luật hiện hành (Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật Kiểm toán nhà nước) và đáp ứng yêu cầu thực tiễn
Trang 76
- Có ý kiến đề nghị mở rộng phạm vi của thông tư liên tịch không chỉ quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan trong thực hiện trình tự, thủ tục tố tụng
mà còn về cả những nội dung khác như trong thực hiện phòng, chống tham nhũng
Tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, để bảo đảm chặt chẽ, phù hợp với Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật Kiểm toán nhà nước, đề nghị Quốc hội cho chỉnh lý Điều 25 theo hướng quy định việc ban hành thông tư liên tịch để quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan này trong thực hiện trình tự, thủ tục về
tố tụng và phòng, chống tham nhũng
- Có ý kiến cho rằng, nội dung quy định như tại Điều 25 của dự thảo Luật dẫn đến cách hiểu nhầm là Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ được phối hợp với nhau ban hành thông tư liên tịch Có ý kiến cho rằng, quy định như
dự thảo Luật không thể hiện được trường hợp liên tịch giữa Tổng Kiểm toán nhà nước với 01 hoặc 02 cơ quan khác
Tiếp thu các ý kiến nêu trên, UBTVQH đã chỉ đạo rà soát, bổ sung vào khoản 8a Điều 4 của dự thảo Luật quy định không ban hành thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; đồng thời chỉnh sửa lại Điều
25 của dự thảo Luật để bảo đảm thể hiện đúng và đầy đủ các trường hợp ban hành thông tư liên tịch, phù hợp với yêu cầu thực tiễn và bảo đảm chặt chẽ như
ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội đã nêu
6 Về việc lập Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh
- Nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội đề nghị giữ quy định về lập Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh (CTXDLPL) như hiện nay Một số ý kiến khác đề nghị đổi mới công tác lập Chương trình theo từng kỳ họp Quốc hội và chỉ đưa vào Chương trình những dự án đã được thẩm tra đủ điều kiện trình Quốc hội
Có ý kiến đề nghị quy định trách nhiệm của Quốc hội trong việc quyết định chính sách trong từng đề nghị xây dựng luật để cơ quan trình căn cứ vào đó soạn thảo Có ý kiến đề nghị quy định cụ thể trách nhiệm của Hội đồng Dân tộc, từng Ủy ban trong việc thẩm tra chính sách đối với đề nghị xây dựng luật thuộc lĩnh vực phụ trách
UBTVQH nhận thấy, Luật BHVBQPPL năm 2015 đã có sự đổi mới căn bản về quy trình lập CTXDLPL theo hướng tách bạch quy trình xây dựng chính sách với quy trình soạn thảo dự án Những tồn tại, hạn chế trong công tác lập Chương trình thời gian qua như ý kiến đại biểu nêu một phần là do quy trình lập Chương trình có nhiều điểm còn khá mới, các cơ quan chưa theo kịp, nhưng phần lớn là do khâu tổ chức thực hiện chưa tốt Việc quy định Quốc hội xem xét, quyết định về từng chính sách trong tất cả các đề nghị xây dựng luật đòi hỏi Quốc hội phải bố trí lượng thời gian lớn hơn nhiều cho việc xem xét, thông qua Chương trình, như vậy sẽ không phù hợp với quỹ thời gian của kỳ họp Quốc hội
Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho giữ quy định về việc lập Chương trình cơ bản như hiện nay, nhưng có sửa đổi một số quy định nhằm nâng cao thêm trách nhiệm của các cơ quan, cụ thể:
Trang 8+ Quy định trong hồ sơ đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật phải có “Dự kiến đề cương chi tiết dự thảo văn bản” thay cho “đề cương dự thảo văn bản” như hiện nay (điểm đ khoản 1 Điều 37, điểm đ khoản 2 Điều 87, khoản
5 Điều 114);
+ Quy định cụ thể hơn trách nhiệm của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong việc thẩm tra đối với đề nghị, kiến nghị xây dựng luật thuộc lĩnh vực phụ trách để chuyển đến Ủy ban Pháp luật tổng hợp, thẩm tra chung về dự kiến Chương trình XDLPL trước khi báo cáo UBTVQH (Điều 47)
Đồng thời, UBTVQH yêu cầu các cơ quan tham gia trong quy trình xây dựng, ban hành luật, pháp lệnh cần bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, làm đầy đủ trách nhiệm của mình theo đúng quy định
- Có ý kiến đề nghị cần có chiến lược lập pháp cho cả nhiệm kỳ hoặc dài hơn; từ đó xây dựng thứ tự ưu tiên, tập trung vào một số nhóm, dự án luật cụ thể,
ví dụ như về đầu tư để phát triển kinh tế, củng cố các quan hệ đạo đức xã hội, văn hóa, giáo dục hoặc chuẩn bị đến Đại hội thì tập trung vào tổ chức, bộ máy
UBTVQH xin báo cáo như sau: để lãnh đạo việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, Đảng ta đã ban hành chiến lược dài hạn, cụ thể tại Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) đã ban hành Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 Hiện nay, trong tổng kết thực hiện Nghị quyết này, các cơ quan đang đề nghị cấp có thẩm quyền ban hành Chiến lược pháp luật Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 để định hướng công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật giai đoạn tới Căn cứ vào nghị quyết của Đảng, các cơ quan theo thẩm quyền được giao có trách nhiệm xây dựng kế hoạch để triển khai thực hiện Đối với Quốc hội, trước đây thực hiện Luật BHVBQPPL năm 2008, Quốc hội đã lập Chương trình công tác lập pháp cho toàn khoá, tuy nhiên do việc ban hành Chương trình toàn khóa không còn phù hợp với thực tiễn, nên Luật BHVBQPPL năm 2015 đã sửa đổi không quy định vấn đề này mà chỉ quy định việc lập Chương trình hằng năm
- Có ý kiến cho rằng tình trạng dự án luật được rút khỏi Chương trình còn nhiều, trong khi đó chưa có biện pháp xử lý
UBTVQH nhận thấy, ý kiến đại biểu là xác đáng, tuy nhiên trong một số trường hợp, việc điều chỉnh Chương trình, bao gồm cả việc cho lùi, rút khỏi Chương trình là cần thiết để bảo đảm chất lượng chuẩn bị dự án trình Quốc hội Thực tế thời gian qua, qua xem xét, UBTVQH đã quyết định không trình ra Quốc hội một số dự án luật do không bảo đảm chất lượng hoặc điều chỉnh thời gian trình do chậm tiến độ chuẩn bị; đồng thời, cũng đã yêu cầu các cơ quan trình rút kinh nghiệm, đề cao trách nhiệm, bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định về việc lập đề nghị, kiến nghị xây dựng luật (xác định rõ chính sách, đánh giá tác động, lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động và các cơ quan, tổ chức liên quan…), đồng thời tăng cường chỉ đạo công tác soạn thảo bảo đảm chất lượng, tiến độ để tránh lặp lại tình trạng tương tự
Trang 9UBTVQH nhận thấy, thực tế có nhiều nghị định của Chính phủ, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chỉ quy định về các biện pháp để tổ chức thi hành văn bản của cấp trên mà không quy định chính sách mới, nhưng vẫn phải lập đề nghị xây dựng văn bản theo quy trình chính sách đã làm hạn chế khả năng phản ứng nhanh của Chính phủ, chính quyền cấp tỉnh trước nhu cầu, đòi hỏi cấp bách của thực tiễn Vì vậy, để khắc phục tình trạng này, đề nghị Quốc hội cho phép đối với một số loại nghị định của Chính phủ, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thì không cần phải lập đề nghị xây dựng văn bản theo quy trình chính sách như đề xuất của Chính phủ
8 Về thành lập Ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh
Một số ý kiến đề nghị quy định thành lập Ban soạn thảo ngay từ giai đoạn lập đề nghị xây dựng luật để nghiên cứu, đề xuất chính sách, bảo đảm đồng bộ, nhất quán trong suốt quá trình triển khai xây dựng văn bản Có ý kiến đề nghị quy định thành phần Ban soạn thảo phải được mở rộng toàn diện hơn, phải có đại diện cơ quan làm chính sách, cơ quan thực thi, các nhà khoa học, MTTQVN, đối tượng chịu sự tác động của văn bản
UBTVQH nhận thấy, theo quy định của Luật hiện hành, việc xây dựng luật được chia thành 2 giai đoạn là đề xuất chính sách và soạn thảo văn bản Trong giai đoạn đề xuất chính sách mới chỉ tập trung vào việc xác định và xây dựng nội dung chính sách mới, xuất phát chủ yếu từ tổng kết, đánh giá thực tiễn
và yêu cầu quản lý nhà nước của Bộ, ngành, nên dừng lại ở mức độ quy định giao cho Bộ, ngành nghiên cứu đề xuất là phù hợp Chỉ sau khi đề xuất chính sách được chấp thuận, được Quốc hội đưa vào Chương trình thì mới thành lập Ban soạn thảo để triển khai thực hiện việc soạn thảo Việc quy định như vậy cũng là để tránh lãng phí nguồn lực, thời gian thực hiện, bảo đảm tính khả thi
Về thành phần Ban soạn thảo, tại Điều 53 của Luật BHVBQPPL quy định gồm đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học Trong thực tiễn thực hiện quy định này của Luật, việc thành lập Ban soạn thảo đều cơ bản bao quát các thành phần như ý kiến đại biểu
đã nêu; do đó, không cần thiết phải sửa đổi quy định này
9 Về việc thẩm tra dự án luật, pháp lệnh
Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về trách nhiệm của Hội đồng Dân tộc trong việc thẩm tra lồng ghép vấn đề dân tộc, quy định về trách nhiệm của
Trang 10Ủy ban Đối ngoại trong việc thẩm tra vấn đề lồng ghép chính sách đối ngoại, quy định về trách nhiệm của Ủy ban Quốc phòng và An ninh trong việc thẩm tra yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh đối với các dự án luật
UBTVQH nhận thấy, việc thẩm tra dự thảo văn bản để bảo đảm chính sách dân tộc, quốc phòng, an ninh, bảo đảm tính tương thích với điều ước quốc
tế là việc làm rất cần thiết, nhưng bên cạnh đó cũng cần thẩm tra cả các vấn đề khác như kinh tế, tài chính, ngân sách, khoa học công nghệ, môi trường, văn hóa để bảo đảm tính toàn diện Do đó, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, UBTVQH đề nghị cho chỉnh sửa Điều 63 theo hướng quy định các cơ quan của Quốc hội có trách nhiệm tham gia thẩm tra về những nội dung của dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết liên quan đến lĩnh vực do mình phụ trách (trước đây là tham gia thẩm tra theo phân công của UBTVQH) Quy định như vậy sẽ nâng cao trách nhiệm của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban, bảo đảm các dự án, dự thảo trình Quốc hội, UBTVQH được thẩm tra toàn diện, từ đó nâng cao chất lượng của văn bản
Đối với chính sách dân tộc, để thống nhất với quy định của Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức Chính phủ, dự thảo Luật đã bổ sung quy định giao Hội đồng Dân tộc thẩm tra việc bảo đảm chính sách dân tộc trong dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trước khi trình Quốc hội, UBTVQH (Điều 68a); quy định cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm lấy ý kiến Hội đồng Dân tộc đối với dự thảo nghị định có nội dung liên quan đến chính sách dân tộc (Điều 91)
10 Về văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh
- Nhiều ý kiến đề nghị giữ nguyên như quy định của Luật hiện hành là trong hồ sơ dự án phải có văn bản quy định chi tiết kèm theo Một số ý kiến đề nghị không nên tiếp tục quy định trong hồ sơ dự án phải có dự thảo văn bản quy định chi tiết để cơ quan soạn thảo tập trung cho việc xây dựng dự án luật Có ý kiến đề nghị trong hồ sơ dự án chỉ cần kèm theo danh mục văn bản, đề cương nội dung và kế hoạch ban hành văn bản quy định chi tiết là được
UBTVQH xin được báo cáo như sau: yêu cầu phải có dự thảo văn bản quy định chi tiết trình kèm trong hồ sơ dự án nhằm mục đích giúp cơ quan soạn thảo, cơ quan trình cũng như các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội
có sự đánh giá, định hướng trước một cách tổng thể về những vấn đề dự kiến điều chỉnh và áp dụng khi luật được ban hành, qua đó giúp khắc phục tình trạng chậm ban hành văn bản quy định chi tiết, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của luật, pháp lệnh Đây là quy định mới được bổ sung trong lần sửa đổi Luật BHVBQPPL năm 2015 và trong quá trình thực hiện thời gian qua cho thấy đã có tác dụng tích cực Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho giữ quy định này của Luật hiện hành
- Có ý kiến đề nghị quy định rõ trách nhiệm của Bộ Tư pháp trong kiểm tra, kiểm soát việc ban hành văn bản dưới luật để bảo đảm các văn bản đó thống nhất với quy định của luật
UBTVQH nhận thấy, tại Điều 83 đã quy định Bộ Tư pháp có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc ban hành văn bản quy định chi tiết luật và định kỳ hàng
Trang 1110
quý, hàng năm báo cáo Chính phủ Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp cũng được giao nhiệm vụ thẩm định đối với dự thảo các nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, trong đó có nội dung thẩm định về tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất với hệ thống pháp luật Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 165
đã quy định Bộ Tư pháp có trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện việc kiểm tra,
xử lý VBQPPL của Bộ, cơ quan ngang Bộ, chính quyền địa phương cấp tỉnh trái với Hiến pháp, luật và VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên Như vậy, trách nhiệm của Bộ Tư pháp đã được quy định đầy đủ để thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát việc ban hành các văn bản dưới luật như ý kiến đại biểu Quốc hội nêu
- Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định trường hợp luật giao chính quyền địa phương ban hành văn bản quy định chi tiết thì thời gian từ thời điểm ban hành luật đến thời điểm luật có hiệu lực cần phải được kéo dài hơn để cho chính quyền địa phương có đủ thời gian xây dựng, ban hành văn bản
UBTVQH nhận thấy, các luật khi trình Quốc hội đều có dự kiến thời gian
có hiệu lực, trong đó cơ quan trình đã có tính toán đến việc xây dựng, ban hành các văn bản quy định chi tiết Vấn đề đại biểu nêu, đề nghị Chính phủ, các cơ quan soạn thảo cần tính toán kỹ hơn, tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, địa phương
dự kiến giao xây dựng, ban hành văn bản để dự liệu sát hơn về thời điểm có hiệu lực của luật, bảo đảm đủ thời gian cho các cơ quan, địa phương thực hiện
11 Về xây dựng, ban hành văn bản theo trình tự, thủ tục rút gọn
- Nhiều ý kiến đồng ý với việc bổ sung 03 trường hợp được áp dụng trình
tự, thủ tục rút gọn như trong dự thảo Luật Có ý kiến đề nghị cân nhắc việc bổ sung các trường hợp này vì dẫn đến quy định về chính sách không được đánh giá một cách kỹ lưỡng, thiếu căn cứ để các đại biểu xem xét, thông qua, mặt khác làm mất đi cơ hội góp ý của đối tượng chịu sự tác động của văn bản
UBTVQH xin báo cáo như sau: việc xây dựng, ban hành văn bản theo trình tự, thủ tục rút gọn lược bỏ, đơn giản hóa một số khâu có khả năng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng văn bản Do đó, Luật BHVBQPPL quy định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành VBQPPL là rất hạn chế, chỉ được áp dụng trong những trường hợp thật cần thiết quy định tại Điều 146 của
dự thảo Luật để bảo đảm việc ban hành văn bản chặt chẽ, thận trọng Tuy nhiên, thực tế cũng phát sinh những trường hợp ban hành văn bản để bãi bỏ văn bản pháp luật khác trái pháp luật hoặc không còn phù hợp với thực tế; để cho phép kéo dài thời hạn áp dụng một văn bản khác hoặc phải ban hành văn bản ngay để kịp thời thực hiện điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Việc ban hành văn bản trong các trường hợp này không làm phát sinh chính sách, đối tượng áp dụng mới; nếu phải thực hiện đầy đủ các khâu như trình tự, thủ tục bình thường
là không thực sự cần thiết Do đó, đề nghị Quốc hội cho phép bổ sung áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn khi xây dựng, ban hành văn bản trong những trường hợp
cụ thể như đề nghị của Chính phủ
- Có ý kiến đề nghị cần quy định rõ hơn, chặt chẽ hơn về tiêu chí, quy trình xem xét, quyết định xây dựng, ban hành VBQPPL theo trình tự, thủ tục rút gọn
Trang 12Có ý kiến đề nghị bổ sung một số quy định: (1) để được phép rút gọn thì phải có
ý kiến bằng văn bản của Bộ Tư pháp; (2) trong hồ sơ đề xuất xây dựng văn bản theo trình tự, thủ tục rút gọn phải lý giải rõ căn cứ của việc áp dụng theo trường hợp nào của Điều 146; (3) không áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn để ban hành văn bản quy định chi tiết
UBTVQH nhận thấy, vấn đề này đã được Chính phủ tổng kết, đánh giá và trình Quốc hội sửa đổi Điều 146 theo hướng quy định rõ hơn, chặt chẽ và cụ thể hơn các trường hợp được xây dựng, ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn Đồng thời, để kiểm soát chặt chẽ việc ban hành văn bản theo trình tự, thủ tục rút gọn, dự thảo Luật sửa đổi khoản 3 Điều 147 bổ sung quy định thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ trong việc quyết định cho phép áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn đối với thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ để giải quyết những vấn đề cấp bách phát sinh trong thực tiễn; trong trường hợp này, hồ
sơ đề nghị quyết định áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn phải kèm theo ý kiến bằng
văn bản của Bộ trưởng Bộ Tư pháp như ý kiến đề xuất của đại biểu Quốc hội
12 Về quy định thủ tục hành chính trong VBQPPL
- Nhiều ý kiến nhất trí với dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 14 theo hướng cho phép quy định thủ tục hành chính trong trường hợp cần thiết trong nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Có ý kiến đề nghị cần phân tích, đánh giá kỹ tác động của việc này Có ý kiến không tán thành quy định nêu trên để tránh khác nhau trong tổ chức thực hiện giữa các địa phương
UBTVQH nhận thấy, theo báo cáo của cơ quan trình, qua tổng kết, đánh giá 03 năm thi hành Luật, mặc dù không có nhiều nghị quyết của Hội đồng nhân dân quy định về biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương theo quy định tại khoản 4 Điều 27, nhưng khi ban hành thì các địa phương đều vướng mắc, vì muốn triển khai được thì phải đồng thời quy định về thủ tục hành chính để người dân, doanh nghiệp có thể thực hiện Hơn nữa, chính quyền địa phương cấp tỉnh hiện được phân cấp thực hiện nhiều thẩm quyền hơn theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, cũng đòi hỏi phải ban hành thủ tục hành chính để bảo đảm thực hiện các nhiệm
vụ được phân cấp Do đó, tiếp thu đa số ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, đề nghị Quốc hội cho sửa đổi vấn đề này như đề xuất của Chính phủ
- Có ý kiến cho rằng việc tiếp tục tồn tại thủ tục hành chính trong thông
tư tại khoản 4 Điều 172 và sửa đổi như trong dự thảo Luật là không bảo đảm quyền của người dân, doanh nghiệp theo tinh thần của Hiến pháp; đề nghị cần thực hiện rà soát để nâng quy định các thủ tục hành chính đó trong luật hoặc nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ
UBTVQH xin báo cáo như sau: Luật BHVBQPPL năm 2008 không cấm quy định thủ tục hành chính trong thông tư, nên trước đó trong thông tư thường quy định ngay thủ tục hành chính, dẫn đến số lượng văn bản loại này rất nhiều Mặc dù Luật BHVBQPPL năm 2015 không còn cho phép quy định thủ tục hành
Trang 1312
chính trong thông tư, trừ trường hợp được giao trong luật, nhưng để tránh xáo trộn trong hệ thống pháp luật, khoản 4 Điều 172 quy định chuyển tiếp cho phép tiếp tục áp dụng những thông tư có quy định về thủ tục hành chính này cho đến khi bị bãi bỏ hoặc thay thế Quy định như trong dự thảo Luật không làm phát sinh thủ tục hành chính mới
13 Về các vấn đề khác
13.1 Về xây dựng, ban hành VBQPPL ở trung ương
- Có ý kiến đề nghị quy định trình tự xây dựng luật theo sáng kiến của đại biểu Quốc hội phải khác với của Chính phủ; quy định rõ ràng, đơn giản về thủ tục, hồ sơ, tài liệu, con dấu trong trường hợp đại biểu Quốc hội trình dự án luật
UBTVQH xin được báo cáo như sau: yêu cầu của việc xây dựng, ban hành luật cần đáp ứng mục tiêu cao nhất là chất lượng, cho nên thành phần hồ sơ, trình tự, thủ tục như quy định là yêu cầu tối thiểu cần phải có để bảo đảm chất lượng các đề xuất xây dựng luật Để hỗ trợ đại biểu Quốc hội thực hiện quyền kiến nghị về luật hoặc đề nghị xây dựng luật, Luật BHVBQPPL đã quy định cụ thể trách nhiệm của Văn phòng Quốc hội, Viện Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội trong việc hỗ trợ lập văn bản kiến nghị về luật,
hồ sơ đề nghị xây dựng luật; Văn phòng Quốc hội có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện cần thiết để đại biểu Quốc hội thực hiện quyền kiến nghị, đề nghị của mình; trước khi lập đề nghị xây dựng luật, đại biểu Quốc hội tiến hành hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tổng kết, khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội, tổ chức nghiên cứu khoa học, xây dựng nội dung chính sách và đánh giá tác động chính sách, dự kiến nguồn lực và điều kiện bảo đảm
- Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định cơ quan thẩm định phải trình bày ý kiến tại phiên họp của UBTVQH; nếu cần thiết thì trình bày ý kiến tại phiên họp của Quốc hội để cung cấp thêm thông tin cho đại biểu
UBTVQH nhận thấy, mục đích của việc thẩm định là phản biện đối với dự
án để Chính phủ xem xét, quyết định Khi dự án được trình Quốc hội, Chính phủ chịu trách nhiệm về các nội dung, trong đó đã xem xét đầy đủ các ý kiến thẩm định; mặt khác, văn bản thẩm định cũng đã có trong hồ sơ dự án gửi Quốc hội, UBTVQH theo quy định tại khoản 1 Điều 64 Do đó, nếu quy định cơ quan thẩm định phải trình bày ý kiến tại phiên họp UBTVQH hoặc phiên họp Quốc hội sẽ không đúng với bản chất của việc thẩm định và làm kéo dài thời gian làm việc của Quốc hội, UBTVQH
- Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định sau phiên họp UBTVQH cho ý kiến đối với dự án luật thì Tổng Thư ký Quốc hội chỉ đạo tổng hợp ý kiến thảo luận của UBTVQH gửi các Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội để có thêm thông tin nghiên cứu phục vụ thảo luận tại kỳ họp Quốc hội
UBTVQH nhận thấy, việc cung cấp đầy đủ thông tin để đại biểu Quốc hội nghiên cứu, chuẩn bị ý kiến thảo luận là nhu cầu xác đáng Tuy nhiên, trong điều
Trang 14kiện ứng dụng công nghệ thông tin hiện nay, thông tin về phiên họp của UBTVQH đều được đưa lên mạng nội bộ bao gồm cả nội dung thảo luận và Kết luận của phiên họp Các Đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội đều có thể truy cập vào mạng nội bộ này Do đó, đề nghị Quốc hội cho phép không bổ sung quy định vấn đề này trong dự thảo Luật
- Một số ý kiến đề nghị quy định rõ trong Luật việc tổ chức hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách giữa 2 kỳ họp để thảo luận, góp ý trước đối với những dự án, dự thảo trình ra Quốc hội Có ý kiến đề nghị tổ chức Hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách bằng hình thức thảo luận trực tuyến tại 3 địa điểm là Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh
Tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, để phù hợp với thực tế thực hiện và thống nhất với dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội, dự thảo Luật đã bổ sung quy định UBTVQH tổ chức Hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách để thảo luận, cho ý kiến đối với các dự
án, dự thảo có nội dung phức tạp, còn nhiều ý kiến khác nhau trong thời gian giữa 2 kỳ họp (khoản 2 Điều 75) Về hình thức tổ chức Hội nghị trực tuyến, UBTVQH đã chỉ đạo Tổng Thư ký Quốc hội nghiên cứu, tiếp tục cải tiến, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để có thể tổ chức trực tuyến các Hội nghị này bảo đảm thuận tiện, hiệu quả
- Có ý kiến đề nghị nghiên cứu quy định thẩm quyền được rút dự án trong trường hợp cơ quan trình có nhiều vấn đề không thống nhất với cơ quan thẩm tra; đồng thời bổ sung quy định cụ thể về thủ tục rút dự án
UBTVQH xin báo cáo như sau: theo quy định của Hiến pháp, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Mặc dù Quốc hội được giao thực hiện quyền lập pháp, nhưng việc xem xét các dự án cụ thể đều có sự trao đổi, thảo luận với cơ quan trình và báo cáo cấp có thẩm quyền trước khi thông qua Đối với những dự án có thể tiếp thu, hoàn chỉnh để trình Quốc hội thông qua ngay theo chương trình thì UBTVQH chỉ đạo cơ quan thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan trình dự án và các cơ quan có liên quan tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện; đối với những dự án chưa đạt yêu cầu hoặc có sự thay đổi lớn về nội dung thì UBTVQH đề nghị Quốc hội giao lại cho cơ quan trình tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện để trình vào thời điểm khác Do đó, không nên đặt vấn đề rút dự án khi đã được trình
- Có ý kiến đề nghị cần có một cơ quan chuyên trách về xây dựng pháp luật để giúp Quốc hội hoàn thiện các dự thảo luật hoặc có một cơ quan chuyên
lo về kỹ thuật lập pháp để bảo đảm về kỹ thuật lập pháp cho các dự thảo luật
Theo quy định hiện hành, nhiệm vụ chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo luật trước khi trình Quốc hội thông qua được giao cho cơ quan thẩm tra và Ủy ban Pháp luật giúp UBTVQH thực hiện Thực tế thực hiện quy định này cùng với các giải pháp cải tiến, đổi mới về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, công tác lập pháp của
Trang 1514
Quốc hội đã đạt được những kết quả tích cực, các văn bản luật được ban hành đều
cơ bản bảo đảm chất lượng, chặt chẽ về kỹ thuật lập pháp Nếu thành lập một cơ quan chuyên trách giúp Quốc hội thực hiện nhiệm vụ về công tác xây dựng pháp luật hoặc kỹ thuật lập pháp sẽ dẫn tới phải điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan, phát sinh thêm tổ chức, biên chế Trong điều kiện thực hiện Nghị quyết 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết 39-NQ/TW của
Bộ Chính trị, Nghị quyết 56/2017/QH14 của Quốc hội liên quan đến sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả thì việc thành lập thêm một cơ quan, tổ chức mới như vậy là không phù hợp
- Có ý kiến đề nghị xem lại quy định của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về án lệ để từ đó quy định án lệ là VBQPPL
UBTVQH nhận thấy, theo quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử Theo đó, án lệ không có giá trị áp dụng như VBQPPL mà các Tòa án chỉ nghiên cứu và áp dụng căn cứ vào sự kiện, hồ sơ thực tế của từng vụ án cụ thể Trường hợp cần thiết hướng dẫn thống nhất pháp luật, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua tổng kết việc áp dụng pháp luật sẽ ban hành nghị quyết để quy định theo Điều 21 của Luật BHVBQPPL
- Có ý kiến đề nghị bổ sung trách nhiệm thẩm định của cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới là Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hoặc Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong quá trình đánh giác tác động về giới ngay từ giai đoạn đề xuất xây dựng VBQPPL
UBTVQH nhận thấy, không phải tất cả các dự án được đề xuất xây dựng đều có tác động về giới Tại khoản 2 Điều 35 của Luật BHVBQPPL hiện hành đã quy định nếu chính sách có tác động về giới thì trong nội dung đánh giá tác động của từng chính sách yêu cầu phải thực hiện đánh giá tác động Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hoặc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tham gia ý kiến trong quá trình cơ quan chủ trì soạn thảo lấy ý kiến theo quy định tại Điều 36; ngoài ra Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam còn có thể thực hiện phản biện xã hội theo quy định của Luật MTTQVN
Vì vậy, đề nghị không bổ sung quy định này trong dự thảo Luật
- Có ý kiến đề nghị nghiên cứu sửa đổi các quy định về lấy ý kiến trong xây dựng VBQPPL để khắc phục tính hình thức, không hiệu quả; quy định chặt chẽ trách nhiệm của cơ quan chủ trì lấy ý kiến và cơ quan, tổ chức tham gia góp
ý Có ý kiến đề nghị cần đổi mới trong việc lấy ý kiến và bảo đảm quyền tham gia ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động, các cơ quan, tổ chức, chuyên gia, nhà khoa học Có ý kiến đề nghị quy định việc lấy ý kiến theo các tiêu chí sát với thực tiễn và bằng những biện pháp phù hợp; quy định cụ thể hình thức, quy mô
tổ chức lấy ý kiến, đối tượng lấy ý kiến phù hợp đối với từng loại văn bản
Trang 16UBTVQH nhận thấy, Luật BHVBQPPL năm 2015 đã có nhiều quy định khá toàn diện về việc lấy ý kiến và tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng pháp luật, ngay từ khâu lập đề nghị, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra nhằm tăng cường tính dân chủ, phát huy trách nhiệm của công dân
Tuy nhiên, qua 03 năm thực hiện Luật, Chính phủ và các cơ quan cũng đã thẳng
thắn nhìn nhận và thấy rõ những tồn tại, hạn chế trong việc tổ chức lấy ý kiến như đại biểu đã nêu Nhưng những hạn chế, bất cập này chủ yếu là do khâu tổ chức thực hiện Do đó, UBTVQH yêu cầu các cơ quan trong thời gian tới cần đổi mới cách thức lấy ý kiến, bảo đảm thực hiện đầy đủ, nghiêm túc quy định của Luật về lấy ý kiến đối với dự án, dự thảo VBQPPL; đồng thời, đề nghị Chính phủ cần tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành quy định về vấn đề này, kịp thời có biện pháp chấn chỉnh việc thực hiện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các hiệp hội nghề nghiệp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chủ động, tích cực động viên, vận động Nhân dân, thành viên tham gia đóng góp ý kiến, thực hiện phản biện xã hội đối với dự án, dự thảo VBQPPL
- Một số ý kiến đề nghị bổ sung quy định cụ thể về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, trách nhiệm của người đứng đầu trong trường hợp dự thảo văn bản được giao chủ trì không bảo đảm về chất lượng, chậm tiến độ, không bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật
UBTVQH nhận thấy, tại Điều 7 của Luật hiện hành đã quy định trách nhiệm, việc xử lý đối với các cơ quan, tổ chức, người đứng đầu trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; trách nhiệm trong việc chậm ban hành văn bản quy định chi tiết, ban hành VBQPPL trái với Hiến pháp, trái với văn bản của cơ quan cấp trên Còn việc xử lý trách nhiệm theo hình thức nào, ở mức nào được thực hiện theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và trách nhiệm chính trị của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức
13.2 Về xây dựng, ban hành VBQPPL ở địa phương
- Có ý kiến đề nghị mở rộng thẩm quyền ban hành VBQPPL cho chính quyền cấp huyện, cấp xã để quy định về những vấn đề, chính sách đặc thù của địa phương
UBTVQH nhận thấy, Luật BHVBQPPL của Hội đồng nhân dân, Ủy ban ban nhân dân năm 2004 đã quy định rất rộng về thẩm quyền ban hành văn bản của chính quyền cấp huyện, cấp xã Tuy nhiên, Luật BHVBQPPL năm 2015 đã quy định theo hướng hạn chế thẩm quyền ban hành văn bản của chính quyền cấp huyện, cấp xã chỉ trong trường hợp luật giao nhằm tinh giản hệ thống pháp luật phù hợp với thực tế là cấp huyện, cấp xã là các cấp triển khai thực hiện, không quy định chính sách mới và rất ít khi ban hành VBQPPL Quá trình xây dựng Luật năm 2015, đa số các địa phương đều đồng tình với quy định này vì được giảm bớt áp lực của việc phải ban hành văn bản, đồng thời cũng giảm được chi phí xây dựng, ban hành văn bản cho địa phương
Trang 17đề này như Luật hiện hành
- Có ý kiến đề nghị sửa Điều 113 và Điều 120 theo hướng giảm thời gian
về việc lấy ý kiến và đăng tải dự thảo VBQPPL của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh từ 30 ngày xuống còn 10 ngày
UBTVQH cho rằng, để bảo đảm chất lượng của ý kiến tham gia thì đối tượng được lấy ý kiến phải có đủ thời gian để tổ chức nghiên cứu, thảo luận, đóng góp ý kiến Quy định thời gian lấy ý kiến đối với văn bản của cấp tỉnh là
30 ngày như hiện hành là phù hợp
- Có ý kiến đề nghị bổ sung Điều 127 quy định: đối với quyết định của
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định những vấn đề được giao quy định chi tiết thì không cần cơ quan chuyên môn phải lập đề nghị xây dựng văn bản để trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định
UBTVQH nhận thấy, văn bản được xây dựng, ban hành đều phải có cơ quan đề xuất Việc đề nghị xây dựng quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 127 đã được đơn giản hoá thủ tục và không giống như đối với trình tự, thủ tục lập đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân Việc báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định về đề nghị trước khi soạn thảo là cần thiết để bảo đảm đúng phạm vi, mục tiêu, định hướng, yêu
cầu thực hiện
- Có ý kiến đề nghị xem xét lại quy định về trách nhiệm thẩm định của Sở
Tư pháp đối với dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 28; đề nghị giao cho cơ quan chuyên môn quản lý ngành, lĩnh vực thực hiện việc thẩm định
UBTVQH nhận thấy, tương tự như ở trung ương có Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thì ở địa phương có Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo dõi về công tác xây dựng, ban hành VBQPPL và thực hiện nhiệm vụ thẩm định
dự thảo VBQPPL trước khi trình Ủy ban nhân dân Dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thường được giao cho các cơ quan chuyên môn phụ trách lĩnh vực chủ trì soạn thảo, nên nếu tiếp tục giao cho các cơ quan chuyên môn thực hiện thẩm định thì sẽ trùng lặp, chồng chéo về nhiệm vụ và không khách quan Hơn nữa, phần lớn nội dung thẩm định là những vấn đề mang tính pháp lý như tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất với hệ thống pháp luật; ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo thuộc lĩnh vực phụ trách, theo dõi của Sở Tư pháp
- Một số ý kiến đề nghị quy định VBQPPL của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng được quy định hiệu lực trở về trước trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 152
Trang 18UBTVQH nhận thấy, về nguyên tắc, khi xây dựng dự thảo VBQPPL, cơ quan soạn thảo đã phải tính toán kỹ và lấy ý kiến các cơ quan, địa phương dự kiến được giao xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết để dự liệu đủ thời gian cho các cơ quan, địa phương chuẩn bị Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng chậm trễ ban hành văn bản ở một số địa phương thời gian qua chủ yếu là do khâu tổ chức thực hiện chưa tốt, chưa dự báo đầy đủ những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện Vì vậy, một mặt đề nghị Quốc hội cho giữ quy định của Luật hiện hành không cho phép văn bản địa phương có hiệu lực trở về trước để bảo đảm tính thượng tôn pháp luật; mặt khác, đề nghị Chính phủ tăng cường kiểm tra, kịp thời có biện pháp chấn chỉnh tình trạng nêu trên để bảo đảm pháp luật được áp dụng đồng bộ, thống nhất, không chậm trễ
- Có ý kiến đề nghị bổ sung thẩm quyền cho phép địa phương được hợp nhất văn bản tại Điều 168
UBTVQH nhận thấy, theo quy định tại Điều 168 của Luật BHVBQPPL, VBQPPL sửa đổi, bổ sung phải được hợp nhất với VBQPPL gốc theo quy định của UBTVQH nhằm góp phần bảo đảm hệ thống pháp luật đơn giản, rõ ràng, dễ
sử dụng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật Hiện nay, theo quy định của Pháp lệnh Hợp nhất VBQPPL năm 2012, mới chỉ thực hiện việc hợp nhất VBQPPL
do các cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành, chưa quy định về việc hợp nhất văn bản của địa phương Vì vậy, tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội, đề nghị Chính phủ nghiên cứu, đề xuất sửa đổi Pháp lệnh Hợp nhất VBQPPL để xử lý vấn đề nêu trên
*
Trên đây là Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHVBQPPL, UBTVQH kính trình Quốc hội xem xét, quyết định
Uông Chu Lưu
Trang 19Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành
văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13
Điều 1 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
1 Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 4 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:
“3 Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; nghị quyết
liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội,
Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.”; 1
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 8 và bổ sung khoản 8a vào sau khoản 8 như sau:
“8 Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước
8a Thông tư liên tịch giữa các chủ thể sau đây:
a) Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
b) Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
c) Tổng Kiểm toán nhà nước;
d) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
Không ban hành thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, trừ trường hợp có sự tham gia ban hành của Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Tổng Kiểm toán nhà nước.”
1 - Chữ in nghiêng là nội dung sửa đổi, bổ sung theo đề nghị của Chính phủ
- Chữ in nghiêng đậm là nội dung tiếp thu, hoàn chỉnh theo ý kiến của đại biểu Quốc hội, các cơ quan, tổ chức
Trang 202 Sửa đổi, bổ sung Điều 6 như sau:
“Điều 6 Tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật,
thực hiện phản biện xã hội đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
1 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các tổ chức thành viên khác của Mặt trận và các cơ quan, tổ chức khác, cá nhân
có quyền và được tạo điều kiện góp ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
2 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện phản biện xã hội đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
Phản biện xã hội được thực hiện trong thời gian cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội chủ trì soạn thảo văn bản tổ chức lấy ý kiến về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
Trong trường hợp dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được phản biện
xã hội thì văn bản phản biện xã hội phải được gửi kèm theo hồ sơ dự án, dự thảo để gửi thẩm định, thẩm tra và trình cơ quan có thẩm quyền
Việc phản biện xã hội được thực hiện theo quy định của Luật này và Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
3 Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan, tổ
chức chủ trì soạn thảo và cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến về đề nghị xây dựng
văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện phản biện xã hội đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp
của văn bản quy phạm pháp luật
4 Ý kiến tham gia về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và ý kiến phản biện xã hội đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải được nghiên cứu, tiếp thu trong quá trình
chỉnh lý dự thảo văn bản.”
3 Sửa đổi, bổ sung Điều 12 như sau:
“Điều 12 Sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật
1 Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ
quan khác có thẩm quyền Văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình
chỉ việc thi hành văn bản khác phải xác định rõ tên văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản bị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành
Trang 21Trường hợp văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản quy phạm pháp luật do mình đã ban hành có quy định khác với văn bản mới nhưng cần tiếp tục được áp dụng thì phải được chỉ rõ trong văn bản mới đó
3 Một văn bản quy phạm pháp luật chỉ có thể được ban hành để đồng thời
sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ nội dung trong nhiều văn bản quy phạm pháp
luật do cùng cơ quan ban hành trong trường hợp sau đây:
a) Để thực hiện điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b) Nội dung sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ có liên quan chặt chẽ với nhau để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với văn bản mới được ban hành;
c) Để thực hiện phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính.”
4 Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 14 như sau:
“4 Quy định thủ tục hành chính trong thông tư, thông tư liên tịch, quyết
định của Tổng Kiểm toán nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Ủy ban nhân dân, văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, trừ trường hợp được giao trong
luật hoặc trường hợp cần thiết phải quy định thủ tục hành chính trong nghị quyết
của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định tại khoản 4 Điều 27 của Luật này.”
5 Sửa đổi, bổ sung Điều 18 như sau:
“Điều 18 Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành nghị quyết liên tịch quy định tại khoản 3 Điều 4 của Luật này để quy định chi tiết những vấn đề được luật giao hoặc hướng dẫn một số vấn đề cần thiết trong công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân
Trang 226 Sửa đổi, bổ sung Điều 25 như sau:
“Điều 25 Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước,
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành thông tư liên tịch quy định tại khoản 8a Điều 4 của Luật này để quy
định về việc phối hợp giữa các cơ quan này trong việc thực hiện trình tự, thủ tục
về tố tụng và phòng, chống tham nhũng.”
7 Sửa đổi, bổ sung Điều 47 như sau:
“Điều 47 Thẩm tra đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh
1 Ủy ban pháp luật tập hợp và chủ trì thẩm tra đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội và kiến nghị
về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội
2 Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm thẩm tra đối với
đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh thuộc lĩnh vực do
mình phụ trách; gửi văn bản thẩm tra đến Ủy ban pháp luật và cử đại diện tham dự phiên họp thẩm tra của Ủy ban pháp luật
3 Nội dung thẩm tra tập trung vào sự cần thiết ban hành; đối tượng, phạm
vi điều chỉnh; chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về
luật, pháp lệnh; sự phù hợp của nội dung chính sách với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; tính thống nhất, tính khả thi, thứ tự ưu
tiên, thời điểm trình, điều kiện bảo đảm để xây dựng và thi hành văn bản.”
8 Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 55 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau:
“2 Chuẩn bị dự thảo, tờ trình, báo cáo rà soát về hệ thống pháp luật và các tài liệu khác có liên quan đến dự án, dự thảo
Tờ trình dự án, dự thảo phải nêu rõ sự cần thiết ban hành luật, pháp lệnh, nghị quyết; mục đích, quan điểm xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết; quá trình xây dựng dự án, dự thảo; bố cục; nội dung cơ bản của dự án, dự thảo; tính thống nhất của dự thảo văn bản với các văn bản quy phạm pháp luật trong cùng lĩnh vực và các lĩnh vực có liên quan đến nội dung dự án, dự thảo; tính tương thích của dự thảo văn bản với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 6 và khoản 7 như sau:
“6 Dự kiến những nội dung cần được giao quy định chi tiết và thời điểm
có hiệu lực của điều, khoản, điểm được quy định chi tiết trong dự thảo luật, pháp
Trang 23Ủy ban pháp luật để tổng hợp, báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội
Đối với dự án, dự thảo do Chính phủ trình thì bộ, cơ quan ngang bộ được giao chủ trì soạn thảo có trách nhiệm báo cáo tiến độ soạn thảo với Bộ Tư pháp để
tổng hợp, báo cáo Chính phủ; đồng thời báo cáo với Thường trực Ủy ban pháp luật để tổng hợp, báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội
Trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết, nếu
có sự thay đổi lớn về chính sách so với chính sách đã được Chính phủ thông qua thì bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo có trách nhiệm kịp thời báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.”
9 Sửa đổi, bổ sung một số khoản, điểm của Điều 58 như sau:
a) Bổ sung điểm b1 vào sau điểm b khoản 2 như sau:
“b1) Báo cáo về rà soát hệ thống pháp luật có liên quan đến dự án, dự thảo;”;
b) Bổ sung điểm đ1 vào sau điểm đ khoản 2 như sau:
“đ1) Nghị quyết của Chính phủ thông qua các chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết;”;
c) Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 3 như sau:
“b) Sự phù hợp của nội dung dự thảo văn bản với đường lối, chủ trương
của Đảng, chính sách của Nhà nước; tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống
nhất của dự thảo văn bản với hệ thống pháp luật; tính tương thích của dự thảo văn
bản với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên;”
10 Bổ sung khoản 3a vào sau khoản 3 Điều 59 như sau:
“3a Báo cáo về rà soát hệ thống pháp luật có liên quan đến dự án, dự thảo;”
11 Bổ sung điểm c1 vào sau điểm c khoản 1 Điều 62 như sau:
“c1) Báo cáo về rà soát hệ thống pháp luật có liên quan đến dự án, dự thảo;”
12 Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 63 như sau:
“1 Dự án, dự thảo trước khi trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thảo luận, cho ý kiến phải được Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thẩm tra (sau đây gọi chung là cơ quan thẩm tra)
Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm chủ trì thẩm tra dự
án, dự thảo thuộc lĩnh vực do mình phụ trách và dự án, dự thảo khác do Quốc hội,
Ủy ban thường vụ Quốc hội giao
Trang 24Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm tham gia thẩm tra dự án, dự thảo do cơ quan khác của Quốc hội chủ trì thẩm tra về những nội dung liên quan đến lĩnh vực do mình phụ trách; gửi văn bản tham gia thẩm tra đến cơ quan chủ trì thẩm tra và cử đại diện tham dự phiên họp thẩm tra của
cơ quan chủ trì thẩm tra
2 Cơ quan chủ trì thẩm tra có trách nhiệm mời đại diện cơ quan tham gia thẩm tra tham dự phiên họp thẩm tra để phát biểu ý kiến về những nội dung của dự
án, dự thảo liên quan đến lĩnh vực do cơ quan đó phụ trách và những vấn đề khác thuộc nội dung của dự án, dự thảo.”
13 Sửa đổi, bổ sung một số khoản, điểm của Điều 64 như sau:
a) Bổ sung điểm d1 vào sau điểm d khoản 1 như sau:
“d1) Báo cáo về rà soát hệ thống pháp luật có liên quan đến dự án, dự thảo;”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau:
“2 Đối với dự án, dự thảo trình Ủy ban thường vụ Quốc hội thì chậm nhất
là 20 ngày trước ngày bắt đầu phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan,
tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo phải gửi hồ sơ quy định tại
khoản 1 Điều này đến cơ quan chủ trì thẩm tra, Ủy ban pháp luật, Hội đồng dân tộc, Ủy ban về các vấn đề xã hội và cơ quan khác của Quốc hội để tiến hành
thẩm tra
Đối với dự án, dự thảo trình Quốc hội thì chậm nhất là 30 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này đến cơ quan chủ trì thẩm tra,
Ủy ban pháp luật, Hội đồng dân tộc, Ủy ban về các vấn đề xã hội và cơ quan
khác của Quốc hội để tiến hành thẩm tra.”
14 Sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 65 như sau:
“6 Việc bảo đảm chính sách dân tộc, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới
trong dự thảo văn bản, nếu dự thảo văn bản có quy định liên quan đến vấn đề
dân tộc, bình đẳng giới.”
15 Bổ sung Điều 68a vào sau Điều 68 như sau:
“Điều 68a Trách nhiệm của Hội đồng dân tộc trong thẩm tra việc bảo đảm chính sách dân tộc trong dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết
1 Hội đồng dân tộc có trách nhiệm tham gia thẩm tra dự án, dự thảo
do cơ quan khác của Quốc hội chủ trì thẩm tra để bảo đảm chính sách dân tộc khi dự án, dự thảo đó có vấn đề liên quan đến dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số, miền núi
2 Hội đồng dân tộc tổ chức phiên họp Thường trực Hội đồng hoặc phiên họp toàn thể để chuẩn bị ý kiến tham gia thẩm tra và cử đại diện Hội đồng tham dự phiên họp thẩm tra của cơ quan chủ trì thẩm tra
Trang 257
3 Nội dung thẩm tra việc bảo đảm chính sách dân tộc trong các dự án,
dự thảo bao gồm:
a) Xác định định vấn đề liên quan đến chính sách dân tộc;
b) Việc bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng dân tộc và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước;
c) Tác động và tính khả thi của các quy định trong dự án, dự thảo để bảo đảm chính sách dân tộc.”
16 Sửa đổi, bổ sung các điều 74, 75, 76 và 77 như sau:
“Điều 74 Trình tự xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo nghị quyết tại một kỳ họp Quốc hội
Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo nghị quyết tại một kỳ họp Quốc hội theo trình tự sau đây:
1 Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo thuyết trình về dự án, dự thảo;
2 Đại diện cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;
3 Quốc hội thảo luận tại phiên họp toàn thể Trước khi thảo luận tại phiên họp toàn thể, dự án, dự thảo có thể được thảo luận ở Tổ đại biểu Quốc hội;
4 Trong quá trình thảo luận, đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo giải trình về những vấn đề mà đại biểu Quốc hội nêu;
5 Đối với những vấn đề quan trọng, vấn đề lớn của dự án, dự thảo còn có
ý kiến khác nhau thì Quốc hội tiến hành biểu quyết theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức,
đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo, Tổng thư ký Quốc hội và cơ quan, tổ chức
có liên quan giúp Ủy ban thường vụ Quốc hội dự kiến những vấn đề trình Quốc hội biểu quyết;
6 Tổng thư ký Quốc hội tổ chức tổng hợp ý kiến của đại biểu Quốc hội, kết quả biểu quyết để báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội và gửi cơ quan
7 Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu, giải
trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo theo trình tự sau đây:
a) Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo, Thường trực Ủy ban pháp luật, Bộ
Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh
lý dự thảo và xây dựng báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo trình Ủy ban thường vụ Quốc hội
b) Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo có ý kiến bằng văn bản về những nội dung giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo, trong
Trang 26đó nêu rõ vấn đề có ý kiến khác với dự thảo Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh
lý và đề xuất phương án để báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội;
c) Chậm nhất là 07 ngày trước ngày Quốc hội biểu quyết thông qua, dự
thảo được gửi đến Thường trực Ủy ban pháp luật để rà soát, hoàn thiện về mặt
kỹ thuật văn bản
Thường trực Ủy ban pháp luật chủ trì, phối hợp với Thường trực cơ quan
chủ trì thẩm tra, đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo
và cơ quan, tổ chức có liên quan tổ chức việc rà soát để bảo đảm tính hợp hiến,
tính hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo với hệ thống pháp luật;
8 Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc giải trình, tiếp thu,
chỉnh lý dự thảo
Trường hợp cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo có
ý kiến khác hoặc Chính phủ có ý kiến khác đối với dự án, dự thảo không do Chính phủ trình thì báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định;
9 Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo Trong trường hợp dự thảo còn
vấn đề có ý kiến khác nhau thì Quốc hội biểu quyết về vấn đề đó theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội trước khi biểu quyết thông qua dự thảo;
10 Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực luật, nghị quyết của Quốc hội
Trong trường hợp dự thảo chưa được thông qua hoặc mới được thông qua một phần thì Quốc hội xem xét, quyết định việc trình lại hoặc xem xét, thông qua tại kỳ họp tiếp theo theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Điều 75 Trình tự xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo nghị quyết tại hai kỳ họp Quốc hội
Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo nghị quyết tại hai kỳ họp theo trình tự sau đây:
1 Tại kỳ họp thứ nhất, việc xem xét dự án luật, dự thảo nghị quyết được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 74 của Luật này
2 Trong thời gian giữa hai kỳ họp của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo theo trình tự sau đây:
a) Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo, Thường trực Ủy ban pháp luật, Bộ
Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh
lý dự thảo và xây dựng dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo
Đối với những chính sách mới được đại biểu Quốc hội đề nghị bổ sung
vào dự thảo thì trong trường hợp cần thiết, theo yêu cầu của Ủy ban
Trang 279
tổ chức đánh giá tác động của chính sách để báo cáo Quốc hội;
b) Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo có ý kiến bằng văn bản về những nội dung giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo, trong
đó nêu rõ những vấn đề có ý kiến khác với dự thảo Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý và đề xuất phương án để báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội;
c) Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thảo luận về dự thảo báo cáo giải
trình, tiếp thu, chỉnh lý và dự thảo văn bản đã được chỉnh lý;
d) Ủy ban thường vụ Quốc hội tổ chức Hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách để thảo luận, cho ý kiến đối với những vấn đề quan trọng, vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau của dự án, dự thảo;
đ) Ủy ban thường vụ Quốc hội gửi dự thảo văn bản đã được chỉnh lý và
dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo đến Đoàn đại biểu Quốc
hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội chậm nhất là 45 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp
Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm tổ chức thảo luận, góp ý kiến và gửi báo cáo tổng hợp ý kiến đến cơ quan chủ trì thẩm tra chậm nhất là 20 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội;
e) Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra tổng hợp ý kiến của đại biểu
Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo, Thường trực Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp nghiên cứu, giải trình, tiếp thu,
chỉnh lý dự thảo và hoàn thiện báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo trình
Ủy ban thường vụ Quốc hội;
b) Quốc hội thảo luận về những nội dung còn có ý kiến khác nhau;
c) Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo;
Trang 28d) Chậm nhất là 07 ngày trước ngày Quốc hội biểu quyết thông qua, dự thảo
được gửi đến Thường trực Ủy ban pháp luật để rà soát, hoàn thiện về mặt kỹ thuật văn bản
Thường trực Ủy ban pháp luật chủ trì, phối hợp với Thường trực cơ quan
chủ trì thẩm tra, đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo
và cơ quan, tổ chức có liên quan tổ chức việc rà soát để bảo đảm tính hợp hiến,
tính hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo với hệ thống pháp luật;
đ) Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo;
e) Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo Trong trường hợp dự thảo còn
vấn đề có ý kiến khác nhau thì Quốc hội biểu quyết về vấn đề đó theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội trước khi biểu quyết thông qua dự thảo;
g) Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực luật, nghị quyết của Quốc hội
Trong trường hợp dự thảo chưa được thông qua hoặc mới được thông qua một phần thì Quốc hội xem xét, quyết định việc trình lại hoặc xem xét, thông qua tại kỳ họp tiếp theo theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Điều 76 Trình tự xem xét, thông qua dự án luật tại ba kỳ họp Quốc hội
Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật tại ba kỳ họp theo trình tự sau đây:
1 Tại kỳ họp thứ nhất, trình tự xem xét, thảo luận dự án luật được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 75 của Luật này;
2 Trong thời gian giữa kỳ họp thứ nhất và kỳ họp thứ hai của Quốc hội, việc nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật được thực hiện theo trình tự sau đây:
a) Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật chủ trì, phối hợp
với Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, Thường trực Ủy ban pháp luật,
Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật và xây dựng dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý
Trang 2911
d) Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về việc chỉnh lý dự thảo luật theo trình tự quy định tại Điều 71 của Luật này Trên cơ sở ý kiến của
Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật
có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu để chỉnh lý dự thảo luật theo quy định tại Điều 72 của Luật này;
c) Quốc hội thảo luận tại phiên họp toàn thể Trước đó, dự án luật có thể
được thảo luận ở Tổ đại biểu Quốc hội
Trong quá trình thảo luận, đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật có trách nhiệm giải trình về những vấn đề liên quan đến dự án
mà đại biểu Quốc hội nêu;
d) Đối với những vấn đề quan trọng, vấn đề lớn của dự án luật còn có ý kiến khác nhau thì Quốc hội tiến hành biểu quyết theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, Tổng thư ký Quốc hội và cơ quan, tổ
chức có liên quan giúp Ủy ban thường vụ Quốc hội dự kiến những vấn đề trình Quốc hội biểu quyết;
đ) Tổng thư ký Quốc hội tổ chức tổng hợp ý kiến của đại biểu Quốc hội, kết quả biểu quyết để báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội và gửi cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật;
4 Trong thời gian giữa kỳ họp thứ hai và kỳ họp thứ ba của Quốc hội,
Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu, giải trình, tiếp
thu, chỉnh lý dự thảo luật theo trình tự quy định tại khoản 2 Điều 75 của Luật này
5 Tại kỳ họp thứ ba, trình tự xem xét, thông qua dự thảo luật được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 75 của Luật này
Trong trường hợp dự thảo luật chưa được thông qua hoặc mới được thông qua một phần thì Quốc hội xem xét, quyết định theo đề nghị của Ủy ban thường
vụ Quốc hội