Chẳng hạn pháp luật qui định công ty có quyền sở hữu và sử dụng vốn đúng mục đích; phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ bằng tài sản của mình; và tự danh mình tham gia các quan hệ pháp
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LƯU THU HÀ
GÓP VỐN VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ
CỦA HÀNH VI GÓP VỐN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LƯU THU HÀ
GÓP VỐN VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ
CỦA HÀNH VI GÓP VỐN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Ngô Huy Cương
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Tác giả
Lưu Thu Hà
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 6
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 7
3 Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của Luận văn 8
4 Phương pháp nghiên cứu 9
5 Bố cục của Luận văn 10
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GÓP VỐN VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA HÀNH VI GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY 11
1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về góp vốn và bản chất pháp lý của hành vi góp vốn thành lập công ty 11
1.1.1 Khái quát chung về công ty 11
1.1.2 Khái niệm về góp vốn và bản chất pháp lý của hành vi góp vốn 14
1.1.3 Các hình thức góp vốn 20
1.1.4 Định giá tài sản góp vốn 38
1.1.5 Xử lý vi phạm nghĩa vụ góp vốn 41
1.2 Hậu quả pháp lý của hành vi góp vốn thành lập công ty 45
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GÓP VỐN VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA HÀNH VI GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY50 2.1 Thực trạng các qui định của pháp luật Việt Nam về góp vốn và hậu quả pháp lý của hành vi góp vốn thành lập công ty 50
2.1.1 Thực trạng các qui định của pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập công ty 50
2.1.2 Những hạn chế của pháp luật hiện hành về góp vốn thành lập công ty 52
2.1.3 Quy định góp vốn bằng quyền sử dụng đất 55
2.2 Thực trạng các qui định pháp luật về hậu quả pháp lý của hành vi góp vốn thành lập công ty 57
2.2.1 Các qui định của pháp luật về hậu quả pháp lý của hành vi góp vốn
Trang 5thành lập công ty 57 2.2.2 Những hạn chế của các qui định pháp luật về hậu quả pháp lý của góp vốn thành lập công ty 59
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GÓP VỐN VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA HÀNH VI GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY 63
3.1 Các định hướng hoàn thiện 633.2 Kiến nghị hoàn thiện các qui định pháp luật Việt Nam về góp vốn và hậu quả của hành vi góp vốn thành lập công ty 69
KẾT LUẬN 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đặc biệt sau sự kiện gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nền kinh tế nước ta có
sự phát triển đáng kể Khu vực kinh tế nhà nước đang được cải tổ mạnh mẽ để vận hành theo cơ chế kinh tế thị trường Khu vực kinh tế tư nhân ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, linh động và làm quen dần với cạnh tranh quốc tế Số lượng các công ty được thành lập ngày càng nhiều đáp ứng các nhu cầu của
xã hội, tạo ra nhiều việc làm và tham gia vào phân công lao động quốc tế Đứng trước tình hình đó, hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp đang được đặt
ra, đặc biệt là sửa đổi, bổ sung toàn diện Luật Doanh nghiệp 2005
Trong việc thành lập công ty, vốn góp là một vấn đề pháp lý then chốt Thực tế cho thấy kinh doanh bao giờ cũng gắn với vốn Vốn là yếu tố đầu tiên, có vai trò quyết định, có nghĩa là không có vốn thì không thể tiến hành sản xuất kinh doanh Một công ty chỉ có thể được thành lập và đi vào hoạt động khi có sự đóng góp tài sản của thành viên hoặc các thành viên của nó để tạo thành vốn của công ty Việc góp vốn vào các loại hình doanh nghiệp, các
mô hình khác nhau tạo nên qui chế pháp lý khác nhau đối với người góp vốn Trong một chừng mực nào đó, Luật Doanh nghiệp 2005 đã có những thành công nhất định trong việc tạo sự đa dạng các hình thức kinh doanh nhằm huy động các nguồn vốn Tuy nhiên, đứng trước các cơ hội và thách thức mới, Luật Doanh nghiệp 2005 đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, thiếu sót cần chỉnh sửa để một mặt tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho việc góp vốn thành lập công ty, mặt khác tăng cường tính hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước về các hình thức góp vốn vào doanh nghiệp
Trang 7Góp vốn còn là một vấn đề pháp lý cơ bản để xác định quyền lợi của các thành viên công ty Nó không những đáp ứng các quyền lợi tương ứng của
họ, mà còn tạo ra sự tin tưởng và an toàn liên quan tới đầu tư và kinh doanh Xuất phát từ nhận thức tầm quan trọng của góp vốn và các hậu quả của nó trong hoạt động sản xuất kinh doanh và trong các vấn đề pháp lý, tác giả lựa
chọn “Góp vốn và hậu quả pháp lý của hành vi góp vốn theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài cho Luận văn thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Góp vốn là một vấn đề kinh tế và pháp lý gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó nó không phải là một vấn đề mới đối với khoa học pháp lý, cũng như khoa học kinh tế Thế nhưng trong những hoàn cảnh cụ thể, góp vốn vẫn cần phải được nghiên cứu trong nhiều phương diện Trên thế giới
đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về vấn đề này, nhất là trong khoa học pháp lý Tuy nhiên hiếm khi thấy có những nghiên cứu cụ thể cho Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, nhất là trong một hệ thống pháp luật đang cần hoàn thiện bởi sự bất cập và mâu thuẫn, chồng chéo một cách đáng ngại
Có một số công trình tiêu biểu trên thế giới liên quan tới đề tài Luận văn như
sau: (1) Peter Fearns, Business Studies, Hodder & Stoughton, London-
Sydney- Auckland, 1992; (2) Robert W Hamilton, The Law of Corporations, West Publishing Co., 1991; (3) Harry G Henn & John R Alexander, Laws of Corporations and Other Business Enterprises, Third Edition, St Paul, Minn West Publishing Co., 1983; (4) Friedrich Kuebler, Juergen Simon, Mấy vấn
đề pháp luật kinh tế Cộng hoà Liên bang Đức, Nxb Pháp lý, 1992; (5) Francis Lemeunier, Nguyên lý và thực hành luật thương mại, luật kinh doanh, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1993
Tình hình nghiên cứu trong nước
Có rất nhiều công trình nghiên cứu trong nước liên quan tới đề tài Luận văn Đó là các công trình hết sức có giá trị lý luận và thực tiễn Tuy nhiên
Trang 8việc gắn chặt góp vốn với vấn đề pháp lý trong giai đoạn hiện nay vẫn còn những vấn đề pháp lý nhỏ để Luận văn có thể khai thác Một số công trình nghiên cứu trong nước tiêu biểu phải kể đến (nhưng không thể kể hết), bao
gồm: (1) Ngô Huy Cương, Giáo trình luật thương mại – Phần chung và
Thương nhân, Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2013; (2) Lê Tài Triển,
Nguyễn Vạng Thọ và Nguyễn Tân, Luật thương mại Việt Nam dẫn giải,
Quyển I vàg Quyển II, Sài Gòn, 1972; (3) Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật thương mại- Tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007; (4) Viện
quản lý kinh tế trung ương (CIEM) và Công ti Vision & Associates, và Tổ
chức hợp tác kỹ thuật Đức (GTZ), Tìm hiểu về Luật Doanh nghiệp 2005; (5) Nguyễn Như Phát (Chủ biên), Giáo trình luật kinh tế Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997; (6) Phạm Duy Nghĩa, Giáo trình luật kinh tế- Tập 1: Luật doanh nghiệp, Tình huống- Phân tích- Bình luận, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội, Hà Nội, 2006; (7) Dự án VIE/94/003, Báo cáo chuyên đề về các lĩnh vực khung pháp luật kinh tế tại Việt Nam; (8) Bùi Ngọc Cường, Xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh ở nước
ta, Luận án tiến sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2001; (9) Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung, Công ty- vốn, quản lý và tranh chấp theo Luật Doanh nghiệp 2005, Nxb Tri Thức, TP Hồ Chí Minh, 2009: (10)
Nguyễn Mạnh Bách, Các công ty thương mại, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, Biên
Hòa, 2006
Trên cơ sở kế thừa các thành tựu của các công trình nghiên cứu này, tác
giả đi sâu vào nghiên cứu vấn đề pháp lý phát sinh liên quan tới hành vi góp vốn
3 Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Luận văn có mục tiêu chủ yếu là làm rõ về mặt lý luận những vấn đề pháp lý phát sinh từ hành vi góp vốn thành lập công ty và kiến nghị hoàn thiện chế định pháp luật này
Luận văn có các nhiệm vụ chủ yếu sau:
Trang 9+ Nghiên cứu lý luận về góp vốn và các hậu quả pháp lý phát sinh từ hành vi góp vốn;
+ Đánh giá pháp luật Việt Nam hiện hành về góp vốn và hậu quả pháp
lý của nó;
+ Kiến nghị hoàn thiện pháp luật liên quan
Vì góp vốn và hậu quả của hành vi góp vốn là một lĩnh vực pháp lý rộng Do đó Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu
cơ sở lý luận pháp luật về góp vốn thành lập công ty, tức là các giao dịch về góp vốn thành lập công ty mà không nghiên cứu góp vốn vào các lĩnh vực khác, và cũng không phân tích việc góp vốn thành lập công ty dưới giác độ kinh tế, văn hóa, xã hội Luận văn không đi sâu vào nghiên cứu việc thi hành pháp luật trong lĩnh vực này mà chỉ phân tích các qui phạm hiện hành thông qua lý luận
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu của Luận văn được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch
sử, và đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam
Các phương pháp mà luận án sử dụng bao gồm: phương pháp phân tích quy phạm, phân tích vụ việc, và phân tích lịch sử; phương pháp tổng hợp, thông kê, tập hợp các thông tin, số liệu và vụ việc; phương pháp điển hình hoá, mô hình hóa các quan hệ xã hội; phương pháp hệ thống hóa các quy phạm pháp luật; phương pháp so sánh pháp luật; và phương pháp đánh giá thực trạng pháp luật
Với phương pháp phân tích quy phạm, luận văn đã phân tích quy định của pháp luật hiện hành về góp vốn và hậu quả pháp lý của hành vi góp vốn thành lập công ty, qua đó chỉ ra các khiếm khuyết, bất cập
Khi phân tích vụ việc, luận văn đã chỉ ra khiếm khuyết trong thực tiễn
áp dụng pháp luật
Trang 10Phương pháp tổng hợp được sử dụng kết hợp với phương pháp phân tích Cụ thể, từ những kết quả nghiên cứu bằng phân tích, Luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp kết hợp chúng lại với nhau để có được sự nhận thức về vấn đề nghiên cứu một cách đầy đủ, hoàn chỉnh Kết quả tổng hợp được thể hiện chủ yếu bằng các kết luận, kiến nghị hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp Phương pháp so sánh được sử dụng khi so sánh với pháp luật để chỉ ra ưu nhược điểm, sự tiến bộ hay lạc hậu… hoặc so sánh giữa pháp luật hiện hành với các văn bản đã hết hiệu lực để chỉ ra sự thay đổi tích cực hay tụt hậu…
5 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Mục lục, Lời mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chủ yếu của Luận văn được chia thành ba chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về góp vốn và hệ quả pháp lý của hành vi
góp vốn thành lập công ty
Chương 2: Thực trạng pháp luật việt nam về góp vốn và hậu quả pháp lý của
hành vi góp vốn thành lập công ty
Chương 3: Định hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về góp
vốn và hậu quả pháp lý của hành vi góp vốn thành lập công
Trang 11Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GÓP VỐN VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA HÀNH VI GÓP VỐN THÀNH LẬP CÔNG TY
1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về góp vốn và bản chất pháp lý của hành vi góp vốn thành lập công ty
1.1.1 Khái quát chung về công ty
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của công ty
Công ty là loại một loại thương nhân xuất hiện trong nền kinh tế thị trường Theo quan niệm truyền thống, công ty được hiểu là sự liên kết của hai hay nhiều cá nhân hoặc pháp nhân bằng một sự kiện pháp lý nhằm tiến hành một hoặc một số hành vi thương mại nhất định theo mục tiêu chung đã được lựa chọn Như vậy công ty là một loại thương nhân chuyên tiến hành một hoặc một số hành vi thương mại nhất định và coi các hành vi đó là nghề
nghiệp của mình Lưu ý rằng hành vi hoặc các hành vi này được xác định trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mà pháp luật Việt Nam hiện nay gọi là ngành nghề kinh doanh Theo PGS TS Ngô Huy Cương, thương nhân
là chủ thể thông thường của luật thương mại và được chia thành thương nhân thể nhân (cá nhân kinh doanh – ví dụ như doanh nghiệp tư nhân) và thương nhân pháp nhân (có nghĩa là các công ty) [22, tr 69] Vậy trước hết công ty là thương nhân pháp nhân
Thương nhân, theo PGS TS Ngô Huy Cương có hai yếu tố xác định:
Thứ nhất, chuyên tiến hành các hành vi thương mại; và thứ hai, lấy hành vi
thương mại làm nghề nghiệp thường xuyên của mình, mà trong đó yếu tố thứ nhất được xem là điều kiện cần, và yếu tố thứ hai được xem là điều kiện đủ
Từ các phân tích ở trên ta có thể hiểu: Công ty là thương nhân pháp nhân và công ty có các đặc điểm như sau:
Đặc điểm thứ nhất: Công ty là pháp nhân
Trang 12Cả về mặt lý luận và thực tiễn đều cho thấy công ty là một thực thể tách biệt với thành viên của nó, có nghĩa người thành lập công ty có mục đích tạo
ra một thực thể tách biệt với mình, và thực thể này có khả năng hưởng quyền
và gánh vác nghĩa vụ riêng biệt so với quyền và nghĩa vụ của người thành lập nên nó Vì vậy công ty mang đầy đủ các dấu hiệu của một pháp nhân Trong các dấu hiệu này, có một dấu hiệu quan trọng liên hệ trực tiếp với đề tài Luận văn là công ty có tài sản riêng, khác với tài sản của chủ sở hữu hoặc các chủ
sở hữu của nó Tài sản này trước hết được tạo lập bởi hành vi góp vốn của chủ
sở hữu hoặc các chủ sở hữu của công ty
Như vậy công ty là chủ thể của pháp luật Các mối quan hệ bên trong cũng như bên ngoài của công ty được pháp luật điều chỉnh Chẳng hạn pháp luật qui định công ty có quyền sở hữu và sử dụng vốn đúng mục đích; phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ bằng tài sản của mình; và tự danh mình tham gia các quan hệ pháp luật… Luật Doanh nghiệp 2014 định nghĩa về
doanh nghiệp mà trong đó có công ty rằng: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên
riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” (Điều 4, khoản 7) Định nghĩa này cho thấy doanh nghiệp (hay công ty) mang dáng dấp của pháp nhân - một chủ thể quan trọng của pháp luật
Đặc điểm thứ hai: Công ty là thương nhân
Công ty là chủ thể thông thường của luật thương mại bởi như trên đã phân tích công ty chuyên tiến hành các hành vi thương mại và lấy hành vi thương mại là nghề nghiệp thường xuyên của mình Công ty có nghĩa vụ đăng
ký kinh doanh, có nghĩa là đăng ký việc làm nghề thương mại của mình Ở đây cần lưu ý hành vi thương mại có điểm khác với hành vi dân sự Hành vi thương mại nói đơn giản là hành vi do thương nhân thực hiện nhằm mục đích sinh lời Còn hành vi dân sự là hành vi do các chủ thể của pháp luật thực hiện nhằm mục đích tiêu dùng Tuy nhiên sự phân biệt này là một vấn đề khoa học phức tạp mà khó có thể lý giải trong phạm vi của Luận văn này
Trang 13Đặc điểm thứ ba: Việc góp vốn và sở hữu vốn của công ty bị giới hạn
bởi pháp luật
Các hình thức góp vốn thành lập công ty và việc sở hữu vốn của công
ty luôn luôn được pháp luật quan tâm và điều tiết Vốn ban đầu hình thành từ
sự đóng góp của thành viên hoặc các thành viên Thông qua việc góp vốn, thành viên đổi lại quyền lợi trong công ty và quyền chi phối công ty Hơn nữa công ty luôn có sự tác động lớn tới cộng đồng bởi khả năng cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ, và khả năng huy động vốn từ bên ngoài Pháp luật xen vào điều tiết việc góp vốn và sở hữu vốn của công ty bởi các lý do như vậy
1.1.1.2 Phân loại công ty
Ở các nước theo truyền thống Civil Law, người ta thường chia công ty thành hai loại: công ty dân sự và công ty thương mại Nguồn gốc của sự phân chia này là việc có sự phân loại giữa luật dân sự và luật thương mại Cách thức phân loại này không được thể hiện rõ ở Việt Nam hiện nay Luận văn không đề cập tới công ty dân sự do đó không xuất phát nghiên cứu từ cách phân loại này
Căn cứ vào tính chất liên kết, chế độ chịu trách nhiệm của thành viên công ty và ý chí của nhà làm luật, mà dưới góc độ pháp lý người ta chia công
ty thành hai loại hình chính là công ty đối nhân và công ty đối vốn Trong mỗi loại này lại được phân chia thành các hình thức công ty cụ thể Tuy nhiên phải nói rằng cách phân loại này cũng không mấy rõ ràng, gây ra nhiều tranh luận Mặc dù vậy nó vẫn có những điểm đáng lưu ý về mặt khoa học
Công ty đối nhân là hình thức công ty mà việc thành lập dựa trên sự liên kết chặt chẽ bởi độ tin cậy về nhân thân của các thành viên tham gia Đặc điểm cơ bản của công ty đối nhân là các thành viên liên đới chịu trách nhiệm
vô hạn về các khoản nợ của công ty hoặc ít nhất cũng phải có một thành viên chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty Các thành viên chịu trách nhiệm vô hạn đều có tư cách thương nhân và phải chịu thuế thu nhập cá
Trang 14nhân Có hai loại hình công ty đối nhân cơ bản là công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản Công ty hợp danh là công ty mà tất cả các thành viên đều phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợi của công ty Còn công ty hợp vốn đơn giản có hai loại thành viên: một loại chịu trách nhiệm vô hạn; và loại khác chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ của công ty
Công ty đối vốn ra đời muộn hơn so với công ty đối nhân Công ty đối vốn không quan tâm tới nhân thân người góp vốn mà chỉ quan tâm tới phần vốn góp Có một điểm đặc biệt khác so với công ty đối nhân là ở công
ty đối vốn tất cả các thành viên của công ty đều có chế độ trách nhiệm hữu hạn Do cơ cấu thành lập công ty chỉ quan tâm tới vốn góp mà thành viên của công ty đối vốn thường có số lượng lớn Cũng do thành viên của công
ty đối vốn có số lượng lớn nên nó thường được pháp luật qui định chặt chẽ hơn về quản trị và vận hành Có hai loại công ty đối vốn là: công ty cổ phần; và công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm loại có một thành viên và loại có hai thành viên trở lên)
Công ty đối nhân và công ty đối vốn khác nhau tương đối nhiều về chế
độ pháp lý đối với vốn của công ty, nhất là hậu quả pháp lý của hành vi góp vốn Trong mỗi phân loại lớn đó lại có những phân loại nhỏ hơn (hình thức công ty) có sự khác biệt ít nhiều về chế độ góp vốn và hậu quả pháp lý của hành vi góp vốn Tuy nhiên tựu trung lại vấn đề góp vốn và hậu quả pháp lý của nó có những điểm chung nhất định
1.1.2 Khái niệm về góp vốn và bản chất pháp lý của hành vi góp vốn
1.1.2.1 Khái niệm góp vốn thành lập công ty
Góp vốn thường được người Việt Nam hiểu là việc một người đưa hay hùn tiền bạc hay tài sản vào một công cuộc kinh doanh nhất định và mong nhận được lợi ích từ đó Xét về mặt pháp lý, người góp vốn chuyển giao
quyền sở hữu tài sản của mình cho người kinh doanh (thương nhân) để đổi lại những lợi ích từ việc góp vốn đó Góp vốn thành lập công ty là việc một
người chuyển giao quyền sở hữu tài sản của mình vào công ty do tự mình
Trang 15hoặc cùng với người khác thành lập nhằm mục tiêu kiếm lời Tài sản góp vốn
về nguyên tắc là tất cả các loại tài sản mà theo quan niệm của pháp luật Việt Nam hiện nay bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản (Điều 163,
Bộ luật Dân sự 2005) Tuy nhiên pháp luật có thể qui định cụ thể về tài sản góp vốn đối với từng trường hợp cụ thể Theo khoản 4, Điều 4 Luật Doanh nghiệp, tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kĩ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty
Việc chuyển đổi quyền sở hữu tài sản cụ thể lấy quyền lợi trong công ty thường được qui đổi theo tỷ lệ nhất định mà người ta gọi là tỉ lệ vốn góp mà chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của công ty góp vào vốn điều lệ
Lợi ích mà người góp vốn nhận được là phần vốn góp hoặc cổ phần Các phần vốn góp và cổ phần này không phải được hình thành từ thế giới vật chất như các tài sản hữu hình (vật), cũng không phải là sản phẩm được hình thành từ hoạt động sáng tạo của trí tuệ (đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ) Phần vốn góp hiểu là kết quả của sự chuyển một phần giá trị tài sản cụ thể của người góp vốn vào công ty để đổi lấy một phần giá trị khác trừu tượng hơn Tài sản góp vốn vào công ty và phần vốn góp là hai tài sản độc lập và thuộc
về hai sản nghiệp của hai chủ thể khác nhau Phần vốn góp là tài sản thuộc sản nghiệp của nguời góp vốn Tài sản đem góp vốn là tài sản thuộc sản
nghiệp của công ty nhận tài sản góp vốn Về mặt pháp lý, vốn của công ty là
do các thành viên, các cổ đông đóng góp Đối với chủ nợ của công ty, số tiền
mà các thành viên, cổ đông bỏ vào công ty chính là sự cam kết lâu dài cho việc đầu tư Trong trường hợp công ty bị phá sản, các chủ nợ cóa thể lấy nợ trên số tài sản hình thành từ vốn góp cùng với các tài sản khác của công ty Việc góp vốn vào công ty bằng cách chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đối với tài sản của mình cho công ty để đổi lại tư cách sở hữu chủ hoặc đồng sở hữu chủ của công ty đó
Trang 161.1.2.2 Bản chất pháp lý của hành vi góp vốn thành lập công ty
Từ khái niệm trên ta có thể nhận thấy bản chất pháp lý của góp vốn là hành vi pháp lý làm chấm dứt quyền sở hữu tài sản của người góp vốn, làm phát sinh quyền sở hữu tài sản của công ty và tạo lập ra công ty (một thực thể kinh doanh) thuộc sở hữu của người góp vốn hoặc thuộc sở hữu chung của những người góp vốn
Công ty thường được xem xét trên hai phương diện: kinh tế và pháp lý Trên phương diện kinh tế, công ty được xem là một doanh nghiệp hay một thực thể kinh doanh Và trên phương diện pháp lý, công ty được xem là hành vi pháp lý hay hành vi thương mại Do đó phần vốn góp cũng được hiểu theo nghĩa kinh tế và nghĩa pháp lý, có nghĩa là cần xem xét khái niệm phần vốn góp từ phương diện kinh tế và từ phương diện pháp lý [14, tr 21]
Nếu xét trên phương diện kinh tế, góp vốn là việc tạo ra tài sản cho công ty nhằm đảm bảo thực hiện các hoạt động kinh doanh theo mục đích đã đăng ký của công ty và đảm bảo quyền lợi cho các chủ nợ trong trường hợp công ty bị phá sản Khi tài sản được một thành viên, một cổ đông góp vào công ty, tài sản đó được chuyển dịch quyền sở hữu từ thành viên đó, cổ đông
đó sang công ty Việc dịch chuyển quyền sở hữu này có thể được thực hiện thông qua giao kết hợp đồng thành lập công ty của các cổ đông, thành viên góp vốn Bằng hành vi góp vốn các thành viên, các cổ đông sáng lập đã tạo ra sản nghiệp ban đầu cho công ty để đổi lại quyền lợi của mình trong công ty Quyền lợi này được xác định theo các quy định của pháp luật và điều lệ của công ty Ở khía cạnh kinh tế, việc góp vốn hay hùn vốn cũng là việc nhiều người cùng góp nguồn lực của mình để tạo nên một nguồn lực chung lớn hơn nhằm thực hiện ý tưởng kinh doanh Đó chính là ý nghĩa kinh tế quan trọng xuyên suốt lịch sử hình thành và phát triển của công ty trong lịch sử Cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế, việc góp vốn thành lập công ty có khi chỉ đơn giản là để nhà đầu tư kiếm lời từ vốn góp của mình chứ không
Trang 17thực sự chú trọng vào mục đích thực hiện một hoạt động kinh doanh nào cụ thể Góp vốn vào công ty cũng dễ dàng chuyển nhượng lại phần vốn góp đó cho người khác để hưởng chênh lệch hoặc thu lại một phần vốn Số lượng người góp vốn được mở rộng, khả năng bán lại phần vốn dễ dàng, người góp vốn có thể thay đổi nhanh chóng song công ty vẫn tồn tại, đó là sự khác biệt lớn của công ty đối vốn so với công ty đối nhân Một vấn đề kinh tế khác khi các thành viên, các cổ đông góp vốn vào công ty là việc thực hiện quyền quản
lý công ty để đảm bảo việc sử dụng đồng vốn của mình sẽ đem đến hiệu quả kinh tế cao nhất Do là công ty đối vốn điển hình nên quyền quản lý trong công
ty tương ứng với tỷ lệ số vốn góp vào công ty thông qua tỷ lệ vốn góp của từng thành viên và số lượng cổ phần nắm giữ của từng cổ đông [14, tr 25 - 27]
Nếu xét trên phương diện pháp lý, góp vốn là hành vi chuyển giao tài sản để đổi lấy quyền lợi đối với công ty Nói tóm lại góp vốn về bản chất pháp lý là một hành vi pháp lý Hành vi này là căn cứ làm chấm dứt quyền sở hữu tài sản của người góp vốn đối với tài sản góp vốn cụ thể, đồng thời làm phát sinh quyền sở hữu của công ty đối với tài sản góp vốn đó, và làm phát sinh quyền sở hữu của người góp vốn đối với phần vốn góp vào công ty theo
tỷ lệ với các phần vốn góp khác hoặc quyền sở hữu của người góp vốn (người mua cổ phần) đối với một hoặc một số cổ phần của công ty
Có thể lý giải cụ thể rằng: thông qua hành vi góp vốn, mối quan hệ pháp lý được tạo lập Nghĩa vụ đối ứng giữa người góp vốn thành lập công ty
và công ty khác với nghĩa vụ đối ứng giữa các bên trong quan hệ mua bán hay cho thuê Hành vi góp vốn đổi lấy quyền lợi cũng khác với hành vi mua bán hay hành vi cho thuê tài sản ở chỗ khi chuyển giao quyền sở hữu tài sản hay quyền hưởng dụng tài sản cho công ty, thì người góp vốn không nhận được bất kể khoản tiền nào từ việc chuyển giao đó mà chỉ nhận lại được là một thứ quyền đặc biệt đó là quyền sở hữu, quyền lợi công ty Quyền lợi này có thể chuyển đổi thành tiền, tuy nhiên còn phụ thuộc vào từng hình thức công ty và quy chế riêng có thể có Quyền sở hữu công ty này là quyền sở hũu một phần
Trang 18tài sản của công ty tương ứng với tỷ lệ góp vốn và số cổ phần mà người đó nắm giữ Như vậy, việc góp vốn thành lập công ty có nét giống với sự trao đổi tài sản giữa hai chủ thể, trong đó người góp vốn bỏ ra tài sản và nhận lại
quyền lợi từ công ty Đặc biệt trong công ty cổ phần thì các cổ phần không phải là một vật xác định hay quyền lợi gắn với vật đó mà người sở hữu được thừa hưởng Cổ phần thực chất chỉ là một tờ giấy nhưng nó ghi nhận quyền tài sản quan trọng ràng buộc giữa cổ đông và công ty, đó là quyền quản lý và quyền thu lợi từ lợi tức của công ty Như vậy, cổ phần luôn luôn gắn với công
ty, có giá trị thay đổi theo tình hình tài chính của công ty và khi công ty
không còn tồn tại thì quyền tài sản này cũng sẽ mất đi [14, tr 27 – 28]
1.1.2.3 Quyền góp vốn thành lập công ty
Hiến pháp 2013 tuyên bố: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” (Điều 33) Với nguyên tắc hiến định này, có thể hiểu mọi người đều có quyền góp vốn thành lập công ty Vì vậy việc hạn chế góp vốn thành lập công ty chỉ có thể được thực hiện theo những điều kiện nhất định Hiến pháp 2013 qui định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo qui định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Điều 14, khoản 2) Quyền tự do kinh doanh được xếp vào các quyền con người và quyền cơ bản của công dân Do vậy việc hạn chế nó phải tuân thủ các điều kiện hiến định Luật Doanh nghiệp
2014 khẳng định: “Tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài
có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này” (Điều 18, khoản 1) Điều này đã cụ thể hóa nguyên tắc hiến định về tự do kinh doanh Tuy nhiên
để bảo vệ cộng đồng trước những tác động tiêu cực của hành vi góp vốn thành lập công ty và bảo vệ chính các công ty trước sự lạm dụng, Luật Doanh
nghiệp 2014 có những qui định hạn chế góp vốn thành lập công ty như sau:
Trang 19“2 Tổ chức, cá nhân sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:
a) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
b) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;
c) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp;
d) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
đ) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự;
e) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng
Trong trường hợp Cơ quan đăng ký kinh doanh có yêu cầu, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh
3 Tổ chức, cá nhân có quyền mua cổ phần của công ty cổ phần, góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này
Trang 204 Tổ chức, cá nhân sau đây không được mua cổ phần của công ty cổ phần, góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này:
a) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn
a) Chia dưới mọi hình thức cho một số hoặc tất cả cán bộ, nhân viên của cơ quan, đơn vị;
b) Bổ sung vào ngân sách hoạt động của cơ quan, đơn vị trái với quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước;
c) Lập quỹ hoặc bổ sung vào quỹ phục vụ lợi ích riêng của cơ quan, đơn vị” (Điều 18)
Các qui định hạn chế này làm lành mạnh hóa môi trường kinh doanh tại Việt Nam hiện nay bao gồm bảo đảm cạnh tranh lành mạnh; chống tham nhũng, chụp giật; và chống làm suy yếu hiệu lực của quản lý nhà nước
1.1.3 Các hình thức góp vốn
Góp vốn thành lập công ty có nhiều hình thức khác nhau Việc phân loại các hình thức này chủ yếu dựa vào đối tượng của hành vi góp vốn – đó chính là tài sản, công sức, và tri thức Điều đáng lưu ý nhất là mỗi hình thức góp vốn dường như phụ thuộc vào một qui chế pháp lý khác nhau xuất phát từ đối tượng của hành vi góp vốn
Khác với Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam, các Bộ luật Dân sự của các nước trên thế giới không đưa ra một định nghĩa cụ thể nào về tài sản
Trang 21Song theo quan niệm chung, người ta có thể hiểu được rằng tài sản bao gồm hai loại là vật và quyền Tài sản là một khái niệm trừu tượng khó xác định về mặt phạm vi Hiện rất hiếm thấy các định nghĩa về tài sản trong pháp luật của các quốc gia Thế nhưng tài sản là đối tượng quan trọng nhất của hành vi góp vốn Vì vậy có thể thấy việc liệt kê các tài sản góp vốn như Luật Doanh nghiệp
2005 của Việt Nam có ý nghĩa thực tế và nhưng không thể không có các thiếu sót Có lẽ các qui định này không dám đi quá xa ra khỏi khuôn khổ của các qui định về tài sản trong Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam nơi đã đặt ra tiền đề cho những thiếu sót như vậy Chẳng hạn: theo pháp luật Việt Nam “vật chất liệu” đó là cơ sở quan trọng của quan niệm về tài sản Tuy có nhắc tới quyền tài sản, nhưng nó không được xem là vật quyền Do đó việc góp vốn bằng các vật quyền khó có được các qui định đầy đủ, trừ quyền sử dụng đất
Góp vốn bằng tài sản là hình thức góp vốn quan trọng nhất bởi không
có tài sản thì công ty không thể hoạt động được Về nguyên tắc, mọi tài sản đều có thể đem góp làm vốn của công ty, tuy nhiên còn lệ thuộc vào từng sự thỏa thuận cụ thể trong các hợp đồng thành lập công ty Tài sản góp vốn có thể thuộc bất kể dạng nào: vật chất liệu hay các quyền vô hình, với điều kiện các tài sản này phải là các tài sản có thể được chuyển giao trong giao lưu dân
sự một cách hợp pháp, bởi bản thân góp vốn đó là một hành vi chuyển giao tài sản, do đó phải tuân thủ những qui tắc chung có liên quan tới việc chuyển giao tài sản Căn cứ vào việc chuyển giao, người ta chia các hình thức góp vốn bằng tài sản thành một số loại để nghiên cứu và qui định như góp vốn bằng tiền, góp vốn bằng hiện vật (vật chất liệu) và góp vốn bằng quyền Góp vốn bằng quyền tài sản lại được phân chia thành: góp vốn bằng quyền hưởng dụng, sản nghiệp thương mại và quyền sở hữu trí tuệ
Ngoài việc góp vốn bằng tài sản, người ta còn góp vốn bằng công sức
và bằng tri thức Đây là hai hai khái niệm không hẳn nằm ngoài khái niệm tài sản Các khái niệm này có sự giao thoa Một người có thể không đưa tài sản
cụ thể nào vào công ty với tính cách là góp vốn, mà người đó có thể thực hiện
Trang 22một công việc nào đó mà công ty cần thiết trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình hoặc đóng góp những hiểu biết mà công ty không thể không cần đến trong hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên việc cung cấp một công việc và việc cung cấp một tri thức có qui chế pháp lý riêng biệt với việc cung cấp một tài sản cụ thể trong việc thành lập một công ty Sau đây lần lượt nghiên cứu các hình thức góp vốn cụ thể
1.1.3.1 Góp vốn bằng tiền
Góp vốn bằng tiền là việc cá nhân hay tổ chức chuyển một khoán tiền (Việt Nam đồng hay ngoại tệ hay những giấy tờ có giá trị như ngân phiếu, trái phiếu của mình) để hình thành vốn của công ty, và đổi lại phần vốn góp hay cổ phần từ công ty Hành vi chuyển dịch chỉ được thực hiện xong khi nào thành viên góp vốn hoàn thành nghĩa vụ góp vốn mà có hình thức như: chuyển tiền vào tài khoản phong tỏa tại ngân hàng hoặc một tài khoản trung gian
Góp vốn bằng tiền có tính chất giống với việc bỏ tiền ra mua quyền lợi trong công ty Do tính chất thanh khoản của tiền như vật ngang giá chung của
cả nền kinh tế Khi cam kết góp mà không góp hoặc góp không đúng hạn khoản tiền cam kết góp được coi là người cam kết nợ khoản cam kết đó với công ty Việc góp vốn hay trả nợ vốn có thể thực hiện bằng các phương thức thanh toán theo qui định của pháp luật hay sự thỏa thuận của các bên
Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty hợp danh phương thức góp vốn bằng tiền mặt đòi hỏi phải đóng đủ rồi mới được thành lập công
ty bởi các hình thức công ty này không được phát hành cổ phiếu Với công ty
cổ phần, phương thức góp vốn bằng tiền mặt không đòi hỏi những người tham gia đăng ký góp vốn phải đóng đủ ngay phần của mình trước khi công ty phải đăng ký kinh doanh mà chỉ cần đóng góp trước một phần bởi hình thức công
ty này có phát hành cổ phần Số cổ phần còn lại sẽ được mua nốt trong một khoảng thời gian nhất định sau khi công ty chính thức đi vào hoạt động Về phương cách kiểm soát, pháp luật của nhiều nước, sau khi tiến hành góp vốn
Trang 23theo phương thức này, các sáng lập viên phải có trách nhiệm gửi toàn bộ số tiền đó thu được vào một tài khoản ngân hàng phong tỏa hoặc gửi tại nơi ký thác Luật Công ty 1990 cũng đã từng có quy định góp vốn phải gửi vào tài khoản phong tỏa Hiện tại, việc chuyển tiền vào tài khoản phong tỏa chỉ áp dụng đối với công ty cổ phần khi phát hành thêm cổ phần để tăng vốn điều lệ chứ không áp dụng cho trường hợp góp vốn thành lập công ty, vấn đề này phụ
thuộc vào thỏa thuận của các cổ đông khi sáng lập công ty cổ phần
1.1.3.2 Góp vốn bằng hiện vật
Góp vốn bằng hiện vật là việc góp vốn bằng quyền sở hữu đối với vật
mà có thể là bất động sản do bản chất hay do mục đích, hoặc động sản do bản chất Về nguyên tắc, mọi tài sản là vật đều có thể đem góp vốn thành lập công
ty, tuy nhiên còn lệ thuộc vào sự thỏa thuận cụ thể về việc góp vốn thành lập công ty Vật đưa vào góp vốn phải là vật được đưa vào giao lưu dân sự đáp ứng đầy đủ ba yêu cầu: (i) vật có thực phải là một bộ phận của thế giới vật chất; (ii) vật có thực phải đem lại lợi ích cho con người; (iii) vật có thực là những vật con người có thể chiếm giữ được [17, tr 31]
Như vậy việc góp vốn bằng hiện vật gần giống với việc bán hay đổi vật
đó để lấy quyền lợi trong công ty Người góp vốn thu được quyền lợi Còn công ty có được quyền sở hữu đồ vật Chính vì vậy, Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “việc góp vốn bằng hiện vật được thực hiện bằng cách chuyển quyền đối với vật và giao vật cho công ty sử dụng Nếu góp vốn bằng quyền sở hữu, người góp vốn phải đảm bảo đối với công ty như người bán đảm bảo đối với người mua” (Điều 1843 - 3)
Vật được đem góp vốn phải là tài sản được phép giao dịch Vật phải được xác định rõ Chất lượng của vật do các bên thỏa thuận Trong trường hợp chất lượng của vật đó được công bố hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định chất lượng của vật được xác định theo tiêu chuẩn đó công bố hoặc theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Khi các bên không
có thỏa thuận và pháp luật không có quy định về chất lượng thì chất lượng của
Trang 24vật mua bán được xác định theo mục đích sử dụng và chất lượng trung bình của vật cùng loại Với nghĩa vụ như người bán đối với người mua thì thành viên góp vốn có nghĩa vụ giao vật đúng số lượng, đồng bộ và đúng chủng loại, cung cấp thông tin cần thiết về vật và hướng dẫn cách sử dụng vật đó, đảm bảo
quyền sở hữu đối với vật đó góp vốn không bị bên thứ ba tranh chấp
Việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản từ thành viên sang công ty có ý nghĩa pháp lý quan trọng, phải cam kết thực hiện nghĩa vụ dân sự, vì theo quan điểm pháp lý dân sự thời điểm chịu rủi ro đối với tài sản thường gắn liền với thời điểm chuyển quyền sở hữu Về nguyên tắc, chủ sở hữu phải chịu rủi ro xảy ra đối với tài sản của mình Từ thời điểm thành viên cam kết góp vốn mới làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của thành viên với công ty Trong đó, nếu công ty chưa đăng ký kinh doanh thì quyền yêu cầu là quyền của các thành viên khác đối với thành viên cam kết góp vốn thực hiện nghĩa vụ của họ Thời điểm này chưa làm phát sinh quyền sở hữu tài sản của công ty vì công ty chưa ra đời Việc chuyển dịch quyển sở hữu tài sản từ thành viên sang công ty chỉ có thể tính từ thời điểm công ty được chính thức thừa nhận về mặt pháp lý tức là thời điểm cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Tức là, việc công ty trở thành chủ sở hữu của vật góp vốn buộc công
ty phải có tư cách pháp nhân, nghĩa là công ty phải có khả năng hưởng quyền
và gánh vác nghĩa vụ Điều này cho thấy việc góp vốn bằng hiện vật không thể thực hiện được với công ty không có tư cách pháp nhân
Tùy theo đặc điểm, tính chất của từng loại tài sản và ghi nhận của pháp luật, của hợp đồng hoặc điều lệ công ty mà việc chuyển quyền sở hữu tài sản hiện vật từ thành viên sang công ty được thực hiện theo những thủ tục khác nhau Vật được giao theo phương thức thỏa thuận về việc góp vốn; nếu không
có thỏa thuận về phương thức giao vật thì vật do thành viên góp vốn giao một lần, giao trực tiếp công ty Thành viên góp vốn phải chịu chi phí vận chuyển đến địa điểm giao vật và chi phí liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu đối với vật
Trang 251.1.3.3 Góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất
Hiến pháp 2013 tại Điều 53 qui định:
“Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”
Qua đây có thể hiểu đất đai là một tài sản đặc biệt, có qui chế pháp lý rất khác so với các loại tài sản khác Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Do đó người ta chỉ có thể góp vốn bằng quyền sử dụng đất Nhà nước ta đã tạo ra cho người sử dụng đất những quyền năng nhất định, trong đó có quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thành lập công ty Đất đai là bất động sản do bản chất Thông thường
có thể xếp việc góp vốn bằng đất đai vào góp vốn bằng hiện vật Nhưng Nhà nước chỉ trao cho các tổ chức, cá nhân quyền sử dụng đất với từng mảnh đất
cụ thể Quyền sử dụng đất lại được quy định bởi nhiều chế độ pháp lý khác nhau tùy theo từng loại đất Do vậy phải xếp việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất thành một hình thức góp vốn riêng so với góp vốn bằng vật Việc góp vốn thành lập công ty bằng quyền sử dụng đất phải thỏa mãn các điều kiện sau: (i) có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; (ii) không có tranh chấp; (iii) quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; (iv) trong thời hạn sử dụng đất
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư tại Việt Nam được nhà nước Việt Nam cho thuê đất Nếu thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm có quyền góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam Nếu cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê có quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất thuê và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất để hợp tác kinh doanh, sản xuất trong thời hạn thuê đất [26]
Việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất đòi hỏi quyền sử dụng đất phải thuộc trường hợp pháp luật cho phép được dùng vốn góp như một tài sản
Trang 26Quyền sử dụng đất mà các bên đem góp vốn phải được định giá, các bên có thể thỏa thuận định giá và cùng chịu trách nhiệm về thỏa thuận định giá đó hoặc thuê tổ chức định giá chuyên nghiệp
Ở Việt Nam, quyền sử dụng đất là tài sản phải đăng ký do vậy sau khi thỏa thuận góp vốn bằng quyền sử dụng đất thì đến thời điểm góp vốn bên góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải chuyển quyền sử dụng đất cho công ty
và công ty là chủ thể đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Kể từ thời điểm công ty hoàn thành việc đăng ký quyền sử dụng đất thì việc chuyển quyền sử dụng đất cho công ty được hoàn thành [26]
Từ những phân tích trên cho thấy ở nước ta, với việc chỉ có một hình thức sở hữu về đất đai là sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý và không công nhận sở hữu tư nhân về đất đai, thì quyền sử dụng đất được đưa ra như một tài sản đặc thù và việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất với tư cách là một bất động sản
vô hình cũng có những đặc thù riêng
1.1.3.4 Góp vốn bằng quyền hưởng dụng
Góp vốn bằng quyền hưởng dụng là một hình thức góp vốn bằng
quyền Góp vốn bằng quyền có phần phức tạp hơn so với góp vốn bằng tiền
và góp vốn bằng hiện vật, không chỉ vì sự tính toán giá trị của nó, mà còn vì
sự phân loại nó Trước hết, việc phân loại tài sản thành tài sản hữu hình và tài sản vô hình dẫn đến phân chia việc góp vốn bằng tài sản thành góp vốn bằng hiện vật và góp vốn bằng quyền, hay nói cách khác, góp vốn bằng tài sản hữu hình và góp vốn bằng tài sản vô hình, ngoài việc góp vốn bằng tiền Việc phân chia cách góp vốn như vậy làm nảy sinh ra vấn đề cần lưu ý Như trên
đã khẳng định, góp vốn bằng vật có thực là việc chuyển quyền sở hữu vật cho công ty mà trong khi quyền sở hữu được xem như một vật quyền Do đó, phân biệt thế nào giữa góp vốn bằng quyền sở hữu và góp vốn bằng các quyền khác mà trong đó có cả các vật quyền ngoài quyền sở hữu? [22, tr 119]
Quyền sở hữu là quyền thống trị đối với vật nên để công ty có quyền thống trị hoàn toàn với vật đó thì việc chuyển nhượng quyển sở hữu đó là điều kiện bắt buộc Do tính chất thống trị của quyển sở hữu đối với vật, nên
Trang 27người ta tách góp vốn bằng việc chuyển nhượng quyền sở hữu (một vật
quyền) ra khỏi việc góp vốn bằng các quyền khác, kể cả quyển sở hữu trí tuệ
để có thể thiết lập được các quy chế pháp lý thích hợp với từng loại
Góp vốn bằng quyền lại có thể được phân chia thành góp vốn bằng quyền hưởng dụng, quyền sở hữu trí tuệ và góp vốn bằng sản nghiệp thương mại
Nếu phân biệt quyền sở hữu đối với vật thành ba quyền gồm: quyền sử dụng (usus), quyền thu lợi (fructus) và quyền định đoạt (abusus), thì quyền hưởng dụng ở đây chỉ bao gồm hai thành tố là: quyền sử dụng và quyền thu lợi để được gọi là usufruct Vì vậy người ta thường tách góp vốn bằng quyền hưởng dụng đối với vật ra khỏi việc góp vốn bằng vật, bởi người góp vốn vào công ty chỉ cho công ty được sử dụng vật và thu lợi từ đó Công ty không có quyền quyết định số phận của vật
Để đổi lại việc cho công ty hưởng dụng vật, người góp vốn nhận được các quyền lợi tương ứng trong công ty Từ đó có thể thấy việc góp vốn bằng quyền hưởng dụng có những đặc điểm giống với việc cho thuê tài sản Chẳng hạn, Bộ luật Dân sự Pháp quy định:
“Nếu góp vốn bằng quyền hưởng dụng, người góp vốn phải đảm bảo với công ty như người cho thuê đối với người thuê Tuy nhiên, nếu vật để hưởng dụng là vật cùng loại hoặc vật được thay thế trong thời gian hoạt động của công ty, thì người góp vốn chuyển cho công ty quyền sở hữu vật với điều kiện được trả lại đúng số lượng, chất lượng và giá trị tương đương Trong trường hợp này, người góp vốn phải đảm bảo những điều kiện quy định tại đoạn trước” [Điều 1843 – 3, đoạn 4]
Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931, Bộ luật chịu ảnh hưởng từ Bộ luật dân sự Pháp quy định người góp vốn bằng quyền hưởng dụng phải thực hiện những nghĩa vụ của người cho thuê tài sản (Điều thứ 1207, đoạn 2) Với tinh thần này, Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật tại Điều thứ 1439, đoạn hai cũng có quy định tương tự Điều 127, Bộ luật Dân sự 1972 của chính quyền Sài Gòn (cũ) cũng quy định như vậy Điều đó có nghĩa là người góp vốn bằng quyền hưởng
Trang 28dụng phải bảo đảm cho công ty được hưởng dụng yên ổn Trừ khi có thoả thuận khác, người góp vốn phải bảo dưỡng, sửa chữa tài sản để tài sản luôn luôn ở trong tình trạng có thể sử dụng được như mục đích đề ra khi cam kết góp vốn Cần xác định rằng, người góp vốn vẫn giữ quyền sở hữu đối với vật
và gánh chịu rủi ro Khác với việc góp vốn bằng hiện vật, việc góp vốn bằng quyền hưởng dụng có hệ quả là khi công ty giải thể, thì người góp vốn được nhận lại vật đó trước khi phân chia tài sản của công ty, bởi người này không chuyển giao quyền định đoạt đối với vật cho công ty
Bản chất của quyền hưởng dụng là tài sản vô hình Tuy nhiên việc xem
nó là động sản vô hình hay bất động sản vô hình phụ thuộc vào tài sản là đối tượng của nó là động sản hay bất động sản
Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam tại Điều 175 gọi hai loại hoa lợi trên là “hoa lợi” và “lợi tức” Cách gọi như vậy gây khó khăn cho trường hợp gọi chung cho cả hai loại này và không cho thấy bản chất thật hay gốc gác pháp lý của hai loại này Người góp vốn bằng quyền hưởng dụng chuyển giao quyền hưởng dụng đối với vật cho công ty và giữ lại quyền định đoạt đối với vật Để đổi lại việc cho công ty hưởng dụng vật, người góp vốn nhận được các quyền lợi tương ứng trong công ty [18, tr 31]
Tài sản góp vốn là quyền hưởng dụng thì phần vốn góp chính là giá trị được tính bằng quyền hưởng dụng đối với tài sản Thành viên góp vốn bằng quyền hưởng dụng phải giao tài sản cho công ty đúng số lượng, chất lượng, chủng loại, tình trạng và đúng thời điểm, địa điểm thỏa thuận và cung cấp những thông tin cần thiết về việc sử dụng tài sản đó Thành viên góp vốn bằng quyền hưởng dụng phải bảo đảm tài sản trong tình trạng như đã thỏa thuận, phù hợp với mục đích sử dụng trong suốt thời gian góp vốn Thành viên góp vốn bằng quyền hưởng dụng phải bảo đảm quyền sử dụng tài sản ổn định cho bên thuê Trong trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với tài sản mà công ty không được sử dụng tài sản ổn định thì công ty có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại
Trang 29Trong trường hợp thành viên góp vốn bằng quyền hưởng dụng chậm giao tài sản thì công ty có thể gia hạn giao tài sản và yêu cầu bối thường thiệt hại nếu có Nếu tài sản thuê không đúng chất lượng như thỏa thuận thì công ty
có quyền yêu cầu bên cho thuê sửa chữa và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu có Như vậy, góp vốn bằng quyền hưởng dụng là việc cá nhân hay tổ chức
chuyển quyền hưởng dụng tài sản của mình cho công ty để được hưởng các quyền lợi đối với công ty, trong đó thành viên đem góp vốn vẫn là người chủ
sở hữu tài sản và công ty có quyền thu hoa lợi từ tài sản đó [18, tr 32]
1.1.3.5 Góp vốn bằng sản nghiệp thương mại
Sản nghiệp có thể được xem xét dưới các giác độ khác nhau Nếu xem xét dưới khía cạnh giá trị, sản nghiệp được hiểu là một tổng thể các quan hệ pháp luật về tài sản, là tập hợp các tài sản có và tài sản nợ của một chủ thể chứ không đơn thuần là một bộ sưu tập đồ vật Bất kỳ yếu tố nào của tài sản nợ cũng được đảm bảo bằng toàn bộ tài sản có và ngược lại bất kỳ yếu tố nào của tài sản có cũng có thể được dùng để thanh toán toàn bộ tài sản nợ [24, tr 191]
Tài sản thuộc sản nghiệp là tập hợp tất cả những tài sản thuộc về chủ sở
hữu, hay đúng hơn đó là tập hợp tất cả những quyền tài sản có cùng một chủ thể Tuy nhiên, các quyền tài sản chỉ được xem là các yếu tố của một sản nghiệp khi các quyền đó có thể được định giá bằng tiền Do đó, các quyền không định giá được bằng tiền được gọi là các quyền không có tính chất tài sản hay là quyền nhân thân (ví dụ như quyền đối với tên họ; quyền được tôn trọng danh dự, nhân phẩm; quyền bầu cử; quyền khiếu nại, tố cáo…)
Các quyền tài sản tạo thành một tập hợp sản nghiệp và tập hợp này tồn tại độc lập với các quyền tài sản đó Tài sản có thể được mua bán, sử dụng, hao mòn, thậm chí biến mất nhưng sản nghiệp vẫn được duy trì Do đó, một chủ nợ không có bảo đảm chỉ có quyền yêu cầu kê biên và bán đấu giá bất kỳ một tài sản nào của người mắc nợ ở thời điểm kê biên mà sẽ không có quyền này đối với những tài sản đã chuyển nhượng trước khi nợ đến hạn đòi Mặt
Trang 30khác, cần chú ý rằng sản nghiệp không chỉ là tài sản hiện có mà còn bao gồm
cả những tài sản sẽ có của chủ sở hữu
Tài sản nợ thuộc về sản nghiệp là tất cả những nghĩa vụ tài sản của một
người, hay nói một cách đơn giản hơn đó là những gì còn lại của khối tài sản sau khi đã trừ đi các giá trị của các nghĩa vụ tài sản Trong kinh tế học, có khái niệm tài sản có ròng (actif net) của sản nghiệp Khi các tài sản có ròng có giá trị dương, ta nói sản nghiệp có khả năng thanh toán; và ngược lại, nếu đó
là một giá trị âm, đồng nghĩa với việc sản nghiệp không có khả năng thanh toán những nghĩa vụ có liên quan Mặc dù vậy, dù có khả năng thanh toán hay không, sản nghiệp luôn luôn tồn tại
Xét trên các hình thức biểu hiện, người ta sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ sản nghiệp thương mại như “cửa hàng thương mại”, “cơ sở kinh doanh” Sản nghiệp thương mại không phải là bản thân doanh nghiệp mà chỉ
là một trong các nhân tố của doanh nghiệp Sản nghiệp thương mại bao gồm
cả những yếu tố hữu hình (như hàng hóa, máy móc, xe cộ, các vật dụng khác)
và cả những yếu tố vô hình (như mạng lưới khách hàng, mạng lưới cung cấp ứng dụng dịch vụ, quyền thuê mượn tài sản, tên thương mại, thương danh, biển hiệu, bằng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, mẫu mã …) Các yếu tố vô hình của sản nghiệp thương mại bao gồm:
Mạng lưới tiêu thụ hàng hóa và cung ứng dịch vụ là kết quả của những
nỗ lực phát huy tài năng và sự khéo léo của thương nhân nhằm thu hút khách hàng để tiêu thụ hàng hóa mà mình sản xuất Sự phát triển của mạng lưới tiêu thụ hàng hóa hay cung cấp dịch vụ lệ thuộc rất nhiều vào yếu tố khách quan (tình hình kinh tế xã hội của quốc gia và khu vực; thị hiếu và nhu cầu của người tiêu dùng, thời điểm kinh doanh, tốc độ đô thị hóa, điều kiện tự nhiên, môi trường ) cũng như yếu tố chủ quan (sự nhạy bén và linh hoạt của chính sách tiếp thị, uy tín của thương hiệu, ý chí của bạn hàng …)
Tên thương mại – là danh hiệu dùng trong giao dịch của thương nhân
Tên thương mại là một yếu tổ của sản nghiệp thương mại và có thể chuyển
Trang 31nhượng Ở các nước có nền kinh tế thương mại phát triển, có một số tên
thương mại được định giá cao Ví dụ như Cocacola, Toyota, Google…
Biển hiệu là dấu hiệu gắn liền với cơ sở sản xuất kinh doanh nhằm giúp
phân biệt cơ sở này với cơ sở khác Cũng như tên thương mại, biển hiệu chỉ
có thể là đối tượng của quyền sở hữu được pháp luật bảo vệ khi thương nhân được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Pháp luật Việt Nam hiện hành chỉ mới dự liệu các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu biển hiệu trong tập quán
và trong các quy phạm địa phương trong khi nhu cầu này trên thực tế của dân
sự là rất lớn, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế thị trường cũng như chính sách chống cạnh tranh không lành mạnh đã được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam thời gian gần đây [22, tr 219]
Như vậy, sản nghiệp thương mại không đơn thuần chỉ bao gồm các tài sản là vật có thực mà nó còn là những tài sản vô hình của doanh nghiệp Vì vậy, người ta không thể coi việc góp vốn bằng sản nghiệp thương mại như là góp vốn bằng vật Đồng thời, sản nghiệp thương mại mặc dù các yếu tố của quyền sử hữu trí tuệ nhưng nó lại bao gồm cả các tài vật Chình vì vậy, người
ta thường tách việc góp vốn bằng sản nghiệp thương mại thành một mục riêng khác với việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ
Việc góp vốn bằng sản nghiệp thương mại gần giống với việc bán sản nghiệp thương mại và phải được các bên thỏa thuận bằng văn bản liệt kê rõ từng mục Điều đó có nghĩa là việc bán sản nghiệp thương mại là việc chuyển nhượng tổng thể các yếu tố của sản nghiệp thương mại cho người khác mà trong đó nhất thiết phải có yếu tố khách hàng, bởi khách hàng là thành tố chính của một sản nghiệp thương mại Tuy nhiên, bởi nhiều yếu tố khác nhau
cả vô hình và hữu hình mà có thể tách ra một cách độc lập, nên việc không liệt kê yếu tố nào vào văn bản hợp đồng, thì yếu tố ấy coi như không bị bán Ngoài ra việc góp vốn bằng sản nghiệp thương mại còn lệ thuộc vào các quy tắc bán sản nghiệp thương mại được quy định trong luật thương mại
1.1.3.6 Góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ
Trang 32Luật Doanh nghiệp 2014 có qui định rành mạch về góp vốn bằng quyền
sở hữu trí tuệ rằng:
“Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn” (Điều 35, khoản 2)
Theo Luật sở hữu trí tuệ thì quyền sở hữu trí tuệ bao gồm quyền tác giả
và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng Những hình thức sở hữu trí tuệ chủ yếu là bằng sáng chế, quyền tác giả (bản quyền), nhãn hiệu và bí mật thương mại
Quyền tác giả hay bản quyền là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác
phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu, trong đó bao gồm quyền tái bản, in ấn
và trình diễn hay trưng bày tác phẩm của mình trước công chúng Bản quyền chủ yếu nhằm bảo vệ âm nhạc, phim ảnh, kiến trúc, các tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị Các chương trình máy tính và bản ghi âm, ghi hình cũng được bảo hộ bằng quyền tác giả Chỉ tác giả hay những người được tác giả trao quyền – chẳng hạn như nhà xuất bản – mới có toàn quyền khiếu nại về bản quyền Tuy nhiên cho dù là ai đang sở hữu bản quyền đi chăng nữa thì quyền đó cũng có giới hạn Ví dụ như người ta có thể sao chép một tác phẩm với mục đích học tập, phê bình, đưa tin hay giảng dạy
Sáng chế là đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, người có sáng chế hay
người đã tạo ra một phát minh được cấp bằng sáng chế Bằng sáng chế có thể coi là một hợp đồng giữa một bên là toàn thể xã hội và một bên là cá nhân nhà phát minh Theo các điều khoản của hợp đồng này, nhà phát minh được toàn quyền ngăn chặn người khác không được áp dụng, sử dụng và bán một phát minh đã được cấp bằng sáng chế trong một khoảng thời gian nhất định – hầu hết các nước quy định là 20 năm – để đổi lại việc nhà phát minh phải công bố chi tiết phát minh của mình cho công chúng
Trang 33Bí mật thương mại bao gồm bất cứ thông tin nào có thể được sử dụng
trong việc điều hành doanh nghiệp và có giá trị lớn trong việc tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai hay trong thực tại đều được coi là bí mật thương mại
Ví dụ về bí mật thương mại có thể là công thức sản xuất ra các sản phẩm, chẳng hạn như công thức sản xuất Coca-Cola; việc thu thập thông tin nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh cho một doanh nghiệp, chẳng hạn như cơ sở dữ liệu
về danh sách khách hàng; bí mật thương mại thậm chí gồm cả chiến lược quảng cáo và quy trình phân phối Khác với bằng sáng chế, bí mật thương mại
về lý thuyết được bảo vệ vô thời hạn và không cần thủ tục đăng ký gì Tuy nhiên, bí mật thương mại thường dễ bị lộ và việc bảo vệ bí mật thương mại đòi hỏi chính bản thân chủ thể phải có các biện pháp bảo vệ bí mật
Nhãn hiệu hàng hóa là chỉ số chỉ dẫn thương mại, là dấu hiệu phân biệt
để xác định một loại hàng hóa hay dịch vụ do một cá nhân hay công ty cụ thể sản xuất hoặc cung cấp Nhãn hiệu đặc biệt quan trọng khi người sản xuất và tiêu dùng ở cách xa nhau Ở hầu hết các nước trên thế giới, nhãn hiệu cần phải được đăng ký thì mới có thể bảo hộ được và việc đăng ký cần phải được gia hạn Thế nhưng trong khi bản quyền và bằng sáng chế tự hết hạn thì tên của công ty phục vụ khách hàng tốt sẽ ngày càng trở nên có giá, nghĩa là việc bảo
hộ nhãn hiệu là không thời hạn [29, 42]
Ngoài ra còn có các hình thức sở hữu trí tuệ đa dạng khác như chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng mỹ thuật hay kiểu trang trí của các vật dụng cũng được bảo
hộ theo nhiều cách khác nhau Nhiều kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ như đối với sáng chế về kiểu dáng Và quyền sở hữu trí tuệ còn có những loại hình đặc biệt là các giống cây trồng mới, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, tên miền trên internet
Như vậy, quyền sở hữu trí tuệ là một tài sản vô hình tuyệt đối bao gồm: quyền sở hữu công nghiệp, bản quyền tác giả, bằng sáng chế, bí mật thương mại, nhãn hiệu hàng hóa và các loại sở hữu trí tuệ khác như: chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, tên miền internet, phần góp vốn trong công ty có tư cách pháp nhân và một số yếu tố của sản nghiệp thương mại không thể nhận
Trang 34biết được bằng giác quan mà phải thông qua những ý niệm về những mối quan hệ pháp luật gữia người có quyền khai thác lợi ích của tài sản và người thứ ba Thông qua việc khai thác những loại tài sản vô hình này, người ta có thể thu về những lợi ích vật chất nhất định khi sử dụng chúng
Do sở hữu trí tuệ cũng có nhiều đặc tính của sở hữu cá nhân và sở hữu tài sản thực sự nên những quyền lợi gắn liền với sở hữu trí tuệ cho phép
chúng ta có thể mua, bán, cấp phép hay thậm chí là cho không sở hữu trí tuệ của chúng ta như tài sản thông thường và việc góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ cũng giống như việc góp vốn bằng những tài sản khác Luật về sở hữu trí tuệ cho phép chủ sở hữu, người phát minh và tác giả bảo vệ tài sản của mình trước việc sử dụng trái phép Việc góp vốn bằng các tài sản này buộc người góp vốn phải bảo đảm cho công ty khai thác tái sản để đem lại các lợi ích phát sinh từ đó Ngược lại người góp vốn có quyền lợi tương ứng trong công ty Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, do tài sản trí tuệ có yếu tố rất động và vô hình, nên việc góp vốn phụ thuộc rất nhiều vào sự thỏa thuận của các thành viên và bị điều tiết bởi pháp luật về sở hữu trí tuệ [22, tr
182 - 183]
1.1.3.7 Góp vốn bằng tri thức
Trong nền kinh tế tri thức, người ta thường nhắc đến các yếu tố lớn nhất đang làm biến đổi các nước trên thế giới Đó là chủ nghĩa tư bản tài chính (finance capitalism), chủ nghĩa tư bản tri thức (knowlege capitalism) và chủ nghĩa tư bản xã hội (social capitalism) mà tại đó chủ nghĩa tư bản được hiểu là một cuộc vận động làm phát sinh ra các ý tưởng mới và đưa chúng vào các sản phẩm và dịch vụ trong lĩnh vực thương mại Vậy góp vốn bằng tri thức là một vấn đề trọng yếu của nền kinh tế công nghiệp, hậu công nghiệp hay kinh tế tri thức
Ngày nay người ta thường nhấn mạnh tài sản trí tuệ hay sở hữu trí tuệ Chúng được xem là một bộ phận quan trọng của tri thức Điều đó có nghĩa là khái niệm tài sản và khái niệm tri thức có sự giao thoa, nhưng không trùng
Trang 35khít với nhau Nếu định nghĩa tri thức trên phương diện hành vi có thể quan sát được, thì tri thức là khả năng của một cá nhân hay của một nhóm thực hiện, hoặc chỉ dẫn, xui khiến những người khác thực hiện các quy trình nhằm tạo ra các sự chuyển hóa có thể dự báo được của các vật liệu Tri thức có thể được điển chế hóa và có thể sao chép hoặc có thể ở dạng ẩn không thể sao chép khi ở trong đầu của các cá nhân hoặc các chu trình hoạt động của các doanh nghiệp Những tri thức ẩn không thể điển chế hóa được, nên khó có thể mua và bán Chúng khác với bốn loại tài sản trí tuệ là nhãn hiệu thương mại, giấy chứng nhận sáng chế, bản quyền và kiểu dáng công nghiệp đã đăng ký
mà được xem là tài sản vì có thể trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam
Tri thức ẩn được biểu hiện ở vốn nhân lực và tổ chức, nên mang đến cách thức góp vốn khác với cách thức góp vốn bằng tài sản Khi nghiên cứu
về kinh tế tri thức, người ta nhận định: khả năng tri thức “ngầm” quan trọng nhất có lẽ là khả năng học hỏi liên tục và đạt tới những kỹ năng mới Do đó, góp vốn bằng tri thức, cụ thể như tri thức ẩn, là góp vốn bằng chính khả năng như nghiên cứu thị trường, tổ chức sản xuất, kinh doanh, các phản ứng nhạy bén với thị trường [22, tr 184 - 186]
Có thể lấy một ví dụ thực tế cho việc góp vốn bằng tri thức là một Thầy giáo giỏi có uy tín tham gia thành lập trường tư cùng với các thành viên khác Thầy giáo hoàn toàn có quyền cam kết sẽ làm việc cho trường trong một thời gian Trong thời gian đó, danh tiếng và tri thức của thầy này sẽ làm lợi cho trường rất nhiều, có thể nói là có ý nghĩa quyết định với việc trường tư này có thể tồn tại được hay không Do đó, việc thầy giáo này được nhận lại một phần quyền trong trường dưới dạng vốn góp là hoàn toàn hợp lý Hơn nữa, khi đã gắn danh tiếng của mình với trường đó, thầy này cũng có nhu cầu tham gia quản lý nhà trường đó để có thể đảm bảo trường sẽ hoạt động một cách quy củ
và danh tiếng của mình gắn với trường đó sẽ không bị tổn hại Tóm lại, việc
Trang 36góp vốn bằng tri thức và danh tiếng chính là giải pháp hợp lý nhất để ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên, ở đây là giữa thầy giáo và nhà trường
Như vậy, vấn đề quan trọng đặt ra với hình thức góp vốn này là người góp vốn bằng tri thức phải đảm bảo việc mang tri thức của mình ra phục vụ một cách mẫn cán và trung thực cho lợi ích công ty, có nghĩa là người đó phải thực hiện một nghĩa vụ mẫn cán và trung thực cho trái chủ là công ty do chính người đó cam kết lập ra
Tuy nhiên, việc góp vốn bằng tri thức – một khả năng trừu tượng, sẽ mang lại khó khăn trên nhiều phương diện như: tính giá trị phần vốn góp để chia sẻ quyền lợi trong công ty; chứng minh sự vi phạm nghĩa vụ của người góp vốn Những khó khăn này lệ thuộc hoàn toàn vào sự đánh giá và thỏa thuận các các thành viên công ty Tại đây cần nhấn mạnh, tri thức khi được góp vốn hoàn toàn không biến khỏi các thành viên góp nó, có nghĩa là nó chỉ tồn tại nơi các thành viên và càng được sử dụng thì càng được củng cố và phát triển Vậy việc bảo đảm cho sự độc quyền sử dụng tri thức đó của công
ty là một vấn đề lớn cần tới sự trung thực của người góp vốn Sự tin tưởng lẫn nhau, hợp tác với nhau là một yêu cầu có tính thiết yếu trong nền kinh tế hậu công nghiệp và kinh tế tri thức hiện nay Vì vậy, mặc dù chưa nhận thức một cách đầy đủ, đúng đắn, nhưng ý tưởng người có chuyên môn và người có tài sản cùng nhau góp vốn làm ăn dưới hình thức công ty hợp danh theo pháp luật Việt Nam là đã hướng tới một phần nào quan niệm này
Trang 37vốn Có quan niệm cho rằng, góp vốn bằng công lao hay việc làm phải là góp vốn bằng một công việc điều khiển, chỉ huy mà không phải công việc của người thừa hành, vì công ty có nguyên tắc bình đẳng giữa các thành viên Tuy nhiên, có thể nhận thấy là công sức lao động không có gì đặc biệt sẽ khó có thể được đóng góp vào công ty để người góp vốn trở thành một trong những ông chủ của nó, vì công ty dễ dàng mua được công sức lao động như vậy với giá hợp lý mà không phải trả thêm lãi và chia sẻ quyền lực quản lý của thành viên khác trong công ty Nhưng tại đây có hai trường hợp cần lưu ý: một là, công sức được bỏ ra có thành tố tri thức hoặc kinh nghiệm; hai là, người góp vốn bằng công sức được tin tưởng hơn những người khác khi công ty dự định thành lập là một công ty đối nhân Trường hợp thứ nhất có thể nhầm lẫn với góp vốn bằng tri thức Tuy nhiên, nếu thành tố tri thức ít hơn so với lao công, thì có thể nói, việc góp vốn đó là góp vốn bằng công việc Đối với trường hợp này, công ty đối vốn có thể cũng cần, chẳng hạn người lái xe giỏi, thông thạo được ở nhiều thành phố góp vốn bằng khả năng này của mình Trường hợp thứ hai tùy thuộc hoàn toàn vào sự lựa chọn của các thành viên [24, tr 71]
Thừa nhận việc góp vốn bằng công sức là hướng tới yếu tố hiệu quả của việc góp vốn, đảm bảo nguyên tắc tự do ý chí, và bảo đảm cho công sức lao động xã hội Cũng giống với góp vốn bằng tri thức, việc góp vốn bằng lao công khiến cho người góp vốn bị ràng buộc nghĩa vụ mẫn cán và trung thực
Do đó, nó cũng có hậu quả tương tự với góp vốn bằng tri thức
Bộ luật Dân sự Pháp qui định: Phần góp vốn bằng công sức lao động không được tính vào vốn của công ty (không trị giá được bằng tiền), nhưng người góp vốn bằng công lao động được nhận cổ phần của công ty, có quyền chia lãi và tài sản có, đồng thời cũng phải chịu lỗ
Như vậy, phần vốn góp bằng công sức nếu có được định giá thì cũng không được tính vào vốn điều lệ của công ty Tuy nhiên, người góp vốn bằng công sức vẫn được hưởng quyền lợi tương ứng với giá trị được định giá của công sức
Trang 381.1.4 Định giá tài sản góp vốn
Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kĩ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp
Vì vậy Luật Doanh nghiệp 2014 qui định:
“1 Tài sản góp vốn không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá
chuyên nghiệp định giá và được thể hiện thành Đồng tiền Việt Nam
2 Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí hoặc do một tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá Trường hợp tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được đa số các thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận
Trường hợp tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế
3 Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do chủ sở hữu, hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần và người góp vốn thoả thuận định giá hoặc do một
tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá Trường hợp tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và doanh nghiệp chấp thuận
Trường hợp nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì người góp vốn, chủ sở hữu, thành viên hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, thành viên hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời
Trang 39điểm kết thúc định giá; đồng thời, liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại
do việc cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế” (Điều 37)
Các quy định này cho thấy đối tượng là tài sản của hành vi góp vốn vào công ty phải được định giá, nếu các tài sản đó không phải là tiền Trên cơ sở đinh giá như vậy, vốn điều lệ của công ty mới được xác định rõ ràng, quyền lợi của các bên được bảo đảm đúng mức
Định giá tài sản vào thời điểm góp vốn thành lập công ty Theo đó, khi xuất hiện đối tượng tài sản cần phải được định giá, tất cả thành viên sáng lập cùng nhau bàn bạc, thống nhất để quyết định giá trị tài sản
Trong thực tế hoạt động định giá tài sản góp vốn, để tìm được sự nhất trí cho việc xác định giá trị tài sản không hề đơn giản Do đó, việc định giá tài sản cần có sự hợp tác cao giữa những người có thẩm quyền định giá để đi đến một mức giá cụ thể, phản ánh xác thực về hiện trạng tài sản mà nhà đầu tư thấy rõ là hợp lý, đảm bảo không gây ra tranh chấp
Nguyên tắc định giá tài sản góp vốn mà Luật doanh nghiệp đề ra suy cho cùng cũng là trên cơ sở bảo đảm quyền lợi cho nhà đầu tư, cho công ty tiếp nhận vốn và cả bên thứ ba Tất cả thành viên là người định giá tài sản là vốn góp Một tổ chức định giá chuyên nghiệp có thể có thẩm quyền định giá theo yêu cầu của các viên
Quy định trên đã xác định việc định giá tài sản góp vốn ở hai thời điểm thành lập công ty và khi công ty đang hoạt động chỉ khác nhau ở thẩm quyền định giá còn trách nhiệm và chu trình định giá là hoàn toàn giống nhau
Những người có thẩm quyền có thể sẽ trực tiếp tiến hành hoặc thuê những công ty kiểm toán hay các tổ chức kinh tế có chức năng định giá tài sản Nếu những người có thẩm quyền trực tiếp định giá tài sản góp vốn thì họ phải thành lập Hội đồng định giá Và tùy thuộc vào thời điểm tài sản được đem góp vào công ty, thành phần Hội đồng định giá sẽ khác nhau
Trang 40Trong quá trình hoạt động, Hội đồng định giá được áp dụng cho ba loại hình công ty cổ phần, công ty trách nhiệm, công ty hợp danh lần lượt là Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên và tất cả các thành viên hợp danh
Quyết định giá trị tài sản góp vốn sẽ được Hội đồng quản trị công ty cổ phần, Hội đồng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, tất cả các thành viên hợp danh công ty hợp danh bàn bạc trong cuộc họp Và việc định giá tài sản
để tiếp nhận thành viên đồng nghĩa với sửa đổi Điều lệ chỉ được thông qua khi đáp ứng được tỉ lệ luật định Luật cũng quy định công ty có thể thuê tổ chức định giá chuyên nghiệp để định giá tài sản góp vốn Quy định của Luật doanh nghiệp về thẩm quyền định giá đã tạo điều kiện thuận lợi cho công ty định giá tài sản góp vốn
Đối với trường hợp công ty tự tiến hành định giá tài sản góp vốn, tất cả thành viên liên đới chịu trách nhiệm về giá trị tài sản Họ phải cùng thỏa thuận để định đoạt giá trị của tài sản góp vốn Khi xảy ra việc tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế của nó tại thời điểm góp vốn, theo quy định của luật doanh nghiệp, cả người góp vốn và người định giá phải góp
đủ số vốn như đã được định giá Đây là một quy định cần được xem xét trên
cả hai phương diện: một là các bên đã không ý thức được giá trị thực của tài sản, hai là các bên đã cố tình định giá cao hơn giá trị thực tế Tuy nhiên, dù ở trường hợp nào, khi gây thiệt hại cho người khác thì vẫn phải đặt ra trách nhiệm bồi thường Song luật doanh nghiệp chưa xác định rõ tỉ lệ trách nhiệm giữa bên góp vốn và người định giá trong vấn đề này, vì điều đó mà tranh chấp có thể xảy ra
Trường hợp công ty thuê tổ chức kinh tế có chức năng định giá tài sản thì trách nhiệm được nói đến ở đây thuộc về bên được thuê định giá tài sản Quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ được xác định trong hợp đồng Tổ chức được thuê định giá tài sản sẽ phải chịu trách nhiệm về kết quả thẩm định tài sản trước khách hàng của mình