Microsoft Word TTHCM về kinh tế quân sự1 doc HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN KHOA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH � � � � TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ KINH TẾ VÀ QUÂN SỰ ĐỀ TÀI NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MNH VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐI ĐÔI VỚI THỰC HÀNH TIẾT KIỆM VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Giảng viên hướng dẫn T S Lê Đình Năm Sinh viên Nguyễn Trường Hoàng Linh MSSV 1955330022 Lớp Tư tưởng Hồ Chí Minh K39 Hà Nội – 20 2 2 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 4 1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 4 2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆ.
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN KHOA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Giảng viên hướng dẫn: TS Lê Đình Năm
Sinh viên : Nguyễn Trường Hoàng Linh
MSSV : 1955330022
Hà Nội – 2022
Trang 22 2.Nhiệm vụ nghiên cứu 5
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trang 3THỰCHÀNHTIẾTKIỆM
7 1.1 Mục tiêu của phát triển kinh tế đi đôi với thực hành tiết kiệm
7 1.2 Nội dung chủ yếu của tư tưởng phát triển kinh tế đi đôi với thực hành tiết kiệm
10 1.3 Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và thực hành tiết kiệm
15 CHƯƠNG 2
19VẬNDỤNGTƯTƯỞNGHỒCHÍMINHVỀPHÁTTRIỂNKINHTẾ ĐI ĐÔI VỚI THỰC HÀNH TIẾT KIỆM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
19 2.1 Thực trạng, sự cần thiết phải vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế đi đôi với thực hành tiết kiệm trong thời kỳ hiện nay 19
2.2.Giải pháp và phương hướng 31
KẾT LUẬN 35
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
3
Trang 4MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệtxuất Suốt cuộc đời, Người phấn đấu hi sinh vì độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân Cùng với sự nghiệp của Đảng ta, dân tộc ta Hồ Chí Minh đã để lại cho hậu thế một tài sản tinh thần vô giá Trong hệ thống tư tưởng của Người, tư tưởng kinh tế làm một trong những tư tưởng mẫu mực của sự vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin
và những quy luật kinh tế khách quan vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam Tuy nhiên, theo Hồ Chí Minh đi đôi với phát triển kinh tế, cần phải thựchành tiết kiệm, những tư tưởng đó đã chỉ đạo cho Đảng ta hoạch định đường lối chính sách, kinh tế trong từng thời kỳ, từng giai đoạn của cách mạng nhằmđảm bảo kháng chiến thắng lợi và kiến quốc thành công Ngày nay, điều kiện trong nước và thế giới đã có những biến đổi sâu sắc, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng kinh tế nói riêng vẫn có ý nghĩa lớn lao
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) đã xác định: Đường lối đổi mới, tạo cho nền kinh tế Việt Nam đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhưng cũng gặp không ít khó khăn, thách thức Bốn nguy cơ mà Hội nghị toàn quốc nhiệm kỳ của Đảng (1994) đã xác định trong đó có nguy
cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, ngày càng biểu hiện rõ nét Thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải đi sâu nghiên cứu tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh nhằm rút ra những bài học và vận dụng tư tưởng đó cho phù hợp với bối cảnh quốc tế mới
để góp phần đắc lực vào việc phát triển nền kinh tế nói chung, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thành công nói riêng cùng với
sự phát triển kinh tế của đất nước Hồ Chí Minh cũng đưa ra những yêu cầu mới cho việc thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí của Đảng và nhân dân ta Người yêu cầu không chỉ thực hành tiết kiệm chung mà phải tiết kiệm ở từng ngành, từng khối, từng vùng đặc biệt là trong từng lớp cán bộ, công nhân viênchức của đất nước
4
Trang 5Với mong muốn góp phần làm sáng tỏ thêm quan điểm của Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế, đánh giá quá trình vận dụng tư tưởng phát triển kinh tế đi đôi với thực hành tiết kiệm của Hồ Chí Minh trong thời kỳ quá độ ở
Việt Nam, em xin được chọn đề tài: “Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về
phát triển kinh tế đi đôi với thực hành tiết kiệm và sự vận dụng của Đảng trong thời kỳ đổi mới” làm đề tài cho bài tiểu luận của mình
2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1.Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ cơ sở lý luận, cũng như thực tiễn vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế đi đôi với thực hànhtiết kiệm, khẳng định tính thực tiễn của đề tài
- Phân tích một cách có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về nội dung phát triển kinh tế đi đôi với thực hành tiết kiệm
- Làm rõ sự vận dụng của Đảng ta về vấn đề phát triển kinh tế đi đôi với thực hành tiết kiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
- Đưa ra một số giải pháp, phương hướng để thực hiện thật tốt việcvận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế đi đôi với thực hành
tiết kiệm trong giai đoạn hiện nay 3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế đi đôi với thực hành tiết kiệm và sự vận dụng của Đảng trong thời kỳ đổi mới
3.2.Phạm vi nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế đi đôi với thực hành tiết kiệm
4 Cơ sở phương pháp luận
4.1 Cơ sở phương pháp luận
5
Trang 6Tiểu luận được thực hiện trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế đi đôi với thực hành tiết kiệm
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích, tổng hợp, nghiên cứu tư liệu, sự kiện lịch sử Đây là nguyên tắc quan trọng nhất đối với các công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp kết hợp lí luận và thực tiễn
5 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài
5.1 Ý nghĩa lí luận
Tiểu luận đã hệ thống lại những nghiên cứu, tư tưởng của Hồ Chí Minh
về phát triển kinh tế đi đôi với thực hành tiết kiệm từ đó chỉ ra sự vận dụng của Đảng ta trong thời kỳ mới
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Tiểu luận chứng minh việc kế thừa Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triểnkinh tế đi đôi với thực hành tiết kiệm là yếu tố cần thiết cho sự phát triển của
đất nước trong thời kỳ đổi mới
6 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận được kết cấu thành 2 chương:
Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế đi đôi với thực hành
tiết kiệm
Chương 2: Vận dụng của Đảng trong thời kỳ đổi mới
NỘI DUNG Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐI ĐÔI VỚI
6
Trang 7THỰC HÀNH TIẾT KIỆM
1.1 Mục tiêu của phát triển kinh tế đi đôi với thực hành tiết kiệm
1.1.1 Phát triển sản xuất đi đôi với thực hành tiết kiệm là nhằm nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi kinh tế là cơ sở, là nền tảng để chăm lo phát trển con người, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội… Để cải tạo nền kinh tế cũ, xây dựng
và phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa, theo Người, phải huy động sức lực của toàn dân, mọi cấp, mọi ngành thi đua đẩy mạnh sản xuất
Người nêu rõ: “Nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của chúng ta hiện nay là phát triển sản xuất, để nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân Muốn có chủ nghĩa xã hội thì không có cách nào khác là phải dốc lực lượng của mọi người ra để sản xuất Sản xuất là mặt trận chính của chúng ta hiện nay ở miền Bắc, … khẩu hiệu của chúng ta là: tất cả phục vụ sản xuất! Tất cả chúng ta, bất kỳ ở cấp nào, ngành nào, đều phải góp sức làm cho sản xuất pháttriển”
Trong các bài nói chuyện với cán bộ và nhân dân các địa phương,
Người tiếp tục khẳng định tính tất yếu của việc đẩy mạnh sản xuất Người coi đẩy mạnh sản xuất là vấn đề trọng tâm, gốc rễ của mọi vấn đề kinh tế Vì vậy,tất cả mọi đường lối, chủ trương, chính sách kinh tế của Đảng ta đều không ngừng đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm để nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân Người nói: “Tiết kiệm là cốt để giúp vào tăng gia sản xuất, mà tăng gia sản xuất là để dần dần nâng cao mức sống của bộ đội, cán
bộ và nhân dân.”
Ngay khi đất nước được độc lập, Hồ Chí Minh đã quan tâm đến việc vận động nhân dân gia tăng sản xuất để đẩy lùi nạn đói và ổn định đời sống Trong thư gửi nông gia Việt Nam, Người nhắc nhở: “Hiện nay chúng ta có haiviệc quan trọng nhất: cứu đói ở Bắc và kháng chiến ở Nam “Thực túc” thì
“binh cường”, cấy nhiều thì khỏi đói” Vì vậy, Người kêu gọi nông dân:
7
Trang 8“Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do, độc lập” Thực hiện lời kêu gọi đó của Người, nhân dân cả nước
đã đoàn kết và tích cực thi đua sản xuất với khẩu hiệu “tấc đất tấc vàng”, nhờ
đó, nông nghiệp được khôi phục và phát triển, nạn đói được đẩy lùi, đời sống của nhân dân được nâng lên một bước
Khi đất nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, để đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến, Người đề nghị phải đẩy mạnh “Tăng gia sản xuất để làm cho dân ai ũng đủ mặc, đủ ăn”
Theo Hồ Chí Minh, muốn tăng gia sản xuất có hiệu quả, phải huy độngtoàn bộ sức lực của dân, trí tuệ của dân, của cải của dân nhằm đem lại lợi ích thiết thực cho dân Với Người, tăng gia sản xuất phải đi liền với tiết kiệm, Người nói: “Làm cho nhiều, tiêu thì ít, làm chóng tiêu chậm, tức là đầy đủ Nhờ đó mà nghèo trở nên đủ, đủ trở nên giàu, giàu thì giàu thêm” Bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Người xác định: “Đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lênchủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”
Vì vậy, trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nềnkinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, đó là một cuộc biến đổi toàn diện, sâu sắc và khó khăn Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới chưa từng có trong lịch sử dân tộc Nhờ xác định đúng đặc điểm, nội dung, nhiệm vụ của thời kỳ quá độ, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã chỉ rõ những việc cần làm trong phát triển kinh tế, văn hoá Trong
đó, Người luôn đề cao vai trò của cán bộ và nhân dân trong việc đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí để xây dựng và phát triển nền kinh tế quốc dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong đời sống nhân dân Người nhiều lần khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân” Để thực hiện mục đích cao đẹp đó, theo Hồ Chí Minh, nhân dân lao động phải tự xây lấy, phải phát huy tính độc lập, sáng tạo của mỗi người Muốn vậy, nhân dân ta phải ra sức
8
Trang 9thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí và quanliêu
Đối với Chính phủ, Người nhấn mạnh: “Hết sức chăm lo đời sống nhândân Phải ra sức phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm, lại phải phân phối cho công bằng hợp lý, từng bước cải thiện việc ăn, mặc, ở, học, phục vụ sức khoẻ và giải trí của nhân dân” Có lúc Người yêu cầu: “… Lâu nay, chúng ta đòi hỏi nhân dân đóng góp Từ đây, chúng ta phải ra sức hướng dẫn và giúp
đỡ nhân dân hơn nữa trong việc sản xuất và tiết kiệm, để cải thiện đời sống của bộ đội và nhân dân, để làm cho dân giàu, nước mạnh”
1.1.2 Phát triển kinh tế đi đôi với thực hành tiết kiệm nhằm giáo dục nhiệm vụ dân chủ cho toàn dân
Ngoài mục tiêu kinh tế, kế hoạch đẩy mạnh sản xuát, thực hành tiết kiệm nhằm mục tiêu giáo dục chính trị sâu sắc cho toàn dân Người nói: “Nó giáo dục cán bộ và nhân dân quyền hạn và nhiệm vụ dân chủ Nó thắt chặt thêm mối đoàn kết giữa các tầng lớp nhân dân Nó nâng cao trình độ chính trị của cán bộ, của chiến sĩ và nhân dân Nó gắn liền với lòng yêu nước với tinh thần quốc tế”
Phát triển kinh tế, thực hành tiết kiệm không chỉ nhằm mục tiêu kinh tế
mà nó còn có ý nghĩa chính trị to lớn: Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và giáo dục nhiệm vụ cách mạng cho cán bộ, nhân dân Bởi theo Người, chính trị là sự tham gia vàocông việc kinh tế, là việc vạch hướng đi cho kinh tế, xác định những hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nền kinh tế Người nói: “Chính trị bây giờ phải đi với kinh tế, công tác chính trị là mạch sống của công tác kinh tế”
Thực tiễn lịch sử cách mạng dân tộc cho thấy, sự kết hợp đẩy mạnh sảnxuất và thực hành tiết kiệm có vai trò và ảnh hưởng lớn vì có nội dung cụ thể nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị, mục tiêu cách mạng của từng chặng
đường, từng thời kỳ Chính nhiệm vụ chính trị, mục tiêu cách mạng đã định hướng đúng đắn cho cả dân tộc, mọi tổ chức, đơn vị, cá nhân có ý thức về
9
Trang 10trách nhiệm của mình và tạo nên tính cách mạng và sức sống của phong trào đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm
1.2 Nội dung chủ yếu của tư tưởng phát triển kinh tế đi đôi với thực hành tiết kiệm
1.2.1 Phát triển sản xuất đi đôi với thực hành tiết kiệm là trách
nhiệm, là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi công dân đối với Tổ quốc Đẩy
mạnh sản đi đôi với thực hành tiết kiệm là nét nổi bật trong tư duy kinh tế của
Hồ Chí Minh Người cho rằng, giữa sản xuất và tiết kiệm luôn gắn liền với nhau như một phương châm thực hành lao động cho nền kinh tế vốn nghèo nàn, lạc hậu như nước ta Đẩy mạnh tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm
là trách nhiệm, là một nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi công dân đối với Tổ quốc Vì vậy, toàn dân phải hiểu rằng tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệmtức là yêu nước, là ích nước, lợi nhà Cho nên, mỗi người dân phải có ý thức
tự nguyện, tự giác, phải có lòng say mê nhiệt tình tham gia lao động, góp phần xây dựng nền kinh tế nước nhà
Người hiểu rõ giá trị của việc tăng gia sản xuất và tiết kiệm trong xây dựng kinh tế nhất là đối với nước nghèo, đời sống thấp kém, Người cho rằng muốn vươn lên thì vấn đề quan trọng là phải cần cù lao động và tiết kiệm Người giải thích: “Nước ta còn nghèo, muốn sung sướng thì phải tự lực cánh sinh, cần cù lao động Phải cố gắng lao động sản xuất – lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta Trong xã hội ta, không có nghề nào thấp kém, chỉ những kẻ lười biếng, ỷ lại mới đáng xấu hổ”
Do đó, mọi người đều phải siêng năng, cần cù lao động, coi đó vừa là nguồn sáng, vừa là nghĩa vụ và là niềm hạnh phúc của chúng ta Người còn nói:
“Người siêng năng thì mau tiến bộ
Cả nhà siêng năng thì chắc ấm no
Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh
Cả nước siêng năng thì nước mạnh giàu”
10
Trang 11Người lên án tính lười biếng: “Lười biếng là kẻ địch của chữ cần Vì vậy, lười biếng cũng là kẻ địch của dân tộc”
Hồ Chí Minh rất coi trọng người lao động, coi người lao động là vốn quý nhất và Người đòi hỏi phải tổ chức lao động cho tốt để tiết kiệm lao động,Người nói: “Phải biết quý trọng sức người là vốn quý nhất của ta Chúng ta cần hết lòng chăm sóc sức khoẻ và sử dụng thật hợp lý sức lao động của nhân dân ta”
Như vậy, quan điểm phát triển sản xuất đi đôi với thực hành tiết kiệm của Hồ Chí Minh là bằng mọi cách sử dụng có hiệu quả sức người, sức của cho công cuộc xây dựng kinh tế Sản xuất phải đi đôi với tiết kiệm, nếu sản xuất mà không biết tiết kiệm thì khác nào như gió vào nhà trống, tiết kiệm là nghĩa vụ của tất cả mọi người
Tuy nhiên, Người cho rằng tiết kiệm là không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi, nhưng “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn, không phải là xem đồng tiền to bằng cái nống, gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu Tiết kiệm không phải là ép bộ đội, cán bộ và nhân dân nhịn
ăn, nhịn mặc” Mà tiết kiệm là: “Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu Khi có công việc đáng làm, việc lợi ích cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng Như thế mới đúng là kiệm”
Quan điểm về tiết kiệm của Hồ Chí Minh mang nội dung khoa học, đó
là tích luỹ để có nhiều sản phẩm và để được tiêu dùng nhiều hơn, để xây dựng
cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hộ Tiết kiệm để sử dụng thời gian, nhân lực, tài lực, trí tuệ của con người một cách đạt hiệu quả hơn trong điều kiện cho phép Tiết kiệm là hình thức giáo dục, bồi dưỡng đạo đức cách mạng và huy động nguồn lực để xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội Cho nên, tiếtkiệm mang ý nghĩa tích cực
1.2.2 Tiết kiệm phải toàn diện, tiết kiệm ở mọi ngành
11
Trang 12Để giúp nhân dân thực hành tiết kiệm có hiệu quả nhằm tích trữ thêm vốn cho công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế, Hồ Chí Minh đề ra nội dung cụ thể của tiết kiệm là:
Thứ nhất, tiết kiệm sức lao động
Đây là nội dung quan trọng nhất trong tư tưởng tiết kiệm của Người Tiết kiệm sức lao động là phải biết tổ chức, sắp xếpp nhân lực cho hợp lý, cânđối, giảm bớt lao động dư thừa để nâng cao năng suất lao động của mỗi
người Người nói: “Chúng ta phải tiết kiệm sức lao động Thí dụ: Việc gì trước kia phải dùng 10 người, nay ta phải tổ chức sắp xếp cho khéo, phải nângcao năng suất của mỗi người, nhờ vậy mà chỉ dùng năm người cũng làm
được”
Người yêu cầu: “Giữa các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, văn hoá giáo dục… với nhau và trong mỗi ngành phát triển cân đối Trong nông nghiệp phải tính toán kỹ lưỡng xem cần bao nhiêu ruộng? Có bao nhiêu sức lao động? … Trong một nhà máy, cũng phải có cân đối Nếu chỉ cần 100 công nhân mà tuyển vào 150, thì lãng phí 50 người”
Người còn nhắc nhở: “Các cơ quan chính quyền đoàn thể, các cơ quan kinh tế và các Uỷ ban, cần phải nâng cao năng suất, giảm bớt số người (tinh giản)”
Thứ hai, tiết kiệm thời giờ
Hồ Chí Minh cho việc tiết kiệm thời giờ là cần có kế hoạch cụ thể, chi tiết, tính toán khoa học để giảm bớt thời gian cho mỗi sản phẩm, khắc phục thời gian nhàn rỗi, đẩy mạnh tăng năng suất lao động Người nói: “Chúng ta phải tiết kiệm thời giờ Việc gì trước kia phải làm 2 ngày, nay vì tổ chức sắp xếp khéo, năng suất cao, ta có thể làm xong trong 1 ngày” Bởi lẽ, Người cho rằng: “Thì giờ cũng cần phải tiết kiệm như của cải Của cải nếu hết, còn có thểlàm thêm Khi thời giờ đã qua rồi, không bao giờ kéo nở trở lại được Có ai kéo lại ngày hôm qua được không? Thánh hiền có câu: “Một tấc bóng là một thước vàng” Tục ngữ Âu nói: “Thời giờ tức là tiền bạc” Ai đưa vàng bạc vứt
đi, là người điên rồ Thì ai đưa thời giờ vứt đi, là người ngu dại” Do đó,
12
Trang 13chúng ta phải biết tiết kiệm thời giờ, làm gì cũng cần phải có kế hoạch cụ thể Người nhắc nhở: “Công việc bất kỳ to nhỏ, đều có điều nên làm trước, điều nên làm sau Nếu không có kế hoạch, điều nên làm trước mà để lại sau, điều nên làm sau mà đưa làm trước, như thế thì sẽ hao tổn thì giờ, mất công nhiều
mà kết quả ít” Thì giờ là vàng bạc Phải kiên quyết chống thói hội họp lu bù, mất thì giờ, hại sức khoẻ mà không kết quả thiết thực”
Thứ ba, tiết kiệm tiền của
Hồ Chí Minh yêu cầu tiết kiệm tiền của nghĩa là không phung phí
nguyên liệu, vật liệu và tiền của trong quá trình sản xuất và tiêu dùng Người cho rằng, phương châm để tiết kiệm phải do tất cả các cấp, các ngành, từng cánhân tự giác thi hành và tìm cách tổ chức, sắp đặt cho hợp lý Người thường xuyên nhắc nhở: “Chúng ta phải tiết kiệm tiền của Việc gì trước phải dùng nhiều người, nhiều thì giờ, phải tốn 2 vạn đồng Nay vì tiết kiệm được sức người và thời gian, nguyên liệu, cho nên chỉ tốn một vạn là đủ Nói tóm lại: Chúng ta phải tìm cách tổ chức sắp đặt cho hợp lý, để 1 người có thể làm việc như 2 người, 1 ngày có thể làm việc của 2 ngày, 1 đồng có thể dùng bằng 2 đồng” Một trong những hình thức tiết kiệm tiền của mà Hồ Chí Minh rất quan tâm trong hoàn cảnh nước nghèo và ít vốn như nước ta, đó là quay vòng vốn Người nói: “Biết làm cho vốn quay vòng nhanh, thì có ít vốn mà dùng được nhiều lần, nên sản xuất được nhiều”
Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào cả nước thực hành tiết kiệm, tất cả mọi người từ trên xuống dưới, từ thành thị đến nông thôn đều tiết kiệm và phong trào ấy nhất định phải lan rộng, ăn sâu, nhất định sẽ thành công tốt đẹp Theo Người ai cũng có thể và cũng nên tiết kiệm, tiết kiệm có thể thực hiện ở nhiều lĩnh vực và hình thức khác nhau
Ngay như trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Người nói:
“Các cơ quan tiết kiệm tiền công và của công, để đỡ tốn ngân quỹ, chiến sĩ thiđua tiết kiệm thuốc đạn, bằng cách bắn phát nào trúng phát ấy, công nhân tiết kiệm nguyên liệu, học sinh thi đua tiết kiệm giấy bút, đồng bào hậu phương thi thua tiết kiệm tiền bạc và lương thực, để giúp đỡ bộ đội…”
13
Trang 14Khi hoà bình, xây dựng đất nước, Người cho rằng phương châm triệt đểthực hành tiết kiệm phải do tất cả các ngành tự giác thi hành Theo Người:
- Những người làm công tác hành chính sự nghiệp phải biết rút bớt hết những gì không cần thiết, chớ hao phí giấy má và các thứ của công Hao phí những thứ đó là hao phí mồ hôi, nước mắt của dân Chớ tưởng tiết kiệm những cái cỏn con như mẩu giấy, ngòi bút là không có ảnh hưởng Một người như thế, trăm người như thế, vạn người như thế công quỹ bớt một số tiền đáng kể, lấy ở mồ hôi, nước mắt của dân mà ra
- Đối với ngành giáo dục, thầy và trò trong trường học phải biết tận dụng thời gian truyền đạt và tiếp thu tri thức có kết quả tốt nhất, đồng thời tiết kiệm giấy bút, biết giữ kỷ luật
- Với ngành kinh tế nông nghiệp, nông dân phải tận dụng từng tấc đất,không bỏ hoang
- Với ngành kinh tế nông nghiệp, công nhân phải biết sử dụng thuần thục các loại máy móc, ứng dụng kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất đểgiảm hàng phế thải và sản phẩm tồn đọng Phải tiêu diệt thái độ lao động lười biếng để nâng cao năng suất và giữ vững kỷ luật lao động
- Các ngành xây dựng cơ bản càng cần phải dè sẻn nguyên liệu, vật liệu thi công, bảo đảm chất lượng công trình Người chỉ rõ: “Thiết
kế và xây dựng phải làm cho chắc, cho kỹ Tránh làm ẩu rồi phải chữa đi chữa lại, vừa lãng phí sức người, sức của, vừa không tốt chosản xuất”
- Đặc biệt đối với ngành tài chính, ngân hàng, mậu dịch, hoạt động lao động bằng tiền của ngân sách nhà nước và để sử dụng đồng tiền cho hiệu quả nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển Người chỉ rõ:
“Đồng tiền dính với hoạt động của tất cả các ngành Vì vậy, các ngành, các tổ chức kinh tế, các cơ quan nhà nước cũng như toàn thể nhân dân phải biết sử dụng đồng tiền cho tốt… một đồng tiền bỏ ra phải đảm bảo tăng thêm của cải cho xã hội, phải luân chuyển nhanh,
14
Trang 15đừng để đọng Phải tích cực huy động tiền nhàn rỗi để bỏ vào sản xuất”
Như vậy, quan điểm tiết kiệm của Hồ Chí Minh là phải tiết kiệm toàn diện, tiết kiệm sức người, sức của, tiết kiệm thời gian, phong trào đó phải do tất cả mọi người thực hiện và nhất định sẽ thực hiện được Người nói: “Nếu chúng ta khéo tiết kiệm sức người, tiền của và thời giờ, thì với sức lao động, tiền tài của nước ta hiện nay, ta có thể tăng gia sản xuất gấp bội mà lực lượng của ta về mọi mặt cũng tăng gấp bội… Chúng ta quyết tâm tăng gia và tiết kiệm, thì nhát định tăng gia được và tiết kiệm được”
1.3 Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và thực hành tiết kiệm
Khi nói về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và thực hành tiết kiệm,
Hồ Chí Minh cho rằng cần phải đặt vấn đề đẩy mạnh tăng gia sản xuất với thực hành tiết kiệm trong mối quan hệ biện chứng với nhau Đó là mối quan
hệ giữa “xây” và “chống” trong lĩnh vực kinh tế, trong đó xây dựng là nhiệm
vụ trọng tâm Nhưng vừa phải “xây”, vừa phải “chống”, “chống” để phục vụ
“xây”
Phát triển kinh tế đi đôi với thực hành tiết kiệm là một trong những mặtcần thiết và quan trọng để nâng cao toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhằm xây dựng và phát triển nền kinh tế nước ta ngày càng vững mạnh theo hướng xã hội chủ nghĩa
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn động viên, khích lệ cán bộ, nhân dân ra sức tăng gia sản xuất và thực hành tiếtkiệm Người thường xuyên nhắc nhở: “Chúng ta chỉ có thể xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng cách tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm Sản xuất mà không biết tiết kiệm thì khác nào gió vào nhà trống”
Người cũng nói: “Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là con
đường đi đến xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, xây dựng hạnh phúc cho nhân dân Tăng gia là tay phải của hạnh phúc, tiết kiệm là tay trái của hạnh phúc”
15
Trang 16Theo quan điểm của Hồ Chí Minh thì giữa phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm có mối quan hệ biện chứng, tăng gia sản xuất phải đi đôi với thực hành tiết kiệm và đó được coi như là một chính sách căn bản, thiết yếu của nền kinh tế Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm phải đi đôi với nhau
và kết quả phải đạt bằng nhau Kết quả của tăng gia sản xuất cộng với kết quả của thực hành tiết kiệm sẽ tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế nước nhà Người thường nhắc nhở: “Tăng gia sản xuất phải đi đôi với tiết kiệm Phải tiết kiệm sức lao động, phải tiết kiệm thì giờ, phải tiết kiệm tiền của để tăng gia Tiết kiệm giúp cho tăng gia và tăng gia giúp cho tiết kiệm, để đi đến kết quả tốt”
Bởi Người thấu hiểu mối quan hệ khăng khít giữa lao động và tiết kiệmnên phát động phong trào tăng gia sản xuất, cùng lúc Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi tinh thần tiết kiệm Người cho rằng, nếu làm nhiều, có được nhiều củacải mà không biết sử dụng của cải ấy đúng lúc, đúng chỗ, ăn tiêu hoang phí,
xa xỉ thì của bằng núi cũng hết Người viết: “Việc tiết kiệm cũng có tính chất quan trọng như tăng gia sản xuất Vậy chúng ta không thể quên được”
Có lúc, Người dùng hình ảnh để nói lên mối quan hệ giữa sản xuất, tiết kiệm
và đời sống như nước với thuyền, Người nói: “Sản xuất và tiết kiệm cũng nhưdòng nước, cải thiện đời sống cũng như chiếc thuyền, nước càng sâu thì
thuyền càng cao Muốn cải thiện không ngừng thì phải không ngừng tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm”
Quan điểm này của Người rất khoa học và biện chứng, thể hiện rõ sự tác động qua lại lẫn nhau, bởi lẽ chỉ trên cơ sở đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, phát triển kinh tế mới có thể đáp ứng nhu cầu cần thiết và từng bướccải thiện đời sống nhân dân Nhưng nếu chỉ thực hành tiết kiệm mà không đẩymạnh sản xuất thì sản xuất được ít, không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nhân dân Nếu đẩy mạnh sản xuất mà không tiết kiệm thì sản xuất được bao nhiêu lại sử dụng, tiêu dùng bấy nhiêu, kết quả là không lại hoàn không
Do đó, Người nói tiếp: “Cần và kiệm, phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người Cần mà không kiệm “thì làm chừng nào xào chừng ấy” Cũng như
16
Trang 17một cái thùng không có đáy, nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không
Kiệm mà không cần, thì không tăng lên, không phát triển được Mà vật
gì đã không tiến tức phải thoái Cũng như cái thùng chỉ đựng một ít nước, không tiếp đục đổ thêm vào, lâu ngày chắc nó sẽ hao bớt dần, cho đến khi khôkiệt.”
Như vậy, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, hai vấn đề đẩy mạnh sản xuất và thực hành tiết kiệm phải có sự kết hợp chặt chẽ với nhau trong mọi lĩnh vực và phải có kế hoạch cụ thể Theo Người, kế hoạch sản xuất và tiết kiệm là một kế hoạch dân chủ, nghĩa là từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, nghĩa là Chính phủ Trung Ương có kế hoạch cho toàn quốc, và địa phương căn cứ theo kế hoạch toàn quốc mà đặt kế hoạch thích hợp với địa phương mình, cho đến mỗi ngành, mỗi gia đình, mỗi người sẽ có kế hoạch riêng của mình, ăn khớp với kế hoạch chung”
Kế hoạch đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm phải thực hiện dân chủ, nghĩa là, kế hoạch do Chính phủ Trung Ương đề ra phải được bàn bạc, trao đổi, thống nhất giữa các ban, ngành, chính quyền các cấp, các địa phương
và mọi người dân đều được tham gia bàn bạc, đóng góp ý kiến
Để thực hiện thành công được kế hoạch sản xuất và tiết kiệm, Hồ Chí Minh còn nêu ra ba điều kiện quan trọng, đó là: thiên thời, địa lợi, nhân hoà,
và nhân hoà là chính Theo Người, nước ta có đầy đủ ba yếu tố điều kiện ấy:
“Nước ta: ở về xứ nóng, khí hậu tốt,
Rừng vàng biển bạc, đất phì nhiêu,
Nhân dân dũng cảm và cần kiệm,
Các nước anh em giúp đỡ nhiều”
Cho nên: “Việc mà toàn Đảng, toàn dân ta phải làm, là ra sức kết hợp
và vận dụng thật khéo léo ba điều kiện đó vào công cuộc xây dựng kinh tế củamiền Bắc nước ta”
17
Trang 18Như vậy, bên cạnh việc tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để phát triển kinh tế đất nước, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở các cấp, các ngành phải ra sức tẩy sạch nạn tham ô, lãng phí và quan liêu Người nói: “Chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần như việc đánh giặc trên mặt trận Đây là mặt trận tư tưởng và chính trị”
Chương 2 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ
ĐI ĐÔI VỚI THỰC HÀNH TIẾT KIỆM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
2.1 Thực trạng, sự cần thiết phải vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế đi đôi với thực hành tiết kiệm trong thời kỳ hiện nay
2.1.1 Thực trạng của việc phát triển kinh tế đi đôi với thực hành tiết kiệm trong thời kỳ hiện nay
2.1.1.1 Những thành tựu cơ bản mà đất nước ta đã đạt được trong những năm qua
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, việc học tập và quán triệt những quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm là một vấn đề vừa có ý nghĩa chiến lược, vừa có ý nghĩa thời sự cấp bách nhằm phát triển kinh tế một cách có hiệu quả và bền vững
* Tiềm lực kinh tế được nâng cao, đất nước thoát khỏi tình trạng nước nghèo, lạc hậu, kém phát triển
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới phát triển nhanh và mạnh thì nước
ta cũng đạt được những thành tựu đáng kể Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao “Tổng sản phẩm trong nước (GDP) của năm năm 2001 – 2005 tăng bình quân 7,51%/năm Năm 2015, GDP theo giá hiện hành đạt 838 nghìn tỷ đồng, bình quân đầu người trên 10 triệu đồng, tương đương khoảng 640USD”
Trong nông nghiệp: Tiếp tục phát triển khá, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,4%/năm (kế hoạch 4,8%) giá trị tăng thêm 3,8 %/ năm Năng suất, sản lượng và hàm lượng công nghệ trong sản phẩm nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản tăng đáng kể; an ninh lương thực quốc gia được
18