1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bai 1. Sau hai cay trong

24 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Ngoài ảnh hưởng gây hại trực tiếp như trên, rầy nâu còn gây hại gián tiếp cho cây lúa như: + Mô cây tại các vết chích hút và đẻ trứng của rầy trên thân cây lúa bị hư do sự xâm nhập của

Trang 1

Bài 1: Sâu hại cây trồng

I Mục tiêu

1 Về kiến thức

- Hiểu được các khái niệm về sâu hại, thành phần sâu hại, loài sâu hại chủ yếu

- Mô tả được đặc điểm cơ bản về ký chủ, đặc điểm hình thái, sinh học, cách gây hại và sự phát sinh phát triển của sâu hại

2 Về kỹ năng

- Xác định được thành phần, loài sâu hại chủ yếu thông qua triệu chứng, hình thái

- Nhận biết được các pha phát dục của sâu trên đồng ruộng

II Nội dung

1 Khái niệm chung về sâu hại cây trồng

1.1 Khái niệm về sâu hại cây trồng

Sâu hại (còn gọi là côn trùng) là những động vật không xương sống, thuộc ngành chân khớp chuyên gây hại trên cây trồng Cơ thể chúng gồm 3 phần rõ rệt: Đầu, ngực, bụng Ngực mang 3 đôi chân và thường có 2 đôi cánh, đầu có 1 đôi râu

1.2 Tác hại của sâu hại cây trồng

- Thiệt hại do sự ăn phá trực tiếp

Hầu hết sự thiệt hại trên cây trồng được gây ra là do sự ăn phá trực tiếp trên cây trồng của côn trùng Sự thiệt hại thay đổi tùy theo nhóm côn trùng, tùy theo các đặc tính nội tại của côn trùng cũng như các điều kiện môi trường Sự thiệt hại có thể từ rất nhẹ đến gây chết toàn bộ cây trồng

- Thiệt hại do truyền bệnh cho cây trồng

Trong thời gian gần đây, nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rõ vai trò của côn trùng trong việc truyền bệnh cho cây trồng, khoảng 200 loại bệnh trên cây trồng là do côn trùng truyền, và đa số bệnh này là bệnh siêu vi khuẩn (virus) Côn trùng có thể truyền bệnh cho cây bằng 3 cách:

+ Khi côn trùng chích hút cây trồng để lấy thức ăn, vết chích là nơi cho mầm bệnh xâm nhập vào cây trồng Nhiều loại mầm bệnh đã xâm nhập vào cây bằng phương thức này

Trang 2

+ Mầm bệnh có thể được mang trên hay trong cơ thể côn trùng và được côn trùng truyền từ cây này sang cây khác Các loài ruồi, một số côn trùng chính hút và ong là tác nhân chủ yếu để truyền bệnh theo phương thức này

+ Mầm bệnh có thể được tích trữ trên cơ thể côn trùng trong một thời gian ngắn hoặc trong cơ thể côn trùng trong một thời gian dài và được tiêm vào cây trồng khi côn trùng chích hút Các loài côn trùng chích hút như: Rầy mềm, rầy nâu, rầy xanh, rầy chổng cánh là tác nhân truyền bệnh chủ yếu của phương thức này, hầu hết các bệnh được truyền là bệnh siêu vi khuẩn, vi khuẩn, mycoplasma, như: Bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá trên lúa được truyền bởi rầy nâu, bệnh khảm trên mía được truyền bởi rầy mềm, bệnh vàng lá gân xanh trên cam quýt được truyền bởi rầy chổng cánh

Sự thiệt hại gây ra do sự ăn phá trực tiếp của côn trùng có thể rất quan trọng, nhưng một tác nhân truyền bệnh, dù chỉ một vài cá thể cũng có thể làm giảm năng suất cây trồng một cách trầm trọng và có thể gây chết hàng loạt cây trồng và khi cây đã bị nhiễm các loại bệnh này thì rất khó trị

2 Nhóm sâu chích hút

2.1 Nhóm sâu chích hút trên cây lương thực

2.1.1 Bọ trĩ (Bù lạch) (Stenchaetothrips oryzae Bagnall) hại lúa

a) Đặc điểm hình thái, sinh học và gây hại

- Bù lạch rất nhỏ, dài từ 1-1,5 mm, màu nâu đen hoặc màu nâu đỏ Hai đôi cánh hẹp, mang nhiều lông như lông chim trĩ nên còn có tên là "bọ trĩ" xếp dọc trên lưng khi nghỉ

- Trứng hình bầu dục, dài từ 0,20-0,25 mm, màu trắng trong, chuyển sang vàng khi sắp nở, thời gian trứng từ 3-5 ngày

- Sâu non có màu vàng nhạt, lớn đủ sức dài khoảng 1 mm, hình dạng giống sâu trưởng thành nhưng không cánh

Hình 1.1.1: Bọ trĩ hại lúa - a: Sâu trưởng thành; b: trứng; c:sâu non

- Sâu trưởng thành màu nâu đậm đến đen, rất linh hoạt, có thể bay một khoảng xa vào ban ngày để tìm ruộng lúa mới Khi bị khuấy động, trưởng thành thường nhanh nhẹn nhảy đi chỗ khác lẩn trốn hay rơi xuống đất

- Bù lạch thích hoạt động vào những ngày trời râm mát hoặc ban đêm, trời nắng thường ẩn trong lá non hay chóp lá cuốn lại Sâu trưởng thành cái thích đẻ trứng ở những đám lúa, mạ hoặc cỏ dại xanh tốt

Trang 3

- Sâu non sau khi nở thường sống tập trung nhiều con ở chóp lá lúa non Với mật độ từ 1-2 con/cây, chóp lá non có thể bị cuốn; 5 con/cây, chóp lá có thể

bị cuốn từ 1-3 cm và nếu mật độ nhiều hơn 10 con/cây lá có thể bị cuốn toàn bộ

và héo khô

- Sâu trưởng thành và sâu non đều chích hút nhựa lá lúa, nhất là lá non Lá lúa bị bù lạch gây hại thường có sọc trắng bạc dọc theo gân, chóp bị cuốn lại và

bù lạch sống bên trong chóp lá cuốn lại, trời mát mới bò ra ngoài

- Với đặc tính sinh sống là thường ẩn mình trong chóp lá cuốn lại nên bù lạch chỉ thích tấn công trên các ruộng lúa bị khô, lá lúa cuốn lại và ở giai đoạn hồi xanh - đẻ nhánh; nếu ruộng đầy đủ nước, lá lúa mở ra, bù lạch không còn chỗ trú ẩn nên dễ bị chết

b) Biện pháp quản lý

- Biện pháp canh tác: Cho ruộng ngập nước cao hơn ngọn lá lúa khoảng 2 ngày (nếu có điều kiện), sau đó bón thêm phân, cây lúa sẽ vượt qua được Không để ruộng khô

- Biện pháp hóa học: Khi mật độ cao kết hợp ruộng thiếu nước, chúng ta

có thể sử dụng một trong các loại thuốc có hoạt chất sau: Imidaclorid, Fipronil, Abamectin,… để phun

2.1.2 Rầy nâu (Nilapavata lugens) hại lúa

a) Đặc điểm hình thái, sinh học và gây hại

- Rầy nâu có cơ thể màu nâu vàng, đỉnh đầu nhô ra phía trước Cánh trong suốt, giữa cạnh sau của mỗi cánh trước có một đốm đen, khi hai cánh xếp lại hai đốm này chồng lên nhau tạo thành một đốm đen to trên lưng

Hình 1.1.2: Rầy nâu hại lúa

- Rầy đực có cơ thể dài từ 3,6-4,0 mm Rầy cái màu nâu nhạt và kích thước cơ thể to hơn rầy đực; chiều dài cơ thể từ 4 đến 5 mm, bụng to tròn, ở khoảng giữa mặt dưới bụng có bộ phận đẻ trứng (máng đẻ trứng) nhọn màu đen

- Rầy trưởng thành có 2 dạng cánh:

+ Cánh dài: Cánh che phủ cả thân và chủ yếu để phát tán

+ Cánh ngắn: Phát sinh nhiều khi thức ăn đầy đủ, thời tiết thích hợp, và có khả năng đẻ trứng rất cao (300-400 trứng)

Trang 4

- Trứng rầy nâu được đẻ thành từng hàng

vào bên trong bẹ lá lúa, mỗi hàng có từ 8-30

trứng Trứng rầy giống hình quả chuối, dài từ

0,3-0,4 mm, mới đẻ màu trắng trong, sắp nở

màu vàng Thời gian trứng từ 5-14 ngày

- Rầy non hay còn gọi là rầy cám, khi mới

nở rất nhỏ, màu trắng sữa, càng lớn rầy càng

chuyển thành màu nâu nhạt Rầy non

Hình 1.1.3: Trứng rầy nâu tuổi lớn rất giống trưởng thành cánh ngắn nhưng cánh ngắn hơn và đục, trong

khi cánh của rầy trưởng thành cánh ngắn thì trong suốt với các gân màu đậm

Rầy non có 5 tuổi, phát triển trong thời gian từ 14 - 20 ngày

- Cả rầy trưởng thành và rầy non đều thích sống dưới gốc cây lúa và có

tập quán bò quanh thân cây lúa (bò ngang) hoặc nhảy xuống nước hay nhảy lên

tán lá để lẩn tránh khi bị khuấy động

- Cả rầy trưởng thành và rầy non đều chích hút cây lúa bằng cách dùng

vòi chích hút vào bó mạch dẫn hút nhựa Trong khi chích hút rầy tiết nước bọt

phân hủy mô cây, tạo thành một bao chung quanh vòi chích hút, cản trở sự di

chuyển nhựa nguyên và nước lên phần trên của cây lúa làm cây lúa bị khô héo,

gây nên hiện tượng "cháy rầy"

- Ngoài ảnh hưởng gây hại trực tiếp như trên, rầy nâu còn gây hại gián

tiếp cho cây lúa như:

+ Mô cây tại các vết chích hút và đẻ trứng của rầy trên thân cây lúa bị hư

do sự xâm nhập của một số loài nấm, vi khuẩn

+ Phân rầy tiết ra có chất đường thu hút nấm đen phát triển quanh gốc lúa,

cản trở quang hợp, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa

+ Rầy nâu thường truyền các bệnh lúa cỏ, lùn xoắn lá cho cây lúa, trầm

trọng nhất là bệnh lùn xoắn lá Triệu chứng để nhận diện bệnh này là khóm lúa

vẫn giữ màu xanh dù đã đến lúc thu hoạch, chóp lá xoắn lại, lá rách dọc theo bìa,

cây đâm thêm chồi ở các đốt phía trên Nhìn chung, cả khóm lúa lùn hẳn và lá

có màu xanh đậm Mức độ lùn của cây lúa còn tùy thuộc vào thời gian lúa bị

nhiễm bệnh:

Nếu cây lúa bị nhiễm bệnh sớm, trong tháng đầu sau khi gieo hoặc cấy,

khóm lúa lùn hẳn và thất thu hoàn toàn

Nếu cây lúa bị nhiễm bệnh muộn hơn, khóm lúa bị lùn ít và có thể trỗ

bông nhưng rất ít hoặc đòng lúa không thoát ra được, hạt bị lép nhiều, năng suất

thất thu có thể lên tới 70%

Nếu ruộng lúa bị nhiễm bệnh muộn hơn nữa, từ khi lúa tròn khóm trở về

sau, khóm lúa sẽ không lùn và có thể trổ bông nhưng bông lúa bị lép nhiều và có

thể thất thu đến 30%

b) Biện pháp quản lý

Trang 5

- Biện pháp sử dụng giống: Nên trồng nhiều giống lúa có tính kháng trung bình trên đồng ruộng cùng một lúc để tránh tình trạng rầy quen thức ăn và để tránh áp lực của rầy khi rầy bộc phát

- Biện pháp canh tác:

+ Vệ sinh đồng ruộng

+ Gieo mạ, gieo lúa, cấy lúa đúng thời vụ, cấy tập trung, tránh mùa vụ gối nhau làm lúa luôn có liên tục trên đồng ruộng

+ Mật độ: Không nên gieo, cấy dày

+ Nên bón phân cân đối N-P-K và bón theo bảng so màu lá lúa

- Biện pháp sinh học:

+ Cho vịt con, cá vào ruộng lúa

+ Dùng chế phẩm sinh học: nấm xanh, nấm trắng, Buprofezin,

- Biện pháp hoá học: Thăm ruộng thường xuyên để phát hiện mật độ của rầy cũng như thành phần và số lượng thiên địch hiện diện trên đồng ruộng để quyết định việc áp dụng thuốc phun trừ rầy bằng các loại thuốc đặc hiệu

2.1.3 Bọ xít hôi (Leptocorisa acuta) (còn gọi bọ xít dài) hại lúa

a) Đặc điểm hình thái, sinh học và gây hại

- Bọ xít trưởng thành có màu xanh hơi

pha nâu trên lưng và màu vàng nâu ở mặt bụng,

dài từ 14-18 mm Bọ xít trưởng thành có thể

sống đến 2-3 tháng, trong thời gian này một

rưởng thành cái có khả năng đẻ từ 250-300

trứng trong vòng khoảng 8 tuần

- Trứng được đẻ thành ổ, từ 1-2 hàng dọc

trên cả 2 mặt lá lúa (thường dọc gân chính, ở

mặt trên lá), mỗi ổ có từ 10-30 trứng

- Trứng hình hình cốc, có vết lõm ở giữa,

Hình 1.1.4: Bọ xít hôi hại lúa

mới đẻ màu trắng đục, sắp nở màu nâu đen bóng Thời gian ủ trứng là 5-8 ngày

- Bọ xít non có 5 tuổi, màu xanh lá cây nhạt, râu màu nâu đậm, mới nở dài khoảng 2 mm, tuổi lớn nhất dài từ 12-14 mm Thời gian sâu non từ 15-22 ngày

- Vòng đời bọ xít hôi từ 31- 40 ngày

- Bọ xít non và sâu trưởng thành thường tập trung trên bông lúa, chích hút hạt lúa đang ngậm sữa bằng cách dùng vòi chọc vào giữa 2 vỏ trấu, chích hút hạt lúa, làm hạt bị lép hoặc lửng, rất dễ vỡ khi xay

- Vết chích hút do bọ xít để lại là một đốm nâu trên hạt lúa do nấm bệnh tấn công Khi cây lúa còn non, bọ xít có thể chích hút trên lá và lá non

- Bọ xít ưa mùi hôi, tanh Giai đoạn trưởng thành bọ xít dài qua đông ở

Trang 6

trên cỏ ven rừng, trong vườn, ruộng có nhiều cỏ, rồi chuyển sang lúa Đông Xuân Sau khi gặt lúa Đông Xuân, bọ xít lại chuyển sang các cây cỏ, sau đó chuyển sang mạ, lúa mùa

b) Biện pháp quản lý

- Biện pháp canh tác:

+ Vệ sinh đồng ruộng, diệt cỏ (nhất là cỏ lồng vực)

+ Gieo cấy đồng loạt, không gieo cấy muộn

2.2 Nhóm sâu chích hút trên cây rau

2.2.1 Bọ trĩ (Bù lạch) (Thrips palmi Karny) hại cây họ bầu, bí, dưa a) Đặc điểm hình thái, sinh học và gây hại

- Bọ trĩ có cơ thể rất nhỏ, khoảng 1 mm, màu vàng hơi nâu, hai mắt đen Sâu trưởng thành có thể sống đến 2 tháng và đẻ khoảng 200 trứng

- Sâu non rất giống sâu trưởng thành nhưng màu nhạt hơn, gồm 2 tuổi kéo dài độ 3-4 ngày Nhộng phát triển trong thời gian từ 3-4 ngày

- Bọ trĩ thường đẻ trứng trong mô lá

- Cả sâu non và sâu trưởng thành bọ trĩ

thường sống, gây hại ở mặt dưới lá và hay

chui vào gần gân để trốn

- Bọ trĩ thường chích hút nhựa cây, đôi

khi còn gặm cả mô lá hoặc cây Lá cây bị bù

lạch gây hại sẽ có dạng quăn queo, lá non

biến dạng và bị cong xuống phía dưới Ngọn

non bị bọ trĩ tấn công không phát triển dài ra

được mà chùn lại và cất cao lên, nên Hình 1.1.5: Bù lạch hại lá dưa nông dân thường gọi là hiện tượng "đầu

lân" hay "bắn máy bay" trên dưa hấu

- Bọ trĩ còn truyền bệnh khảm do

vi rút làm vàng và xoăn lá, cây không

chết nhưng ra hoa mà không cho quả

b) Biện pháp quản lý

- Biện pháp canh tác

+ Đốt tàn dư thực vật Hình 1.1.6: Bù lạch hại đọt dưa

Trang 7

+ Dùng màng phủ nông nghiệp

+ Kiểm tra ruộng thường xuyên để phát hiện sớm

- Dùng bẫy màu vàng đặt vào ruộng từ khi cây con đến lúc ra hoa để xác định mật độ và quyết định khi nào áp dụng phun thuốc

- Biện pháp hóa học: Nên thay đổi thuốc thường xuyên để tránh bù lạch quen thuốc Có thể sử dụng luân phiên các loại thuốc sau: Abamectin, Imidachlorid, Fipronil… để phun trừ

2.2.2 Rầy mềm (Aphis gossypii) còn gọi rệp rau

Đây là loài có phân bố rất rộng và đa ký chủ, tấn công nhiều loại rau màu như: Cà chua, thuốc lá, bầu, bí, dưa, ớt

a) Đặc điểm hình thái, sinh học và gây hại

Sâu trưởng thành có hai dạng:

- Dạng không cánh: cơ thể dài từ

Hình 1.1.7: Rầy mềm hại cây rau

- Rầy tập trung mặt dưới lá, nhất là

ngọn non, hoa, chồi hút nhựa làm cho các

phần ấy bị khô héo hoặc để lại những vết

thâm đen

- Trên cây dưa, rầy gây hại trầm trọng

nếu tấn công các đỉnh sinh trưởng Rầy mềm

thường tập trung với số lượng lớn ở ngọn

non làm lá bị quăn queo và phân tiết ra thu

hút nhiều nấm đen phát triển làm ảnh hưởng

đến sự phát triển của quả Hình 1.1.8: Rầy mềm hại cây rau

- Đối với bầu bí trong giai đoạn có hoa nếu bị loài này tấn công với mật

độ cao thì hoa dễ bị rụng, nhất là vào thời kỳ cho quả non, gây hiện tượng rụng quả hay quả bị méo mó

- Ngoài ra, rầy còn là tác nhân truyền bệnh virus cho cây Sau cùng làm cây bị mất sức, lùn và chết

b) Biện pháp quản lý

- Biện pháp canh tác:

+ Nhặt và tiêu hủy các phần có rầy gây hại

Trang 8

+ Phủ rơm lên luống từ khi có cây con đến khi cây ra hoa

+ Không nên bón nhiều phân đạm

- Biện pháp hóa học:

+ Có thể sử dụng các loại thuốc trừ sâu thông dụng để phòng trừ như: Abamectin, Emamectin, Imidachlorid, Fipronil…

+ Sử dụng thuốc trừ sâu nên để ý đến quần thể thiên địch của rầy mềm

2.3 Nhóm sâu chích hút trên cây ăn quả

2.3.1 Rầy chổng cánh (Diaphorina citri Kuwayama) hại cây có múi

a) Đặc điểm và hình thái, sinh học và gây hại

- Đây là loài rầy rất nhỏ, sâu trưởng

thành dài từ 2,5-3 mm, có cánh dài, màu xám

đen với vệt trắng lớn chạy từ đầu đến cuối

cánh, lúc đậu cánh và bụng nhô cao hơn khỏi

đầu Rầy cái có bụng to màu vàng cam trong

khi bụng của rầy đực nhỏ màu xám xanh Vài

ngày sau khi vũ hóa rầy bắt cặp và đẻ trứng

- Rầy trưởng thành ít khi bay hoặc chỉ Hình 1.1.9: Rầy trưởng thành

- Sâu non hình bầu dục dẹp, màu xanh

lục ngả vàng, di chuyển chậm chạp Sâu non có

5 tuổi, phát triển trong thời gian từ 11-25 ngày

- Ở tuổi nhỏ sâu non thường sống tập trung

và tiết ra các sợi sáp trắng quanh nơi sinh sống

- Vòng đời của rầy chổng cánh từ 18-40 ngày Hình 1.1.11: Sâu non

- Rầy tạo mật độ cao vào đầu mùa mưa, khi cây ra lá non và ra hoa Cả sâu non và trưởng thành tập trung chích hút nhựa của chồi, lá, quả non làm chồi ngọn bị khô héo, các lá phía dưới bị vàng và quăn queo Ngoài gây hại trực tiếp như trên, rầy còn truyền vi rút gây bệnh vàng lá gân xanh (Greening) cho nhóm cây cam quýt

b) Biện pháp quản lý

- Biện pháp canh tác: Nên điều khiển cho cây ra hoa đồng loạt để dễ dàng phòng trị

Trang 9

- Biện pháp hóa học: Nếu mật độ rầy cao và để hạn chế sự lây lan của bệnh Greening, có thể phun 1 hoặc 2 lần bằng các loại thuốc trừ rầy thông dụng khi cây ra đọt non

- Đối với các vườn cây mới trồng, cây ra lá non thường xuyên thì cần theo dõi kỹ để phun trừ rầy khi mật độ còn thấp hạn chế khả năng bị bệnh vàng

lá gân xanh Có thể trồng ổi xen canh cam quýt để hạn chế rầy

2.3.2 Các loài rầy mềm (rệp muội) (Toxoptera aurantii và Toxopteracitricidus)

Hai loài này gây hại trên cây họ cam quýt, bưởi Riêng loài Toxoptera

aurantii còn có thể sống trên cây thuộc họ bầu, bí, dưa

a) Đặc điểm hình thái, sinh học và gây hại

Hình 1.1.12: Rầy mềm gây hại cây có múi

- Sâu trưởng thành có hai dạng như các loài rầy mềm khác:

+ Dạng có cánh: Chân và râu đầu màu vàng nâu hơi nhạt Cơ thể dài từ 1,44-1,80 mm

+ Dạng không cánh: Cơ thể dài từ 1,70-1,80 mm, màu nâu đỏ

- Cả rầy non và trưởng thành đều gây hại cho cây bằng cách chích hút nhựa lá và cành non làm giảm khả năng tăng trưởng của cây; lá non bị cong và biến dạng Đồng thời sự gây hại của rầy mềm cũng làm cho quả bị chín sớm và giảm phẩm chất Ngoài ra phân do rầy mềm thải ra có chứa đường sẽ thu hút nấm đen tới phát triển trên thân hay lá sẽ làm giảm khả năng quang hợp của cây

Trang 10

2.3.3 Các loài rệp sáp

a) Rệp sáp mềm xanh lục (Coccus viridis)

Gây hại trên cây họ cam quýt, ổi,…

* Đặc điểm hình thái, sinh học và gây hại

- Rệp cái trưởng thành của loài này

có cơ thể hình bầu dục khá đều đặn, màu

xanh lục hơi ngả vàng, hơi dẹp so với các

loài rệp sáp khác, dài 3-4 mm

- Con cái sinh sản mà không cần con

đực Trứng nở bên trong mai sáp mỏng và

sâu non tuổi 1 có chân để bò đi tìm chỗ cố

định Vòng đời vào khoảng 4-6 tuần

- Loài này có khả năng di chuyển Hình 1.1.13: Rệp sáp xanh lục không những ở thời kỳ rệp non mới nở mà cả ở giai đoạn chuẩn bị đẻ trứng, nhưng chỉ phát tán một khoảng cách ngắn đến các cành lá gần nơi sinh sống Chúng tấn công chủ yếu là ở các chồi non, lá non hoặc quả non

- Rệp thường được các loài kiến chăm sóc để ăn mật, trong đó có cả kiến vàng Tài liệu cho biết kiến ăn mật có thể làm hạn chế tỉ lệ chết của sâu non tuổi

1 vì nếu mật tích luỹ nhiều quá có thể lây bệnh hoặc dính chân rệp non trong khi di chuyển

b) Rệp sáp đỏ (Aonidiella aurantii)

Gây hại cây họ cam, quýt, đu đủ, ổi,

* Đặc điểm hình thái, sinh học và gây hại

- Rệp trưởng thành cái không cánh, thân

tròn màu đỏ, đường kính độ 1,8-2 mm, cơ thể

được phủ bằng mai sáp mỏng nhưng hoàn

chỉnh và gắn chặt trên thân cây, nhánh hoặc

trên các cành cây nhỏ Sâu trưởng thành đực có

cánh và có thể bay đi tìm sâu trưởng thành cái

để bắt cặp

- Cả rệp trưởng thành và rệp non đều Hình 1.1.14: Rệp sáp đỏ chích hút nhựa cây hoặc cành làm cho cành bị khô, cây nhỏ bị chết dễ dàng Rệp còn tiết phân có chứa chất đường - là môi trường thích hợp cho muội đen phát triển, bám quanh thân hay cành làm cản trở quang hợp, cây phát triển kém

c) Rầy bông (rệp sáp giả) (Planococcus citri)

* Đặc điểm hình thái, sinh học và gây hại

- Sâu trưởng thành hình thon, dài khoảng 3 mm, màu vàng nhạt đến vàng cam Chất sáp chỉ bao phủ phần lưng của cơ thể

Trang 11

- Trứng màu vàng, nằm trong một túi do rệp cái tiết ra Trứng được đẻ trên quả, lá hay chỗ nứt của vỏ Thời gian trứng từ 3-6 ngày

Hình 1.1.15: Rầy bông (rệp sáp giả) Rệp gây hại bằng cách chích hút phần non của cây Phân của rệp thu hút nấm đen tới làm ảnh hưởng đến quang hợp

* Biện pháp quản lý các loài rệp sáp

- Biện pháp canh tác: Dùng vòi phun có áp lực mạnh phun trực tiếp nước lên đọt, quả có rệp sáp

- Biện pháp sinh học:

+ Bảo tồn thiên địch

+ Sử dụng thuốc sinh học

- Biện pháp hóa học: Sử dụng thuốc hóa học khi cần thiết để phun trừ

2.3.5 Bọ xít năm cạnh (Tessaratoma papillosa) hại nhãn, vải (còn gọi

bọ xít nâu)

a) Đặc điểm hình thái, sinh học và gây hại

- Bọ xít trưởng thành là loài bọ xít lớn, dài từ 25-28 mm và rộng từ 13-18

mm, thân hình lục giác, màu nâu vàng, chân và râu trung bình Đặc biệt là chúng tiết ra mùi hôi rất khó chịu và có thể gây phỏng da nếu tiếp xúc phải Bọ xít trưởng thành cái đẻ trứng thành từng hàng màu nâu trên lá hoặc đọt non Ấu trùng nở ra sống tập trung và chích hút nhựa trên các phần non của cây

Sâu non Sâu trưởng thành

Hình 1.1.16: Bọ xít hại nhãn, vãi

- Cả bọ xít non và trưởng thành đều chích hút đọt non, cuống hoa và quả

Trang 12

làm quả bị rụng, hoa bị khô

3.1 Nhóm sâu ăn lá trên cây lương thực

3.1.1 Sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphlocrosis medinalis) hại lúa

a) Đặc điểm hình thái, sinh học và gây hại:

- Bướm có chiều dài thân từ 8-12 mm, sải

cánh rộng từ 19-23 mm, nền cánh màu vàng rơm,

bìa cánh có 1 đường viền màu nâu đậm, giữa

cánh có 3 sọc màu nâu, 2 sọc bìa dài và sọc giữa

ngắn Bướm sống từ 2-6 ngày Một bướm cái có

thể đẻ đến 300 trứng Trứng được đẻ rải rác hay

thành từng nhóm dọc gân chính của lá, nhưng

mặt trên lá có nhiều trứng hơn Hình 1.1.17: Sâu cuốn lá lúa

Ban ngày bướm trốn trong khóm lúa hoặc cỏ dại, khi bị động thì bay một đoạn ngắn trên lá lúa Tất cả các hoạt động như bắt cặp, đẻ trứng đều xảy ra vào ban đêm Bướm bị thu hút nhiều bởi ánh sáng đèn, nhất là bướm cái

Bướm cái thích đẻ trứng ở các ruộng lúa hoặc mạ có màu xanh đậm, rậm rạp và thích tập trung nhiều ở những ruộng gần bờ mương, gần nhà ở, gần vườn hoặc đường đi có bóng mát

- Trứng hình bầu dục dài khoảng 0,5 mm, màu trắng, chuyển sang màu vàng nhạt khi sắp nở Giai đoạn trứng từ 6-7 ngày

- Sâu non mới nở màu trắng sữa - xanh

vàng Sâu lớn đẫy sức dài khoảng 19-22 mm,

màu xanh lá mạ, thân chia đốt rất rõ ràng Sâu có

5 tuổi, phát triển trong thời gian từ 14-16 ngày

- Sâu non mới nở rất nhanh nhẹn, bò

khắp trên lá, thân cây và chui vào lá non, mặt

trong của bẹ lá ăn phần xanh, chừa lại lớp

màng trắng mỏng trên lá lúa Sang tuổi 2, sâu

bò đến các lá và nhả tơ ở 2 mép lá lúa khoảng Hình 1.1.18: Sâu cuốn lá lúa Sâu non Lá bị hại

Ngày đăng: 06/04/2022, 18:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w