1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

On tap tho viet nam NV8

12 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 792,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Ông đồ là một trong những bài thơ hay nhất, nổi tiếng nhất của Vũ Đình Liên và cũng là của phong trào Thơ mới.. “ Mỗi khi hoa đào nở …Bên phố đông người qua” - Hình ảnh ông đồ với “m

Trang 1

ÔN TẬP THƠ MỚI ÔNG ĐỒ ( Vũ Đình Liên )

I Vài nét về tác giả tác phẩm

- Nhà thơ Vũ Đình Liên sinh năm 1913

- Quê ở Châu Khê, Bình Giang, Hải Dương, mất năm 1996

- Là gương mặt tiêu biểu của phong trào “ Thơ mới”

- Thơ của ông “ man mác một niềm hoài cỏ, thể hiện một hồn thơ nhân hậu giàu tình thương người”

(Vũ Đình Liên nổi tiếng với bài thơ Ông đồ từ phong trào Thơ mới Nhiều năm ông

làm nghề dạy học Từng là Chủ nhiệm khoa tiếng Pháp, Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ, là thành viên nhóm văn học Lê Quý Đôn (gồm: Lê Thước, Trương Chính,

Lê Trí Viễn )

- Ông đồ là một trong những bài thơ hay nhất, nổi tiếng nhất của Vũ Đình Liên và

cũng là của phong trào Thơ mới Sử dụng thể thơ năm chữ và ngôn ngữ gợi cảm, giàu tính tạo hình, Vũ Đình Liên đã miêu tả ông đồ ngồi viết chữ thuê trên phố ngày Tết,

từ lúc ông còn đắc chí đến lúc hình ảnh ông mờ dần rồi xa khuất giữa bức tranh xuân

II Kiến thức cơ bản:

1 Thời đắc ý của ông

Trong hai khổ thơ đầu, hình ảnh ông đồ viết chữ nho ngày tết là một hình ảnh đẹp

Đấy là cái thời đắc ý của ông

* Ông đồ: - Người học chữ nho, không đỗ đạt hoặc đỗ đạt không ra làm quan => làm

nghề dạy học

- Trong XH” Tôn sư trọng đạo” ông đồ luôn được kinh trọng vì biết chữ

thánh hiền

* Hình ảnh ông đồ trong bài thơ:

- Ông đồ xuất hiện “mỗi khi hoa đào nở” trong cảnh tết đến xuân về, giữa cảnh phố phường đông vui nhôn nhịp, tưng bừng, rực rõ chuẩn bị đón tết

“ Mỗi khi hoa đào nở

…Bên phố đông người qua”

- Hình ảnh ông đồ với “mực tàu giấy đỏ” trở thành trung tâm chú ý của tất cả mọi người Ông đồ như một người nghệ sĩ đã trỗ tài trước sự trầm trỗ thán phục của mội người về những nét chữ “ Như phượng múa rang bay”

2.Hình ảnh ông đồ một thời quên lãng

- Vẫn hình ảnh ông đồ với mực tàu giấy đỏ bên hè phố ngày tết nhưng tất cả đã khác xưa

- Hình ảnh ông đồ lặng lẽ buồn trong cảnh vắng vẻ thê lương Nỗi buồn thêm vào những vật vô tri vô giác

“ Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu”

Trang 2

=> Nghệ thuật nhân hoá đem nỗi buồn tủi của con người phú cho giấy mực càng làm cho nỗi buồn thên thêm thía, xót xa

- Sự xót xa ấy chính là sự khác biết giữa cái thay đổi và cái không thay đổi Ông đồ vẫn ngồi đấy, vẫn cảnh phố đông người ngày tết song không ai biết sự có mắt của ông Đó là một sự lãng quên tuyệt đối Ông vẫn cố bán lấy cuộc đời nhưng cuộc đời

đã quên hẳn ông => Đó chính là nỗi niềm đẩy bi kịch

- Lá vàng rơI trên giấy

Ngoài đường mưa bụi bay

=> Hai câu thơ tả cảnh nhưng chính là tả nỗi lòng con người

=> Hình ảnh lá vàng và mưa bụi những hình ảnh mang theo nỗi niềm buồn bả tàn tạ

và mịt mờ ảm đảm

3.Tâm trạng tác giả

Trong quá khứ hình ảnh ông đồ đã gắn bó mỗi khi hoa đào nở tết đến xuân về Nay hâo đào lại nở nhưng hình ảnh ông đồ không còn nữa

“ Năm nay đào lại nở

…Hồn ở đâu bay giờ”

=> ý thơ gợi đến cái mất, tạo nên cảm giác hụt hẫng, chơi vơi

=> Kiểu kết cấu đầu cuối tương ứng thể hiện nỗi buồn tiếc nuối cảnh cũ người xưa + Câu hỏi tu từ thể hiện sự bâng khuâng xót xa nghĩ đến một lớp người, một thế hệ một truyền thống văn hoá tốt đẹp đã bị quên lãng

=> Thể hiện thái độ giàu chất nhân văn của nhà thơ về sự gắn bó và trân trọng một lớp người tài hoa đáng kính, một nét đẹp văn hoá đã ăn sâu vào tiềm thức bao thế hệ người Việt

NHỚ RỪNG Thế Lữ

I Tìm hiểu chung

1 Tác giả:

- Thế Lữ (1907- 1989) tên khai sinh Nguyễn Thứ Lễ, quê Bắc Ninh (nay thuộc Gia

Lâm HN)

- Lµ nhµ th¬ tiªu biÓu nhÊt cña phong trµo th¬ míi buæi ®Çu (1932-1935) víi mét hån th¬ LM

(-> Bút danh của ông được đặt theo cách chơi chữ - nói lái của dân gian: Thứ Lễ - Thế Lữ: còn hàm ý là nguời lữ khách trên trần thế, cả đời chỉ ham đii tìm cái đẹp, để vui chơi:

Tôi là người khách bộ hành phiêu lãng Đường trần gian xuôi ngược để vui chơi!

Tôi chỉ là một người khách chinh phu Dấn bước truân chuyên khắp hải hồ…)

2 Tác phẩm

- Lµ bµi th¬ tiªu biÓu nhÊt cña ThÕ L÷

3 Bố cục: 4 phần

- P1: câu 1 – 8: tâm trạng của con hổ trong cũi sắt vườn bách thú

- P2: câu 9 – 30: con hổ nhớ tiếc quá khứ oai hùng nơi rừng thẳm

Trang 3

- P3: câu 31 – 39: con hổ trở về thực tại, chán chường, uất hận

- P4: còn lại: tiếc nuối giấc mộng

Thể loại:

4 Thể thơ mới 8 chữ, nhịp thơ thay đổi theo mạch cảm xúc:

II Tìm hiểu chi tiết:

1 Tâm trạng của con hổ trong cũi sắt ở vườn bách thú( Khæ 1)

- Hai câu thơ đầu vang lên đột ngột, trực tiếp diễn tả hành động, tâm trạng và tư thế của con hổ trong cũi sắt vườn bách thú:

+ Con hổ cảm nhận được nỗi khổ không được hành động, trong một không gian

tù hãm, biến thành trò chơi cho thiên hạ, nỗi bất bình vì bị ở chung cùng với bọn thấp kém

+ Nỗi nhục bị biến thành trò chơi lạ mắt cho lũ người ngạo mạn ngẩn ngơ… + Tư thế “nằm dài trông ngày tháng dần qua” Thể hiện sự chán chường, ngao

ngắn tầm thường, buông xuôi bất lực ngày đêm gặm nhấm nỗi căm hờn… Nó cảm thấy nhục nhã vì phãi hạ mình ngang hàng với bọn gấu, báo

 Động từ gậm và khối diễn tả sự uất ức, bất lực của chính bản thân con hổ khi bị

mất tư do Nó gậm khối căm hờn không sao giải toả được Tác giả dung 1động từ cụ thể, danh từ hoá 1 tính từ trừu tượng để cụ thể hoá nó nhằm miêu tả tâm trạng của chúa sơn lâm, tạo thi hứng cho toàn bài

- Hổ nằm gặm nhấm nỗi căm hờn cứ lớn dần thêm trong lòng như một khối u sầu nhức nhối Nó khinh bỉ lũ người bên ngoài, cảm thấy nhục nhã vì phải hạ mình ngang

hang với bọn gấu, báo Hổ thấm thía thân phận: Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn!

2 Con hổ nhớ tiếc quá khứ: ( Khæ 2+3)

* Hæ nhí vÒ h×nh ¶nh nói rõng :

- Bóng cả ,cây già -> rừng già âm u

- Gió gào ngàn , nguồn hét núi, thét khúc trường ca dữ dội- > âm thanh mạnh, tăng tiến - Điệp từ "với" => Cảnh giang sơn hùng vĩ

- Hàng loạt những động từ tính từ, danh từ phong phú được lựa chọn để tả cảnh rừng

đại ngàn: bóng cả, cây già, gió gào, hét núi, lá gai, cỏ sắc, thảo hoa, thét, dữ dội Cái

gì cúng to lớn, phi thường, bí mật, lì vĩ, lạ lung, oai linh, ghê gớm

* H×nh ¶nh con hæ gi÷a giang s¬n hïng vÜ :

- Trên cái nền thiên nhiên ấy chúa sơn lâm xuất hiện ngang tµng lÉm liÖt, mÒm m¹i

uyÓn chuyÓn:

Ta bước chân lên Dõng dạc đường hoàng

Lượn tấm thân như song cuộn, nhịp nhàng

Vên bang ©m thÇm l¸ gai cá s¾c…im h¬i

- Tư thế : dõng dạc , đường hoàng, lượn tấm thân, vờn bóng

- Uy lực : quắc mắt -> mọi vật đều im hơi

- Nhịp thơ : 4/2/2 ; 4/1/1 ; 3/4; 1/2/5 -> thay đổi linh hoạt

=> vẻ đẹp oai phong ,dũng mãnh đầy uy lực của con hổ

Trang 4

Đõy là đoạn hay nhất của bài thơ Nú đưa người đọc vào thế giới mộng ảo huy hoàng của quỏ khứ, khiờn nhõn vật trữ tỡnh con hổ đó được nhõn hoỏ cao độ, trong phỳt chốc

cú thể quờn đi hiện thực chỏn chường chỳa sơn lõm hoàn toàn ngự trị trong vương quốc của mỡnh

- Cõu thơ gợi hình ảnh con hổ xuất hiện sống động, tạo hỡnh: Tiếng gầm – bàn chõn - tấm thõn- bước đi - mắt quắc - mọi vật đều im -> Đú là trỡnh tự xuất hiện và ảnh

hưởng của chỳa rừng Vừa mạnh mẽ đe doạ, vừa khụn khộo, nhẹ nhàng, vừa uy nghi dũng mónh, vừa mềm mại

 Tõm trạng của con hổ khi ấy là hài lũng, thoả món, tự hào về oai vũ của mỡnh

- Hổ luôn nhớ về cuộc sống x-a với cảm hứng lãng mạn :

“ Nào đâu những đêm vàng…còn đâu?

 Đoạn thơ thứ 3 nh- bức tranh tứ bình tuyệt bút về thiên nhiên là cái tôi cá nhân lãng mạn của Thế Lữ: đờm vàng, trăng tan, bỡnh minh cõy xanh, chiều lênh láng máu sau rừng…Trờn nền cảnh đú, một mãnh hổ đang say mồi , một đế v-ơng đang oai vũ ngắm giang sơn của mỡnh Một chỳa rừng đang ru mỡnh vào giấc ngủ bởi tiếng chim hút rộn ràng Một chúa sơn lâm đang chiếm lấy riêng phần bí mật cho riêng mình Nhịp điệu thơ cuồn cuộn tuôn trào = > Nỗi nhớ tiếc khôn nguôi quá khứ oai hùng, oanh liệt và khát khao tự do mãnh liệt

- Điệp từ "nào đâu", cõu thơ cảm thán cuối đoạn tràn ngập cảm xỳc buồn thương, thất vọng, nhớ tiếc… vang lờn chậm nhẹ, nóo nuột như một tiếng thở dài ai oỏn kộo tưởng tượng lóng mạn của con hổ về với thực tại

> Đú khụng phải là tõm trạng của con hổ mà cũn được đồng cảm sõu xa trong tõm trạng của cả lớp người Việt Nam trong thời nụ lệ, mất nước nhớ về quỏ khứ hào hựng của dõn tộc

3 Niềm uất hận trước cảnh tầm thường, giả dối để càng theo giấc mộng nhớ rừng.( Khổ 4+5)

- Trở về thực tại cảnh vật bõy giờ : "Nay ta ôm niêm uất hận ngàn thâu"

- Cảnh vật trước mắt con hổ là cảnh gọn gàng, sạch sẽ được chăm súc hàng ngày nhưng lại là cảnh khụng thay đổi, nhàm chỏn, đặc biệt là tầm thường, giả dối

- Đõy ko phải là t/nhiờn thật mà là th/nhiờn nhõn tạo, thu nhỏ và được sắp xếp bởi bàn tay con người

> Đú đõu chỉ là cảnh vật cảm nhận ở vườn bỏch thỳ mà mở rộng ra chớnh là một cỏch núi về cảm nhận của thanh niờn , trớ thức Việt Nam về tỡnh hỡnh thực tại xó hội thời Phỏp thuộc - một xó hội thực dõn nửa phong kiến đang trờn đường Âu hoỏ với bao điều lố lăng, kệch cỡm, nhất là ở thị thành

Giọng điệu của đoạn thơ là giọng điệu chờ bai, coi thường của một thõn tự nhưng vẫn muốn đứng cao hơn thực tại

- Đoạn thơ cuối mở đầu và kết thỳc đều bằng hai cõu cảm gúp phần đưa tõm trạng bức xỳc của nhõn vật trữ tỡnh – con hổ lờn đến đỉnh cao

KL : Baứi thụ noựi veà con hoồ nhửng cuừng laứ noựi ủeỏn con ngửụứi nhaộc ngửụứi ta nhụự ủeỏn thuụỷ oanh lieọt, chaựn gheựt caỷnh tuứ tuựng noõ leọ Neựt tớch cửùc ụỷ baứi thụ laứ : Tuy

Trang 5

hỡnh aỷnh con hoồ khoõng coự khớ theỏ soồ loàng tung caựnh, hay yự chớ maừnh lieọt muoỏn ủaùp tan phoứng maứ ra nhử hỡnh aỷnh ngửụứi tuứ caựch maùng nhửng noự khoõng chũu ủaàu haứng, luoõn nung naỏu caờm hụứn, luoõn nhụự veà quaự khửự, veà quaự khửự ẹoự laứ neựt tớch cửùc khụi gụùi trong loứng ngửụứi ủoùc

QUấ HƯƠNG Tế Hanh

I Tỡm hiểu chung:

1 Tác giả:

- Trần Tế Hanh, sinh nam 1921 tại một làng chài ven biển tỉnh Quảng Ngãi

- Ông có mặt trong phong trào Thơ mới ở chặng cuối với những bài thơ mang nặng nỗi buồn và tình yêu quê h-ơng tha thiết

2 Bài thơ

* Xuất xứ: Bài thơ đ-ợc sáng tác năm 1938, khi Tế hanh tròn17 tuổi, đanh học ở Huế

Xa quê, nhớ nhà, bằng một cảm xúc trong trẻo thuần khiết, ông viết bài thơ này nh- một kỉ niệm để dâng tặng cho quê h-ơng

II Tỏc phẩm:

1 Giới thiệu chung về quê h-ơng

- 2 câu đầu nói về “làng tôi” Thân mật, tự hào, yêu th-ơng: Làng tôi vốn làm

ngày sông

- Mở đầu bài thơ: giới thiệu làng quê của mình bằng hai câu thơ tự sự-> nghề nghiệp của làng là nghề chài l-ới, về mặt địa lí: n-ớc bao vây, cách biển nửa ngày sông ->

làng ở ven biển Giọng điệu tâm tình, một cách nói chân quê dân dã vừa trìu t-ợng vừa cụ thểLời thơ mộc mạc, giản dị và cách tính độ dài độc đáo của dân chài l-ới

2 Cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá

- Ng-ời dân chài bắt đầu đi đánh cá trong khung cảnh thời gian, không gian:

Trời trong gió nhẹ sớm mai hồng

 các tính từ gợi tả màu sắc đã gợi lên một khung cảnh: bầu trời cao rộng, trong trẻo, nhuốm sắc hồng bình minh Câu thơ t-ởng nh- chẳng có gì mà dựng lên đ-ợc

cả không gian ban mai trên biển Đó là thời tiết tốt đẹp, một vẻ đẹp tinh khôi, mát mẻ,dễ chịu, thoáng đãng, bao la sắc hồng của bình minh

Buổi sáng đẹp trời ấy, không chỉ báo hiệu một chuyến ra khơi yên lành mà còn hứa hẹn những mẻ cá bội thu

- Hình ảnh chiếc thuyền đ-ợc tác giả miờu tả qua cõu thơ:

“Chiếc thuyền nhẹ hăng nh- con tuấn mã" (Tuấn mã" gợi lên một hình

ảnh: ngựa đẹp, phi nhanh) “Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang“  So sánh

và sử dụng một loạt các động từ ( hăng, phăng,v-ợt )

Trang 6

.==> thấy cảnh đoàn thuyền ra khơi đầy khí thế hăm hở, hào hùng với một sức

sống mạnh mẽ, một vẻ đẹp hùng tráng thật hấp dẫn Bốn câu thơ vừa là phong cảnh thiên nhiên t-ơi sáng vừa là bức tranh lao động đầy hứng khởi và dạt dào sức sống

- Hai câu sau, nhà thơ đặc tả cánh buồm:Cánh buồm gi-ơng to nh- mảnh hồn làng; Rướn thân trắng bao la thâu góp gió”  Cách so sánh "cánh buồm " thật độc đáo: So sánh giữa cái cụ thể và cái trừu t-ợng không làm cho đối t-ợng miêu tả cụ thể hơn

mà gợi ra một vẻ đẹp bay bổng,mang ý nghĩa lớn lao Từ " r-ớn" gợi lên một t- thế

mở rộng, v-ơn cao về phía tr-ớc

 Qua sự so sánh đó, tác giả muốn khẳng định hình ảnh cánh buồm trắng căng gió biển khơi quen thuộc bỗng trở nên lớn lao, thiêng liêng và rất thơ mộng Đó là biểu t-ợng của linh hồn làng chài, một làng quê giàu sức sống , sức v-ơn lên

3 Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về

- Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về đ-ợc miêu tả qua nhữngcâu thơ: Ngày hôm sau ồn

ào trên bến đỗ…bạc trắng“ Không khí ồn ào, tấp nập đón ghe về cùng với lời cảm tạ chân thành trời đất cho thấy bức tranh cuộc sống lao động náo nhiệt, đầy ắp niềm

vui và sự sống nh-ng cũng nhiều nỗi lo toan

- Trong niềm vui hân hoan đó, tác giả đã cảm nhận ng-ời dân chài qua những câu thơ:

“Dân chài lưới làn da ngăm dám nắng, cả thân hình nồng thở vị xa xăm“ Câu thơ tả

thực: hình ảnh ng-ời dân chài làn da ngăm đen vì nắng gió

là sự sáng tạo độc đáo, gợi cảm: ng-ời lao động làng chài, những đứa con của biển khơi thân hình vạm vỡ thấm đậm vị mặn mòi nồng toả vị xa xăm của biển

 Hình ảnh ng-ời dân chài đ-ợc miêu tả vừa chân thực vừa lãng mạn và trở nên

có tầm vóc phi th-ờng

- Hình ảnh con thuyền sau khi vật lộn với sóng gió biển khơi đ-ợc hiện lên qua câu thơ: “ Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm; Nghe chất muối them dần trong thớ vỏ” Đây cũng là một sáng tạo độc đáo : Tác giả không chỉ nhìn thấy con thuyền

đang nằm im trên bến mà còn thấy "sự mệt mỏi say s-a" của con thuyền cùng với biện pháp nghệ thuật nhân hoá, ta cảm thấy con thuyền ấy nh- đang lắng nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ của mình Con thuyền vô tri vô giác đã trở nên có hồn, một tâm hồn rất tinh tế

 Đằng sau hình ảnh con thuyền là tâm trạng mãn nguyện và th- giãn của ng-ời dân chài sau một chuyến ra khơi

4 Nỗi nhớ quê h-ơng:

“Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ….nồng mặn quá“

- Trong xa cách, lòng tác giả nhớ nơi quê nhà: Biển, cá, cánh buồm, thuyền, mùi biển

Điều gì làm cho tác giả nhớ nhất: cái mùi nồng mặn của quê h-ơng Đó là mùi vị

nồng nàn, đặc tr-ng của quê h-ơng lao động: mùi nồng mặn của gió biển, của sóng

biển, của muối biển Nỗi nhớ ấy cho ta cảm nhận về tấm lòng Gắn bó, thuỷ chung với quê h-ơng cho dù xa cách của nhà thơ

(4 câu kết: Nỗi nhớ tình quê: - Xa quê tác giả trực tiếp nói về nỗi nhớ của mình, nhớ

tất cả: Màu n-ớc xanh cá bạc chiếc buồm vôi, nhớ cả con thuyền rẽ sóng ra khơi, nhớ

cái mùi nồng mặn: cái mùi nồng mặn của muối, cá, gió nắng, hơi thở đặc tr-ng riêng

Trang 7

của linh hồn quê h-ơng đã ám ảnh nhà thơ cho đến suốt đời chính là h-ơng vị của quê h-ơng vô cùng thắm thiết Câu cuối bài thơ nh- một tiếng kêu thầm mỗi khi nhớ quê không kìm nổi lòng mình “Sự thành thực của nhà thơ thật không ngờ Không có một tâm hồn đắm đuối không thể viết nên những lời như thế”

- Điệp ngữ “nhớ” làm cho giọng thơ thiết tha, bồi hồi sâu lắng Xa quê nên “tưởng nhớ” khôn nguôi Và đặc điểm đó sẽ trở thành một nét phong cách làm nên bản lĩnh thơ Tế Hanh sau này.)

- Em đánh giá nh- thế nào về bài thơ?

- Quê h-ơng là một bài thơ hay nổi tiếng của Tế Hanh, nó gắn liền với tuổi thơ trong sáng, với tuổi hoa niên của ông Thể thơ 8 tiếng giọng thơ đằm thắm, dạt dào, gợi cảm Nghệ thuật phối sắc sử dụng các biện pháp tu từ nh- ẩn dụ so sánh, nhân hoá và chuyển đổi cảm giác khá thành công, tạo nên những vần thơ trữ tình chứa chan thi vị

- Trong nền thơ ca hiện đại VN, bài thơ đ-ợc coi là bài thơ đầu tiên, bài thơ có hồn vía nhất viết về quê h-ơng Nó đã khơi dòng cho nhiều bài thơ tuyệt bút nối tiếp xuất hiện: BK sông Đuống (HCầm), Quê h-ơng (ĐTQ)

Khi con tu hú (Tố Hữu)

I.Tìm hiểu chung:

1 Nêu những hiểu biết của em về Tố Hữu

* Tác giả (chú giải-SGK): (1920-2002)

Sinh năm 1920, ụng tớnh tuổi mỡnh: “Liờn Xụ nở trước đời tụi ba tuổi”

- Là đứa con của “Huế đẹp và thơ”, như ụng viết:

“Hương Giang ơi, dũng sụng ờm,

Qua tim ta, vẫn ngày đờm tự tỡnh”

(Bài ca quờ hương)

- 19 tuổi đó trở thành đảng viờn Đảng Cộng sản, tiếp tục hoạt động bớ mật chống Phỏp - Nhật

- Sau Cỏch mạng, ụng phụ trỏch cụng tỏc Văn nghệ, là cỏn bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước

- Tố Hữu là nhà thơ lớn của đất nước ta Hơn nửa thế kỷ làm thơ, năm 70 tuổi ụng viết:

“Bạc phơ mỏi túc, mõy đưa mộng

Thanh bạch hồn thơ, nắng nở hoa”

(“Bảy mươi” – 10/1990)

- Ông đ-ợc tặng giải th-ởng HCM về Vhọc NT 1996

* Tác phẩm: Gv cho HS kể thêm một số tác phẩm của Tố Hữu

1 “Từ ấy”, (1937 – 1946)

2 “Việt Bắc” (1954)

3 “Giú lộng” (1961)

4 “Ra trận” (1972)

Trang 8

5 “Mỏu và hoa” (1977)

6 “Một tiếng đờn” (1979 – 1992)

2 Hoàn cảnh ra đời của bài thơ:

- Tháng 7/39 khi bị bắt giam vào nhà lao Thừa Phủ Từ ấy” - tập thơ 10 năm của Tố Hữu (1937 – 1946) hiện cú 72 bài thơ Bài “Khi con tu hú” được Tố Hữu viết tại nhà

lao Thừa Thiờn vào cuối thỏng 4 năm 1939, mở đầu cho phần “Xiềng xớch” của tập

“Từ ấy”

*Bố cục:

? Bài thơ có thể chia làm mấy đoạn, nội dung của từng đoạn?

- 6 câu đầu: Cảnh trời đất vào hè trong tâm t-ởng của ng-ời tù cách mạng

- 4 câu cuối: Tâm trạng của ng-ời tù

* Hiểu nhan đề bài thơ nh- thế nào? Viết bài thơ 4 chữ khi con tu hú để tóm tắt nội dung bài thơ Vì sao tiếng chim tu hú lại tác động mạnh mẽ đến nhà thơ nh- vậy?

- Tóm tắt nội dung bài thơ: Thời điểm diễn ra một sự việc, tâm trạng

- Khi con tu hú gọi bầy là khi mùa hè đến, ng-ời tù CM cũng cảm thấy ngột ngạt trong phòng giam chật chội, càng thèm khát cuộc sống tự do t-ng bừng ở bên ngoài

- Tiếng chim tu hú: hoán dụ-> mùa hè đầy sức sống, rực rỡ, tự do:-> tác động đến ng-ời tù

II Phân tích:

1 Cảnh trời đất vào hè trong tâm t-ởng của ng-ời tù cách mạng

Nghe thấy tiếng chim tu hú, trong tâm t-ởng ng-ời chiến sỹ trẻ trong tù đã gợi lên:

- Ve ran trong v-ờn râm, lúa chiêm chín vàng, bầu trời cao rộng, , cánh diều, trái cây ngọt

-> Tiếng chim tu hú đánh thức dậy một cảnh mùa hè rộn rã âm thanh, rực rỡ sắc màu, ngọt ngào h-ơng vị, bầu trời khoáng đạt, tự do

-> Sự cảm nhận tinh tế, mãnh liệt của ng-ời tù CM trẻ tuổi, một con ng-ời có tình yêu thiên nhiên và tự do tha thiết

2 Tâm trạng của ng-ời tù:

- Bốn câu tiếp, 4 câu thơ diễn đạt tâm trạng của ng-ời tù : "Ngột làm sao cứ kêu ằ

- Bằng cách s- dụng :

- Nhịp thơ:6/ 2(8), 3/3 (6) bất th-ờng

- Từ ngữ mạnh: đập tan, chết uất

- Từ ngữ cảm thỏn: ôi, thôi, làm sao-> diễn đạt tâm trạng cảm giác ngột ngạt cao độ, niềm khao khát tự do cháy bỏng muốn thoát khỏi cảnh tù ngục, trở về cuộc sống bên ngoài

-> Tiếng chim tu hú mở đầu và kết thúc bài thơ

+Đầu: Cảnh đất trời bao la

+Kết: Càng làm cho ng-ời chiến sỹ thấy ngột ngạt, đau khổ vì bị mất t ự do

-> Đều là tiếng gọi của tự do, của sự sống

( Hs đọc thêm bài Tâm t- trong tù:

Trang 9

GV nãi thªm: Từ ấy” - tập thơ 10 năm của Tố Hữu (1937 – 1946) hiện có 72 bài thơ

Bài “Tâm tư trong tù” là bài thơ số 30, được Tố Hữu viết tại nhà lao Thừa Thiên vào

cuối tháng 4 năm 1939, mở đầu cho phần “Xiềng xích” của tập “Từ ấy”

Viết theo thể thơ tự do, 4 câu đầu được nhắc lại 2 lần trở thành điệp khúc gợi tả cảnh thân tù với bao nỗi buồn cô đơn và lòng khao khát tự do Câu cảm thán vang lên bồi

hồi đầy ám ¶nh

- Cảnh thân tù với bao nỗi buồn cô đơn và lòng khao khát tự do Câu cảm thán vang

lên bồi hồi đầy ám ảnh:

“Cô đơn thay là cảnh thân tù!

Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực

Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức

Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu!”

“Cảnh thân tù” là sàn lim với “mảnh ván ghép sầm u”, là nơi “lạnh lẽo bốn tường

vôi khắc khổ”, là chốn “âm u” của địa ngục trần gian! Đối lập với “cảnh thân tù” là

“tiếng đời lăn náo nức” – âm thanh của cuộc sống, là tiếng gọi của tự do Một chữ

“nghe” được nhắc lại nhiều lần, nhịp điệu thơ tha thiết ngân vang Lòng yêu đời, yêu cuộc sống, niềm khao khát tự do càng trở nên sôi sục, mạnh mẽ:

“Nghe chim reo trong gió mạnh lên triều

Nghe vội vã tiếng dơi chiều đập cánh

Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh

Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về…

(…) Nghe gió xối trên cành cây ngọn lá

Nghe mênh mang sức khỏe của trăm loài”

Người chiến sĩ trẻ lần đầu bị thực dân Pháp bắt bớ, giam cầm Hầu như suốt đêm ngày thao thức “lắng nghe” những âm thanh, “những tiếng đời lăn náo nức” lay gọi Tâm tư xao xuyến, bồi hồi, mênh mang Trong hoàng hôn, tiếng dơi đập cánh nghe sao mà “vội vã” Và giữa đêm khuya, một tiếng “lạc ngựa”, một cái “rùng chân”, một

“tiếng guốc đi về”, tiếng “gió xối” - tất cả là âm thanh cuộc đời, gần gũi, thân quen, nhưng giờ đây trong cảnh thân tù những âm thanh ấy mang một ý nghĩa vô cùng mới

mẻ, đó là tiếng gọi tự do, là tiếng lòng sôi sục, trẻ trung và căng đầy nhựa sống)

Trang 10

BT1: Đoạn thơ 10 câu có nội dung diễn tả nỗi nhớ những kỉ niệm của con hổ

trong bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ: Nào đâu những đem vàng bên bờ

suối

………

- Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

BT2: Phân tích tác dụng của các điệp ngữ và câu hỏi tu từ trong đoạn thơ đối với việc diễn tả tâm trạng của con hổ

“Nhớ rừng” của Thế Lữ là bài thơ kiệt tác mang tính hàm nghĩa, có hình tượng

tráng lệ, nhạc điệu du dương, lôi cuốn hấp dẫn người đọc Bài thơ thể hiện tâm trạng của con hổ bị sa cơ, qua đó nói lên nỗi tủi nhục, uất hận bị tù hãm và khát vọng tự do

của nhà thơ Đoạn thơ: “Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối … - Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?” là đoạn thơ hay nhất của bài thơ Với đại từ “ta” được lặp lại

nhiều lần, Thế Lữ lã làm nổi bật vị chúa rừng xanh uy nghi lẫm liệt ngự trị trong

vương quốc của nó qua những kỉ niệm đẹp thuở “vùng vẫy ngày xưa” Cùng các luyến láy, điệp ngữ: “nào đâu, đâu những, còn đâu” xuất hiện nối tiếp trong 5 câu hỏi

tu từ tạo nên nhạc điệu du dương, triền miên, da diết, thể hiện sâu sắc nỗi nhớ của hùm thiêng sa cơ, nhớ rừng, tiếc nuối một thời oanh liệt đã trở thành hoài niệm, dĩ vãng Quá khứ càng đẹp, càng oanh liệt bao nhiêu thì nỗi tiếc nuối càng đau đáu bấy

nhiêu Xưa là “tung hoành”, là “vùng vẫy”, nay là “nằm dài” trong cũi sắt Nuối tiếc thời oanh liệt với bao nỗi buồn đau, mãnh hổ sa cơ chỉ còn biết cất lời than: “Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?” Đoạn văn vơi cấu trúc tứ bình có nhiều sáng tạo đổi

mới Có thời gian nghệ thuật (đêm trăng, ngày mưa, bình minh, chiều tà) Có không gian nghệ thuật (suối và trăng, giang san và bốn phương ngàn, cây xanh nắng gội và tiếng chim ca, sau rừng và mảnh mặt trời gay gắt) Có tâm trạng nghệ thuật, bao trùm

là nỗi nhớ tiếc một thời oanh liệt xa xưa (Hổ lúc thì say mồi, lúc thì trầm tư lặng ngắm, lúc thì ngủ, lúc thì đợi…) Đoạn thơ đã để lại dấu ấn tâm hồn Thế Lữ bảy mươi năm về trước, về một hồn thơ lãng mạn tuyệt đẹp, một niềm khao khát tự do cháy bỏng tâm hồn

BT3: Cảm nhận khi đọc khổ thơ cuối trong bài thơ ông đồ của Vũ Đình Liên:

Năm nay đào lại nở,

Không thấy ông đồ xưa

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

Ông Đồ, một hình ảnh rất quen thuộc trong xã hội Việt Nam thời xưa Đó chính là

biểu tượng của những nhà nho không đỗ đạt làm quan, thường đi dạy học hoặc viết chữ thuê Với ngòi bút tài hoa, sắc sảo Vũ đình Liên đã bộc lộ niềm thương cảm của

mình trước ngày tàn của nền nho học qua bài thơ Ông đồ Bài thơ mở đầu là: Mỗi

năm hoa đào nở - Lại thấy ông đồ già và kết thúc là: Năm nay đào lại nở - Không thấy ông đồ xưa Đó là kiểu kết cấu đầu cuối tương ứng rất chặt chẽ, làm nổi bật chủ

Ngày đăng: 05/04/2022, 19:55

w