2.Mục đớch: Thực tế cho thấy, hiện nay số học sinh giỏi văn cú chiều hướng ngày càng giảm đi, màchất lượng của những em được cụng nhận cũng khụng cao, số bài viết giàu “chất văn”ngày cà
Trang 13 Đối tợng, phơng pháp nghiên cứu và đối tợng khảo sát 2
4 Nhiệm vụ, phạm vi va thời gian thực hiện 3
5 Đóng góp của skhn đối với việc nâng cao chất lợng
Trang 2Làm nghề dạy học, ai cũng muốn “sản phẩm” của mỡnh đạt chất lượng cao, aicũng muốn cú học sinh giỏi, đặc biệt là với những người tõm huyết nghề nghiệp, họ luụndồn hết sức lực và trớ tuệ của mỡnh để đạt được những mong muốn đú Tuy nhiờn, muốn
cú được như thế thỡ đũi hỏi sự nỗ lực từ nhiều phớa (kể cả người học, người dạy, và phụhuynh) chứ khụng chỉ phớa người dạy, do đú mong muốn chớnh đỏng của người thầy giỏokhụng chỉ dựa vào sự nỗ lực của chủ quan mà thành hiện thực được (và giỏo viờn văncũng khụng phải là ngoại lệ, đú là chưa núi đến để cú được học sinh giỏi văn cũn cúnhiều cỏi khú hơn cỏc mụn khỏc)
2.Mục đớch:
Thực tế cho thấy, hiện nay số học sinh giỏi văn cú chiều hướng ngày càng giảm đi, màchất lượng của những em được cụng nhận cũng khụng cao, số bài viết giàu “chất văn”ngày càng hiếm mà nguyờn nhõn một phần là do phụ huynh khụng muốn cho con đi họcmụn văn vỡ sau này ớt cú cơ hội chọn nghề; học sinh thỡ khụng cú hứng thỳ vỡ khụng tỡmthấy sự hấp dẫn ở mụn văn, hơn nữa học mụn văn thường điểm khụng cao (vỡ giỏo viờnchỉ hay cho thang điểm 5-6-7, hiếm khi được điểm 8 điểm 9 cho dự học sinh đó cú những
cố gắng) Cũn người dạy thỡ cứng nhắc, rập khuụn, làm hạn chế sức sỏng tạo của họcsinh, (vỡ em nào viết văn phải theo như đỏp ỏn mới cao điểm) Vỡ thế tụi muốn cựng cỏcđồng nghiệp trao đổi một số kinh nghiệm trong cụng tỏc bồi dưỡng học sinh giỏi văn lớp
6 Tuy nhiờn trong khuụn khổ của một đề tài, tụi chỉ dỏm đề cập đến vấn đề hướng dẫn
cho học sinh cỏch cảm thụ thơ để từ đú rốn kỹ năng viết văn.
3.Đối tượng, phương phỏp nghiờn cứu và đối tượng khảo sỏt.
a Đối tợng
Chơng trình Ngữ Văn lớp 6
b Phơng pháp nghiên cứu
Phơng pháp chủ yếu khảo sát, nắm bắt tình hình thực tiễn và
đúc rút kinh nghiệm thực tiễn giảng dạy hàng năm để tìm ra giảipháp chung
c Đối tợng khảo sát
Học sinh lớp 6
Trang 34.Nhiệm vụ, phạm vi và thời gian thực hiện
a Nhiệm vụ:
Đề tài này sẽ tiến hành tìm hiểu một số phơng pháp và kinhnghiệm nhằm nâng cao chất lợng học sinh giỏi ở bậc THCS
b Phạm vi đề tài
Cỏc bài tập nõng cao trong chuơng trỡnh Ngữ văn 6
c Thời gian thực hiện
Năm học 2011-2012
5.Đúng gúp của SKKN.
- Giới thiệu khỏi quỏt về cỏc bước làm bài
- Cỏch làm, nhõn diện đề
- Minh họa bằng những đề văn cụ thể
PHẦN II: NỘI DUNG
ở độ tuổi giàu cảm xúc và trí tởng tợng, sự cảm thụ tiếp nhận nghệthuật đang chuyển từ cảm tính đến lý tính Đây là giai đoạn năngkhiếu nghệ thuật nói chung, năng khiếu văn chơng nói riêng có cơ hộibộc lộ và phát triển đầy đủ và rõ rệt hơn Tiếp xúc với tác phẩm vănchơng các em tự đặt mình trong cảnh ngộ, tâm trạng của nhânvật, cùng vui buồn, sớng khổ với các nhân vật Nói nh nhà phê bình
Trang 4văn học Hoài Thanh: “ Văn chơng gây cho ta những tình cảm takhông có, luyện những tình cảm ta sẵn có “ Thế giới hình tợng,tiếng lòng của nghệ sĩ qua đó nh khơi dậy, khích lệ các em từ năngkhiếu văn chơng đến năng khiếu sáng tạo nói chung Vì vậy, bồi dỡnghọc sinh giỏi là việc làm đúng đắn, cần thiết có tầm quan trọngtrong các nhà trờng THCS.
Công tác bồi dỡng học sinh giỏi ở trờng THCS có ý nghĩa thật to lớn
Nó góp phần đào tạo một lực lợng lao động đặc biệt của xã hội, lao
động sáng tạo nghệ thuật Nó phát hiện ra những tài năng ,nhân tàicho đất nớc.Phát hiện và bồi dỡng kịp thời năng lực cảm thụ văn ch-
ơng là thể hiện sâu sắc tinh thần nhân văn cao đẹp của chế độ
ta, của các nhà giáo Và vì vậy nó kích thích cổ vũ ý thức ,tinhthần,thái độ học tập của học sinh Khác với môn học khác, trong dạyhọc tác phẩm văn chơng ,những học sinh có năng khiếu thật sự, nhiềukhi có những phát hiện về tác phẩm mà giáo viên không thể ngờ tới.Vì vậy công tác này còn là việc làm thiết thực góp phần nâng cao ýthức và trình độ chuyên môn ,trình độ nghiệp vụ cho giáo viên
2 Cơ sở thực tiễn
Việc bồi dỡng học sinh giỏi nhằm phát hiện tài năng, nâng cao nănglực cảm thụ văn chơng cho học sinh.Vì vậy đây là công việc diễn rathờng xuyên hàng năm, là một công tác trọng tâm ở các nhà trờng.Hàng năm, sở giáo dục đào tạo các tỉnh và phòng giáo dục ở cáchuyện trên cả nớc vẫn tổ chức kỳ thi
chọn học sinh giỏi đối với mỗi khối cấp học Vì vậy công tác bồi dỡnghọc sinh giỏi đợc chú trọng ỏ tất cả các khối cấp học
Qua thực tế điều tra khảo sát tôi thấy việc bồi dỡng học sinh giỏi cómột khó khăn lớn đối với các nhà trờng là tất cả những học sinh cónăng khiếu đều thích thi môn tự nhiên số còn lại phần nhiều là họcsinh khá Vì vậy việc chọn học sinh có năng khiếu để bồi dỡng rất
Trang 5khó, số lợng học sinh thì ít mà các môn thi lại nhiều Mặt khác, donhận thức của một số phụ huynh lại không muốn cho con em mìnhtham gia đội tuyển văn cho nên thờng thì những học sinh có năngkhiếu cả về tự nhiên và xã hội thì các em lại không yêu thích và ham
mê học văn Và ngợc lại, lại có những học sinh rất thích học văn nhng lạikhông có năng khiếu gì về văn chơng Điều này có ảnh hởng không
ít đến chất lợng của đội tuyển văn
Một khó khăn nữa của giáo viên bồi dỡng học sinh giỏi đó là vấn
đề tài liệu, nhất là phơng pháp, hình thức bồi dỡng Kinh nhiệm thìcha có là bao mà những bài viết, những chuyên đề về vấn đề nàycòn qúa ít Chính từ những lý do này mà các giáo viên rất lo lắng khi
đợc phân công bồi dỡng, đặc biệt có những đồng chí tìm lý donày, lý do khác để từ chối bồi dỡng đội tuyển Đây là một tình hìnhthực thế mà tôi nắm bắt đợc thông qua trao đổi, gặp gỡ trực tiếpvới một số giáo viên bồi dỡng đội tuyển ở trờng.Thực tế trên đã giúp tôinhận thức sâu sắc hơn về công tác này
Chính vì vậy tôi nhận thấy vấn đề bồi dỡng học sinh giỏi là vấn
đề khó khăn với mỗi giáo viên, nhất là những giáo viên trẻ Vậy làm thếnào để có thể đạt đợc những kết quả cao trong công tác bồi dỡnghọc sinh giỏi? có lẽ đây cũng là vấn đề đợc nhiều giáo viên quantâm
Chương 2: Thực trạng vấn đề mà SKKN đề cập
Hiện nay, phần lớn học sinh khụng thớch học văn nờn thường học qua loa, đối phú,khụng nắm được cỏc giỏ trị nội dung, giỏ trị nghệ thuật của cỏc tỏc phẩm, khụng nhớ tỏcphẩm đú của ai, hoàn cảnh sỏng tỏc như thế nào? thậm chớ nếu văn tỏc phẩm là thơ thỡcũng khụng thốm học thuộc (cho dự những bài thơ thật hay) Những nột khỏi quỏt của tỏcphẩm khụng nắm được thỡ khụng cú gỡ để viết, dẫn đến bài viết nghốo ý; văn viết khụ
Trang 6khan, trần trụi; nghĩ sao viết vậy chứ không biết gọt dũa, không biết dùng các biện pháp
tu từ thích hợp để cho bài viết sinh động.Thực trạng này đã được nhiều người tâm huyếtvới nghề trao đổi trên diễn đàn của báo Giáo dục & Thời đại, và lý do đưa ra cũng kháphong phú, đa dạng, song tập trung chủ yếu vào các nguyên nhân sau:
-Người dạy văn chưa truyền được cái hay của tác phẩm văn chương sang cho ngườihọc (kể cả cách cảm thụ cũng như kỹ năng viết những câu văn giàu hình tượng)
-Chưa trang bị những kiến thức cơ bản về các thể loại văn học cho học sinh nên phầnlớn học sinh hiểu trong văn học cũng như ngoài đời, do đó dẫn đến tình trạng khi làmvăn “thấy sao viết vậy” ( nhất là trong văn miêu tả và văn tường thuật) mà thiếu đi sựchọn lọc, làm cho bài văn trở nên trần trụi, sa vào “chủ nghĩa tự nhiên”
-Chưa phân biệt được ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viêt nên khi viết văn vẫn dùng từnhư ngôn ngữ nói
-Một số giáo viên chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm khi chấm, trả bài nên học sinhkhông nhận ra thiếu sót để sửa chữa cho những bài sau (thậm chí đọc bài hờì hợt, khôngphát hiện ra những tứ văn mới, những sáng tạo (dù nhỏ) của học sinh, do đó không có sựkhuyến khích kịp thời (và đó cũng là lý do làm thui chột lòng ham thích học văn của cácem)
Tất cả những lý do trên đây đã “góp phần không nhỏ” vào việc làm cho học sinh thíchhọc văn ngày càng ít đi, vì thế mà trong một khoá học có hàng trăm em, nhưng để chọn3-5 em đi bồi dưỡng học sinh giỏi văn thì đúng là “nhân tài như lá mùa thu” (đó là chưa
kể có em giỏi văn nhưng lại muốn đi học bồi dưỡng kiến thức cho những môn “thờithượng” hơn) cho nên để có học sinh giỏi văn thật khó lắm thay!
Từ thực tế trên, qua những việc đã làm của bản thân, tôi muốn được cùng các đồngnghiệp chia sẻ, trao đổi để ngày càng có nhiều học sinh “chịu” học văn hơn
Chương 3: Những giải pháp mang tính khả thi
Trình tự các bước từ khâu chọn học sinh đi bồi dưỡng đến việc hướng dẫn cách cảm thụ
và rèn luyện cho học sinh kỹ năng viết văn như sau:
1 Giải pháp 1: Phát hiện những học sinh có khả năng cảm thụ văn học:
Trang 7Qua một thời gian dạy, sau những bài kiểm tra và bài viết, em nào có cách diễn đạt
linh hoạt, không viết lại những nội dung mà giáo viên đã cho ghi khi học, không theo khuôn mẫu nào thì giáo viên nên khuyến khích, động viên (có thể cho điểm cao, mặc dù
bài viết chưa xứng đáng như thế) để các em mạnh dạn viết theo cách hiểu, cách cảm củamình, có như thế mới phát huy được tính sáng tạo trong học sinh Mà muốn cho học sinhbiết cảm thụ thì trước hết người dạy phải đem được cái hay của văn chương đến chongười học, giúp cho học sinh kỹ năng cảm thụ cái hay cái đẹp của tác phẩm qua nhữngbiện pháp tu từ mà tác giả đã dụng công sử dụng.(lưu ý là những em đạt điểm cao trongcác bài kiểm tra và các bài làm văn không đồng nhất với những em ta sẽ chọn đi bồidưỡng văn Vì điểm cao là chỉ mới biểu hiện của việc nắm được kiến thức và đạt chuẩntheo đáp án chứ chưa hẳn là biết cảm thụ)
Khi chọn nên lấy rộng hơn một chút để tránh bỏ sót Sau khi đã bồi dưỡng một thờigian,giáo viên đã phần nào biết được sức học của các em; biết được em nào nhạy cảm,tinh tế trong cách hiểu, cách cảm thì có thể tổ chức thi đợt 1 để loại dần (để dành thờigian tập trung cho việc bồi dưỡng những em còn lại)
Thường, những em học giỏi là những em luôn khát khao bay vào thế giới tri thức, hamhiểu biết, muốn khám phá và đó cũng chính là những em biết thưởng thức cái đẹp, cótâm hồn trong sáng, lãng mạn nên bài viết thường đậm chất nhân văn, vì thế sau khi đượctiếp xúc với những tác phẩm giàu tính nghệ thuật, thấm đẫm tinh thần nhân đạo thì các
em đã phần nào cảm thụ được cái hay của tác phẩm, chỉ cần giáo viên hướng dẫn các emcách tiếp cận, cách khai thác là các em có thể chiếm lĩnh tác phẩm(ở đây chỉ bàn về việctiếp cận các tác phẩm là thơ)
2.Giải pháp 2: Giúp học sinh nhận biết một số “tín hiệu”để có cơ sở hiểu các tầng nghĩa mà người viết muốn gửi gắm:
Để có quan điểm đúng khi tiếp cận tác phẩm, giáo viên cần cho học sinh thấy được mối
quan hệ giữa “cảnh” và “tình” trong dụng ý tả cảnh của tác giả.
Quan điểm đó đã được đại thi hào Nguyễn Du viết:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?
Trang 8Ví dụ, khi miêu tả cái buồn, muốn làm cho người đọc thấy được cái buồn đang từng ngàytừng giờ gặm nhắm tâm hồn con người, làm cho người ta có cảm giác thời gian trôi đichậm chạp, dài lê thê thì Nguyễn Du viết :
“Sầu đong càng lắc, càng đầy
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê”
Nhưng nếu tâm trạng vui thì thường chúng ta lại thấy nó trôi qua rất nhanh, cho nên mới
có cảm giác “Ngày xuân ngắn chẳng tày gang” là vì vậy
Hoặc khi đọc “Câu cá mùa thu” của Nguyễn Khuyến, ta không thấy câu từ nàomiêu tả nỗi buồn của tác giả nhưng đọc cả bài thơ lên ta lại cảm nhận được nỗi buồn manmác đang bàng bạc khắp cỏ cây mây nước, như trùm lấy không gian tĩnh lặng của làngquê nơi tác giả đang ngồi câu cá bởi cái vần “eo”(nước trong veo,bé tẻo teo, khẽ đưavèo) cùng với cách gieo vần độc đáo trong khuôn khổ của một bài thất ngôn bát cúĐường luật Và với cảnh đó, tình đó; phần nào giúp ta thấy được thế sự của đất nướcmình hồi bấy giờ
Một ví dụ khác: trong “Ông đồ” của Vũ Đình Liên, để khắc hoạ đậm nét thời tàn tạcủa Nho học (khi mà xu hướng Tây học đang dần dần lấn át xu hướng Hán học), tác giảchỉ cần sử dụng một lát cắt của cuộc sống qua hình ảnh ông đồ cùng “mực tàu, giấy đỏ”vào những ngày tết đến xuân về, nhưng ở những khổ thơ khác nhau thì ông đồ cũng hiệnlên khác nhau Người đọc sẽ nhận thấy thời hoàng kim của ông đồ khi mà “bao nhiêungười thuê viết/ Tấm tắc ngợi khen tài/ hoa tay thảo những nét / Như phượng múa rồngbay” và cũng dễ dàng nhận ra cái thời huy hoàng đó đang dần lùi xa, nhường chỗ cho sựtàn lụi (ông đồ vẫn ngồi đấy/ qua đường không ai hay/ lá vàng rơi trên giấy/ ngoài trờimưa bụi bay) qua hình ảnh “lá vàng rơi”, “mưa bụi bay” cùng với sự thời ơ, vô cảm củadòng người đang hối hả đi sắm tết (ông đồ vẫn ngồi đấy/ qua đường không ai hay/ lávàng rơi trên giấy/ ngoài trời mưa bụi bay.)
Tóm lại: giữa “cảnh” và “tình” có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với nhau,cho nên qua
“cảnh” ta có thể hiểu “tình” và ngược lại qua “tình” ta cũng có thể hiểu “cảnh” để từ đó
có định hướng hiểu đúng tác phẩm
Trang 93 Giải pháp 3: Yêu cầu học sinh nắm chắc tiểu sử tóm tắt của các tác giả và cung cấp một số kiến thức lịch sử liên quan để có cơ sở hiểu đúng tác phẩm:
Nếu không nắm được tiểu sử tác giả và hoàn cảnh sáng tác thì khi phân tích dễ có sự lệchlạc, không hiểu đúng tác phẩm và nhất là không có kiến thức để viết phần mở bài (nếukhông nhớ năm sinh –năm mất thì cũng phải nhớ được thời đại tác giả sống) Còn nếúkhông nắm được các mốc lịch sử thì sẽ không có cơ sở để hiểu một số tác phẩm Ví dụ:nếu không biết năm 1954,nước ta tạm thời chia làm hai miền bằng giới tuyến quân sự
tạm thời ở sông Bến Hải thì sẽ không hiểu được những câu thơ trong bài ta đi tới của Tố
Hữu : Lòng ta không giới tuyến
Lòng ta chung một Cụ Hồ
Lòng ta chung một thủ đô
Lòng ta chung một cơ đồ Việt Nam
Hoặc không nắm được nhân dân ta phải trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ
từ 1946-1954 thì cũng không hiểu tại sao lại có “Chín năm làm một Điện Biên/Nên vànhhoa đỏ nên thiên sử vàng” và cũng không hiểu đầy đủ “56 ngày đêm khoét núi ngủ hầmmưa dầm cơm vắt/ máu trộn bùn non gan không núng chí không mòn” của quân dân tatrong chiến dịch Điện Biên phủ lịch sử
*Đối với các tác giả: tương tự như vậy, nếu ta không hiểu về quá trình hoạt động; về thờiđại tác giả sống; về phong cách, thể loại viết; về những đóng góp cho nền văn học nướcnhà thì cũng hạn chế đến việc hiểu đúng tác phẩm Ví dụ: nếu như Tố Hữu là người sớmbắt gặp lý tưởng Đảng,, sớm đi theo cách mạng thì Chế Lan Viên lại phải mất một thời
gian để “tìm đường, nhận đường” cho nên khi đến với cách mạng, khi được trở về với
vòng tay dang rộng của nhân dân đã phải thốt lên:
Con lại gặp nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa
Hoặc cái ngông của nhà thơ Tản Đà lại được thể hiện qua:
Trời sinh ra bác Tản Đà
Trang 10Quê hương thì có cửa nhà thì không
Suốt đời Nam-Bắc-Tây-Đông
Bạn bè sum họp, vợ chồng biệt ly
Tóm lại, muốn có kiến thức để viết bài và hiểu đúng tác phẩm thì việc hiểu tác giả vànắm chắc các mốc lịch sử là điều không thể thiếu
4.Giải pháp 4: Cho học sinh tiếp cận với những bài thơ, đoạn thơ hay:
Mục đích của việc này là tạo hứng thú và niềm đam mê học văn cho các em ( giáo viênnên phân tích và chỉ cho học sinh thấy cái hay của những bài đó) Đặt ra cho học sinhcâu hỏi: Bài thơ hay là do đâu?, những hình ảnh, những câu từ nào đã góp phần làm nổibật cái hay ? Nhờ biện pháp tu từ nào mà họ làm cho ta thấy được cái hay của bài thơ,
đoạn thơ đó v.v Muốn thế, khi tiếp cận đoạn thơ, ta hãy chú ý đến : màu sắc, hình khối,
đường nét, âm thanh mà tác giả đã sử dụng Gọi tên được các biện pháp tu từ và thấy được tác dụng của biện pháp tu từ đó, đồng thời chú ý đến nhịp thơ: cách ngắt nghỉ, nhịp thơ dài hay ngắn; cách dung các từ láy (từ láy tượng hình hay tượng thanh) v.v.
Ví dụ: Ta sẽ có cảm giác một không gian bát ngát,trải ra mênh mông trước mắt ngườiđọc bởi những thanh bằng, cùng với vần “an” trong hai câu thơ của Tố Hữu:
“Em ơi! Ba Lan mùa tuyết tan
Đường bạch dương sương trắng nắng tràn”
Nhưng lại có cảm giác éo le trắc trở của số phận một con người cũng như cảm giác gậpghềnh, quanh co khúc khuỷu, nhiều ghềnh thác của con đường đời khi ta bắt gặp nhữngcâu thơ: “tài cao phận thấp chí khí uất” hoặc “ Vó câu khấp khểnh ngựa xe gập ghềnh”.Hoặc người đọc sẽ có cảm giác tự tin, thong dong khi “ta đi giữa ban ngày/Trên đườngcái ung dung ta bước” đồng thời cũng thấy được khí thế cuồn cuộn như thác đổ triêudâng của bộ đội ta qua nhịp thơ dồn dập: “Ta đi tới trên đường ta bước tiếp/ Rắn nhưthép, vững như đồng/ đội ngũ ta trùng trùng điệp điệp/ cao như núi dài như sông/ chí talớn như biển đông trước mặt” như ở trong bài Ta đi tới của Tố Hữu
Tương tự thế, hình tượng mang tính đặc tả, có sức gợi và gây ám ảnh lớn chongười đọc như thơ của Nguyễn Ngọc Hưng nhờ từ “gầy”, từ “ốm” khi miêu tả hạt lúa, củkhoai của một miền quê có thời tiết khắc nghiệt bởi “ Mùa đông trời buốt giá, mùa hạ