Môn học cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về lịch sử hình thành nhân trắc học, các phương pháp nghiên cứu nhân trắc học, khái quát đặc điểm hình thái cơ thể người theo nhân t
Trang 1ThS PHÙNG THỊ BÍCH DUNG (Chủ biên)
ThS NGUYỄN THỊ THÚY
GIÁO TRÌNH
HỆ THỐNG CỠ SỐ TRANG PHỤC
Trang 2ThS PHÙNG THỊ BÍCH DUNG (Chủ biên)
ThS NGUYỄN THỊ THÚY
GIÁO TRÌNH
HỆ THỐNG CỠ SỐ TRANG PHỤC
(Giáo trình dùng cho sinh viên ngành Công nghệ may)
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Môn học Hệ thống cỡ số trang phục là môn học chuyên ngành dành cho sinh viên đại học ngành Công nghệ may ở học kỳ thứ ba trong toàn chương trình đào tạo Môn học cung cấp cho sinh viên những kiến thức
cơ bản về lịch sử hình thành nhân trắc học, các phương pháp nghiên cứu nhân trắc học, khái quát đặc điểm hình thái cơ thể người theo nhân trắc học và trình tự xây dựng hệ thống cỡ số trang phục theo phương pháp nghiên cứu ngang trong nhân trắc học Ngoài ra, sau khi học xong môn học này, sinh viên có thể hiểu cách ký hiệu size và sự chuyển đổi cỡ số giữa một số nước trên thế giới trong các hệ cỡ số trang phục thông dụng
Giáo trình “Hệ thống cỡ số trang phục” được dùng làm tài liệu chính
cho môn học Hệ thống cỡ số trang phục phục vụ cho chương trình đào tạo 150 tín chỉ Giáo trình góp phần giúp cho người học dễ dàng nắm bắt kiến thức trên lớp, ôn tập kiến thức đã học đồng thời tăng khả năng tự học, tự nghiên cứu tài liệu Ngoài ra, giáo trình còn là tài liệu tham khảo
bổ ích cho sinh viên chuyên ngành Thiết kế thời trang
Trong quá trình biên soạn, tác giả đã cố gắng rất nhiều nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Để nội dung tài liệu được hoàn chỉnh hơn trong những lần tái bản sau, tác giả rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của người học và các bạn đồng nghiệp
Trân trọng cảm ơn
Tác giả
Trang 5MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
MỤC LỤC 5
DANH SÁCH BẢNG BIỂU 9
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NHÂN TRẮC HỌC 11
1.1 SƠ LƯỢC LỊCHSỬ PHÁT TRIỂN NHÂNTRẮC HỌC TRÊNTHẾGIỚI 11
1.2 SƠLƯỢCLỊCHSỬPHÁTTRIỂNNHÂNTRẮCỞVIỆT NAM 15
1.3 ỨNG DỤNG NGHIÊN CỨU NHÂN TRẮC VÀO NGÀNHMAYVIỆTNAM 19
1.4CÁCPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨUNHÂNTRẮCHỌC 21
Chương 2: KHÁI QUÁT VỀ CƠ THỂ NGƯỜI 23
2.1 KHÁIQUÁTVỀCƠTHỂNGƯỜI 23
2.1.1 Cấu tạo hệ xương 23
2.1.2 Cấu tạo hệ cơ 27
2.2 ĐẶCĐIỂMHÌNHTHÁICƠTHỂNGƯỜI 28
2.2.1 Đặc điểm hình thái cơ thể người theo lứa tuổi 29
2.2.2 Đặc điểm hình thái cơ thể người theo giới tính 34
2.3 PHÂNLOẠIHÌNHDÁNGCƠTHỂNGƯỜI 35
2.3.1 Phân loại theo tỷ lệ cơ thể 35
2.3.2 Phân loại theo tư thế 37
2.3.3 Phân loại theo thể chất 39
2.3.4 Phân loại theo hình dáng các phần trên cơ thể 39
2.4 CÁCCHỦNGTỘCNGƯỜITRÊNTHẾGIỚI 41
2.5 CÁCCHỦNGTỘCNGƯỜIỞVIỆTNAM 42
Chương 3: TRÌNH TỰ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CỠ SỐ THEO NHÂN TRẮC HỌC 44
3.1 CHUẨNBỊSỐLIỆUNGHIÊNCỨU 44
Trang 63.1.1 Xác định đối tượng nghiên cứu 44
3.1.2 Xác định số lượng đối tượng nghiên cứu 45
3.1.3 Xác định số lượng các thông số kích thước cần đo 45
3.1.4 Xác định phương pháp đo và dụng cụ đo 52
3.1.5 Xác định nguyên tắc và tư thế khi đo 54
3.1.6 Xác định các mốc đo nhân trắc 56
3.1.7 Xây dựng cách đo 58
3.1.8 Lập phiếu đo 64
3.1.9 Thiết lập trình tự đo và chia bàn đo 66
3.2 XỬLÝSỐLIỆUBẰNGTOÁNXÁCSUẤTTHỐNGKÊ 67
3.2.1 Một số khái niệm cơ bản trong thống kê toán học 67
3.2.2 Các dạng sai số thường gặp 67
3.2.3 Tính các đặc trưng thống kê cơ bản 68
3.3 XÂYDỰNGHỆTHỐNGCỠSỐTRANGPHỤC 70
3.3.1 Xác định các kích thước chủ đạo 70
3.3.2 Bước nhảy 71
3.3.3 Xác định tần suất các dạng người thường gặp 72
3.3.4 Đề xuất số lượng cỡ số tối ưu 73
3.3.5 Xây dựng mô hình tương quan giữa kích thước chủ đạo và kích thước phụ thuộc 73
3.3.6 Xây dựng bảng thông số kích thước thiết kế 74
3.4XÂYDỰNGHỆTHỐNGCỠSỐTRẺEM 74
3.4.1 Đặc điểm hệ thống cỡ số trẻ em 74
3.4.2 Chọn kích thước chủ đạo và bước nhảy ở trẻ em 75
Chương 4: ỨNG DỤNG HỆ THỐNG CỠ SỐ TRONG MAY CÔNG NGHIỆP 78
4.1 CÁCYẾUTỐẢNHHƯỞNGĐẾNHỆTHỐNGCỠSỐ 78
4.1.1 Đặc điểm nhân chủng học 78
4.1.2 Đặc điểm vùng dân cư 78
Trang 74.1.4 Yếu tố thời gian 80
4.2 HỆTHỐNGCỠSỐMỞRỘNG 80
4.2.1 Kích thước chủ đạo của một số hệ thống cỡ số mở rộng (quần áo lót, tất, quần áo bơi, mũ, găng tay, giày,…) 80
4.2.2 Hệ thống cỡ số đối với các loại vật liệu 82
4.2.3 Hệ thống cỡ số đối với các dạng cơ thể 83
4.3 CÁCCÁCHKÝHIỆUCỠSỐ 85
4.3.1 Các yêu cầu khi ký hiệu cỡ số 85
4.3.2 Các kiểu ký hiệu cỡ số thông dụng 87
4.4 GIỚITHIỆUMỘTSỐHỆTHỐNGCỠSỐ 89
4.4.1 Hệ thống cỡ số trên thế giới 89
4.4.2 Hệ thống cỡ số Việt Nam 93
4.5 BẢNGCHUYỂNĐỔICỠSỐGIỮACÁCNƯỚC 102
4.5.1 Bảng chuyển đổi size giữa các nước Anh, Mỹ, châu Âu và một số nước khác 102
4.5.2 Bảng chuyển đổi size giày theo TCVN 7316: 2003 108
4.5.3 Bảng chuyển đổi size của Công ty Sài Gòn 3 với các nước 112
4.5.4 Bảng chuyển đổi size của Công ty Việt Tiến 113
4.6 CÁC VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM KHI SỬ DỤNG HỆ THỐNGCỠSỐ 113
Trang 8DANH SÁCH HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Cấu tạo cột sống nhìn từ các hướng 24
Hình 2.2 Hình dạng khung xương ngực khi nhìn nghiêng 25
Hình 2.3 Hình dáng xương tay khi nhìn nghiêng 26
Hình 2.4 Hình dáng khung xương chân 27
Hình 2.5 Tỷ lệ của phôi thai và trẻ mới đẻ 29
Hình 2.6 Tỷ lệ các đoạn thân thể trẻ em theo từng thời kỳ 33
Hình 2.7 Phân loại các dạng hình dáng cơ thể người theo tư thế 38
Hình 2 8 Phân loại các dạng hình dáng cơ thể người theo thể chất 39
Hình 2.9 Các dạng hình dáng cơ thể phụ nữ thường gặp 40
Hình 2.10 Minh họa dáng chân vòng kiềng và chân chữ bát 41
Hình 3.1 Dụng cụ đo nhân trắc Martin 53
Hình 3.2 Thước dây và thước kẹp 53
Hình 3.3 Thiết bị 3D đo cơ thể người 54
Hình 3.4 Hình minh họa tư thế đứng chuẩn khi đo 56
Hình 3.5 Minh họa phương pháp đo các kích thước theo chiều cao 61
Hình 3.6 Minh họa phương pháp đo các kích thước vòng 62
Hình 3.7 Minh họa phương pháp đo các kích thước theo chiều dài 63
Hình 3.8 Minh họa phương pháp đo các kích thước theo chiều ngang 64
Hình 4.1 Hướng dẫn đo dài và rộng bàn chân 81
Hình 4.2 Hướng dẫn cách đo vòng đầu 82
Hình 4.3 Hướng dẫn đo vòng tay/rộng bàn tay 82
Hình 4.4 Vị trí gắn nhãn trên sản phẩm 86
Hình 4.5 Vị trí gắn nhãn trên bao bì, mác giấy sản phẩm 86
Trang 9Hình 4.7 Ký hiệu size bằng chữ cái 88 Hình 4.8 Ký hiệu bằng hình vẽ trên nhãn sản phẩm 89 Hình 4.9 Nhãn size sản phẩm công ty may Việt Tiến 99
DANH SÁCH BẢNG BIỂU
Bảng 4.1 Bảng size giày theo hai kích thước chủ đạo là chiều dài và
ngang bàn chân 81 Bảng 4.2 Bảng size nón bảo hiểm Andes 82 Bảng 4.3 Bảng size găng tay xe mô tô 82
Trang 11Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NHÂN TRẮC HỌC
Mục tiêu chương 1:
Sau khi học xong chương này, các sinh viên có khả năng:
Trình bày các hướng nghiên cứu NTH ở Việt Nam
Nội dung chương 1:
1.1 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NHÂN TRẮC HỌC TRÊN THẾ GIỚI
Khái niệm nhân trắc học
Nhân trắc học là khoa học về phương pháp đo trên cơ thể người và
sử dụng toán học để phân tích những kết quả đo được nhằm tìm hiểu các quy luật về sự phát triển hình thái người đồng thời vận dụng các quy luật
đó vào việc giải quyết những yêu cầu thực tiễn của khoa học, kỹ thuật, sản xuất và đời sống
Từ ngàn xưa, những khái niệm sơ khai về hình thái và thể lực cơ thể đã được hình thành thông qua hoạt động đơn giản của con người đó là
đo chiều cao cơ thể, cân trọng lượng cơ thể Đây cũng chính là những bước đi đầu tiên để xây dựng nên một môn khoa học mang tính ứng dụng cao trong thực tiễn hằng ngày được gọi là “nhân trắc học”
Trải qua nhiều năm dài lịch sử tiếp theo đó, việc nghiên cứu về hình thái và thể lực con người ngày càng được quan tâm và phát triển hơn Tuy nhiên, trong thời gian này, con người chỉ làm nhân trắc một cách ngẫu nhiên (tùy hứng) hay nói cách khác nhân trắc đương thời chưa
trở thành một môn khoa học Mãi cho đến đầu thế kỷ XX, từ khi Fisher,
một trong những người sáng lập môn di truyền học quần thể, đã xây dựng được môn thống kê toán học ứng dụng vào y học thì nhân trắc học mới thực sự trở thành môn khoa học với đầy đủ ý nghĩa của nó
Trong khoảng thời gian mấy chục năm nay, nhân trắc học đã có những bước tiến đáng kể với sự áp dụng những kỹ thuật hiện đại của các
Trang 12ngành khoa học khác, với số người chuyên nghiên cứu vấn đề này trên
thế giới ngày càng tăng Vào những năm 20 của thế kỷ XX, Rudolf
Martin, nhà nhân học đi tiên phong của người Đức đã đề xuất một hệ
thống các phương pháp và dụng cụ để đo đạc kích thước cơ thể người
Năm 1919, ông đã cho ra đời cuốn sách “Giáo trình về nhân học” đầu
tiên trình bày một cách đầy đủ các phương pháp nghiên cứu nhân trắc học Điểm nổi bật của cuốn sách này là toán học, đặc biệt là thống kê sinh học đã được đưa vào ứng dụng cho lĩnh vực nhân trắc học Không
dừng lại ở đó, năm 1924 ông tiếp tục xuất bản cuốn “Chỉ nam đo đạc cơ
thể và xử lý thống kê” Đây là cuốn sách được xem là kim chỉ nam cho
môn khoa học này và Rudolf Martin xứng đáng được giới chuyên môn và những nhà nghiên cứu khoa học trên thế giới tôn vinh là người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại
Các trường phái nhân trắc học tiếp sau đó đều dựa trên cơ sở phương pháp R Martin mà bổ sung và hoàn thiện về lý thuyết và thực tiễn theo truyền thống khoa học của mỗi nước cũng như theo các mục tiêu ứng dụng khác nhau
Các công trình đánh dấu sự phát triển của việc ứng dụng phương pháp nhân trắc học vào thực tiễn trên thế giới:
- Năm 1960, nhà nhân trắc học người Pháp Olivier, với kinh nghiệm nhiều năm nghiên cứu về nhân trắc ở một số nước châu Á, châu
Phi, châu Đại Dương, đã cho ra đời cuốn “Thực hành nhân Trắc” Trong
cuốn sách này, ông đã phân tích, đưa ra những phương pháp nghiên cứu nhân trắc một cách khá đầy đủ và được các nhà nhân trắc trên thế giới ứng dụng rộng rãi
- Năm 1961 có hai công trình nghiên cứu lớn là:
Đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của địa lý đến sự tăng trưởng chiều cao cơ thể và chứng minh rõ những yếu tố ảnh hưởng đó
là có thật của Nold và Volsuski
Đề tài nghiên cứu thu thập số liệu và chứng minh tình trạng dinh dưỡng và bệnh tật ảnh hưởng rõ rệt đến sự gia tăng của các kích thước cơ thể, đặc biệt chiều cao và cân nặng của Graef và Cone
- Năm 1962, “Học thuyết về sự phát triển thể lực con người” của
tác giả Baskirop bàn luận về các quy luật phát triển cơ thể người dưới ảnh hưởng của những điều kiện sống
- Năm 1964, F Vandervael, một thầy thuốc người Bỉ đã viết cuốn sách giáo khoa về nhân trắc học, đưa ra những nhận xét toàn diện
Trang 13xây dựng các thang phân loại thể lực theo các chỉ số đánh giá thể lực với các đặc trưng thống kê trung bình cộng (tb) và độ lệch chuẩn (σ).
Đặc biệt đối với lứa tuổi trẻ em đến trường học, việc ứng dụng phương pháp nhân trắc học vào nghiên cứu lứa tuổi này được thế giới quan tâm và tiến hành sớm hơn vào cuối thế kỷ XIX Mặc dù trong thời
kỳ này các công trình nghiên cứu còn hạn chế về số lượng và kích thước
đo đạc, phương pháp nghiên cứu cũng chưa hoàn toàn thống nhất và các tính toán thống kê còn đơn giản Theo Zack N V (1892) thì Buffon (cuối thế kỷ XIX) là người đầu tiên trên thế giới đã nghiên cứu đối tượng này Cũng trong những năm 80 của thế kỷ XIX, các công trình về sinh trưởng của trẻ em cũng đã được giới thiệu khá đầy đủ như ở Hamburg năm 1977 (Theo Lenz Ort, 1959), ở Boxton và Aivakutu từ năm 1877 –
1880 (theo Meredith, Kortt, 1962; Cone, 1965), ở Vacxava năm 1880 (theo Wolanski, 1973), ở StockholmStockholm năm 1883 (theo Ljungetal, 1974)
Bước vào thế kỷ XX, nhân trắc học ngày một phát triển cùng với các môn khoa học khác có liên quan như: di truyền học, sinh lý, sinh hóa, thống kê học,,… Những hội, ban, ngành, viện nghiên cứu về nhân học được thành lập và đã cho ra đời nhiều công trình nghiên cứu nhân trắc có giá trị thực tiễn cao Ở Liên Xô, chỉ trong vòng 50 năm đã có hàng trăm công trình Ở Đức, Hungari, Tiệp Khắc, Ba Lan, Pháp, Anh, Mỹ, Bỉ, Nhật,,… số lượng và chất lượng các công trình nghiên cứu đều vượt bậc
xa thế kỷ trước Nội dung của các công trình này chủ yếu tập trung vào các vấn đề sau:
Sự tăng trưởng các kích thước tổng thể và phát triển cơ thể học sinh không giống nhau ở các lứa tuổi, mạnh nhất ở tuổi dậy thì do ảnh hưởng sự hoạt động của các cơ quan nội tiết trong thời kỳ chín sinh dục Tốc độ tăng trưởng và sự kéo dài thời gian tăng trưởng phụ thuộc vào các điều kiện xã hội, ví dụ như theo Bunac (1941) sự tăng trưởng chiều cao ở nam giới phải tới 25 tuổi mới kết thúc nhưng theo Urưxon A M (1962) thì lại là 17 – 18 tuổi (với nữ) và 19 tuổi với (nam) Điều kiện kinh tế ảnh hưởng lớn đến sự phát triển cơ thể trẻ em Những trẻ em có thân hình gầy
gò, thể lực phát triển yếu, đa phần là con em các gia đình có thu nhập thấp Điều kiện xã hội, môi trường sinh thái cũng tác động mạnh đến sự tăng trưởng: trẻ em thành phố phát triển cơ thể tốt hơn trẻ em nông thôn hoặc trẻ em nữ ở các gia đình khá giả hoặc sống ở vùng khí hậu ôn hòa
sẽ dậy thì sớm hơn so với trẻ em nữ sống ở gia đình nghèo khổ hoặc sống
ở vùng khí hậu cận xích đạo và xích đạo Sự chín sinh dục có quan hệ với
sự tăng trưởng các kích thước hình thái Soloviev V S (1964) nhận thấy
Trang 14nam 14 tuổi đã chín sinh dục cả về kích thước, về hình thái và chức năng sinh lý
Vào khoảng 100 – 150 năm gần đây sự phát triển cơ thể và trưởng thành sinh lý của trẻ em và thiếu niên tăng nhanh mà ở các nước phát triển cao như Anh, Pháp, Mỹ…, hiện tượng này được thể hiện rõ rệt nhất Tập hợp nhiều tài liệu về sự phát triển cơ thể học sinh phổ thông người ta ghi nhận được sự tăng nhanh chiều cao đứng, trọng lượng cơ thể cũng như các kích thước từng phần (các đoạn thân thể, chi, mô mỡ,…) trong vòng hơn 100 năm gần đây, chẳng hạn chiều cao đứng đã tăng lên
10 đến 15cm Thời kỳ chín sinh dục của thiếu niên cũng sớm hơn 2 năm
so với 100 năm trước Tuổi có kinh nguyệt lần đầu còn sớm hơn nữa Ví
dụ, vào đầu thế kỷ trước tuổi có kinh trung bình ở các nước châu Âu phát triển là 16.5 – 17.5 thì ngày nay ở các thành phố công nghiệp chỉ còn là 12.5 – 13 tuổi
Sự phát triển cơ thể lâu nay được coi như là chỉ số đánh giá về tình trạng sức khỏe con người nói chung và trẻ em nói riêng Trong đó, các chỉ tiêu như chiều cao, cân nặng, vòng ngực,,…, là các chỉ tiêu quan trọng nhất Quan hệ giữa các chỉ số phát triển cơ thể và sức khỏe rất phức tạp Do đó, người ta đã dùng các chỉ số thể lực để biểu thị mối quan hệ giữa các đặc điểm đặc trưng nhất trong sự phát triển cơ thể Các chỉ số thể lực chính là sự tổng hợp các tương quan của nhiều dấu hiệu hình thái
cơ thể dưới dạng công thức toán học Loại chỉ số thể lực đơn giản nhất thể hiện mối tương quan giữa hai kích thước chiều cao đứng và cân nặng
là chỉ số BMI Ngoài ra còn có những chỉ số phức tạp hơn thể hiện mối tương quan của 3 – 4 kích thước Thời kỳ đầu phương pháp dùng chỉ số được áp dụng rộng rãi vì dễ tính toán, dễ hiểu, nhưng về sau đã bộc lộ nhiều nhược điểm như không chính xác, hoặc vì phụ thuộc vào các lứa tuổi (nhất là trẻ em và thanh niên) nên cùng một trị số nhưng tùy theo lứa tuổi mà chỉ số có ý nghĩa khác nhau Phương pháp Martin (1925) ra đời
đã thay cho phương pháp chỉ số Với quan niệm sự phát triển cơ thể mỗi người phải so sánh với sự phát triển cơ thể của một nhóm người mà người đó là thành viên, Martin đã lập bảng chuẩn nhiều đặc điểm cơ bản của cơ thể trong đó mỗi đặc điểm lại được chia ra làm nhiều loại căn cứ vào độ lệch chuẩn Phương pháp này về sau đã được nhiều tác giả khác
bổ sung (ví dụ như Stepheo) nhưng cũng vẫn có nhược điểm là coi chiều cao đứng, cân nặng và vòng ngực là 3 đặc điểm biến đổi độc lập, trong khi thực tế chỉ có chiều cao đứng biến đổi độc lập còn cân nặng và vòng ngực lại biến đổi phụ thuộc vào chiều cao đứng Vì vậy, người ta đã dùng phương pháp tương quan (chuẩn hồi quy) với quan niệm chiều cao đứng
là đặc điểm biến đổi độc lập, vòng ngực biến đổi phụ thuộc vào chiều cao
Trang 15ngực Mặc dù đã có nhiều phương pháp đánh giá sự phát triển cơ thể trẻ
em và thiếu niên nhưng các nhà nghiên cứu vẫn nỗ lực tìm tòi những phương pháp mới nhằm đánh giá sát thực hơn lứa tuổi đang lớn Gần đây, các tác giả Pháp M Sempe, G Pe1dron và M P Rog-Pernot đã xuất
bản cuốn sách “Tăng trưởng phương pháp và sự nối tiếp” đề cập đến các
phương pháp nghiên cứu về sự phát triển và tăng trưởng của cơ thể, đặc biệt là nghiên cứu thể lực của trẻ em Cuốn sách này là một trong những cuốn sách hoàn chỉnh nhất trong lĩnh vực nghiên cứu nhân trắc
1.2 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NHÂN TRẮC Ở VIỆT NAM
Nhân trắc học ở Việt Nam được bắt đầu từ những năm 1930 của thế kỷ XX bằng một số công trình nghiên cứu lẻ tẻ về đo đạc một số kích thước như chiều cao, cân nặng và vòng ngực của học sinh Hà Nội Trong thời kỳ này, hầu hết các công trình nghiên cứu đều do một bác sĩ người Pháp và các cộng sự người Việt Nam thực hiện tại Ban Nhân học thuộc Viện Viễn Đông Bác cổ (École d’ Extrême Orient) và Viện Giải phẫu học thuộc Trường Đại học Y khoa Hà Nội Các kết quả nghiên cứu về các kích thước cơ thể người các dân tộc Việt Nam, Hơ Mông, Ê Đê,
Chàm, Thượng, đã được công bố trong 9 tập tạp chí Công trình nghiên
cứu của Viện Giải phẫu học, Đại học Y khoa Đông Dương xuất bản 1936
– 1944 do P Huard làm chủ biên Cuốn Hình thái học người và giải phẫu
mỹ thuật là một trong những tác phẩm đầu tiên của Giáo sư Bác sĩ Đỗ
Xuân Hợp – nhà nhân trắc học đầu tiên của Việt Nam, cộng tác với Giáo
sư P Huard xuất bản năm 1942, đã tập hợp được nhiều công trình nghiên cứu về nhân trắc học trên người Việt nam Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu lúc bấy giờ cho kết quả còn rất hạn chế do chưa hệ thống các
kỹ thuật và phương pháp nghiên cứu còn đơn sơ, xử lý thống kê toán học còn chưa triệt để và chính xác
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành độc lập dân tộc (1945 – 1954), Giáo sư Đỗ Xuân Hợp đã cùng một số bác sĩ và sinh viên tiến hành những công trình nghiên cứu nhân trắc học trên thanh niên để phục vụ cho việc tuyển quân và may quân trang, giày, mũ cho bộ đội Sau khi đất nước được giải phóng, từ năm 1954 đến nay, các bộ môn nhân trắc học dần dần được thành lập ở một số viện nghiên cứu khoa học (Viện Khoa học Kỹ thuậtKhoa Học Kỹ Thuật Bảo hộ LLao động, Viện Khoa học LLao động, Viện VVệ sinh Dịch tễ học, Viện Đo lường Tiêu chuẩn, Viện Khảo sát học, Viện Bảo tàng LLịch sử, ) và trường đại học (Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học Sư phạm, Đại học
Trang 16Mỹ thuật, Đại học Văn hóa, Đại học Thể dục, ) để làm nhiệm vụ nghiên cứu và giảng dạy Nhiều đối tượng người ở hầu hết các lứa tuổi của hầu hết các thành phần đã được điều tra nghiên cứu Số kích thước và thông
số đo đạc cho mỗi đối tượng lên tới hàng trăm, các chỉ số thể lực và các thông số sinh học dần dần được thiết lập Toán thống kê cũng được vận dụng tối ưu để nhận định và đánh giá kết quả một cách chính xác hơn Những kết quả nghiên cứu nhân trắc đã và đang có những đóng góp đáng
kể trong các lĩnh vực khác nhau Có thể tạm khái quát các kết quả nghiên cứu nhân trắc theo các hướng chính sau đây:
Hướng 1: Các kết quả đi theo hướng tìm hiểu các đặc trưng hình thái, chủng tộc của các cộng đồng người Việt Nam
Những tác giả và tác phẩm tiêu biểu gồm:
Nguyễn Đình Khoa với hai chuyên khảo “Các dân tộc ở Việt
Nam” và “Nhân chủng học Đông Nam Á”
Cố giáo sư Nguyễn Quang Quyền với các bài báo được đăng
trong Tạp chí Khảo cổ học và một phần trong tác phẩm “Nhân trắc học
và sự ứng dụng nghiên cứu trên người Việt Nam”
Ngoài ra còn có những công trình của những tác giả khác như Phó Giáo sư Tiến sĩ Võ Hưng, Nguyễn Duy, Trịnh Hữu Vách,, v.v
Hướng 2: Các nghiên cứu nhằm khảo sát đánh giá thể lực, sự tăng trưởng, phát triển về hình thái cơ thể người
Hội nghị “Hằng số sinh vật học” lần thứ nhất 1967 và lần thứ 2 năm 1972, cùng với tác phẩm “Hằng số sinh học người Việt Nam” xuất
bản năm 1975 là các mốc đánh dấu một chặng đường trong lịch sử nghiên cứu sinh học của người Việt Nam Tác phẩm đã tập hợp kết quả hơn 15 năm nghiên cứu của hầu hết các nhà sinh - y học Việt Nam, được chấp nhận thông qua hai hội nghị nói trên Đây cũng là tài liệu lịch sử có giá trị định vị về thời gian để cho các công trình tiếp theo lấy làm tài liệu
so sánh
Sau công trình “Hằng số sinh học người Việt Nam”, trong khoảng
thời gian từ 1975 – 1980, các tác giả Nguyễn Quang Quyền, Lê Gia Vinh, Đỗ Như Cương, Thẩm Thị Hoàng Điệp,, đã nghiên cứu trên thanh niên miền Bắc Việt Nam để xây dựng các thang xếp hạng thể lực cho người Việt Nam theo các chỉ số Broca, Quetelet, Kaup, Von-Pirquet, Pignet, Pimo, Ruffier, Spehl, và xây dựng các công thức tính độ mỡ, độ nạc, diện tích da, dung tích sống Các tác giả còn xây dựng thêm một số chỉ số đánh giá thể lực mới là chỉ số Q.V.C., dùng các đường vòng để
Trang 17Các tác giả tiêu biểu theo hướng nghiên cứu này gồm: Đinh Kỷ, Nguyễn Công Khanh, Lê Nam Trà, Hàn Nguyệt Kim Chi, Đào Huy Khê, , Các nghiên cứu của họ chủ yếu nhằm tìm hiểu sự tăng trưởng, phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên Việt Nam
Trong các năm 1972, 1973 Đinh Kỷ và cộng sự đã công bố kết quả nghiên cứu của mình về một số kích thước hình thái và thể lực của học sinh phổ thông Thái Bình từ 7 đến 18 tuổi Trong công trình này, tác giả
đã bàn về sự phát triển cơ thể của học sinh và so sánh với các nhận định của Đỗ Xuân Hợp và Nguyễn Quang Quyền tiến hành nghiên cứu trên học sinh Hà Nội cùng lứa tuổi từ năm 1959
Năm 1991, đề tài nghiên cứu đặc điểm về hình thái kích thước, sự tăng trưởng và phát triển cơ thể của trẻ em của Đào Huy Khuê đã khảo sát tới 50 chỉ tiêu nhân trắc trên 1478 em học sinh từ 6 đến 17 tuổi Đây
là công trình nghiên cứu khá công phu tỉ mỉ để đánh giá về sức lớn của trẻ em Việt nam cả về mặt sinh lý và hình thái
Năm 1992, đề tài “Đặc điểm hình Thái và thể lực học sinh một trường phổ thông cơ sở Hà Nội” của Thẩm Thị Hoàng Điệp đã mang lại cho lĩnh vực nghiên cứu nhân trắc học ở Việt Nam một bứt phá mới khi lựa chọn phương pháp theo dõi dọc (Longgitudial study) để tiến hành theo dõi một nhóm học sinh trong 10 năm liên tục (1981 – 1992), từ đó đưa ra quy luật phát triển của trẻ em thông qua các quy luật phát triển như: quy luật phát triển về chiều cao, quy luật phát triển về cân nặng, quy luật phát triển của các kích thước vòng, Từ đó đến nay phương pháp này cũng đã được nhiều người quan tâm và ứng dụng
Một số tác giả như Nguyễn Quang Quyền, Lê Gia Vinh, Bùi Thụ,
Lê Gia Khải,… lại tập trung vào những công trình đánh giá tầm vóc thể lực của người lao động
Hướng 3: Các công trình nghiên cứu ứng dụng cho ergonomics (nghiên cứu về lao động)
Đây là một hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực nghiên cứu nhân trắc Từ những năm 1970 hướng nhân trắc ergonomics được hình thành
do yêu cầu của thực tiễn sản xuất và tổ chức lao động khoa học Nhân trắc ergonomics đã được ứng dụng ở Việt Nam trong các công trình nghiên cứu, đánh giá về mức độ phù hợp của các loại máy móc, thiết bị (đa số dược nhập từ nước ngoài vào) với người lao động Việt Nam Những kiến nghị, đề xuất thay đổi kích thước máy, chỗ làm việc trên cơ
sở kết quả các dẫn liệu nhân trắc đã được đưa ra
Cho đến những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, các công trình nhân trắc ở Việt Nam đã có từ trước, một mặt còn ít các dẫn liệu về nhân
Trang 18trắc ergonomics, mặt khác đối tượng, phạm vi khảo sát còn hẹp chưa đủ đại diện cho các lứa tuổi và các vùng dân cư khác nhau Để tạo tiền đề cho việc nghiên cứu về ergonomics, nhiệm vụ đặt ra trước tiên là phải xây dựng các dẫn liệu nhân trắc ergonomics theo quy định thống nhất trên một số đối tượng đủ lớn đại diện được cho các lớp người lao động, các lứa tuổi, các vùng dân cư khác nhau Viện Nghiên cứu Khoa học Kỹ thuật Bảo hộ Lao động dưới sự chỉ đạo của PGS.TS Nguyễn An Lương
và sự phối hợp nghiên cứu của nhiều cán bộ khoa học thuộc nhiều trường
đại học, nhiều cơ quan khoa học đã nghiên cứu xây dựng ba tập Atlas
nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động
Tập “Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động”
(1986) do PGS.TS Võ Hưng làm chủ biên đã trình bày 138 dấu hiệu nhân trắc tĩnh được đo đạc trên 13.223 người đang trực tiếp lao động sản xuất trong nhiều ngành nghề khác nhau trên cả nước Việt nam Công trình nghiên cứu đã tiến hành theo các phương pháp và dụng cụ đo theo tiêu chuẩn quốc tế Đó là công trình nhân trắc học đầu tiên của Việt nam được
xử lý thống kê bằng máy tính điện tử thời điểm đó Tất cả 138 dấu hiệu nhân trắc trong Atlas được tính theo các giá trị ngưỡng 1%, 5%, 95% và 99%
Trong giai đoạn 1986 – 1990, tập Atlas thứ hai “Atlas nhân trắc
học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động - Dấu hiệu nhân trắc động
về tầm hoạt động của tay” ra đời Cuốn sách trình bày các số liệu thống
kê về tầm hoạt động của tay trong không gian theo 9 mặt phẳng ngang của 1075 người lao động nam nữ từ 17 – 50 tuổi trong một số ngành công nghiệp phổ biến (cơ khí, dệt, may, chế biến lương thực, thực phẩm, ) ở một số địa phương của miền Bắc và miền Nam Việt Nam theo phương pháp của Kennedy (USA) và Eva Nowak (BaLan)
Đến năm 1997, tập Atlas thứ ba “Atlas nhân trắc học người Việt
Nam trong lứa tuổi lao động - Dấu hiệu nhân trắc động khớp và giới hạn trường thị giác” ra đời Nội dung chủ yếu của cuốn Atlas nhân trắc này là
trình bày các thông số thống kê cơ bản của 50 dấu hiệu hoạt động khớp
đo trên 2267 nam nữ lao động từ 17 – 59 tuổi ở hai miền Nam, Bắc Việt Nam, cùng với những phân tích nhận định tổng quát về tầm hoạt động khớp theo giới tính, lứa tuổi và vùng lãnh thổ
Các tập Atlas nhân trắc học được ứng dụng vào nhiều mục tiêu khác nhau, đặc biệt là trong nghiên cứu, thiết kế đánh giá ergonomics Tính khoa học và tính thực tiễn của chúng không chỉ được các nhà khoa học trong nước đánh giá cao mà cả những khoa học ở một số nước như Nga, Thuỵ Điển, Australia, Nhật bản, Philippines, Singapore, Thái Lan,
Trang 191.3 ỨNG DỤNG NGHIÊN CỨU NHÂN TRẮC VÀO NGÀNH MAY VIỆT NAM
Việc ứng dụng thực tế nhân trắc học không chỉ dừng lại ở các công trình nghiên cứu thể lực, các hình thái đồ, các ứng dụng trong y tế học đường, thể dục thể thao và nghề nghiệp,… như đã trình bày ở phần trên
mà đối với ngành may mặc việc ứng dụng nghiên cứu nhân trắc học cho một số công tác trong ngành may cũng chiếm một vị trí ý nghĩa quan trọng nhất định trong tiến trình phát triển ngành may mặc trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng Nhìn chung các công trình nghiên cứu khoa học ứng dụng phương pháp nhân trắc vào ngành may còn hạn chế Ngoài các công trình nghiên cứu ứng dụng nhân trắc theo hướng ergonomics cho các lứa tuổi lao động trong ngành dệt may thì hầu hết nhân trắc học được áp dụng để xây dựng hệ thống cỡ số trang phục cho từng quốc gia Ở các nước trên thế giới như Ý, Anh, Pháp, Mỹ, Úc, Liên
Xô cũ, Tiệp Khắc, Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông, đã sớm ứng dụng phương pháp nhân trắc học vào nghiên cứu xây dựng cỡ số trang phục (quần, áo, giày, mũ, nón, găng tay) cho từng nước, do ngành may công nghiệp của các nước này phát triển sớm hơn hẳn nước Việt Nam Riêng nước ta, một nước trải qua thời kỳ đô hộ, thuộc địa dài lâu, chiến tranh với giặc ngoại xâm liên miên cho đến 30/04/1975 mới hoàn toàn giải phóng, thống nhất hai miền Nam Bắc, nền kinh tế phát triển chậm, nhu cầu “ăn no” cấp thiết hơn nhu cầu “mặc đẹp” dẫn đến ngành may công nghiệp cũng phát triển chậm
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954), GS
Đỗ Xuân Hợp đã cùng với một số bác sĩ và sinh viên tiến hành những công trình nghiên cứu nhân trắc học trên thanh niên để phục vụ cho việc tuyển quân và may quân trang cho bộ đội Mặc dù phương pháp nghiên cứu nhân trắc học lúc này cho kết quả còn rất hạn chế do chưa hệ thống các kỹ thuật và phương pháp nghiên cứu còn đơn sơ, xử lý thống kê toán học còn chưa triệt để và chính xác, nhưng có thể nói đây là những công trình ứng dụng nhân trắc học đầu tiên ở Việt Nam vào nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số quân trang phục vụ ngành may
Những năm gần đây, khi nền kinh tế bắt đầu phát triển, nhu cầu làm đẹp tăng lên, các công ty may, cơ sở may công nghiệp nở rộ, hàng quần áo may sẵn phục vụ nội địa được mở rộng với kiểu dáng phong phú, chủng loại đa dạng tràn ngập thị trường Vấn đề cấp thiết là xây dựng một hệ thống cỡ số thiết kế quần áo phục vụ đại đa số sự phát triển của những dạng người khác nhau ở Việt Nam được đặt ra Năm 1994, Tiêu chuẩn Việt Nam – 5781 về “Phương pháp đo cơ thể người”, Tiêu chuẩn Việt Nam – 5782 về “Hệ thống cỡ số tiêu chuẩn quần áo” đã được ban
Trang 20hành, cũng chính là kết quả của các công trình ứng dụng phương pháp nhân trắc học phục vụ cho ngành may đem lại
Cho đến nay, Việt Nam đang là một trong những nước có tốc độ phát triển kinh tế cao, ngành công nghiệp may trong lĩnh vực xuất khẩu nói chung và thị trường nội địa nói riêng cũng phát triển mạnh mẽ Hệ thống cỡ số quần áo của nước ta xây dựng từ năm 1994 đã trở nên quá lạc hậu để đáp ứng nhu cầu phục vụ người tiêu dùng trong nước, mặt khác từ sau khi gia nhập WTO sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp may trong nước; giữa các doanh nghiệp may nước ta với các doanh nghiệp may ở nước ngoài càng trở nên khốc liệt, một trong những vấn đề tồn tại lớn nhất của ngành công nghiệp may vẫn là chưa xây dựng mới hệ thống
cỡ số trang phục cho riêng người Việt Nam
Hầu hết từ các công ty may lớn cho đến các cơ sở sản xuất hàng may sẵn nhỏ lẻ thiết kế quần áo, hoặc dựa trên hệ thống cỡ số riêng của công ty được xây dựng từ kinh nghiệm sản xuất, hoặc vay mượn từ các
hệ thống cỡ số của một số nước sau đó chỉnh sửa lại một số kích thước để phù hợp với các kích thước cơ thể của người Việt nam
Năm 2001, trong đề tài Nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số quân
trang theo phương pháp nhân trắc học TS Nguyễn Thị Hà Châu cùng
các cộng sự đã tiến hành xây dựng thành công hệ thống cỡ số quân trang
và được ứng dụng may quân trang cho cả nước Đây cũng là công trình thể hiện sự hữu ích của phương pháp nhân Trắc học khi áp dụng cho ngành công nghiệp may Ngoài ra, đề tài này cho kết quả triệt để và chính xác do áp dụng hệ thống các kỹ thuật và phương pháp nghiên cứu hiện đại, xử lý thống kê toán học bằng phần mềm chuyên dụng đánh dấu một bước chuyển vượt bậc của việc ứng dụng phương pháp nghiên cứu Nhân trắc học phục vụ ngành may tại Việt Nam
Cũng trong năm 2001, KS Trần Thị Hường và PGS.-TS Nguyễn Văn Lân cũng ứng dụng phương pháp nhân trắc học vào đề tài cấp cơ sở
“Thống kê cỡ số và thiết kế cơ bản trang phục nữ Việt Nam” Đề tài này
cũng đã xây dựng được hệ thống cỡ số của phụ nữ chưa sinh con và phụ
nữ đã sinh con thông qua việc kiểm định các giả thiết trong quá trình xây dựng hệ thống cỡ số bằng cơ sở toán thống kê sinh học Sau đó, kết quả
nghiên cứu đã được đưa vào kiểm nghiệm trong thực tiễn Thời trang
Hạnh Đề tài này đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành may công
nghiệp đối với thị trường nội địa sản xuất hàng công nghiệp thời trang của nữ giới trong cả nước, đặc biệt tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 211.4 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NHÂN TRẮC HỌC
Từ lâu chúng ta đã biết sự phát triển về hình thái và thể lực của con người, ngoài quy luật do gen quyết định còn chịu ảnh hưởng lớn của đời sống kinh tế và môi trường Có nhiều phương pháp để nghiên cứu các quy luật phát triển trên từ đó rút ra kết luận phục vụ nhu cầu thực tiễn hằng ngày như trong công tác y tế (điều tra, đánh giá sự phát triển thể lực, các yếu tố làm thay đổi hình thái cơ thể, đánh giá thể lực trong tuyển quân, tuyển sinh,…); trong các ngành kinh tế quốc dân (xây dựng các tiêu chuẩn thiết kế các máy móc, các phương tiện sinh hoạt,…) Qua các công trình nghiên cứu nhân trắc đã trình bày trên, chúng ta có thể nhận thấy rõ có hai phương pháp nghiên cứu nhân trắc học chính sau:
Phương pháp nghiên cứu dọc (Longitudinal study):
Nghiên cứu dọc là phương pháp được thực hiện nghiên cứu trên một số đối tượng cùng tuổi và theo dõi các đặc điểm nghiên cứu từng năm một của các đối tượng đó trong suốt thời gian dài, ví dụ như nghiên cứu về sự tăng trưởng chiều cao của trẻ em Nghiên cứu dọc khó thực hiện, tốn nhiều thời gian, đòi hỏi sự kiên nhẫn và chuẩn bị kỹ thuật cao, đặc biệt đối với tốc độ tăng trưởng (sai số sẽ gấp đôi, vì so sánh giữa hai lần đo) Tuy nhiên, nghiên cứu này lại cho phép đánh giá tốc độ tăng trưởng trong quá trình lớn và phát triển của trẻ từ lúc mới sinh cho đến lúc trưởng thành, ngoài ra số lượng đối tượng nghiên cứu có thể ít hơn so với phương pháp nghiên cứu ngang Ngoài ra, nó cũng được sử dụng trong lâm sàng để đánh giá kết quả điều trị, đặc biệt với hóc môn tăng trưởng
Phương pháp nghiên cứu ngang (Cross – sectional study)
Nghiên cứu ngang được thực hiện nghiên cứu trên nhiều đối tượng khác nhau cùng lứa tuổi ở cùng một thời điểm Nghiên cứu loại này tốn ít thời gian, không cần đợi thời gian theo dõi, nhưng số đối tượng nghiên cứu cần phải nhiều hơn phương pháp nghiên cứu dọc đề các nhận xét thống
kê đủ tin cậy Nghiên cứu ngang cho phép tìm ra số trung bình chuẩn của các đại lượng như chiều cao, cân nặng, chu vi các vòng, v.v Nếu được tiến hành từng thời kỳ sẽ cho phép đánh giá được tình trạng dinh dưỡng, sức khoẻ của con người, cũng như điều kiện kinh tế xã hội của một nước, nhưng không nêu lên được tốc độ và các thời điểm đặc biệt của quá trình tăng trưởng, ví dụ bước tăng vọt của tuổi thanh thiếu niên
Trang 22CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1
1.1 Khái niệm Nhân trắc học?
1.2 Trình bày vắn tắt lịch sử NTH trên thế giới?
1.3 Trình bày vắn tắt lịch sử NTH ở Việt Nam?
1.4 Trình bày các hướng nghiên cứu NTH ở Việt Nam?
1.5 Trình bày ưu nhược điểm của hai phương pháp nghiên cứu NTH?
Trang 23Chương 2 KHÁI QUÁT VỀ CƠ THỂ NGƯỜI
Mục tiêu chương 2:
Sau khi học xong chương này, các sinh viên có khả năng:
Trình bày được đặc điểm các khung xương và tầm quan trọng của chúng đối với hình dáng cơ thể người
Trình bày được đặc điểm hình thái cơ thể người ở ba thời kỳ phát triển theo lứa tuổi
Phân loại được hình dáng cơ thể người theo tỷ lệ, theo tư thế, theo thể chất hoặc theo hình dáng từng phần trên cơ thể người
Trình bày được các chủng tộc người trên thế giới?
Nội dung chương 2::
2.1 KHÁI QUÁT VỀ CƠ THỂ NGƯỜI
Toàn bộ cử động, hình dáng cơ thể người được tạo nên bởi hệ xương và hệ cơ bắp Hệ cơ cùng hệ xương làm cho cơ thể người chuyển động, trong đó hệ cơ bắp đóng vai trò chủ động, hệ xương đóng vai trò thụ động Mọi sự chuyển động đều liên quan đến những trạng thái khác nhau
2.1.1 Cấu tạo hệ xương
Hệ xương bao gồm xương, sụn và gân Hệ xương có 206 xương, trong đó 170 xương là xương cặp và 36 xương là xương lẻ
Chức năng: hệ xương làm điểm tựa cho cử động của cơ thể và bảo
vệ các bộ phận bên trong cơ thể khỏi các ảnh hưởng cơ học
Phân loại theo hình dáng xương gồm:
sườn…
xương ngón tay, xương ngón chân,…
Trang 24 Xương hỗn hợp: đốt sống, xương chân
Xương liên kết dạng liền và dạng rời Liên kết dạng liền kém cơ động, hay gặp ở xương sườn, xương cổ, xương bả vai Những xương cử động nhiều hơn cả là các xương hình cầu nằm ở vị trí các khớp tứ chi và các khớp thân
Khung xương được tạo thành từ các thành phần cơ bản như xương
sọ, xương sống, xương lồng ngực và xương tay, xương chân Bộ khung này ảnh hưởng rất nhiều đến việc thiết kế trang phục
Trang 25Độ cong của khúc xương sống vùng hông hình thành từ khi trẻ em
bắt đầu biết đi vì xương lúc đó hãy còn yếu Khi ngồi thì độ cong này sẽ giảm đi Ở nữ giới, độ cong này thường lớn hơn nam giới
Độ cong của khúc xương sống ở vùng ngực càng lớn khi tuổi càng
về già Vì vậy người già thường bị gù và thấp lại
Nhờ có độ cong cột sống mà trọng tâm cơ thể sẽ nằm trên một đường thẳng đi qua giữa hai bàn chân
Độ dài của cột sống gần bằng 1/3 toàn bộ chiều dài cơ thể, nhưng tỷ
lệ này có khác nhau tùy theo lứa tuổi, giới tính và chiều cao cơ thể Ở những người thấp và trẻ em tỷ lệ này thường lớn hơn so với những người cao
b Hình dạng khung xương
ngực
Khung xương ngực có ảnh
hưởng lớn đến hình dạng cơ thể
Phần trên của nó hơi nghiêng
về phía sau làm tăng độ lồi của phần
ngực
Độ nghiêng của xương ngực
được tạo thành giữa xương ngực và
đường thẳng đứng Nó phụ thuộc tư
thế và những đặc điểm khác nhau của
cơ thể Trung bình góc dao động từ
15 đến 20o
Ở nữ giới, góc thường
lớn hơn ở nam giới
Hình 2.2 Hình dạng khung
xương ngực khi nhìn nghiêng
c Hình dạng khung xương tay
Hình dạng khung xương tay tùy thuộc vào giá trị góc và góc
Trang 26Hình 2.3 Hình dáng xương tay khi nhìn nghiêng
Giá trị trung bình như sau:
Ở nam giới Ở nữ giới Khi tay có dạng thẳng >169 + 30 >164 + 30
Khi tay có dạng cong <169 – 30 <164 – 30
Giá trị trung bình như sau: 90 30
Tư thế nghiêng về phía sau: > 90 + 30
Tư thế thẳng: = 90 30
Tư thế nghiêng về phía trước: < 90 - 30
Với người có chiều cao bình thường, khi tay ở vị trí hạ thoải mái
thì đầu ngón tay giữa sẽ gần như nằm ở khoảng giữa đùi; khi đưa hai bàn tay lên nằm ngang song song với mặt đất thì khoảng cách giữa hai
đầu ngón tay giữa gần bằng chiều cao cơ thể
d Hình dạng khung xương chân
Có sự khác nhau về xương chân giữa nam giới và nữ giới
Xương chân nữ giới thường rộng hơn theo chiều ngang và ngắn hơn theo
chiều cao so với xương chân nam giới Điều này đã tạo nên sự khác
nhau về hình thức bên ngoài của hai phái
Xương đùi có dạng hơi cong, hơi lồi về phía trước Xương đùi không ở tư thế thẳng đứng mà hơi chéo Ở nữ, xương đùi có độ chéo lớn hơn ở nam giới
Sự phân bố xương ống và xương đùi tạo thành hình dạng bên ngoài của đôi chân
Ta chia dạng người theo đặc điểm của đôi chân như sau:
Người có dạng chân bình thường (thẳng): Người bình thường hai chân sẽ thẳng khít song song khi đứng, hai đầu gối và hai mắt cá bên trong đều sát khít nhau
Người có dạng chân vòng kiềng (V): làbiến dạng vẹo trong của đầu trên xương chày Người có chân vòng kiềng khi hai chân đứng trong tư thế thẳng, khớp gối hai bên nghiêng vào trong làm cho hai đầu gối không chạm vào nhau, không thẳng khít, có khe giữa khoảng 1,5cm
Trang 27 Người có dạng chân chữ bát (A): là biến dạng vẹo ngoài của đầu trên xương chày Người có dạng chân chữ bát khi đứng trong tư thế thẳng thì hai mắt cá chân không thể chạm vào nhau
dù đã tạo dáng đứng thẳng trong khi hai đầu gối lại chạm sát vào nhau tạo nên hình chữ bát
Chân chữ bát Chân thẳng Chân vòng kiềng
Hình 2.4 Hình dáng khung xương chân
Những đặc điểm trên có tầm quan trọng khi thiết kế quần áo
Những người có khuyết điểm ở khung xương chân không nên mặc
quần bó sát hoặc váy ngắn
2.1.2 Cấu tạo hệ cơ
Cơ tạo nên hình khối cho từng phần trên cơ thể người
Phân loại theo cấu trúc gồm:
Cơ trơn là các cơ nằm dọc vách ngăn các cơ quan bên trong và
mạch máu
Cơ chằng gồm cơ ngang và cơ dọc
Cơ xương có khoảng 600 cơ
Phân loại theo hình thức gồm:
Cơ dài (cơ tứ chi)
Trang 28 Cơ rộng (cơ thân)
Cơ ngắn (ở giữa các phần của xương sống và xương sườn)
Mỗi một cơ đều bắt đầu và kết thúc bằng dây chằng dính chặt với
các xương, khớp xương, tâm mạc hay da
Cơ chia làm ba phần: cơ đầu và cổ, cơ thân, cơ chi
a Cơ đầu và cổ
Hai nhóm này gộp lại thành một nhóm chính gồm ba phần:
Cơ nét mặt: làm cho nét mặt thay đổi gồm cơ trán, cơ cao mày,
cơ mũi,,… nằm dưới da và trên xương mặt
Cơ nhai: cơ cắn, cơ thái dương
Cơ quay cổ: cơ ức
b Cơ thân
Cơ ngực, cơ bụng, cơ lưng và cơ phía sau cổ Cơ ngực đóng vai trò rất quan trọng của tay, ngực khi chuyển động, nó tạo nên hình khối cho lồng ngực Cơ bụng là cơ hoành quan trọng Cơ lưng và cơ sau cổ là các
cơ quan trọng phía sau cơ thể
c Cơ chi: gồm cơ chi trên (cơ đai vai, cơ cánh tay, cơ bàn tay), cơ
chi dưới (cơ hông, đùi, chân, cơ bàn chân)
Cơ chi trên có cơ đai vai và nhóm cơ nối tay vào thân Cơ tay
có cơ cánh tay, cơ bàn tay, cơ cẳng tay Cơ trước tay và cơ sau tay quan trọng trong cử động tay
Cơ chi dưới có cơ đai hông và cơ chổng Cơ mông to nối phần chi dưới và xương chậu Cơ đùi, cơ cẳng chân, cơ bàn chân, hai đầu cơ tiếp nối với xương đùi Cơ cẳng chân nằm dọc theo chiều dài cẳng chân Cơ bụng phía sau quyết định hình dạng chân Cơ bàn chân là cơ ngắn nhất
Tóm lại, hình dáng bên ngoài và các kích thước cơ thể người phụ thuộc vào cấu trúc của xương, sự phát triển của bắp thịt cũng như các cơ quan chức năng trong cơ thể và sự phân bố của mỡ Tuy nhiên khi nghiên cứu sự phát triển hình thể người, nhiều tác giả chỉ rõ: cơ thể người phát triển nhanh đặc biệt là xương
2.2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CƠ THỂ NGƯỜI
Trang 29Cơ thể thay đổi phụ thuộc vào giới tính, lứa tuổi Cùng một lứa
tuổi, giới tính cũng có sự thay đổi khác nhau Điều này có ý nghĩa thiết thực khi ta cần xây dựng hệ thống cỡ số cơ thể người
2.2.1 Đặc điểm hình thái cơ thể người theo lứa tuổi
Hình thái cơ thể người thay đổi theo từng thời kỳ phát triển của mỗi lứa tuổi
A Các thời kỳ phát triển
Có thể chia thời kỳ phát triển của một cơ thể làm ba thời kỳ lớn: thời kỳ phôi thai, thời kỳ cơ thể tăng trưởng và thời kỳ phát triển sau trưởng thành
1 Thời kỳ phôi thai
Thời kỳ này bắt đầu từ lúc trứng được thụ tinh cho tới khi em bé lọt lòng Nghĩa là thời kỳ sống trong tử cung trung bình kéo dài 9 tháng 10 ngày
Thời kỳ này chia làm hai giai đoạn:
Giai đoạn 1 Giai đoạn phát triển của phôi
Trong 2 tháng đầu Đặc điểm của giai đoạn này là sự phân cắt và biệt hóa của trứng thành các lá thai chuẩn bị cho sự hình thành cơ thể
Giai đoạn 2 Giai đoạn phát triển của thai
Trang 302 Thời kỳ tăng trưởng sau khi sinh
Thời kỳ này bắt đầu từ lúc mới sinh tới lúc trưởng thành, nghĩa là lúc cơ thể hầu như ổn định, ít thay đổi về hình thái cũng như sinh lý Thời kỳ này có thể chia thành năm giai đoạn:
Giai đoạn 1 Giai đoạn thiếu nhi bé, bắt đầu từ mới sinh đến 2 tuổi rưỡi
Ở giai đoạn này, em bé có thân hình tròn trĩnh, bụ bẫm, đầu to, chi ngắn, thân dài, đặc biệt chiều cao phát triển mạnh với tốc độ mà không giai đoạn nào sánh kịp
Sau một năm kể từ khi sinh, chiều cao trẻ tăng gần gấp rưỡi từ 40% đến 50% Ở Việt Nam, lúc mới đẻ, chiều cao của trẻ em nam cao 48,64
cm ± 1,22 và trẻ em nữ là 48.35cm ± 1.22; sau một năm, chiều cao lần lượt là 70,40cm ± 2,72 và 71.00 ± 3.92
Về cân nặng trẻ tăng gấp ba lần Lúc mới đẻ là 3,07kg ± 0,32 đối với nam và 3.02 kg ± 0.35 đối với nữ, sau một năm cân nặng lần lượt là 8,16kg ± 0,62 và 7.73kg ± 0.89
Vòng đầu trong suốt giai đoạn này sấp xỉ bằng vòng ngực Trẻ sơ sinh Việt Nam có vòng đầu là 31.33 ± 1.67cm và vòng ngực là 31.84 ± 1.14cm Đến cuối giai đoạn này nghĩa là lúc trẻ được 30 tháng, thì vòng đầu là 48.94 ± 1.74cm và vòng ngực là 49.74 ± 2.23cm Trong khi đó ở người lớn, vòng ngực trung bình lớn hơn vòng đầu là 25cm
Ngực tròn do đường kính trước sau sấp xỉ đường kính ngang ngực Lúc trẻ được 2 tháng tuổi, đường kính trước sau ngực là 9.40 ± 0.82cm
và đường kính ngang ngực là 10.97 ± 0.66cm Trong khi đó ở người lớn, ngực dẹt (đường kính trước sau nhỏ hơn đường kính ngang ngực nhiều): kích thước lần lượt là 16.1 ± 1.18cm và 23.2 ± 1.12cm
Vòng bụng ở giai đoạn này có đặc điểm là lớn hơn vòng ngực (lúc
sơ sinh, vòng bụng là 37.42 ± 3.94 cm và lúc 2 tuổi rưỡi là 45cm), đặc biệt là trong thời gian một năm đầu Do chưa đi lại ở tư thế đứng thẳng nhiều, nên độ cong của cột sống không rõ ràng lắm như ở người lớn
Giai đoạn 2 Giai đoạn thiếu nhi trung bình, bắt đầu từ 2 tuổi rưỡi đến 7 tuổi
Ở giai đoạn này tốc độ lớn chậm hơn so với giai đoạn trước, giai đoạn này nằm trong thời gian chấm dứt thời kỳ mọc răng sữa đến lúc bắt đầu thời kỳ mọc răng vĩnh viễn
Trang 31Các đặc điểm về tỷ lệ các phần thân thể cũng vẫn giống như ở giai đoạn thiếu nhi bé, nhưng có gần về phía người lớn hơn: đầu vẫn còn to tương đối và thân vẫn dài tương đối hơn chi Vòng đầu ở giai đoạn này trung bình là từ 49cm (lúc 33 tháng) tới 50cm (lúc 6 tuổi), trong khi đó vòng ngực từ 50.5 cm đến 52 cm
Tóm lại ở giai đoạn này, đứa trẻ vẫn còn đáng bụ bẫm và tròn trĩnh, tuy không được bằng ở giai đoạn thiếu nhi bé
Giai đoạn 3 Giai đoạn thiếu nhi lớn
Bắt đầu từ 7 tuổi đến lúc xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên của tuổi dậy thì (10 - 11 tuổi đối với nữ, 11 - 13 tuổi đối với nam)
Đặc trưng của giai đoạn này là sự mất tính bụ bẫm và bắt đầu có dáng dấp người lớn
Đứa trẻ ““gầy”” đi nhiều Lý do vì ở thời kỳ này, đứa trẻ lớn nhiều
về chi dưới và ít về bề ngang Ngực không tròn mà bắt đầu bè ngang, bụng bé lại, vai nở ra Kích thước đầu hầu như không tăng lên nữa trong giai đoạn này Trán không dô tròn như hai giai đoạn trên mà bắt đầu hơi vát Tầng mặt giữa và dưới bắt đầu phát triển làm cho khuôn mặt có vẻ khôn ngoan và biết suy nghĩ hơn Đây là tuổi với “ “những câu hỏi tại sao”” của đứa trẻ
Tóm lại hình thái trẻ trong giai đoạn này là chuyển tiếp từ giai đoạn
bụ bẫm ngây thơ sang giai đoạn cứng cáp biết suy nghĩ của người lớn Giai đoạn này chia hai kỳ:
6 - 7 tuổi: kỳ dậy thì bé, phát triển tương đối chậm về chiều ngang
7 tuổi trở lên: phát triển mạnh về bề ngang và chậm bề cao, tăng 1,2cm/năm (theo thống kê năm 1969 ở Thái Bình) trong khi ở các tuổi khác mỗi năm tăng 3,4cm
Giai đoạn 4 Giai đoạn thiếu niên
Từ lúc bắt đầu dậy thì đến lúc hết dậy thì (từ 15 - 16 đối với nữ, 17
- 18 đối với nam)
Đặc điểm giai đoạn này có hai kỳ rõ rệt: kỳ tiền dậy thì và kỳ dậy thì chính thức, được đánh dấu bằng sự xuất hiện kinh nguyệt ở nữ Giai đoạn này kéo dài khoảng 5 năm
Thời kỳ tiền dậy thì, kéo dài khoảng 2 năm Đặc điểm thời kỳ này
là sức lớn về chiều cao vọt lên (trung bình tăng 7,8cm/năm) trong khi cân nặng không tăng lên nhiều Chiều cao tăng chủ yếu do chi dưới dài ra rất nhanh trong khi đó thân như ngắn lại và bé làm cho trẻ có dáng rất gầy,
Trang 32mảnh khảnh, trông lêu khêu, vụng về Đây là tuổi tác mà các bậc cha mẹ thường đánh giá con em mình là ““đoảng”” Về mặt sinh lý, do phát triển quá nhanh về bề dọc mà ít về bề ngang, nên ngực hẹp Trong khi đó tim
to ra nhanh chóng Đó là thời kỳ ““tim to sinh lý”” Chính ở thời kỳ này, trẻ em dễ thổn thức, cảm động Đồng thời cũng là giai đoạn dễ phát sinh
ra các tật của cột sống như gù, vẹo, v.v
Thời kỳ dậy thì, tiếp theo thời kỳ tiền dậy thì Thời kỳ này được đặc trưng bởi sự xuất hiện kinh nguyệt đầu tiên đối với nữ, và sự xuất tinh đầu tiên đối với nam do sự trưởng thành của các cơ quan sinh dục Trong đó chủ yếu là buồng trứng và tinh hoàn
Ngoài ra việc phát hiện tuổi dậy thì còn có thể dựa vào sự xuất hiện các dấu hiệu sinh dục phụ như sự phát triển lông mu, mọc râu, vỡ giọng
và sự tăng vọt chiều cao thời kỳ trước dậy thì, v.v,…
Tuổi dậy thì chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan bên ngoài Khí hậu, thời tiết và địa lý có ảnh hưởng đáng kể Người ở xứ nóng, thời kỳ dậy thì sẽ đến sớm hơn ở xứ lạnh Trẻ em châu Âu sống ở các vùng có khí hậu nóng bước vào tuổi dậy thì sớm hơn ở các vùng có khí hậu lạnh trong cùng một đất nước Thể dục và sự lao động cũng làm sớm tuổi dậy thì Chiến tranh có thể làm chậm ngày thấy kinh đầu tiên, thậm chí mất kinh Đối với người Việt Nam, tuổi dậy thì đối với nữ trung bình là 13 tuổi rưỡi và ở nông thôn là 16 tuổi 3 tháng Rõ ràng điều kiện sinh hoạt có ảnh hưởng tuổi dậy thì
Giai đoạn 5 Giai đoạn thanh niên
Giai đoạn này tiếp theo giai đoạn sau dậy thì cho đến khi cơ thể bước vào tuổi trưởng thành (khoảng 20 - 22 tuổi đối với nữ, 23 - 25 tuổi đối với nam) Tốc độ phát triển chiều cao chậm hẳn lại (tăng không quá 1,2cm/năm) trong khi đó trọng lượng tăng bình thường Cơ tăng nhiều hơn là xương so với những thời kỳ trước (xương tăng nhiều hơn cơ) Sau thời kỳ này, cơ thể hầu như không cao lên được nữa và chuyển sang một thời kỳ thứ 3, thời kỳ phát triển sau trưởng thành
Trang 33Hình 2.6 Tỷ lệ các đoạn thân thể trẻ em theo từng thời kỳ
3 Thời kỳ phát triển sau trưởng thành
Sau thời kỳ cơ thể tăng trưởng nhanh về mặt kích thước hình thái cũng như về các chức năng sinh lý, chúng ta vừa thấy ở các giai đoạn trên, cơ thể bước vào một thời kỳ phát triển mới sau trưởng thành Thời
kỳ này kéo dài từ sau tuổi thanh niên cho đến khi già chết
Cơ thể trong thời kỳ này rất ít thay đổi về mặt hình thái cấu trúc, cũng như ít có biến động lớn về mặt chuyển hóa và chức năng
Thời kỳ này có thể chia ba giai đoạn:
Giai đoạn 1 Giai đoạn tráng niên: Đây còn có thể gọi là giai đoạn
trưởng thành kéo dài khoảng 20 năm (từ 25 đến 45 tuổi đối với nam và
20 đến 40 tuổi đối với nữ) kể từ khi cơ thể không cao thêm được nữa cho tới khi xuất hiện dấu hiệu đầu tiên của sự già (ví như tóc bắt đầu bạc,…)
Giai đoạn 2 Giai đoạn đứng tuổi: Giai đoạn này kéo dài khoảng
10 năm đến 15 năm Nghĩa là từ 40 đến 55 tuổi đối với nữ và nam từ 45 đến 60 Giai đoạn này nối tiếp giai đoạn tráng niên cho tới lúc có dấu hiệu rõ ràng của tuổi già (rụng răng, tóc hoa râm,…) các chức năng hoạt động của cơ thể ổn định và có sự chín chắn về tư duy, tinh thần và tâm
lý
Giai đoạn 3 Giai đoạn tuổi già: Tiếp theo giai đoạn đứng tuổi và
kéo dài cho tới chết, giai đoạn này được đặc trưng bởi sự thoái hóa toàn
bộ các tạng trong cơ thể và của hình thái bên ngoài: chiều cao, cân
Trang 34nặng, Như chiều cao giảm 1 - 3 cm do cột sống cong, cơ nhão, vòng ngực giảm, kéo theo sự thoái hóa các hoạt động sinh, tâm lý của cơ thể
và suy nhược dần cho tới khi chết
B Quy luật phát triển
Sự phát triển của cơ thể không phải hoàn toàn đều đặn về tỷ lệ các đoạn thân thể Có những thời kỳ lớn nhanh, có những thời kỳ lớn chậm Trong cùng một thời gian, phần này phát triển mạnh hơn phần khác của thân Sự phát triển không đều đặn trong không gian cũng như trong thời gian và tuân theo những quy luật gọi là các quy luật phát triển so le của
cơ thể
Quy luật phát triển so le từng đoạn xương dài: Trong thời
gian nhất định, xương chi dài ra thì xương khác lại dày lên và thời gian tiếp sau thì ngược lại Ví dụ trong 6 tháng đầu, hai xương cẳng tay dày lên và trong khi đó xương cánh tay dài ra 6 tháng đầu trước lúc dậy thì, chi dưới dài ra và 6 tháng tiếp theo thì chi trên dài ra
Quy luật phát triển không đều của tỷ lệ các đoạn thân thể:
Trong thời kỳ tăng trưởng của cơ thể, sau mỗi tuổi lớn, có sự tăng nhanh của chi nhiều hơn so với thân
Quy luật phát triển toàn bộ cơ thể không đều trong từng thời kỳ: Nhịp độ tăng trưởng của cơ thể càng nhanh nếu cơ thể đó
càng trẻ
2.2.2 Đặc điểm hình thái cơ thể người theo giới tính
a Các đặc điểm quan sát
Nói chung tầm vóc nữ bé nhỏ hơn nam, các đường cong thân thể
nữ nhiều hơn nam làm cho dáng dấp của nữ tròn trĩnh và mềm mại hơn Lớp mỡ dưới da của nữ phát triển hơn, đặc biệt là ở vú, hông và phần trên đùi Cơ và lông kém phát triển hơn nam Tất cả những đặc điểm trên làm da của nữ trắng trẻo, mịn màng hơn nam
b Về kích thước và tỷ lệ phát triển các đoạn thân thể
Trong cùng một chủng tộc, chiều cao nữ trung bình thấp hơn nam 10cm
Hông của nữ bề ngang tương đối, vai xuôi và bé hơn nam
Chi của nữ tương đối ngắn, thân tương đối dài hơn nam, nói một cách khác nếu một nữ có chiều cao bằng của nam thì chi dưới của nữ
Trang 35Theo thống kê vào năm 1970 ở Việt Nam thì chiều cao trung bình của nữ là 150,4cm, nam là 158,4cm Hiện tại chiều cao trung bình của nữ
là 155cm, nam là 164cm
c Về hình thái của sọ
Sự phân biệt về hình thái của sọ giữa nam và nữ nhiều khi không phải là dễ dàng lắm Có nhiều tác giả cho là không có sự khác nhau về cơ bản giữa sọ nam và sọ nữ Tuy nhiên, trong một chừng mực nhất định, vẫn có những đặc điểm và kích thước sọ cho phép so sánh được sọ nam
và nữ Điểm này không chỉ có ích cho các nhà nhân chủng mà còn rất cần thiết trong y pháp để xác định một sọ là nam hay nữ
Nhìn chung sọ nam to và thô hơn so với nữ Các mấu lồi và chỗ bám của các cơ thường to U trên gốc mũi và gờ trên ổ mắt của sọ nam lồi hơn so với sọ nữ, trán vát hơn và xương hàm dưới to hơn Hình dáng
sọ nữ thường có hình 5 góc (do hai ụ trán và hai ụ đỉnh của sọ nữ phát triển hơn nam) và sọ nam thường hình trứng
Về mặt kích thước, nói chung tất cả các kích thước sọ của nam đều lớn hơn sọ nữ Lý do có thể là do thân hình nam lớn hơn nên sọ cũng to hơn
d Về hình thái khung xương chậu
Khung xương chậu có sự khác nhau ít nhiều giữa nam và nữ Nhìn chung, khung chậu của nữ bè ngang, rộng bề ngang và thấp
bề cao hơn của nam Góc dưới mu và góc của lỗ mẻ hông lớn của nữ to hơn của nam Xương chậu của nữ nhẵn nhụi và mỏng mảnh, nhẹ cân hơn của nam rất nhiều
2.3 PHÂN LOẠI HÌNH DÁNG CƠ THỂ NGƯỜI
2.3.1 Phân loại theo tỷ lệ cơ thể
Theo tỷ lệ giữa chi và thân của cơ thể với chiều cao: có ba dạng cơ bản:
+ Người dài: chi dài, thân ngắn
+ Người trung bình: chi và thân đều trung bình
+ Người ngắn: chi ngắn, thân dài
Xác định dạng người thông qua chỉ số thân::
Chỉ số thân = (Chiều cao ngồi × 100) / chiều cao đứng
Trang 36+ Chỉ số thân dưới 50,9: là người có thân ngắn, chân dài Đây là dạng người dài
+ Chỉ số thân từ 51 - 52,9: người có thân và chân trung bình Đây
là dạng người trung bình
+ Chỉ số thân trên 53: người có thân dài, chân ngắn Đây là dạng người ngắn
Xác định dạng người thông qua chỉ số Skerie:
Chỉ số Skerie = (Chiều dài chi dưới × 100) / chiều cao ngồi
Các nhà nhân loại học xếp loại dạng người dựa vào chỉ số Skerie như sau:
1) Chân ngắn: dưới 84,9 Trong đó:
Chân rất dài: trên 100
Theo chiều dài đầu (1 mođun) thì cơ thể người bình thường đối với châu Âu có chiều dài là 8 mođun, với người Việt Nam là 7 mođun Bao gồm:
+ Chiều dài cổ: 1/3 mođun
+ Chiều dài từ đầu cổ đến ngang ngực: 2/3 mođun
+ Chiều dài từ ngang ngực đến ngang eo: 1 mođun
+ Chiều dài từ ngang eo đến ngang hông: 1 mođun
+ Chiều dài từ mấu chuyển của hông đến gót chân: 4 mođun + Rộng vai: 2 mođun
+ Đường kính liên mấu chuyển: 1,5 mođun
+ Chiều dài từ cẳng chân đến gót chân: khoảng hai lần chiều dài đầu đến chiều dài bàn tay
Trang 37+ Chiều dài khuỷu tay = 1,5 chiều dài bàn tay
Bảng 2.1 Bảng tỷ lệ (%) kích thước từng phần cơ thể của nam giới đối
với các dạng người khác nhau so với chiều cao cơ thể
Dạng cơ thể Dài
lưng
Rộng vai
Rộng hông
Dài tay
Dài chân Người phần thân ngắn 29,5 21,5 16 46,5 55 Người phần thân trung bình 31 23 16,5 44,5 53 Người phần thân dài 33 24,5 17 42,5 51
2.3.2 Phân loại theo tư thế
Căn cứ vào độ cong cột sống, chia hình dáng cơ thể người thành ba dạng:
- Người ưỡn: lưng phẳng và rộng Ngực, vai rộng và tương đối phát triển Bả vai hơi nhô cao, gần eo lõm vào nhiều hơn, phần mông tương đối phát triển Điểm đầu ngực di chuyển lên trên, kích thước sau ngắn hơn kích thước phía trước Nữ giới cơ thể thường ưỡn hơn so với nam giới
- Người bình thường: khi đứng ở tư thế bình thường đầu để thẳng không tựa vào đâu cả thì có dáng như sau: cổ thẳng, chi trên bỏ thỏng thì dọc theo thân, không rơi ra phía trước (chứng tỏ không bị gù); đường viền trước ngực thì chếch ra phía trước (chứng tỏ ngực nở); đường viền phía sau có 4 độ cong sinh lý bình thường: gáy lõm ra sau, lưng lồi ra sau, thắt lưng lõm ra sau và mông lồi ra sau
- Người gù: là những người có hình dáng cột sống cong gù về phía trước Điểm đầu ngực di chuyển xuống dưới, kích thước sau dài hơn kích thước phía trước
Trang 38c Loại nam phát triển mạnh phía thân dưới (theo Thooris)
Hình 2.7 Phân loại các dạng hình dáng cơ thể người theo tư thế
Ta có công thức: CT = CB – (HET – HES)
Trong đó: CT: dáng cơ thể; CB: số đo cân bằng (3cm); HET: hạ eo trước; HES: hạ eo sau
Người bình thường: HET – HES = 3cm
Người gù : HET – HES < 3cm
Người ưỡn : HET – HES > 3cm
- Nam giới:
Trang 39Người gù : HES - HET > 2,2cm
Người ưỡn : HES - HET < 1,8cm
2.3.3 Phân loại theo thể chất
- Người trung bình là trung gian giữa ba dạng người trên
Hình 2.8 Phân loại các dạng hình dáng cơ thể người theo thể chất
2.3.4 Phân loại theo hình dáng các phần trên cơ thể
- Theo độ dốc của vai khi nhìn chính diện hai bờ vai:
+ Vai bình thường (lý tưởng): vai thoai thoải nhẹ từ cổ
Đối với nữ hạ vai = 4 - 4,5cm, độ dốc là 21o
Hạ vai nam là 55cm và độ dốc là 24o.
Trang 40+ Vai xuôi: vai xuôi nhiều xuống từ cổ Hạ vai > 4,5 – 5cm + Vai ngang: vai nằm ngang với chân cổ Hạ vai = 3 – 3,5cm
- Theo độ vươn về phía trước của vai khi nhìn từ trên xuống: + Vai trung bình
+ Vai cánh cung: hai vai đưa về phía trước nhiều hơn
+ Vai ngửa: kích thước ngang lớn, kích thước phía trước nhỏ, hai vai đưa về phía sau
- Căn cứ vào phần ngực khi nhìn từ trên: ngực lép (người gầy), ngực rộng (người béo), ngực trung bình
- Phần ngực khi nhìn từ chính diện: ovan, bán cầu, chóp
- Theo hình dáng của mông khi nhìn chính diện: bán cầu, ovan (để phân biệt người béo, người gầy)
- Theo hình dáng của mông khi nhìn bên hông: cong, dẹp, trung bình
- Căn cứ vào độ rộng ngang hông so với vai: hông rộng, hẹp, trung bình
- Căn cứ vị trí điểm nhô ra phía ngoài nhất của độ cao điểm đó: hông cao (nằm ở vị trí ngang rốn), hông trung bình (nằm giữa ngang rốn
và ngang háng), hông thấp (nằm ở vị trí ngang háng: có phần cơ và đùi phát triển)
Hình 2.99 Các dạng hình dáng cơ thể phụ nữ thường gặp