Dự án cải tạo đất hoang hóa Dự án cải tạo đất hoang hóa Dự án cải tạo đất hoang hóa Dự án cải tạo đất hoang hóa Dự án cải tạo đất hoang hóa Dự án cải tạo đất hoang hóa Dự án cải tạo đất hoang hóa
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
HỌC PHẦN: KINH TẾ PHÁT TRIỂN CHUYÊN SÂU GIẢNG VIÊN: TRẦN PHƯƠNG THẢO
MÃ LỚP: 211_INE2012 1
DỰ ÁN: CẢI TẠO ĐẤT HOANG HÓA NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM FIRE
Trang 2MỤC LỤC
TÓM TẮT BÁO CÁO 1
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
THỰC TRẠNG HIỆN NAY: 2
DỰ ÁN “CẢI TẠO ĐẤT HOANG HÓA” 2
1 Thông tin dự án: 2
2 Nội dung dự án 4
2.1 Sự cần thiết phải thực hiện dự án 4
2.2 Cơ quan quản lý dự án, cơ quan thực hiện và cơ quan phối hợp 5
2.3 Các hoạt động chính của dự án 5
2.4 Thời gian, đối tượng, phạm vi thực hiện tiến độ và địa bàn triển khai dự án 6
2.5 Nhu cầu tổng nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn 7
2.6 Đối tượng thụ hưởng của dự án 7
2.7 Khung logic, hệ thống chỉ số theo dõi dự án 8
2.8 Quản lý chất lượng 13
2.9 Dự toán ngân sách và quản lý chi phí 15
2.10 Quản lý rủi ro và phương án giải quyết 17
ĐÁNH GIÁ DỰ ÁN 19
1 Tính hợp lý và khả thi của dự án 19
2 Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của dự án- 19
3 Các phương thức đánh giá trên phương diện kinh tế 20
Trang 31
TÓM T T BÁO CÁO Ắ
Hoang hóa ruộng đất là một hiện tượng nóng đã và đang xảy ra tại nhiều địa phương Lý do là thu nhập từ sản xuất nông nghiệp quá thấp; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hình thành các khu công nghiệp đã đem lại nguồn thu nhập và công việc tốt hơn với nhiều người nên họ lựa chọn làm công hơn làm nông; nông nghiệp là ngành dễ bị tổn thương bởi thời tiết… Không chỉ vậy, việc giữ lại mảnh đất của mình với mong muốn đây là tài sản an toàn khi về già của nhiều hộ gia đình nông thôn đã khiến cho mảnh đất đó vốn có thể sử dụng tốt thì giờ bị bỏ hoang không để làm gì Trong khi đó từ xa xưa, nông nghiệp luôn là một thế mạnh của Việt Nam ta, vừa giúp phát triển kinh tế, vừa đảm bảo an ninh lương thực trong cả nước Nếu tình trạng này tiếp diễn sẽ có những tác động vĩ mô Vì thế, nhóm FIRE đã làm việc để đưa ra dự án “Cải tạo đất hoang hóa” giúp hạn chế, khắc phục tình trạng hoang hóa ruộng đất, đảm bảo phân phối cho đúng người, đúng thời điểm, tạo công ăn việc làm và phát triển nông nghiệp bền vững, góp phần gia tăng nền kinh tế của cả đất nước Hai công việc chính trong dự án đó chính là: Thứ nhất, nhà nước đứng ra thuê “cưỡng chế” đối với mảnh ruộng hoang hóa; thứ hai, phân phối lại ruộng thuê cho các cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng ruộng đất để canh tác nông nghiệp Dự án dự kiến thực hiện trong 20 năm, bắt đầu từ 01/07/2025 đến 01/04/2045 và chia làm 6 giai đoạn và 1 công đoạn kiểm tra bám sát đi xuyên suốt toàn dự án Để thực hiện được chương trình này, nhóm dự kiến cần các bên liên quan như cơ quan quản lý là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; cơ quan thực hiện là Chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương; cơ quan phối hợp là các cơ quan trong Bộ máy chính phủ
và cuối cùng là sự tham gia của người dân, doanh nghiệp, tổ chức Về mặt kinh phí, nhóm đã dự trù ở mốc 1,800 tỷ đồng với sai số là 5 tỷ được lấy trực tiếp từ ngân sách nhà nước, các khoản chi phí cụ thể
sẽ được trình bày cụ thể trong bài Thông qua dự án “Cải tạo đất hoang hóa”, nhóm mong muốn các hộ nông dân có ruộng đất bỏ hoang, những người muốn có đất để canh tác nông nghiệp và nhà nước đều có lợi ích, hướng tới mục tiêu dài hạn là phát triển nông nghiệp, nhất là nông nghiệp làm lúa tại Việt Nam
để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu thế giới
TÍNH C P THI T CẤ Ế ỦA ĐỀ TÀI
Nông nghiệp là kế sinh nhai, là ngành nghề giúp ổn định cuộc sống cho phần lớn người nông dân,
là nơi tạo tiền đề cho sự phát triển của công nghiệp hóa hiện đại hóa Nông nghiệp nói chung và nghề - làm ruộng nói riêng là nơi cung cấp phần lớn nhu cầu thực phẩm cả trong và ngoài nước Đồng thời, cũng là nơi cung cấp nguyên vật liệu cho một số ngành công nghiệp nhẹ như dệt may, công nghiệp thực phẩm và đặc biệt trong đại dịch Covid 19, nông nghiệp đang đóng vai trò “cứu cánh” cho nền kinh tế khi -các nhà máy, khu công nghiệp, sân bay đang phải đóng cửa Từ đó, nông nghiệp trở thành “trụ đỡ” giúp nền kinh tế tăng trưởng và đảm bảo được an sinh xã hội, góp phần ổn định chính trị ở nước ta Nông nghiệp còn mang lại cho chúng ta nhiều lợi ích lớn cho nền kinh tế như đóng góp vào GDP, Vượt qua khó khăn về đại dịch Covid 19, năm 2020 GDP Việt Nam ở mức tăng trưởng dương, đạt 2,91%, ngành -Nông nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 2,65% Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự báo trong năm 2021, Việt Nam sẽ tiếp tục đứng thứ hai thế giới về sản lượng gạo xuất khẩu Tính đến tháng
4 năm 2021, Việt Nam đã xuất khẩu được 1,89 triệu tấn gạo, giảm 10,8% so với cùng kỳ năm ngoái Về công tác an sinh xã hội, ngành nông nghiệp tiêu biểu lương thực chính là gạo đã giúp đảm bảo lương - thực của quốc gia, cung cấp đủ lương thực cho toàn dân, hỗ trợ gạo trong những tình huống khó khăn cho nhân dân như dịch bệnh, thảm họa, thiên tại, Không chỉ tạo việc làm trực tiếp cho người nông dân,
Trang 42
nông nghiệp còn gián tiếp tạo việc làm cho các cán bộ khuyến nông Nông nghiệp còn mang lại tiềm năng phát triển cho Việt Nam khi đã tham gia ký kết nhiều Hiệp định Thương mại tự do với các bên Qua các thông tin ở trên có thể thấy được ngành nông nghiệp tiêu biểu là lúa gạo tại Việt Nam đem lại - những hiệu quả vô cùng to lớn đến kinh tế, đời sống, an sinh xã hội của người dân Việt Nam nên tận dụng những thế mạnh về địa hình của mình để tham gia sản xuất nông nghiệp, mang lại những giá trị to lớn cho nền kinh tế, đời sống xã hội của toàn dân
TH ỰC TR ẠNG HIỆN NAY:
Việt Nam là nước nông nghiệp với hơn 70% dân số là nông dân nguồn thu nhập chính của đại đa
số người dân Việt Nam là từ sản xuất nông lâm nghiệp và chính vì vậy đất sản xuất nông nghiệp trở nên
vô giá và trở thành vấn đề sống còn đối với người nông dân Tuy nhiên hiện nay, tình trạng nông dân bỏ ruộng, không canh tác, gây lãng phí tài nguyên đất, ảnh hưởng không nhỏ tới ổn định xã hội và khó khăn lớn cho công tác hoạch định chính sách của các cơ quan nhà nước
Theo thống kê của Cục trồng trọt Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong hai năm 2012
và 2013, cả nước đã có 42.785 hộ bỏ không đất canh tác với trên 6.882 ha, có trên 3.407 hộ trả ruộng Năm 2014, tình trạng này có xu hướng tăng lên Và tính đến vụ mùa năm 2019 cả nước có tới hơn 58.000ha ruộng bị bỏ hoang trong đó Trung Bộ và đồng bằng Sông Hồng tới gần 39.000ha
Đáng đáng chú ý tại đồng bằng Sông Hồng vùng đất nông nghiệp trù phú từ bao đời nay đang phải đối mặt với tình trạng nông dân bỏ ruộng ngày càng tăng tổng diện tích nông nghiệp bị bỏ hoang rất lớn Theo ước tính của Cục Kinh tế hợp tác Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tối thiểu trong cả nước sẽ có 6.300 ha đất người dân không còn mặn mà với sản xuất đất nông nghiệp nữa
Nguyên nhân xảy ra tình trạng này được tóm tắt thành sáu nguyên nhân chính như là: thu nhập từ sản xuất nông nghiệp quá thấp so với những ngành nghè khác, sự phát triển của các khu công nghiệp dẫn đến thiếu lao động sản xuất nông nghiệp, do thiên tai, biến đổi khí hậu toàn cầu, do điều kiện thiếu điều sản xuất đất nông nghiệp, do các chính sách của Nhà nước chưa thực sự tối ưu, do các khoản đóng góp liên quan tới đồng ruộng ở nông thôn hiện nay vẫn cao, do phát triển đô thị
D Ự ÁN “CẢI TẠO ĐẤT HOANG HÓA ”
1 Thông tin d án: ự
Chính sách được mô tả dưới đây được tạo dựng dưới hình thức chính sách công, là hạt giống của của toàn dự án, tạo nên sự khác biệt của dự án này so với những dự án đã được được triển khai thực hiện trong vấn đề hoang hóa ruộng đất Việc tạo dựng chính sách này đi thẳng vào yêu cầu của bài toán hoang hóa ruộng đất và quyết định trực tiếp đến thành công của dự án
* Định hướng giải quyết vấn đề hoang hóa ruộng đất tập trung vào 2 nội dung chính:
- Một là, Nhà nước đứng ra thuê “cưỡng chế” đối với mảnh ruộng hoang hóa
- Hai là, phân phối ruộng thuê cho các cá nhân, tổ chức có nhu cầu thuê lại ruộng đất để canh tác nông nghiệp
? Tại sao lại là thuê “cưỡng chế”
Tại điều 3 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 6/1/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư hướng dẫn
Trang 53
thi hành Luật đất đai quy định về việc xác nhận hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, có
đề cập đến việc đăng ký nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa của hộ gia đình Tuy nhiên, việc chuyển nhượng này rất ít xảy ra do người nắm giữ quyền sử dụng đất trồng lúa song không thực hiện canh tác “thà để hoang chứ không cho thuê” với rất nhiều nguyên nhân khác nhau như: Những lao động bỏ ruộng nhưng không bỏ đất vì cơ hội việc làm là phi chính thức (osin, cửu vạn, thợ xây, xe ôm…), những ngành nghề không có hợp đồng, không có bảo hiểm, không có tương lai, vì vậy luôn luôn họ phải giữ mảnh đất ở lại không phải vì tâm lý tiểu nông mà là đối với họ, mảnh đấy là điểm an toàn Ai cũng lo sẽ có ngày đói, ai cũng lo có lúc khủng hoảng, thì họ sẽ trông về đâu, cho nên
là người thì đi nhưng đất vẫn để lại Nhưng đất ở lại không có lao động, không có vốn cho nên không được thâm canh như trước nữa, mảnh đất bây giờ năng suất thấp đi, hệ số quay vòng đất thấp đi nhưng không còn là tư liệu sản xuất mà trở thành vật bảo hiểm Xuất phát từ tâm lí giữ của ấy, việc thực hiện chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa của hộ gia đình rất khó khăn
Bên cạnh đó, mặc dù nhà nước có nhiều chính sách cho doanh nghiệp nhưng ít doanh nghiệp nào đầu tư vào nông nghiệp khi ruộng đất không tích tụ, và không thể đến từng nhà để thuyết phục họ cho thuê lại ruộng hoang
Như vậy rất cần thiết bên thứ ba là nhà nước mở đường cho vấn đề này Quyền sử dụng đất trồng lúa của hộ gia đình đã được quy định rất chặt chẽ về luật pháp và cũng có nhiều người vịn vào lý do này
để không phản đối việc thu hồi đất của chính quyền Vì vậy, cách tối ưu nhất là nhà nước đứng ra thuê lại, với hình thức là “cưỡng chế” với mảnh ruộng không canh tác trên 12 tháng Việc “cưỡng chế” này
sẽ trực tiếp đưa ra 2 kết quả chính, đó là: thứ nhất hộ gia đình không muốn cho thuê sẽ phải trực tiếp cải tạo và canh tác để chống đối lại việc thuê “cưỡng chế” đối với ruộng không canh trên 12 tháng; thứ hai
là buộc phải cho thuê “cưỡng chế” để chính quyền giao lại cho người có nhu cầu; cả hai kết quả này đều giúp cải thiện tình trạng hoang hóa ruộng đất
? Tại sao phân phối cho người có nhu cầu mà không phải phân phối theo đầu người cho
những hộ đang thực hiện canh tác tại địa phương
Một số hộ đang thực hiện canh tác không có nhu cầu tăng thêm đối với việc sản xuất nông nghiệp (ví dụ như hiện tại những gia đình có lao động chính là công nhân thì nhu cầu sản xuất nông sản chỉ dừng mức đủ ăn và không có nhu cầu canh tác thêm), nếu phân phối lại cho những hộ như này thì tình trạng hoang hóa vẫn có thể tiếp tục xảy ra
Do chính sách phân chia ruộng đất ở các địa phương vốn dĩ đã theo cơ chế bình quân mỗi hộ nên nếu phân phối theo đầu người thì ở một số địa phương số đất thuê “cưỡng chế” (số lượng ruộng hoang tại địa phương ít) có thể không thể đủ để phân phối theo đầu người, từ đó dẫn đến tình trạng không đồng
bộ dẫn đến bất bình đẳng giữa các hộ hoặc diện tích đất được chia quá nhỏ để canh tác, sản xuất nên việc phân phối như này sẽ không đi vào giải quyết được vấn đề hoang hóa ruộng đất
Tiếp đến là việc giao đất cho cá nhân, tổ chức có nhu cầu mang tính đảm bảo cao, vì: động lực sản xuất ban đầu cao, sự đầu tư cho đầu vào và cả quá trình sản xuất nông nghiệp lớn: đầu tư trang thiết
bị ( máy cấy, máy cày, máy gặt, ), nhân lực,
* Các ràng buộc được thực hiện giữa các đối tượng thực hiện chính sách ( điều kiện thu mua, hợp đồng các kiểu ….)
Ràng buộc 1: Việc thuê “cưỡng chế” giữa chính quyền và hộ gia đình có ruộng hoang
- Điều kiện xảy ra ràng buộc:
Trang 64
• Thuê: trong đó thuê “cưỡng chế” đối với hộ không đồng ý giao quyền sử dụng đất hoặc chống
đối quá trình th c hi n này ự ệ
• Thuê đối với ruộng không thực hiện canh tác trên 12 tháng
• Thời gian thuê: 5 năm đáo hạn 1 lần
• Giá nhà nước thuê lại: 200.000 vnd/ 360m^2/ 1 năm
Ràng buộc 2: Giữa chính quyền và các cá nhân, tổ chức có nhu cầu thuê đất với mục đích canh tác
nông nghiệp
- Về thời gian: yêu cầu tối thiểu 5 năm đối với hộ thuê và 10 năm đối với doanh nghiệp
- Giá thuê lại: 100.000 vnd/ 360m^2/ năm
- Về đầu ra: Cần có yêu cầu đầu ra cụ thể để đảm bảo tính chặt chẽ và tối đa hóa hiệu quả đầu ra
dự án
- Cơ chế phạt nặng đối với cá nhân, tổ chức không đảm bảo yêu cầu trong hợp đồng
* Điểm nổi bật của chính sách
- Thúc đẩy người dân cải tạo và trở lại hoạt động sản xuất nông nghiệp đặc biệt là đối với những
hộ gia đình không còn tha thiết với việc trồng trọt, bỏ hoang ruộng
- Giải quyết triệt để vấn đề bỏ hoang đất bằng chính sách thuê đất và phân phối cho những người nông dân có nhu cầu phát triển nông nghiệp nhưng không có đất
- Ổn định thu nhập cho cả hộ sản xuất và không sản xuất Đối với hộ không sản xuất có thêm nguồn thu từ việc cho thuê, còn đối với hộ sản xuất có được tư liệu sản xuất quan trọng là đất đai
- Nhà nước thống nhất về tài chính, khắc phục mâu thuẫn giữa các hộ trong trường hợp giao dịch đất tự phát
Trang 7Tại Đà nẵng 7 năm nay cũng gặp tình trạng giống như Hưng Yên khi hơn 38ha đất ruộng bị bỏ hoang
do sau khi tích đất từ nông dân, các công ty trậm chễ triển khai dự án Khiến cho một số người dân thì không có đất trồng, mà công ty cũng không có triển khai dự án Ngoài ra, tại Đà Nẵng còn xảy ra tình trạng khu vực không được quy hoạch thì bị phá hủy trầm trọng không có cấy trồng được
Từ năm 2009, Tổng công ty cổ phần Đầu tư phát triển xây dựng (DIC) tổ chức lễ động thổ diện tích đất ruộng 447ha được bàn giao tại Vĩnh Phúc để xây dựng khu đô thị Tuy nhiên, đến nay các dự án triển khai hầu hết là dang dở và nhiều nơi bỏ hoang, thậm chí chủ dự án đã lặng lẽ rút lui, để lại bao nhiêu điều phiền toái, nhất là chưa thực hiện xong công tác hỗ trợ đền bù cho người dân, còn đất nông nghiệp
"bờ xôi ruộng mật" bị phủ lên một lớp sỏi đá hoặc đất đồi bạc màu
2.2 Cơ quan quản lý dự án, cơ quan thực hiện và cơ quan phối hợp
- Cơ quan quản lý dự án: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
- Cơ quan thực hiện: Chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương
- Cơ quan phối hợp: Các cơ quan trong bộ máy chính phủ
2.3 Các hoạt động chính của dự án
Hoạt động 1: Khởi động dự án
- Lên kế hoạch cho hoạt động hội thảo như tổ chức tại đâu, mời ai, nội dung chính,
- Mở cuộc hội thảo để khởi động chương trình với sự điều hành của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn cùng với tham gia của của các đại diện cơ quan phối hợp: các cơ quan trong bộ máy chính phủ để nêu ra các vấn đề, thống nhất các vấn đề khi triển khai dự án trong đó đưa ra được định hình cơ bản về chính sách chính cần được triển khai trong dự án
Hoạt động 2: Lập kế hoạch, điều tra, khảo sát về hiện trạng hoang hóa ruộng đất và cải tạo ruộng đất nông nghiệp
• Hoạt động 2.1: Xây dựng bộ phiếu điều tra, lập bảng khảo sát sinh viên
Trang 86
- Lập bảng khảo sát, phiếu điều về hiện trạng hoang hóa ruộng đất và cải tạo ruộng đất nông nghiệp
- Tham khảo các ý kiến từ các chuyên gia để sửa chữa hoàn thiện bộ câu hỏi thống nhất
• Hoạt động 2.2: Tổ chức triển khai điều tra
- Phiếu điều tra được triển khai cấp cơ sở, sau đó được xác minh, tổng hợp tại báo cáo cấp cơ sở
• Hoạt động 2.3 Tổng hợp đánh giá về kết quả điều tra phục vụ cho việc triển khai chính sách chính của dự án
Các báo cáo thu hồi kết quả sẽ được tập hợp, xử lí dữ liệu theo sự phân công của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn từ đó đánh giá chính xác về hiện trạng hoang hóa ruộng đất và cải tạo ruộng đất nông nghiệp để đưa ra định hướng phù hợp cho chính sách và hướng đi trong việc triển khai dự án
Hoạt động 3: Lập chính sách
• Hoạt động chi tiết được đề cập tại khung logic của dự án
• Hoạt động này sẽ do Bộ tư pháp trực tiếp thực hiện dựa trên cơ sở những báo cáo của các bộ ban ngành liên quan và dựa trên thực trạng, tình hình kinh tế văn hóa xã hội của đất nước trong - - quá khứ, hiện tại, tương lai
Hoạt động 4: Triển khai chính sách
• Chính sách này sẽ được triển khai tại các địa điểm thí điểm trước để xem xét, tính toán rủi ro, giải quyết các lỗ hổng phát sinh sau đó được triển khai trên cả nước
Hoạt động 5: Giám sát việc thực hiện dự án
• Nhằm đảm bảo mọi thứ đang hoạt động tốt cũng như kịp thời phát hiện những vấn đề ẩn ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng dự án; từ đó quyết định cách khắc phục và định hướng lại cho phù hợp
Hoạt động 6: Kết thúc và đánh giá dự án
Sau khi kết thúc các hoạt động trong kế hoạch thực hiện và vòng đời của dự án, các báo cáo tổng hợp lại kết quả đạt được qua từng năm kể từ khi chính sách đi vào thực hiện, thí điểm sau đó triển khai trên cả nước và tiến hành đánh giá mức độ thành công của dự án
2.4 Thời gian, đối tượng, phạm vi thực hiện tiến độ và địa bàn triển khai dự án
Thời gian: Thời gian thực hiện dự kiến: 20 năm: 01/07/2025 - 01/04/2045
Stt Các hoạt động chính của dự án Ký hiệu Độ dài thời
gian (năm)
Thời điểm bắt đầu
31/12/2025)
2 Lập kế hoạch, điều tra, khảo sát về B 1 Sau A (01/01/2026 - 31/12/2026)
Trang 97
hiện trạng hoang hóa ruộng đất và
cải tạo ruộng đất nông nghiệp
4 Triển khai chính sách tại địa điểm
thí điểm
5 Triển khai dự án trên cả nước E 10 Sau D ( 01/01/2035 - 31/12/2044)
6 Giám sát thực hiện dự án F 20 Bắt đầu ngay (01/07/2025-
31/12/2044)
7 Kết thúc và đánh giá dự án G 0,25 Sau E, F (01/01/2045 - 01/04/2045)
Sơ đồ thực hiện dự án:
2.5 Nhu cầu tổng nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn
- Cơ cấu nguồn vốn: 1800 tỷ, lấy trực tiếp từ ngân sách nhà nước
- Sai số ước lượng khoảng: +/ 5 tỷ -
- Phần dự tính vốn được thực hiện dựa trên mục dự toán ngân sách và quản lý chi phí dự án ở mục 2.9
2.6 Đối tượng thụ hưởng của dự án
- Đối tượng: Người dân có nhu cầu thuê và người dân bỏ ruộng, nhà nước
- Nhu cầu: Hạn chế ruộng bỏ hoang, giải quyết vấn đề kinh tế
- Đặc điểm: Người dân đang bỏ ruộng gặp phải các vấn đề chính
Ví dụ như:
- Bỏ ruộng nhưng không bỏ đất
- Diện tích canh tác nhỏ lẻ
- Làm nông nghiệp rủi ro cao
- Được mùa nhưng mất giá
- Thu mua đất chờ những dự án khởi động để nhận đền bù
- Chi phí hàng hóa vật tư nông nghiệp rất cao mà công sức bỏ ra lại vất vả
- Lực lượng lao động thuộc thế hệ cũ, già hóa và không còn tha thiết với nghề
Trang 108
- Chuyển sang chăn nuôi dẫn đến tình trạng “phi nông bất ổn”, không đảm bảo kế hoạch của nhà nước
Lợi ích khi tham gia dự án:
Đối với nhóm mục tiêu: Người dân thuê ruộng
- Được tuyên truyền và chia sẻ kinh nghiệm về áp dụng phương thức canh tác
- Tiếp cận với những tiến bộ khoa học công nghệ
- Giải quyết được nhu cầu trồng trọt với những người dân không có ruộng đất
- Được hỗ trợ thu mua sản phẩm thu hoạch tránh mất giá
Đối với người thụ hưởng cuối cùng: Nhà nước cùng với các chính sách mới sẽ giúp người dân có
thể trồng trọt mang lại lợi nhuận mà đất đai vẫn được sử dụng đúng mục đích Từ đây, tình hình kinh tế
- xã hội được ổn định và phục vụ phát triển cho các ngành khác
2.7 Khung logic, hệ thống chỉ số theo dõi dự án
Mô tả tóm tắt Các chỉ số có thể đo
lường
Các phương tiện kiểm chứng
- Tỷ lệ đất được đưa vào canh tác sản xuất tăng
- Tỷ lệ người dân ủng hộ dự án tăng
- Báo cáo kiểm tra và khảo sát tình hình hiện trạng của ruộng ruộng đất
- Báo cáo kết quả tỷ lệ diện tích canh tác
- Có đầy đủ cán bộ, các ban ngàn, chuyên gia để thực hiện các hoạt động của dự án
ruộng đất và hệ lụy của
việc hoang hóa
- Giải quyết hệ lụy nông
dân bỏ lãng phí tài
nguyên đất sản xuất,
làm giảm giá trị sản
xuất trong nông nghiệp
- Giải quyết được vấn
đề kinh tế, xã hội tạo
công việc ổn định và
- Số lượng người dân tham gia khảo sát hưởng ứng
- Số lượng, chất lượng bài khảo sát về tình hình hiện trạng,
ý thức người dân đối với ruộng đất hoang hóa
- Số lượng, chất lượng kết quả của các cuộc hội thảo,
- Những cuộchội thảo diễn ra giữa chính quyền người dân từ trung ương đến địa phương
- Các báo cáo kết quả trong suốt quá trình thực hiện dự án
- Những cuộc hội thảo diễn ra thành công thu về ý kiến tốt
- Người dân tích cực hưởng ứng những đề xuất dự án triển khai được nhanh hiệu quả
- Nhận được sự đánh giá caocủa các chuyên gia và qua thẩm định của Nhà nước
- Tài nguyên đất sản xuất được sử dụng hợp lí, giải quyết tốt vấn đề kinh tế xã hội công ăn việc làm ổn định
Trang 11- Tình trạng hoang hóa ruộng đất được giải quyết triệt để
Mô tả tóm
tắt
Các chỉ số có thể đo lường
Các phương tiện kiểm chứng
- Tỷ lệ đất nông nghiệp bị bỏ hoang giảm
- Diệ ích đất n tnông nghi p ệđược canh tác gia tăng
- Tỷ lệ người có nhu cầu tham gia sản xuất lại các ruộng hoang tăng đáng kể
- Năng suất nông sản tăng
- Bộ luật được ban hành, triển khai và thực hiện trên khắp cả nước
- Kết quả khảo sáthiện trạng hoang hóa ruộng đất và cải tạo ruộng đất nông nghiệp
- Báo cáo kết quả đánh giá hiện trạng và chất lượng đất nông nghiệp định kỳ
- Các báo cáo của các
bộ ban ngành có liên quan về quá trình và kết quả thực hiện dự
án
- Quá trình dự thảo, ban hành, thực thi luật về chính sách thuê “cưỡng chế” đối với ruộng hoang thuận lợi
- Mọi cuộc khảo sát tiến hành trong quá trình thực hiện dự án đều tiến hành thuận lợi, không xảy ra hiện tượng số liệu ảo hay sai sót gần như không đáng
kể giữa kết quả thu hồi và thực tế
- Người nông dân thuê lại đất bị bỏ hoang canh tác tốt, năng suất, chất lượng được nâng cao
- Nông sản được mùa, đầu ra ổn định
- Dự án tiến hành hiệu quả, kéo theo nhiều tác động tích cực cho kinh tế, môi trường, đặc biệt nông dân quay lại gắn bó với nghề nông
Mô tả tóm tắt Các chỉ số có thể
đo lường
Các phương tiện kiểm chứng Các giả định cơ
bản Đầu
- Số lượng của phiếu khảo sát ruộng đất hoang hóa
- Chất lượng của phiếu khảo sát (số phiếu/số người tham gia)
*Về mặt định lượng:
- Các báo cáo về dự án
- Báo cáo kết quả dữ liệu của điều tra về tình trạng hoang hóa qua các năm
- Công văn tổ chức hoạt động cho
dự án
- Các biên bản báo cáo liên quan tới dự án
- Vận hành được các hoạt động của
kế hoạch một cách hiệu quả
- Kêu gọi được quy mô vốn đầu
tư lớn cho dự án
- Người dân và cơ quan ban ngành