- Để thực hiện công tác bồi thường, GPMB hiệu quả thì cần thực hiện đồng bộ các giải pháp: Hoàn thiện chính sách pháp luật về đất đai nói chung và chính sách về công tác bồi thường, hỗ t
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ NGỌC ANH
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRIỂN KHAI
DỰ ÁN: “CẢI TẠO, NÂNG CẤP, MỞ RỘNG QUỐC LỘ 32
ĐOẠN CẦU DIỄN – NHỔN” THUỘC QUẬN BẮC TỪ LIÊM,
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào và thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Vũ Ngọc Anh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự
giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của thầy cô cùng sự giúp đỡ nhiệt tình, đóng góp ý kiến của
một số cá nhân và tập thể
Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Đỗ Nguyên Hải - khoa
Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt
thời gian thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo Khoa Quản
lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam giúp tôi hoàn chỉnh luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Trung tâm
Giao dịch đất đai và phát triển quỹ đất Hà Nội, Phòng Tài nguyên và Môi trường quận
Bắc Từ Liêm, Ban Giải phòng mặt bằng quận Bắc Từ Liêm, Văn phòng Đăng ký Đất
đai Hà Nội chi nhánh quận Bắc Từ Liêm, UBND các phường: Tây Tựu, Phú Diễn, Phúc
Diễn và Minh Khai cùng các hộ dân đã tham gia trả lời phỏng vấn đã giúp đỡ tôi trong
thời gian nghiên cứu thực hiện luận văn tại địa phương
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân và bạn bè đã tạo điều kiện về mọi
mặt cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn ii
Mục lục iv
Danh mục các chữ tắt và ký hiệu vii
Danh mục bảng viii
Danh mục hình ix
Trích yếu luận văn x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Cơ sở lý luận về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất 4
2.1.1 Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 4
2.1.2 Vai trò của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 5
2.1.3 Đặc điểm của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 7
2.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng tới công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 8
2.2 Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở một số nước và một số tổ chức trên thế giới 9
2.2.1 Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng ở một số nước trên thế giới và các nước trong khu vực 9
2.2.2 Quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Ngân hàng Thế giới (World bank) và Ngân hàng Phát triển châu Á (Asian Development Bank) 13
2.2.3 Bài học kinh nghiệm cho công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại Việt Nam 13
2.3 Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở Việt Nam qua các thời kỳ 14
2.3.1 Giai đoạn trước khi có Luật Đất đai năm 1993 14
2.3.2 Giai đoạn Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực 15
2.3.3 Giai đoạn Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực 16
Trang 52.3.4 Giai đoạn Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đến nay 18
2.4 Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ở việt nam và ở thành phố Hà Nội 19
2.4.1 Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam 19
2.4.2 Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở Hà Nội 21
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 26
3.1 Địa điểm nghiên cứu 26
3.2 Thời gian nghiên cứu 26
3.3 Đối tượng nghiên cứu 26
3.4 Nội dung nghiên cứu 26
3.4.1 Điều kiện tư nhiên, kinh tế xã hội của quận Bắc Từ Liêm 26
3.4.2 Đánh giá công tác quản lý, sử dụng đất đai của quận Bắc Từ Liêm giai đoạn 2013 đến nay 26
3.4.3 Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 32 đoạn Cầu Diễn - Nhổn trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm 26
3.4.4 Tác động của việc thực hiện các chính sách GPMB cho người có đất bị thu hồi trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm 27
3.4.5 Đề xuất một số giải pháp về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 27
3.5 Phương pháp nghiên cứu 27
3.5.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp 27
3.5.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp 27
3.5.3 Phương pháp thống kê phân tích, xử lý số liệu 28
3.5.4 Phương pháp so sánh 28
Phần 4 Kết quả và thảo luận 29
4.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội quận Bắc Từ Liêm 29
4.1.1 Điều kiện tự nhiên của quận Bắc Từ Liêm 29
4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội của quận Bắc Từ Liêm 36
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của quận Bắc Từ Liêm 40
4.2 Đánh giá công tác quản lý, sử dụng đất đai của quận Bắc Từ Liêm giai đoạn 2013 đến nay 42
Trang 64.2.1 Tình hình thực hiện công tác giao, cho thuê, thu hồi đất, bồi thường hỗ
trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm 42
4.2.2 Hiện trạng sử dụng đất của quận Bắc Từ Liêm năm 2015 48
4.3 Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng quốc lộ 32 đoạn cầu diễn – nhổn trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm 50
4.3.1 Khái quát về Dự án nghiên cứu 50
4.3.2 Đối tượng và điều kiện được bồi thường về đất 52
4.3.3 Tình hình thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 32 đoạn Cầu Diễn - Nhổn 58
4.3.4 Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thương, hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 32 đoạn Cầu Diễn - Nhổn qua ý kiến người dân 64
4.3.5 Đánh giá chung về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án 74
4.4 Tác động của việc thực hiện các chính sách trong công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC 78
4.4.1 Tác động về kinh tế 78
4.4.2 Tác động tới lao động và việc làm 79
4.5 Đề xuất một số giải pháp về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất 80
4.5.1 Hoàn thiện chính sách pháp luật về đất đai 80
4.5.2 Kiện toàn nội dung chính sách về công tác bồi thường, hỗ trợ 81
4.5.3 Tăng cường vai trò cộng đồng trong việc tham gia công tác GPMB 81
4.5.4 Nâng cao năng lực cán bộ nhằm tăng hiệu quả làm việc của ban GPMB 82
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 84
5.1 Kết luận 84
5.2 Kiến nghị 85
Tài liệu tham khảo 86
Phụ lục 89
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ TẮT VÀ KÝ HIỆU
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng việt
BĐG TS Bán đấu giá tài sản
CN QSD Chuyển nhượng Quyền sử dụng
CN - TTCN Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp
CN - TTCN Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp
GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HĐBĐG Hội đồng Bán đấu giá
Trang 8DANH MỤC BẢNG
4.1 Một số chỉ tiêu khí hậu quận Bắc Từ Liêm 31
4.2 Cơ cấu kinh tế trung bình thời kỳ 2005 - 2015 37
4.3 Giá trị sản xuất các ngành thời kỳ 2001 – 2015 37
4.4 Hiện trạng sử dụng đất năm 2015 quận Bắc Từ Liêm 49
4.5 Tổng hợp diện tích, loại đất bị thu hồi để thực hiện dự án 57
4.6 Kết quả thực hiện công tác bồi thường TĐC của dự án 58
4.7 Kết quả thực hiện công tác hỗ trợ của dự án 61
4.8 Kết quả thực hiện công tác tái định cư của dự án 63
4.9 Tổng hợp đánh giá về việc tổ chức thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư quận Bắc Từ Liêm 65
4.10 Tổng hợp đánh giá về ảnh hưởng đến cuộc sống của các hộ gia đình sau khi bị thu hồi đất 67
Trang 9DANH MỤC HÌNH
4.1 Sơ đồ hành chính quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 29
4.2 Biểu đồ diễn biến một số yếu tố khí hậu trung bình quận Bắc Từ Liêm (2011 - 2015) 32
4.3 Cơ cấu sử dụng đất năm 2015 quận Bắc Từ Liêm 48
4.4 Sơ đồ vị trí dự án đường 32 50
4.5 Quốc lộ 32 đoạn qua cầu Diễn đã được đưa vào sử dụng 51
4.6 Đánh giá của người dân về giá đất bồi thường so với giá thị trường 68
4.7 Đánh giá của người dân về ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến kinh tế hộ gia đình 69
4.8 Đánh giá của người dân về ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến tình trạng việc làm 71
4.9 Đánh giá của người dân về ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến tình trạng an ninh trật tự xã hội 71
4.10 Đánh giá của người dân về ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sự tiếp cận cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội 72
4.11 Đánh giá của người dân về ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến tình trạng môi trường 73
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Vũ Ngọc Anh
Tên đề tài: “Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước
thu hồi đất triển khai dự án Cải tạo, nâng cấp, mở rộng quốc lộ 32 đoạn cầu diễn - nhổn” thuộc quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội”
Ngành: Quản lý Đất đai Mã số: 62.85.01.03
Khoa: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
1 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá tình hình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 32 đoạn Cầu Diễn – Nhổn trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm – Thành phố Hà Nội;
- Xác định những tồn tại từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần thực hiện tốt chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất triển khai thực hiện
dự án mở đường, nâng cấp hệ thống giao thông trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội quận Bắc Từ Liêm năm 2015 thu thập tại Phòng Tài nguyên và Môi trường Quận; Tình hình quản lý đất đai của quận Bắc Từ Liêm; Hiện trạng sử dụng đất của quận Bắc
Từ Liêm năm 2015; Biến động sử dụng đất của quận Bắc Từ Liêm (hoặc huyện Từ Liêm) giai đoạn 2010 - 2015 thu thập tại Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Bắc Từ Liêm
- Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp: Đối với các các hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi: Điều tra bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình,
cá nhân nằm trong khu vực có đất bị thu hồi bằng phiếu điều tra Đề tài chọn 150 hộ bị ảnh hưởng trong quá trình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi triển khai dự án
- Phương pháp thống kê phân tích, xử lý số liệu: các số liệu thống kê xử lý bằng phần mềm EXCEL
- Phương pháp so sánh: So sánh về giá bồi thường so với mức giá thị trường và các điều kiện sống thay đổi ở nơi tái định cư mới so với nơi ở cũ
- Phương pháp tham khảo, kế thừa các tài liệu sẵn có: Tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực bồi thường giải phóng mặt bằng; tham khảo ý kiến người dân
Trang 113 KẾT QUẢ CHÍNH VÀ KẾT LUẬN
- Điều kiện tư nhiên, kinh tế xã hội của quận Bắc Từ Liêm;
- Đánh giá công tác quản lý, sử dụng đất đai của quận Bắc Từ Liêm giai đoạn 2013 đến nay;
- Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 32 đoạn Cầu Diễn - Nhổn trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm;
- Tác động của việc thực hiện chính sách GPMB và đề xuất một số giải pháp về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;
- Quận có tổng diện tích tự nhiên là 4.335,34 ha và dân số 319.818 người, bình quân 7.277 người/km2 Nền kinh tế phát triển nhanh và toàn diện, cơ cấu kinh tế thay đổi theo chiều hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp Trong giai đoạn 2010-2015 tỷ trọng ngành công nghiệp xây dựng 80,3%, ngành thương mại dịch vụ 17,5% và ngành nông nghiệp 2,2%;
- Kết quả đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất triển khai dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 32 đoạn Cầu Diễn - Nhổn thuộc quận Bắc Từ Liêm
Kết quả công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư: Tổng chiều dài đã bàn giao là 4
km đạt 100% so dự án; Trong đó, diện tích đất nông nghiệp trồng cây hàng năm giao ổn định cho hộ gia đình là 127.750 m2 Diện tích đất ở nông thôn của hộ gia đình, cá nhân là 29.681 m2 Tái định cư cho 135 hộ gia đình bị thu hồi toàn bộ diện tích đất ở
Tổng kinh phí bồi thường của dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 32 đoạn Cầu Diễn - Nhổn 3 đợt là 253.989,6 triệu đồng Trong đó, đợt 1 là 88.840,0 triệu đồng, đợt
2 là 109.385,8 triệu đồng, đợt 3 là 55.763,8 triệu đồng
Tiến độ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án thực hiện chậm vì một số nguyên nhân chính như: Đơn giá giá bồi thường đất thấp hơn với giá thực tế từ 2-5 lần; Hộ dân không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Bố trí các khu TĐC còn chậm, chưa phù hợp (vị trí TĐC xa trung tâm, chất lượng nhà TĐC thấp, các hộ dân không đủ tiền mua nhà TĐC )
- Để thực hiện công tác bồi thường, GPMB hiệu quả thì cần thực hiện đồng bộ các giải pháp: Hoàn thiện chính sách pháp luật về đất đai nói chung và chính sách về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nói riêng; Tăng cường vai trò cộng đồng trong việc tham gia công tác GPMB; Nâng cao năng lực cán bộ và hiệu quả làm việc của ban bồi thường và GPMB
Trang 12THESIS ABSTRACT
Master candidate: Vu Ngoc Anh
Thesis title: “Assessment of compensation, support and resettlement when the
State recovered land project renovate, upgrade and expand Highway 32 from Dien Bridge to Nhon" in the North Tu Liem district, Hanoi city”
Major: Land Management Code: 62.85.01.03
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
1 RESEARCH OBJECTIVES
- To evaluate the implementation of policies for compensation, support and resettlement when the State recovered land for the project to upgrade, expand Highway
32 the North Tu Liem district, Hanoi capital;
- To determine existing difficulties, then propose a number of measures for a better policy regarding compensation, support and resettlement of land recovery project
in order to open road, upgrade traffic system in the North Tu Liem district
2 MATERIALS AND METHODS
- Methods of secondary data collection: Natural, social and economic conditions of the North Tu Liem district in 2014 are collected from North Tu Liem county’s Department for Natural Resources and Environment; Land management situation of the North Tu Liem district, current land usage of the North Tu Liem district in 2015 as well as mobilization of Land usage in North Tu Liem district phases from 2010 to 2015 are collected from North Tu Liem district’s Department for Natural Resources and Environment
- Method of primary investigation and data collection: For households and individuals whose land is recovered: Investigation by directly interviewing households and individuals in areas land is acquired by questionnaire 150 affected households chosen to investigate in the process of compensation, site clearance and resettlement
- Method of statistical analysis, data processing: the statistics handled by EXCEL software
- Method of comparison: compensation prices compared to market prices and the changing living conditions in new resettlement areas compared to the old place
- Method of reference, inheritance of documents available: Consult experts as well as residents in the field of compensation and ground clearance
Trang 133 MAIN FINDINGS AND CONCLUSIONS
- Determining natural and socioeconomic conditions of North Tu Liem district
- Assessing the management and use of land north of the district of Tu Liem period 2013 up to now
- Evaluating compensation, support and resettlement when the State recovers land for improvement, upgrading and expanding Highway 32 North in the district of Tu Liem project
- Clarifying the impact of the implementation of land acquisition and then proposing policy solutions for compensation, support and resettlement policy when the State recovers land
- North Tu Liem district has a total area of 4335.34 hectares and a population of 319,818 people, an average of 7277 people / km 2 The economy is fast growing and comprehensive economic structural is changing in the direction of increasing the proportion of industry, trade and services, reducing the proportion of the agricultural sector In the period 2010-2014 the proportion of the construction industry was 80.3%, trade and service sector 17.5% and agriculture 2.2%
- Results of the evaluation of compensation, support and resettlement road project regarding rehabilitation, upgrading and expansion of Highway 32 at Dien Bridge - Nhon
- Results of compensation, support and resettlement: Total length is 4 km handed over, accounting for 100% of the project It includes 25 550 m2 of agricultural land stably granted to households every year Rural land area of households and individuals is 5936
m2 Resettlement of 135 families whom the State recovered their entire land area
The total compensation expense of projects renovating, upgrading and expanding the Highway 32 at the Cau Dien - Nhon in three phases is 253.989,6 million VND In particular, phase 1 is 88.840,0 million VND phase 2 is 109.385,8 million VND and phase 3 is 55.763,8 VND
- Compensation, support and resettlement progress of the project was delayed because
of some major causes: Land compensation unit price is lower than the actual market price 2-5 times; Households refused to receive compensation, support and resettlement; Arranging the resettlement areas was slow, incompatible (relocation place is far from center, low quality of the resettlement, the farmers could not afford the resettlement )
- To carry out the compensation and land clearance efficiently, it is necessary to synchronize all the solutions, improve policies and laws on land; strengthen the policy
on the compensation and support; intensify the role of community participation in the site clearance; build the capacity and working efficiency of the compensation and support’s board staff
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, tư liệu sản xuất đặc biệt,
nguồn nội lực, nguồn vốn to lớn của đất nước, thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh
tế, văn hoá, xã hội, an ninh - quốc phòng Ngày nay đất đai trở thành nguồn nội lực để thực hiện Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa hướng tới việc đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020
Trong quá trình CNH - HĐH việc GPMB tạo quỹ đất sạch thực hiện các
dự án nhằm phát triển kinh tế và cho các mục đích xây dựng cơ sở hạ tầng, công nghiệp, xây dựng, đô thị hóa, đặc biệt cho việc phát triển hệ thống giao thông phục vụ các hoạt động xã hội là điều không tránh khỏi Trong điều kiện quỹ đất
có hạn nhu cầu đất đai để thực hiện CNH - HĐH trong đó có nhu cầu phát triển, xây dựng hạ tầng cơ sở ngày càng tăng làm cho đất đai ngày càng hiếm và có giá
từ đó dẫn đến việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đang trở thành vấn đề lớn, bức xúc, đối với cả người dân có đất bị thu hồi cũng như gây áp lực với các cấp chính quyền và các tổ chức có liên quan
Theo quy định hiện hành của pháp luật Đất đai nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu; Nhà nước thống nhất quản
lý đất đai theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và công cụ để thực hiện việc quản lý là pháp luật đất đai Quyền định đoạt của Nhà nước được thực hiện thông qua các chức năng như: giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, định giá đất, thu hồi đất phục vụ lợi ích quốc gia công cộng, kinh tế
và quốc phòng an ninh
Việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi giải phóng mặt bằng là một vấn đề hết sức nhạy cảm, phức tạp, tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội trên phạm vi cả nước đến từng địa phương, cơ sở Có nhiều nơi trở thành điểm nóng, nguyên nhân của những vụ khiếu kiện đông người và kéo dài Đặt ra những yêu cầu cấp bách phải nghiên cứu cả về lý luận
và thực tiễn để có giải pháp giải quyết khả thi
Trang 15Quận Bắc Từ Liêm được Thành lập theo Nghị quyết 132/NQ-CP, ngày 27/12/2013 của Chính phủ có tổng diện tích tự nhiên 4.335,34 ha (là quận có diện tích tự nhiên đứng thứ 3 trên tổng số 12 quận nội thành Hà Nội) Quỹ đất nông nghiệp chiếm khoảng 1/3 tổng diện tích đất tự nhiên (là quận có diện tích đất nông nghiệp lớn nhất trên tổng số 12 quận nội thành) vừa là điều kiện thuận lợi có thể chuyển thành nguồn lực lớn cho sự phát triển kinh tế của quận vừa đặt
ra nhiệm vụ lớn đối với công tác quản lý tài nguyên và môi trường
Theo quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 được phê duyệt tại Quyết định số 1259/QĐ-TTg ngày 26/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ, quận Bắc Từ Liêm nằm trong vành đai phát triển đô thị, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp và chia cắt, các khu công nghiệp, khu đô thị mới từng bước hình thành Sự biến động này có những thuận lợi song cũng có những khó khăn hết sức phức tạp vì nó tác động đến tất cả các lĩnh vực kinh tế - văn hoá, xã hội, tập quán của nhân dân
Tốc độ đô thị hóa trên địa bàn quận là điều kiện thuận lợi để duy trì và phát triển tạo ra nhu cầu ngày càng lớn của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình trong việc thực hiện quyền của người sử dụng đất trên địa bàn Quận cần được quan tâm, đảm bảo; việc quản lý đất đai, phát hiện xử lý vi phạm pháp luật đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai, đơn thư khiếu kiện về đất đai có chiều hướng gia tăng cần được chú trọng giải quyết một mặt đảm bảo được quyền lợi, nghĩa vụ của người sử dụng đất, mặt khác góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự, an toàn
xã hội chung trên địa bàn
Việc hoàn thiện hạ tầng khung, phát triển quy hoạch đô thị, chuẩn bị các điều kiện để xây dựng, hoàn thiện hệ thống trụ sở công, các cơ quan hành chính quận, các phường và chuyển đổi cơ cấu kinh tế đô thị đòi hỏi việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quan tâm hàng đầu nhằm đảm bảo việc phân
bố, sử dụng đất đai hợp lý, hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ phát triển bền vững trên địa bàn quận
Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, tôi thực hiện đề tài nghiên cứu:
“Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất triển khai dự án: “cải tạo, nâng cấp, mở rộng quốc lộ 32 đoạn Cầu Diễn – Nhổn” thuộc quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội”
Trang 161.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá tình hình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 32 đoạn Cầu Diễn – Nhổn trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm – Thành phố Hà Nội;
- Xác định những tồn tại từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần thực hiện tốt chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất triển khai thực hiện dự án mở đường, nâng cấp hệ thống giao thông trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Trên cơ sở phân tích, bổ sung thêm cơ sở thực tiễn cho quận Bắc Từ Liêm trong việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn quận trong giai đoạn tới
* Về khoa học: Kết quả nghiên cứu góp phần vào cơ sở khoa học nghiên cứu về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung
* Về thực tiễn:
+ Giúp cho các nhà quản lý, quản lý về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn quận Chỉ ra điểm hợp lý và chưa hợp lý của hệ thống chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
+ Kết quả nghiên cứu đã giúp người dân hiểu rõ thêm về quyền lợi và nghĩa
vụ của mình về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
2.1.1 Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
2.1.1.1 Bồi thường
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “Bồi thường là đền trả lại các sự tổn hại” (Khang Việt, 2009) Như vậy, bồi thường là trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì hình vi của chủ thể khác mang lại
Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện
tích đất thu hồi cho người sử dụng đất (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013)
2.1.1.2 Hỗ trợ
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “Hỗ trợ là giúp thêm vào” (Khang Việt, 2009)
Hỗ trợ là một hành động thể hiện tinh thần đoàn kết tương thân, tương ái
thông qua sự hỗ trợ về vật chất và tinh thần để giúp đỡ một thành viên hoặc một nhóm người trong xã hội có thể vượt qua những khó khăn hay những rủi ro mà
họ gặp phải để sớm ổn định cuộc sống
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất
thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển (Quốc hội nước CHXHCN Việt
Nam, 2013)
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông nghiệp, lâm nghiệp, vừa là tư liệu tiêu dùng của con người Do vậy, khi Nhà nước thu hồi đất thì người sử dụng đất sẽ mất tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng dẫn đến hiện tượng người SDĐ lâm vào hoàn cảnh khó khăn như mất công ăn việc làm, mất nơi sinh sống, mất đi nền tảng văn hóa nơi sinh sống buộc người dân phải thích nghi với những thay đổi sau khi bị thu hồi đất Để giúp cho họ vượt qua khó khăn, ổn định sản xuất và ổn định đời sống thì bên cạnh việc bồi thường, Nhà nước thực hiện hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất và tạo việc làm cho người có đất bị thu hồi
2.1.1.3 Tái định cư
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Tái định cư được hiểu là đến một nơi nhất định
để sinh sống lần thứ hai (lại một lần nữa)” (Khang Việt, 2009)
Trang 18Mặc dù thuật ngữ tái định cư được pháp Luật Đất đai đề cập nhưng lại chưa
có quy định nào giải thích cụ thể nội hàm của khái niệm này Luật Đất đai năm
2013 chỉ quy định: “Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng được UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện giao trách nhiệm bố trí tái định cư phải thông báo cho người có đất ở thu hồi thuộc đối tượng phải di chuyển chỗ ở về dự kiến phương án bố trí tái định cư và niêm yết công khai ít nhất là 15 ngày tại trụ
sở UBND cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi và tại nơi tái định cư trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương
án bố trí tái định cư trường hợp người có đất thu hồi được bố trí tái định cư mà tiền bồi thường, hỗ trợ không đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu thì được Nhà nước hỗ trợ tiền đủ để mua một xuất tái định cư tối thiểu ” (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013)
Như vậy, tái định cư là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế - xã hội đối với bộ phận dân cư phải gánh chịu vì sự phát triển chung Tái định cư là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Các dự án tái định cư cũng được coi là dự án phát triển và phải được thực hiện như các dự án phát triển khác
2.1.2 Vai trò của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Thông qua việc thu hồi đất Nhà nước tạo được một quỹ đất sạch cần thiết
để phục vụ vào phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuât, đảm bảo an ninh quốc phòng,
an sinh xã hội và phát triển kinh tế; phát triển các cơ sở kinh tế, các khu, cụm công nghiệp, các cơ sở sản xuất – kinh doanh, khu đô thị, khi vui chơi giải trí, công viên cây xanh v.v Qua đó làm tăng thêm khả năng thu hút đầu tư từ các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước, phục vụ phát triển kinh tế (Trần Quang Huy, 2013)
Việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tốt làm tăng tiến độ thu hồi đất góp phần gián tiếp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp, tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp, dịch vụ Khi diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, Nhà nước thực hiện các biện pháp hỗ trợ cho người nông dân bị mất đất sản xuất trong việc đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm mới Qua đó, góp phần rút bớt một lực lượng lao động ở nông thôn chuyển sang làm việc trong khu vực sản xuất phi nông nghiệp và dịch vụ
Trang 19Việc thu hồi đất của Nhà nước đối với người SDĐ để sử dụng vào các mục đích khác nhau sẽ gây ra những thiệt hại và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của những người bị thu hồi đất Nếu không thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất sẽ dẫn đến tình trạng khi các công trình phúc lợi được xây dựng trên những diện tích đất bị thu hồi mang lại lợi ích cho cộng đồng thì trái ngược lại người bị thu hồi đất lại rơi vào tình trạng khó khăn về sản
xuất và đời sống do bị mất đất sản xuất hoặc mất nhà ở (Hoàng Thị Nga, 2010)
Khi thay đổi nơi ở đó là phải chuyển đến khu tái định cư, việc quy hoạch khu tái định cư không quan tâm đến phong tục tập quán sinh hoạt của người dân dẫn đến nhiều khó khăn hơn cho người dân phải tái định cư, chất lượng công trình tái định cư cũng là một trong những nỗi ám ảnh của người dân phải tái định cư Do đó, vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải giải quyết hài hòa các mối quan hệ về lợi ích của Nhà nước, của xã hội vừa để đảm bảo nhu cầu sử dụng đất đai phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; vừa bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người SDĐ, bồi hoàn cho họ những thành quả lao động, kết quả đầu tư bị thiệt hại do việc thu hồi đất gây ra
Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất có vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước Các công trình phục vụ mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, mục đích phát triển kinh tế đều cần tới mặt bằng Có thể nói công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện nhanh và hiệu quả thì công trình thực hiện đã hoàn thành được một nửa Quá trình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người dân tại thời điểm bị thu hồi đất và sau này Do diện tích đất sản xuất của người dân bị thu hồi dẫn đến tình trạng thiếu việc làm, người dân không có thu nhập làm ảnh hưởng đến kinh tế của mỗi hộ gia đình cá nhân Thiếu việc làm là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng mất trật tự an ninh Đời sống của nhân dân sau khi bị thu hồi đất có thể được nâng cao một cách nhanh chóng nhưng không bền vững do người dân không biết sử dụng khoản tiền hỗ trợ để chuyển đổi nghề nghiệp dẫn đến tình trạng ăn tiêu
lãng phí dễ dàng mắc phải các tệ nạn xã hội (Đặng Thái Sơn, 2002)
Việc thu hồi đất không đúng mục đích, các dự án treo dẫn đến mất đất sản xuất, người dân không có việc làm Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng người dân bị kích động bởi các thế lực chống đối gây mất trật tự
an ninh quốc phòng, mất niềm tin của Nhân dân vào Đảng và Nhà nước Chính vì vậy, vai trò của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư không chỉ là làm thế
Trang 20nào để thực hiện thu hồi đất một cách nhanh chóng mà phải tạo ra được bài toán
ổn định và phát triển bền vững cho người dân sau khi bị thu hồi đất
Việc giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện từ việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất cho thấy nếu không giải quyết tốt việc bồi thường tổn thất, hỗ trợ tái định cư nhằm hỗ trợ họ vượt qua khó khăn trước mắt để nhanh chóng ổn định đời sống và sản xuất thì sẽ phát sinh nhiều tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, vượt cấp với số đông người dân tham gia Đây cũng là nguyên nhân cơ bản phát sinh những tụ điểm gây mất ổn định về chính trị, trật tự an toàn xã hội và
dễ bị kẻ xấu lợi dụng kích động Do vậy thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư góp phần vào ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tránh nguy cơ nảy
sinh các xung đột trong xã hội
2.1.3 Đặc điểm của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
này (Phạm Phương Nam, 2013)
Đối với đất ở công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư lại càng phức tạp hơn do những nguyên nhân sau: Đất ở là tài sản có giá trị lớn, gắn bó trực tiếp với đời sống và sinh hoạt của người dân mà tâm lý, tập quán của người dân là ngại di chuyển chỗ ở; cơ chế chính sách chưa đồng bộ, sự quản lý lỏng lẻo, giải quyết không dứt điểm, kéo dài của các cấp chính quyền nhất là chính quyền cấp
cơ sở dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất đai, xây nhà trái phép diễn ra; thiếu quỹ đất do xây dựng khu tái định cư cũng như chất lượng khu tái định cư thấp chưa đảm bảo được yêu cầu; dân cư một số vùng sống chủ yếu bằng nghề buôn bán nhỏ và sống bám vào các trục đường giao thông của khu dân cư làm kế sinh nhai nay chuyển đến ở khu vực mới thì điều kiện kiếm sống bị thay đổi nên họ không muốn di chuyển
Trang 212.1.3.2 Tính đa dạng
Mỗi dự án được tiến hành theo mục đích khác nhau trên một vùng đất khác nhau với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội dân cư khác nhau Khu vực nội thành, mật độ dân cư cao, ngành nghề đa dạng, giá trị đất và tài sản trên đất lớn; khu vực ven đô, mức độ tập trung dân cư khá cao, ngành nghề dân cư phức tạp, hoạt động sản xuất đa dạng: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, buôn bán nhỏ; khu vực ngoại thành, hoạt động sản xuất chủ yếu của dân cư là sản xuất nông nghiệp Do đó mỗi khu vực bồi thường GPMB có những đặc trưng và được tiến hành với những giải pháp riêng phù hợp với những đặc điểm của mỗi khu vực và từng dự án cụ thể (Phạm Phương Nam, 2013)
2.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng tới công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là một quá trình phức tạp chịu nhiều ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong đó có cả yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan
2.1.4.1 Yếu tố khách quan
- Công tác quản lý nhà nước về đất đai, cụ thể:
+ Công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải được thực hiện một cách đúng nguyên tắc, chính xác để khi tiến hành xét duyệt đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được dễ dàng và khách quan
+ Công tác chỉnh lý biến động, công tác này rất quan trọng vì chỉ có chỉnh
lý biến động kịp thời thì việc kiểm kê diện tích sử dụng đất mới chính xác, không xảy ra hiện tượng bồi thường, hỗ trợ chồng chéo giữa các các quyết định thu hồi đất của nhiều dự án khác nhau trong cùng một thời điểm và cùng một chủ sử dụng đất
+ Công tác thống kê, kiểm kê: Công tác này cần phải được thực hiện nghiêm túc có trách nhiệm, không gây thiệt hại cho người bị thu hồi đất và chủ đầu tư Việc kiểm kê sai dẫn tới khiếu nại kéo dài thời gian thực hiên công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dẫn đến chậm bàn giao mặt bằng, gây thiệt hại về kinh tế và ảnh hưởng an ninh trật tự
+ Các quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất: Việc xác định nguồn gốc đất, đối tượng và điều kiện được bồi thường; đối tượng
và điều kiện được hỗ trợ; đối tượng và điều kiện được tái định cư
- Giá đất để tính bồi thường: Đây là nguyên nhân chính ảnh hưởng lớn đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, trên thực tế giá đất do UBND tỉnh ban
Trang 22hành hàng năm chưa sát với giá thị trường, do vậy sẽ xảy ra hiện tượng người bị thu hồi đất không đồng ý và phải xác định lại giá đất dẫn đến kéo giài thời gian thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và tốn kém kinh phí
2.1.4.2 Yếu tố chủ quan
- Năng lực tài chính của chủ đầu tư: Yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp tới công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, chủ đầu tư có năng lực tài chính mạnh việc giải ngân diễn ra nhanh chóng, kịp thời đẩy nhanh được tiến độ bồi thường,
hỗ trợ tái định cư;
- Phương thức quản lý lưu trữ hồ sơ; khả năng tổ chức và thực hiện công tác bồi thường hỗ trợ, tái định cư; trình độ hiểu biết pháp luật của người dân; công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện các quy định của Nhà nước về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
- Phong tục, tập quán sinh hoạt, tập quán sản xuất của người dân vùng bị thu hồi đất Khi tìm hiểu rõ được phong tục tập quán sinh hoạt, tập quán sản xuất của người dân vùng bị thu hồi đất việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư sẽ được thực hiện theo nhu cầu thực tế của người dân, giảm bớt được tình trạng các hộ gia đình cá nhân chuyển đến khu tái định cư nhưng không thực hiện được sản xuất, và phong tục sống bị đảo lộn;Trình độ, năng lực, và trách nhiệm của người trực tiếp thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư: Cán bộ trực tiếp làm công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư rất quan trọng, các cán bộ có trình độ và làm việc có trách nhiệm sẽ đẩy nhanh được tiến độ thực hiện, thông qua cán bộ
có thể tuyên truyền phổ biến quy định của pháp luật
2.2 QUY ĐỊNH VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ Ở MỘT
SỐ NƯỚC VÀ MỘT SỐ TỔ CHỨC TRÊN THẾ GIỚI
2.2.1 Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng ở một số nước trên thế giới
và các nước trong khu vực
2.2.1.1 Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Australia
Luật Đất đai của Australia quy định đất đai của quốc gia thuộc sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân Luật Đất đai bảo hộ tuyệt đối quyền lợi và nghĩa vụ của chủ
sở hữu đất đai Chủ sở hữu có quyền cho thuê, chuyển nhượng, thế chấp, thừa kế theo di chúc mà không có sự cản trở nào, kể cả việc tích luỹ đất đai Theo Luật về thu hồi tài sản của Australia năm 1989 có hai loại thu hồi đất, đó là thu đất bắt
Trang 23buộc và thu đất tự nguyện Trong đó: Thu hồi đất tự nguyện được tiến hành khi chủ đất cần được thu hồi đất Trong thu đất tự nguyên không có quy định đặc biệt nào được áp dụng mà việc thoả thuận đó là nguyên tắc cơ bản nhất Chủ có đất cần được thu hồi và người thu hồi đất sẽ thoả thuận giá bồi thường đất trên tinh thần đồng thuận và căn cứ vào thị trường Không có bên nào có quyền hơn bên nào trong thoả thuận và cũng không bên nào được áp đặt đối với bên kia; thu hồi đất bắt buộc được Nhà nước Australia tiến hành khi Nhà nước có nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích công cộng và các mục đích khác Thông thường, nhà nước có được đất đai thông qua đàm phán
Nguyên tắc của bồi thường được quy định tại điều 55 Đạo luật quản lý đất đai như sau: giá trị đặc biệt do sở hữu hoặc việc SDĐ bị thu hồi; thiệt hại về tiếng
ổn hoặc các thiệt hại khác; không tính đến phần giá trị tài sản tăng thêm hay giảm
đi do bị thu hồi Giá tính mức bồi thường là giá thị trường hiện tại, được quyết định với cơ quan quản lý với sự tư vấn của người đứng đầu cơ quan định giá Giá thị trường được xác định là mức tiền mà tài sản đó có thể bán được một cách tự nguyện, sẵn sàng ở một thời điểm nhất định giá là công bằng và theo giá thị
trường (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2012)
Theo Luật về thu hồi tài sản năm 1989 và Luật quản lý đất đai WA1997 Australia chỉ có một hình thức bồi thường duy nhất là bồi thường bằng tiền mặt
2.2.1.2 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của Hàn Quốc
Ở Hàn Quốc, vào những năm 70 của thế kỷ trước, trước tình trạng di dân ồ ạt từ các vùng nông thôn vào đô thị, thủ đô Xơ-un đã phải đối mặt với tình trạng thiếu đất định cư trầm trọng trong thành phố Để giải quyết nhà ở cho dân nhập cư, chính quyền thành phố phải tiến hành thu hồi đất của nông dân vùng phụ cận Việc bồi thường được thực hiện thông qua các công cụ chính sách như hỗ trợ tài chính, cho quyền mua căn hộ do thành phố quản lý và chính sách TĐC (Nguyễn Thắng Lợi, 2008)
Luật bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất của Hàn Quốc được chia thành
hai thể chế Một là “đặc lệ” liên quan đến bồi thường thiệt hại cho đất công
cộng đã đạt được theo thủ tục thương lượng của pháp luật được lập vào năm
1962 Hai là luật “sung công đất” theo thủ tục quy định cưỡng chế của công
pháp được lập vào năm 1975 Tuy nhiên, dưới hai thể chế luật và trong quá
trình thực hiện luật “đặc lệ” thương lượng không đạt được thoả thuận thì luật
Trang 24“sung công đất” được thực hiện bằng cách cưỡng chế nhưng như thế thì được
lặp đi lặp lại và đôi khi bị trùng hợp cho nên thời gian có thể kéo dài và chi phí bồi thường sẽ tăng lên
Đặc trưng của luật bồi thường: Thực hiện luật bồi thường của Hàn Quốc thực hiện theo ba giai đoạn:
Thứ nhất: Định giá theo quy định tức là tiền bồi thường đất đai sẽ được
giám định viên công cộng đánh giá trên tiêu chuẩn giá quy định để thu hồi đất phục vụ cho công trình công cộng Mỗi năm, Hàn Quốc cho thi hành đánh giá đất hơn 27 triệu địa điểm trên toàn quốc và chỉ định 470.000 địa điểm làm tiêu chuẩn và thông qua đánh giá của giám định để dựa theo đó hình thành giá quy định cho việc đền bù Giá quy định không dựa vào những lợi nhuận khai thác,
do đó có thể bảo đảm khách quan trong việc bồi thường
Thứ hai: Pháp luật có quy định không gây thiệt hại nhiều cho người có quyền
sở hữu đất trong quá trình thương lượng chấp nhận thu hồi đất Quy trình chấp nhận theo thứ tự là công nhận mục đích, lập biên bản tài sản và đất đai, thương lượng chấp nhận thu hồi
Thứ ba: Đối với trường hợp tái định cư, ngoài khoản bồi thường, người bị
di dời có thể chọn khu vực nhà, nhà ở hoặc khoản trợ cấp di dời Một khu vực tái định cư phải có đầy đủ dịch vụ do chủ dự án chi trả kể cả chi phí di chuyển Đất cấp cho người tái định cư có mức giá bằng 80% chi phí phát triển (mức này thấp hơn rất nhiều so với mức giá thị trường Kết quả là phần lớn đất cho người tái định cư được bán lại ngay) (Nguyễn Thị Nga, 2011)
Luật Bồi thường của Hàn Quốc được thực hiện theo ba nguyên tắc trên đối với đất đai, bất động sản và các quyền kinh doanh, nông nghiệp, ngư nghiệp, khoáng sản để cung cấp tiền bồi thường và chi phí di dời
Chế độ và luật khi thu hồi đất GPMB: Theo luật sung công đất đai thì nếu như
đã trả hoặc đặt cọc tiền bồi thường xong nhưng không chịu di dời thì được xem như gây hại cho lợi ích công cộng do đó phải thi hành cưỡng chế giải toả thì được thực hiện quyền thi hành theo luật thực hiện thi hành hành chính và quyền thi hành này phải theo thủ tục pháp lệnh cảnh cáo theo quy định Thực chất biện pháp GPMB thường bị các thường dân hoặc các người ở thuê phản đối và chống trả quyết liệt gây ảnh hưởng xấu đến xã hội cho nên tốt nhất là phải có sự nghiên cứu tìm ra biện pháp cho dân tự nguyện di dời là hay hơn cả (Phạm Phương Nam, 2012)
Trang 252.2.1.3 Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Thái Lan
Ở Thái Lan, cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá trình
đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường điều tiết Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý, việc bồi thường được tiến hành theo trình tự: tổ chức nghe ý kiến người dân; định giá đền bù
Giá bồi thường phụ thuộc vào từng khu vực, từng dự án Nếu một dự án mang tính chiến lược quốc gia thì nhà nước bồi thường với giá rất cao so với giá thị trường Nhìn chung, khi tiến hành lấy đất của dân, nhà nước hoặc cá nhân đầu
tư đều bồi thường với mức cao hơn giá thị trường (Đào Trung Chính, 2014)
Pháp Luật Đất đai Thái Lan cho phép tồn tại hình thức sở hữu tư nhân về đất đai Do vậy nguyên tắc khi Nhà nước hoặc các tổ chức lấy đất để làm bất kỳ một dự án nào, công trình nào đều phải có sự thoả thuận về sử dụng đất giữa chủ
dự án và chủ sở hữu khu đất trên cơ sở một hợp đồng
Năm 1987, Thái Lan ban hành luật về trưng dụng bất động sản áp dụng cho việc trưng dụng đất phục vụ vào các mục đích xây dựng công cộng, an ninh quốc phòng Luật quy định những nguyên tắc thu hồi đất, nguyên tắc tính giá trị bồi thường các loại tài sản được bồi thường, trình tự lập dự án, duyệt dự án, lên kế hoạch bồi thường trình các cấp phê duyệt Luật còn quy định thủ tục thành lập các cơ quan, uỷ ban tính toán bồi thường TĐC, trình tự đàm phán, nhận tiền bồi thường, trình tự khiếu nại, giải quyết khiếu nại, trình tự đưa ra tòa án
Ở Thái Lan việc tuyên truyền vận động đối với các đối tượng bị di dời được thực hiện rất tốt, gần như ngay từ đầu, xấp xỉ 100% các hộ dân đã hiểu và chấp hành các chính sách bồi thường, GPMB của Nhà nước (Đào Trung Chính, 2014)
Về giá đất làm căn cứ bồi thường thiệt hại: căn cứ vào giá do một Uỷ ban của Chính phủ xác định trên cơ sở thực tế giá trên thị trường chuyển nhượng bất động sản Việc bồi thường chủ yếu bằng tiền mặt Nếu phải di chuyển nhà đến nơi mới,
Uỷ ban này sẽ chỉ đạo cho người dân biết mình đến đâu, phải trả tiền một lần, được cho thuê hay mua trả góp Tuy nhiên cũng có trường hợp bên bị thu hồi không chấp nhận, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ kiểm tra, xem xét một lần nữa xem
đã hợp lý chưa và dù đúng hay không nếu người bị thu hồi không chuyển đi sẽ bị cưỡng chế thực hiện Việc khiếu nại sẽ tiếp tục do toà án giải quyết
Trang 262.2.2 Quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Ngân hàng Thế giới (World bank) và Ngân hàng Phát triển châu Á (Asian Development Bank)
Các dự án do Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) cho vay phải được các Bộ chủ quản dự án thông qua như chương trình TĐC đặc biệt và khi tổ chức thực hiện cũng thường gặp các khó khăn nhất định, đặc biệt trong việc gây ra sự bất bình đẳng giữa các cá nhân và hộ gia đinh trong cùng một địa phương nhưng lại ảnh hưởng các chính sách bồi thường khác nhau của các dự án khác nhau
Mục tiêu chính sách bồi thường TĐC của Ngân hàng thế giới và Ngân hàng phát triển Châu Á là việc bồi thường, TĐC sẽ được giảm thiểu càng nhiều càng tốt và đưa ra những biện pháp khôi phục để giúp người bị ảnh hưởng cải thiện hoặc ít ra vẫn giữ được mức sống, khả năng thu nhập và mức độ sản xuất như trước khi có dự án (Đào Trung Chính 2014)
2.2.3 Bài học kinh nghiệm cho công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại Việt Nam
- Cần phải xác định các trường hợp áp dụng biện pháp Nhà nước thu hồi đất: Cần phải làm rõ quy định “Nhà nước thu hồi đất vào mục đích quốc phòng,
an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng” là những trường hợp nào; Cần xác định chỉ áp dụng biện pháp Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế trong trường hợp dự án đó được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách
nhà nước theo như kinh nghiệm của Hàn Quốc
- Tăng cường vai trò của cơ quan hành chính nhà nước trong trường hợp chủ đầu tư tự thỏa thuận với người dân để có đất thực hiện dự án đầu tư: Thực tế trong quá trình thương lượng, thỏa thuận với người dân, nhà đầu tư thường gặp khó khăn trong việc tìm được tiếng nói đồng thuận tuyệt đối mà luôn có một bộ phận người không muốn hợp tác với nhà đầu tư để chuyển nhượng quyền sử dụng đất của họ Từ đó, dẫn đến tình trạng dự án không triển khai được, phá vỡ quy hoạch đã được duyệt Đối với trường hợp này có thể áp dụng bài học từ Hàn Quốc, sau khi đã thỏa thuận được với đa số người dân (Hàn Quốc quy định là 85%) thì đối với trường hợp còn lại sẽ bị cưỡng chế thu hồi đất và áp dụng giá
bồi thường đã thỏa thuận được với đa số
Trang 272.3 CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ Ở VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ
2.3.1 Giai đoạn trước khi có Luật Đất đai năm 1993
Nghị định 151/TTg ngày 14 tháng 04 năm 1959 của Thủ tướng Chính phủ quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất, là văn bản pháp quy đầu tiên liên quan đến việc bồi thường và TĐC bắt buộc ở Việt Nam
Tiếp đó, ngày 06 tháng 07 năm 1959 của Bộ Nội vụ - Ủy ban kế hoạch Nhà nước ban hành Thông tư liên bộ số 1424/TTLB hướng dẫn thi hành Nghị định
151/TTg tại thông tư này cũng nêu rõ “Có hai cách bồi thường: bồi thường bằng ruộng đất, bồi thường bằng tiền Nhưng bồi thường bằng ruộng đất là tốt nhất và chủ yếu”
Ngày 11 tháng 01 năm 1970, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành Thông
tư số 1792/TTg quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai và cây cối lâu năm, hoa màu cho nhân dân xây dựng vùng kinh tế mới, mở rộng
thành phố trên nguyên tắc: “Phải đảm bảo thỏa đáng quyền lợi hợp pháp của Hợp tác phường và của nhân dân”
Hiến pháp năm 1980 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
thống nhất, quản lý Điều 19 Hiến pháp 1980: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm
mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa…cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước - đều thuộc sở hữu toàn dân” Ngày 01 tháng 07 năm 1980 Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 201/CP về việc "Không được phát canh, thu tô, cho thuê, cầm cố hoặc bán nhượng đất dưới bất cứ hình thức nào, không được dùng để thu những khoản lợi không do thu nhập mà có, trừ trường hợp do Nhà nước quy định" Trong
thời kỳ này, những quan hệ đất đai chỉ đơn thuần là quan hệ “Giao - thu” giữa Nhà nước và người sử dụng (Phạm Phương Nam, 2014)
Luật Đất đai năm 1987 không nêu cụ thể việc bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất, mà chỉ nêu tại phần nghĩa vụ của người sử dụng đất (Điều 48): “Bồi thường thiệt hại cho người sử dụng đất để giao cho mình bồi hoàn thành quả lao động và kết quả đầu tư đã làm tăng giá trị của đất đó theo quy định của pháp luật”
Tại Nghị định số 186/HĐBT ngày 31 tháng 05 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về việc bồi thường đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang mục đích khác Hiến pháp năm 1992 đã công nhận và bảo vệ quyền sử dụng đất
của các tổ chức, cá nhân và quyền sở hữu cá nhân về tài sản và sản xuất
Trang 282.3.2 Giai đoạn Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực
Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 thay thế cho Luật Đất đai năm 1987 Đây là văn bản pháp luật quan trọng nhất đối với việc thu hồi đất và bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất Luật Đất đai 1993 quy định các loại đất sử dụng, các nguyên tắc sử dụng từng loại đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Một thủ tục rất quan trọng và là cơ sở pháp lý cho người sử dụng đất là họ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà Chính điều này làm căn cứ cho quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Để xác định nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với Nhà nước, Điều 12 Luật Đất đai 1993 đã quy định: “Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất Tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất Chính phủ quy định khung giá các loại đất đối với từng vùng theo thời gian” Điều 27 quy định: “Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người thu hồi đất được bồi thường thiệt hại”
Để thực hiện Luật Đất đai 1993 được ban hành, Nhà nước đã ban hành rất nhiều các văn bản dưới Luật như Nghị định, Thông tư và các văn bản pháp quy khác về quản lý đất đai nhằm cụ thể hoá các điều luật để thực hiện các văn bản đó, bao gồm:
- Nghị định 90/NĐ-CP ngày 17 tháng 9 năm 1994 quy định cụ thể các chính sách và phân biệt chủ thể sử dụng đất, cơ sở pháp lý để xem xét tính hợp pháp của thửa đất để lập kế hoạch bồi thường GPMB theo quy định khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng và mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
- Nghị định 87/NĐ-CP ngày 17 tháng 8 năm 1994 của Chính phủ về việc ban hành khung giá các loại đất
- Thông tư Liên bộ số 94/TTLB ngày 14 tháng 11 năm 1994 của Liên bộ Tài chính - Xây dựng - Tổng cục Địa chính - Ban vật giá Chính phủ hướng dẫn thi hành Nghị định 87/NĐ-CP
- Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 1998 của Chính phủ, thay thế Nghị định 90/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001
- Luật sửa đổi một số điều của Luật Đất đai năm 1998, 2001 Luật sửa đổi
một số điều của Luật Đất đai năm 1998 được Quốc hội thông qua ngày 02/12/1998 Về cơ bản, Luật Đất đai sửa đổi năm 1998 vẫn dựa trên nền tảng cơ
bản của Luật cũ, chỉ một số điều được bổ sung thêm cho phù hợp thực tế
Trang 29- Tháng 10/1999, Cục quản lý Công sản - Bộ Tài chính đã tiến hành dự thảo lần thứ nhất về sửa đổi bổ sung Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất Trong đó, một số điều cơ bản đã được
đề nghị sửa đổi như xác định mức đất để tính bồi thường, giá bồi thường, lập khu tái định cư, quyền và nghĩa vụ của người bị thu hồi đất phải chuyển đến nơi ở mới, các chính sách hỗ trợ và các điều kiện bắt buộc phải có của khu tái định cư, Hội đồng bồi thường GPMB và thẩm định phương án bồi thường GPMB
- Thông tư 145/1998/TT-BTC ngày 04 tháng 11 năm 1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định 22/1998/NĐ-CP bao gồm các phương pháp xác định hệ số K, nội dung và chế độ quản lý, phương án bồi thường và một số nội dung khác
- Văn bản số 4448/TC-QLCS ngày 04 tháng 9 năm 1999 của Cục quản lý Công sản, Bộ Tài chính hướng dẫn xử lý một số vướng mắc trong công tác bồi thường GPMB
- Luật sửa đổi một số điều của Luật Đất đai năm 2001 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 29 ngày 6 năm 2001 quy định cụ thể hơn
về việc bồi thường thiệt hại và giải phóng mặt bằng
2.3.3 Giai đoạn Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực
Sau Luật Đất đai năm 1993 đến Luật Đất đai năm 2003 ra đời đã có rất nhiều các văn bản dưới luật hướng dẫn chi tiết, cụ thể và phù hợp hơn với tình hình thực tế hiện nay, cụ thể:
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai
- Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Thông tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26/11/2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định 188/2004/NĐ-CP
- Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Thông tư số 116/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 07/12/2004 về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định 197/2004/NĐ-CP
Trang 30- Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp GCNQSD đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình
tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
- Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15 tháng 6 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
- Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT-BTC-BTNMT của liên Bộ Tài chính và Bộ TNMT ngày 31/1/2008 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 84/2007/NĐ-CP
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất
Căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có
dự án đầu tư thì Nhà nước quyết định thu hồi đất và giao cho tổ chức phát triển quỹ đất do UBND cấp tỉnh thành lập để thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, GPMB và quản lý quỹ đất thu hồi
Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng được UBND cấp tỉnh quy định và cống bố hàng năm, không bồi thường theo giá đất sẽ chuyển mục đích sử dụng Giá đất do Nhà nước quy định đảm bảo nguyên tắc sát với giá chuyển nhượng QSD đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường
Điều kiện để được bồi thường về đất: Người bị thu hồi đất có đủ các điều kiện phù hợp với quy định tại Điều 8 Nghị định 197/2004/NĐ-CP (trừ khoản 6 và khoản 8
đã được Nghị định 84/2007/NĐ-CP bãi bỏ) thì được bồi thường về đất
Trang 31Chính sách hỗ trợ theo quy định tại Nghị định 197/2004/NĐ-CP và Nghị định 84/2007/NĐ-CP bao gồm: Hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm, hỗ trợ di chuyển Đối với các hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp sẽ được giao đất dịch vụ có thu tiền để làm mặt bằng sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, nếu có đất để giao thì những thành viên trong gia đình còn trong độ tuổi lao động được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp hoặc người bị thu hồi đất không có nguyện vọng nhận bồi thường bằng đất sản xuất kinh doanh dịch vụ thì được bồi thường bằng giao đất ở có thu tiền sử dụng đất tại khu tái định cư hoặc vị trí trong khu dân cư phù hợp với quy hoạch; Đối với các hộ gia đình, cá nhân thuộc diện hộ nghèo thì được hỗ trợ để vượt qua hộ nghèo
Tuy nhiên khi Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 ra đời đã bãi bỏ các quy định về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất tại Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 và sửa lại bao gồm các khoản hỗ trợ như sau (Chính phủ, 2009): + Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở; + Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tạo việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp;
+ Hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư; đất vườn, ao không
2.3.4 Giai đoạn Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đến nay
Ngày 29 tháng 11 năm 2013, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa VIII, Quốc hội
đã biểu quyết thông qua Luật Đất đai năm 2013 Luật Đất đai năm 2013 có 14 chương với 212 điều trong đó có 14 điều (từ Điều 74 đến Điều 87) quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi nhà nước thu hồi đất (Luật Đất đai, 2013) Sau khi Luật Đất đai 2013 được ban hành, Nhà nước đã ban hành nhiều các văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư cụ thể hoá các điều luật về giá đất, bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất, cụ thể:
Trang 32- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai
- Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về giá đất
- Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất
- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Thông tư số 36/2014/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết phương pháp định giá đất; xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất; định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất;
- Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
2.4 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở VIỆT NAM VÀ Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.4.1 Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam
Qua báo cáo của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có 757 dự án giải tỏa “treo” với tổng diện tích 19.009 ha các địa phương còn tồn tại nhiều dự
án giải tỏa “treo” gồm: Bình thuận 133 dự án, Đồng nai 88 dự án, Quảng Ninh 56
dự án, Vĩnh Phúc 33 dự án, Bắc Ninh 32 dự án, Cao Bằng 35 dự án, Hưng Yên
26 dự án, Quảng Nam 21 dự án, Kiên Giang 30 dự án và An Giang 26 dự án Thống kê có 16.924 hộ dân khiếu nại, tố cáo về GPMB, trong đó kết quả đã giải quyết được 12.838 hộ (đạt 75,86%), riêng tỉnh Vĩnh Phúc có tổng số đơn thư
là 13.203 hộ, đã giải quyết được 10.974 hộ (đạt 83,12%) Nhiều địa phương đã tập trung giải quyết tốt công tác khiếu nại, tố cáo như: Lạng Sơn, Lào Cai, Vĩnh Long, Tiền Giang đều đạt 100%, Bình Phước 92%, Đăk Nông 82% Bên cạnh đó cũng có một số địa phương chưa thực sự quyết tâm trong công tác giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo của dân về GPMB như Điện Biên 9,04%, Phú Thọ 12%, Nam Định gần 25%, An Giang 11%, Cà Mau 23%
Trang 33Kết quả giải quyết BT-HT: cả nước có 192 dự án (25,30%) với tổng diện tích đã giải quyết là 4.339 ha (22,82%) Bên cạnh đó còn có 148 dự án (19,55%) đang làm thủ tục giải quyết với tổng diện tích 1.720 ha
Kết quả giải quyết những vướng mắc trong công tác TĐC: theo thống kê thì có 61 dự án vướng mắc với tổng số 6.243 hộ dân cần được TĐC, trong đó các địa phương đã tập trung giải quyết TĐC cho 3.661 hộ (58,54%) (Phạm Thanh Hiền, 2010)
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ trong thời gian qua các địa phương đã tiến hành rà soát và có quyết định hủy bỏ 87 dự án đã thu hồi đất với tổng diện tích 1.087 ha, trong đó: Đồng Nai hủy bỏ 10 dự án (373,98 ha), Hưng Yên hủy bỏ 7 dự án (66,64 ha), Hải Phòng hủy bỏ 10 dự án (50,30 ha), Bắc Ninh hủy bỏ 8 dự án (23,56%)
Thời gian qua, sự hình thành các khu, cụm công nghiệp, xây dựng kết cấu
hạ tầng nông nghiệp, nông thôn và quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, mạnh
mẽ kéo theo nhu cầu về mặt bằng, nhà xưởng tăng cao mà chủ yếu lấy từ đất nông nghiệp Trên thực tế, tuy diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ (1 - 2%) trong tổng số diện tích đất tự nhiên, nhưng lại chủ yếu tập trung vào một
số xã, huyện có vị trí thuận lợi, mật độ dân số cao, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp, có địa phương bị thu hồi từ 70- 80% diện tích đất nông nghiệp Theo kế hoạch, những năm tới có địa phương có thể chuyển đổi 100% diện tích đất nông nghiệp, kéo theo nhiều hộ bị thu hồi 100% diện tích đất sản xuất Những địa phương có diện tích đất bị thu hồi lớn là Tiền Giang (20.308 ha), Đồng Nai (19.752 ha), Bình Dương, Cà Mau (13.242 ha), Hà Nội (7.776 ha), Vĩnh Phúc (5.573 ha), Hải Dương (3.146 ha) Khoảng 70% số hộ có diện tích đất thu hồi từ 50% diện tích đất sản xuất trở lên Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện nay, bình quân đất nông nghiệp trên một nhân khẩu chỉ còn 0,108 ha (so với 10 năm trước giảm 0,005 ha); trong khi đó, mức bình quân đất nông nghiệp của thế giới hiện nay là 0,23 ha/người Vấn đề này đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn báo động nhiều lần, nhưng tình trạng này không những không giảm mà còn có chiều hướng gia tăng Tính riêng giai đoạn từ 2001- 2005, tổng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi trên phạm vi cả nước lên tới trên 366 nghìn ha (chiếm gần 3,9% quỹ đất nông nghiệp), tức mỗi năm thu hồi hơn 73.200 ha (Phạm Thanh Hiền, 2010)
Trang 34Tuy nhiên vẫn còn tồn đọng tổng số 433 dự án giải tỏa “treo” với tổng diện tích 12.645 ha chưa có hướng giải quyết
2.4.2 Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở Hà Nội
2.4.2.1 Các văn bản quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Bên cạnh các văn bản Luật, Nghị định của Chính phủ, Thông tư của các bộ hướng dẫn về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư UBND thành phố Hà Nội đã ban hành một số văn bản sau:
* Giai đoạn sau ngày 01/7/2004 (sau khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành):
Để phù hợp với đặc thù của Thành phố Hà Nội, UBND Thành phố Hà Nội cũng đã ban hành một số văn bản pháp quy có điều chỉnh và có liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn thành phố Hà Nội:
- Quyết định số 18/2008/QĐ- UBND ngày 29 tháng 9 năm 2008, UBND thành phố Hà Nội, ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn thành phố Hà Nội (Quyết định này này thay thế cho các quyết định: số 137/2007/QĐ-UB ngày 30/11/2007, số 151/2007/QĐ-UB ngày 31/12/2007, số 36/2008/QĐ-UB ngày 23/6/2008, số 106/2005QĐ-UBND ngày 20/7/2005, số 176/2006/QĐ-UBND ngày 25/9/2006 và số 33/2008/QĐ-UB ngày 9/6/2008 của UBND thành phố Hà Nội; số 289/2006/QĐ-UB ngày 20/2/2006, số 493/2007/QĐ-
UB ngày 22/3/2007, số 1098/2007/QĐ-UB ngày 28/6/2007, số 371/2008/QĐ-UB ngày 22/2/2008 UBND tỉnh Hà Tây trước đây)
Quyết định 17/2008/QĐ-UB ngày 31/3/2008 của UBND Thành phố Hà Nội về việc ban hành đơn giá xây dựng công trình Thành phố Hà Nội;
- Quyết định 40/2008/QĐ-UB ngày 22/10/2008 của UBND Thành phố
Hà Nội về việc ban hành đơn giá xây mới nhà ở, nhà tạm, vật kiến trúc trên địa bàn Thành phố Hà Nội;
- Quyết định số 108/2009/QĐ-UBND ngày 29 tháng 9 năm 2009, của UBND Thành phố Hà Nội, quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Quy định hướng dẫn thực hiện Nghị định 69/2009/CP ngày13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, thay thế Quyết định số 18/2008/QĐ-UBND ngày 29/9/2008 của UBND thành phố Hà Nội về việc ban hành quy định
về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn thành phố Hà Nội)
Trang 35* Từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 21/2014/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 ban hành quy định các nội dung thuộc thẩm quyền của UBND Thành phố do Luật Đất đai 2013 và các Nghị định của Chính phủ giao cho về thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn thành phố Hà Nội;
- Quyết định số 22/2014/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 ban hành quy định các nội dung thuộc thẩm quyền của UBND Thành phố do Luật Đất đai 2013 và các Nghị định của Chính phủ giao về hạn mức giao đất; hạn mức công nhận quyền sử dụng đất; kích thước, diện tích đất ở tối thiểu được phép tách thửa cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội;
- Quyết định số 23/2014/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 ban hành quy định các nội dung thuộc thẩm quyền của UBND Thành phố do Luật Đất đai 2013 và các Nghị định của Chính phủ giao cho về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội;
- Quyết định số 24/2014/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 ban hành quy định các nội dung thuộc thẩm quyền của UBND Thành phố do Luật Đất đai 2013 và các Nghị định của Chính phủ giao về Đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Đăng ký biến động về
sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân nước ngoài; chuyển mục đích sử dụng đất, vườn ao liền kề và đất vườn, ao xen kẹt trong khu dân cư (không thuộc đất công) sang đất ở trên địa bàn thành phố Hà Nội;
Quyết định số 25/2014/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 ban hành quy định các nội dung thuộc thẩm quyền của UBND Thành phố do Luật Đất đai 2013 và các Nghị định của Chính phủ giao về Đăng ký đất đai, các tài sản khác gắn liền với đất; Đăng ký biến động về sử dụng đất, nhà ở và tài sản gắn liền với đất; cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sỡ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; đăng ký biến động về sử dụng đất cho các tổ chức trên địa bàn thành phố Hà Nội;
Quyết định số 37/QĐ –UBND ngày 18/12/2015 của UBND thành phố
Hà Nội ban hành quy định về đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; công nhận quyền sử dụng đất; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
Trang 36quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; đăng ký biến động về sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người việt nam định cư ở nước ngoài, cá nhân nước ngoài; chuyển mục đích sử dụng đất vườn, ao liền kề và đất nông nghiệp xen kẹt trong khu dân cư sang đất ở trên địa bàn thành phố Hà Nội
2.4.2.2 Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
* Giai đoạn từ trước Luật Đất đai 2013 có hiệu lực thi hành:
Thực hiện Nghị quyết 09/2000/NQ-HĐ ngày 21/7/2000 của Hội đồng nhân dân Thành phố về công tác BTHTTĐC, GPMB của thành phố đã có bước chuyển biến đáng kể Kết quả cụ thể như sau:
- Trong giai đoạn 2003 - 2006, số dự án phải GPMB lớn liên quan đến nhiều hộ dân; số hộ tái định cư lớn, nhất là khu vực nội thành, 80% diện tích đất GPMB là đất nông nghiệp thuộc các huyện ngoại thành và các quận nội thành mới được thành lập Đã hoàn thành công tác GPMB bàn giao cho chủ đầu tư 1.048 trên tổng số 1.830 dự án; với 5.699 ha đất, liên quan tới 153.725
hộ dân, tổng số tiền BTHTTĐC là 9.726.509 triệu đồng, bố trí tái định cư cho khoảng 10.580 hộ dân Bình quân mỗi năm đã GPMB khoảng 1.000 ha đất
- Các dự án thuộc 9 cụm công trình trọng điểm, các khu đô thị mới, các dự án phục vụ Seagame 22, phục vụ hội nghị thượng đỉnh cấp cao APEC 2006, các khu phục vụ đấu giá QSDĐ cơ bản đã hoàn thành, đáp ứng yêu cầu đầu tư: Nhiều khu đô thị mới được xây dựng (khu đô thị Linh Đàm, khu đô thị Trung Hòa – Nhân Chính, khu đô thị Ciputra, Việt Hưng, Nam Trung Yên); khu liên hợp thể thao quốc gia; các trục đường và nút giao thông lớn (đường Phạm Hùng, Trần Duy Hưng, Liễu Giai, Ngọc Khánh, đường Kim Liên – Ô Chợ Dừa, đường vành đai 1,2,3, các cầu qua sông Hồng, nút giao thông ngã tư Vọng, ngã tư Sở); hệ thống các công viên (Đống
Đa, Tuổi trẻ Thủ Đô, Yên sở); hệ thống các sông nội thành (Tô Lịch, Kim Ngưu), hạ tầng kỹ thuật xung quan hồ Tây, hồ Trúc Bạch ; các khu công nghiệp tập trung Sài Đồng, Bắc Thăng Long, các cụm công nghiệp vừa và nhỏ, các khu nhà ở xuống cấp, các dự án cấp thoát nước đô thị
- Nhiều dự án tồn đọng kéo dài đã được gải quyết dứt điểm như giải tỏa
“xóm liều” Thanh Nhàn, ao Thước Thợ, nút Voi Phục - Cầu Giấy, nút giao thông ngã tư Vọng, hồ điều hòa Yên Sở, bãi rác Nam Sơn, sân gôn Kim Nỗ,
- Công tác GPMB đã đáp ứng tiến độ triển khai các dự án lớn của Nhà nước, góp phần quan trọng trong hoạt động đối ngoại của thành phố và cả nước diễn ra
Trang 37trong 6 năm qua: Seagame 22, Paragame 2, Asem 5, Hội nghị các Thành phố lớn Châu Á thế kỷ 21 (ANMC 21) Diện mạo của thủ đô ngày một thay đổi theo hướng văn minh hiện đại – Thủ đô luôn giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội
- Năm 2008 số dự án phải GPMB trên toàn thành phố Hà Nội là 1.005 (gấp 3 lần cùng kỳ năm trước), với quy mô thu hồi đất trên 13.500 ha (gấp 4,5 lần cùng kỳ năm trước), phạm vi thu hồi liên quan đến hơn 186.000 tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, với số hộ cần bố trí tái định cư là trên 19.000 hộ Trong đó, đã hoàn thành xong 225 dự án; hoàn thành và bàn giao một phần diện tích đất cho
57 dự án theo phân kỳ đầu tư, bàn giao trên 1.500 ha đất, chi trả trên 2.900 tỷ
đồng cho trên 49.600 hộ dân, bố trí tái định cư cho trên 2.130 hộ
- Năm 2009, thành phố Hà Nội tiếp tục thực hiện GPMB trên 790 dự án, với quy mô thu hồi đất lên đến trên 11.700 ha, liên quan đến gần 177.000 hộ dân, tái định cư cho trên 16.420 hộ (Báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội)
* Giai đoạn từ sau khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực thi hành
Đến thời điểm 31/12/2014, Tại Thành phố Hà Nội đã có 325 dự án được giao đất để triển khai thực hiện việc đầu tư xây dựng, tuy nhiên chỉ có 255 dự án
là đã hoàn thiện và chính thức được đưa vào sử dụng thực sự
* Đánh giá thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
a) Những thành quả chủ yếu
- UBND Thành phố đã chỉ đạo rà soát, ban hành nhiều cơ chế, chính sách
cụ thể về bồi thường, hỗ trợ TĐC, đặc biệt sau khi mở rộng địa giới thành phố;
- UBND các cấp thường xuyên thanh tra, kiểm tra giải quyết những khó khăn, vướng mắc và xử lý kịp thời những vi phạm liên quan đến thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ TĐC ở các dự án trọng điểm
- Các cấp, các ngành chức năng của thành phố đã tổ chức tập huấn nghiệp
vụ cho đội ngũ cán bộ phường thực hiện công tác GPMB, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền đối với nhân dân về cơ chế chính sách liên quan đến GPMB trên các báo, đài thông tin đại chúng của thành phố Hà Nội
- Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, đô thị như: Quy hoạch, giao đất, thu hồi đất, bồi thương, hỗ trợ, TĐC, đã tạo chuyển biến mạnh mẽ và hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ GPMB trên địa bàn thành phố
- Về công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác GPMB, tính đến đầu năm 2009, thành phố đã giải quyết 594/765 vụ khiếu nại, tố
Trang 38cáo liên quan đến công tác này, đạt tỷ lệ 78% (trong đó, cấp quận, huyện đã xem xét giải quyết được 479/626 vụ, đạt tỷ lệ 77%; Thanh tra thành phố đã xem xét, giải quyết 115/139 vụ, đạt tỷ lệ 83%) Nhờ tích cực giải quyết, quy mô, tính chất, mức
độ phức tạp của các vụ việc đến nay đã giảm nhiều (Báo cáo tổng hợp ngành Tài nguyên và Môi trường của Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội)
b) Tồn tại, vướng mắc
- Cơ chế chính sách BT, HT, TĐC còn bất cập, thiếu đồng bộ, thậm chí còn có mâu thuẫn, bất hợp lý, đặc biệt việc áp dụng giá bồi thường đối với các đối tượng trong cùng một dự án có đất liền kề nhau
- Công tác tham mưu, đề xuất cơ chế, chính sách của cấp huyện và ngành chức năng với UBND Thành phố chưa kịp thời, linh hoạt đã ảnh hưởng đến hiệu quả và tiến độ công việc
- Sự hạn chế về số lượng, chất lượng cán bộ làm công tác GPMB, phối hợp giữa các ngành, các cấp trên địa bàn Thành phố và các Bộ, Ban, Ngành còn thiếu chặt chẽ, hạn chế hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách BT, HT, TĐC
- Việc thiếu tự giác, thiếu hiểu biết, thậm trí cố ý làm sai của một số bộ phận cán bộ và nhân dân là trở ngại không nhỏ cho công tác GPMB; là nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng chậm trễ trong thu hồi đất và tình trạng khiếu kiện phức tạp, kéo dài
- Về khách quan, đất đai khan hiếm, giá đất thị trường cao dẫn đến việc bảo đảm việc làm, đời sống cho người dân có đất bị thu hồi khó khăn, nên so với các địa phương khác công tác BT, HT, TĐC ở Hà Nội khó khăn và phức tạp hơn
Trang 39PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Đề tài giới hạn đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất triển khai dự án: “Cải tạo, nâng cấp, mở rộng quốc lộ 32 đoạn Cầu
Diễn - Nhổn” thuộc quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2015
3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2013 đến tháng 12/2015
- Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 1/2015 đến tháng 4/2016
- Thời gian thu thập số liệu thứ cấp: Từ năm 2011 đến năm 2015
3.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi để thực hiện dự án:
“Cải tạo, nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 32 đoạn Cầu Diễn – Nhổn” trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
- Việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại dự án nghiên cứu
- Vấn đề ảnh hưởng đến đời sống và việc làm của người dân có đất bị thu
hồi để thực hiện dự án
3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.4.1 Điều kiện tư nhiên, kinh tế xã hội của quận Bắc Từ Liêm
3.4.2 Đánh giá công tác quản lý, sử dụng đất đai của quận Bắc Từ Liêm giai đoạn 2013 đến nay
- Tình hình thực hiện công tác giao, cho thuê, thu hồi, bồi thường hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
- Hiện trạng sử dụng đất quận Bắc Từ Liêm năm 2015
3.4.3 Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 32 đoạn Cầu Diễn
- Nhổn trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm
- Khái quát về dự án nghiên cứu;
- Đối tượng và điều kiện được bồi thường về đất;
- Tình hình thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 32 đoạn Cầu Diễn - Nhổn;
Trang 40- Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư GPMB dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 32 đoạn Cầu Diễn - Nhổn qua ý kiến người dân;
- Đánh giá chung về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án
3.4.4 Tác động của việc thực hiện các chính sách GPMB cho người có đất bị thu hồi trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm
3.4.5 Đề xuất một số giải pháp về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.5.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp
Các nguồn tài liệu bao gồm:
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội quận Bắc Từ Liêm năm 2015 thu thập tại Phòng Tài nguyên và Môi trường Quận; Tình hình phát triển kinh tế thành phố Hà Nội nói chung và quận Bắc Từ Liêm nói riêng năm 2015 thu thập tại Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội;
- Tình hình quản lý đất đai của quận Bắc Từ Liêm; Hiện trạng sử dụng đất của quận Bắc Từ Liêm năm 2015 thu thập tai Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Bắc Từ Liêm
- Phương án bồi thường của đơn vị chủ đầu tư; Các văn bản, chính sách của Đảng, Nhà nước và các cấp về thu hồi, bồi thường giải phóng mặt bằng và các Quyết định thu hồi đất của UBND thành phố Hà Nội thu thập tại Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Bắc Từ Liêm, Ban Giải phóng mặt bằng Quận, Sở Tài nguyên và Môi trường và Sở Giao thông vận tải Hà Nội
3.5.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp
Đối với các các hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi: Điều tra bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình, cá nhân nằm trong khu vực có đất bị thu hồi bằng phiếu điều tra Đề tài chọn 150 hộ bị thu hồi đất trong dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 32 đoạn Cầu Diễn - Nhổn qua địa bàn quận Bắc Từ Liêm Các hộ điều tra phân theo 3 nhóm là: Nhóm hộ bị thu hồi đất nông nghiệp điều tra 50 hộ; nhóm hộ bị thu hồi đất ở điều tra 50 hộ; nhóm hộ thu hồi đất nông nghiệp và đất ở điều tra 50 hộ