BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH PHẠM THỊ LIỄU THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH UNG THƯ NIÊM MẠC TỬ CUNG SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT TỬ CUNG HOÀN TOÀN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN THÁI
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
PHẠM THỊ LIỄU
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH UNG THƯ NIÊM MẠC TỬ CUNG SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT TỬ CUNG HOÀN TOÀN TẠI BỆNH VIỆN
PHỤ SẢN THÁI BÌNH NĂM 2019
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
PHẠM THỊ LIỄU
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH UNG THƯ NIÊM MẠC TỬ CUNG SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT TỬ CUNG HOÀN TOÀN TẠI BỆNH VIỆN
PHỤ SẢN THÁI BÌNH NĂM 2019
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Điều dưỡng Sản phụ khoa
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
Ths Trần Hữu Hiếu
NAM ĐỊNH - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành chuyên đề này, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, các anh chị, bạn bè, đồng nghiệp, những người thân trong gia đình và các cơ quan có liên quan
Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học,
bộ môn Điều dưỡng Sản phụ khoa, các thầy cô giảng dạy của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo tôi trong những năm học qua Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn: Ths.Trần Hữu Hiếu đã tận tình hướng dẫn, động viên, quan tâm và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học, thực hiện và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc Bệnh viện Phụ sản Thái Bình đã cho tôi cơ hội được đi học chuyên sâu về lĩnh vực điều dưỡng, tạo điều kiện giúp
đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập, công tác và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn đến những người thân yêu trong gia đình, các bạn
bè đồng nghiệp gần xa, đặc biệt là các anh chị em cùng khóa đã động viên, giúp đỡ tôi về tinh thần và vật chất để tôi hoàn thành chuyên đề này
Nam Định, tháng 7 năm 2019
Phạm Thị Liễu
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là báo cáo chuyên đề của riêng tôi Nội dung trong bài báo cáo này hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa được áp dụng Báo cáo này
do bản thân tôi thực hiện dưới sự giúp đỡ của Giáo viên hướng dẫn Nếu có điều gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Người làm báo cáo
Phạm Thị Liễu
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN……….i
LỜI CAM ĐOAN……… …ii
MỤC LỤC ……… iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG, HÌNH……… ….v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
1.1 Cơ sở lý luận 3
1.1.1 Dịch tễ học UTNMTC 4
1.1.2 Cơ chế bệnh sinh 9
1.1.3 Các phương pháp chẩn đoán 10
1.1.4 Điều trị 13
1.2 Cơ sở thực tiễn 15
CHƯƠNG 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN 23
2.1 Thực trạng cơ sở vật chất, cơ cấu tổ chức, điều trị của khoa 23
2.2 Thực trạng người bệnh tại khoa 24
2.3 Thực trạng chăm sóc sản phụ tại khoa 24
2.4 Ưu nhược điểm trong chăm sóc 28
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 29
3.1 Đối với bệnh viện ……….….29
3.2 Đối với điều dưỡng và nữ hộ sinh ……….29
3.3 Đối với người bệnh ……… 29
KẾT LUẬN 31 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC BẢNG, HÌNH
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Tổng hợp yếu tố nguy cơ của UTNMTC 8
Bảng 1.2 Điều trị phẫu thuật 14
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Hình ảnh phẫu thuật nội soi tại bệnh viện phụ sản thái Bình 4
Hình 1.2 Ung thư nội mạc típ thanh dịch trên phiến đồ Pap 11
Hình 2.1 hình ảnh bệnh viện phụ sản Thái Bình 23
Hình 2.2 Hoạt động chăm sóc người bệnh tại khoa 24
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư nội mạc tử cung(UTNMTC) là một loại ung thư phát sinh từ nội mạc tử cung Nó là kết quả của sự phát triển bất thường của các tế bào có khả năng xâm nhập, lây lan đến các bộ phận khác của cơ thể
Theo ghi nhận của Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế(IARC) năm 2002, UTNMTC là ung thư thường gặp đứng hàng thứ bảy ở nữ trên thế giới, có 199.000 trường hợp mới mắc bệnh chiếm tỷ lệ 3,9% các bệnh ung thư mới mắc ở nữ, 50.000 trường hợp tử vong chiếm tỷ lệ 1,7% Năm 2008 trên thế giới đã có khoảng 287.000 trường hợp mắc UTNMTC(đứng thứ tư trong các trường hợp ung thư ở nữ) và 74.005 trường hợp tử vong về căn bệnh này Theo ghi nhận của Globocan 2012, tính chung trên toàn cầu, UTNMTC đứng hàng thứ 6(với tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi
là 8,3%) trong tổng số các loại ung thư ở người, sau ung thư vú, ung thư cổ tử cung
và xếp trên ung thư buồng trứng
Ở Việt Nam số trường hợp mắc và tử vong là 3.054 và 1.400 tưng ứng tỷ lệ mới mắc và tử vong trên 100 000 dân là 7,2 và 3,3 so sánh với năm 2002 là 2,5 và 0,9 Rõ ràng, tỷ lệ UTNMTC trên thế giới và nước ta ngày càng gia tăng, điều này phù hợp với tuổi thọ phụ nữ ngày càng cao, xu hướng sử dụng hóoc môn thay thế sau mãn kinh(MK) cũng như tỷ lệ tăng lên các yếu tố nguy cơ có sự tương quan với
tỷ lệ bệnh như: béo phì, tăng huyết áp, đái tháo đường và các phương pháp chẩn đoán bệnh cũng ngày càng tốt hơn
Bệnh gặp chủ yếu ở phụ nữ sau MK(75%), đa số trong khoảng 50 – 59 tuổi, tuy nhiên có khoảng5% xuất hiện ở tuối <40 Triệu chứng lâm sàng hay gặp là ra máu bất thường âm đạo trên 80%, đây là dấu hiệu làm cho người bệnh lo lắng và qua đó giúp cho bệnh được phát hiện thường ở giai đoạn sớm
Để thăm dò và chuẩn đoán UTNMTC có nhiều phương pháp như: chẩn đoán mô bệnh học(MBH), tế bào bệnh học, siêu âm với đầu dò âm đạo , trong đó chẩn đoán MBH được xem là tiêu chuẩn vàng Chẩn đoán chính xác típ mô bệnh học của những ung thư này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc đánh giá chính xác giai đoạn lâm sàng của bệnh, tiên lượng bệnh và là cơ sở để lựa chọn phương pháp điều
Trang 10Hiện nay với các phương tiện tiên tiến, hiện đại thì việc chẩn đoán và điều trị UTNMTC không còn quá khó khăn cho các thầy thuốc lâm sàng Tuy nhiên, sự hiểu biết của người bệnh(NB) về bệnh còn hạn chế từ đó dẫn đến việc tuân thủ những điều trị, thay đổi lối sống sau phẫu thuật cũng như theo dõi sau phẫu thuật chưa đúng mức Chăm sóc điều dưỡng sau mổ nội soi cắt tử cung hoàn toàn là vấn
đề rất quan trọng, ngoài việc chăm sóc cơ bản còn chăm sóc về tinh thần cho người bệnh cũng như giáo dục sức khỏe nâng cao kiến thức về bệnh của người bệnh Để
có cơ sở nâng cao công tác chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật nội soi cắt tử cung hoàn toàn , chúng tôi thực hiện chuyên đề:
Trang 11Cắt tử cung là một phẫu thuật phổ biến trong thực hành phụ khoa.Có thể cắt
tử cung qua nhiều đường tiếp cận khác nhau:
- Đường mổ bụng hở
- Đường âm đạo
- Qua đường nội soi hay những con đường kết hợp
Sự phát triển kỹ thuật nội soi và các kỹ thuật bảo tồn đã góp phần thay đổi quan điểm về cắt tử cung qua nội soi là một phẫu thuật thay thế phơng pháp phẫu thuật cắt tử cung qua đường bụng và đường âm đạo
Cắt tử cung hoàn toàn qua nội soi toàn bộ các thì đều được thực hiện qua nội soi, tử cung có thể lấy qua đường nội soi
Trên thực tế hiện nay các nguyên nhân dẫn đến người bệnh phải phẫu thuật cắt tử cung như:
- U xơ tử cung
- Rong kinh rong huyết điều trị nội khoa không có kết quả
- Ung thư nội mạc tử cung
- Tổn thương nghi ngờ cổ tử cung ( CIN II, hay CIN III)
- Sau chửa trứng
- Khối u phần phụ kèm u xơ tử cung
- Lạc nội mạc trong cơ tử cung
Trong đó UTNMTC là một bệnh cũng hay xuất hiện trong nhóm bệnh phụ
Trang 12Hình 1.1 Hình ảnh phẫu thuật nội soi tại bệnh viện phụ sản Thái Bình
1.1.1 Dịch tễ học UTNMTC
1.1.1.1 Tỷ lệ mắc và tử vong
Ung thư nội mạc tử cung là một trong các bệnh ung thư phổ biến nhất ở phụ
nữ Theo ghi nhận của cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế(IARC) năm 2002, chỉ có 199.000 trường hợp mới mắc bệnh chiếm tỷ lệ 3,9% các bệnh ung thư mới mắc ở
nữ, 50.000 trường hợp tử vong chiếm tỷ lệ 1,7% Năm 2008 trên thế giới đã có khoảng 287.000 trường hợp mắc UTNMTC(đứng thứ tư trong các trường hợp ung thư ở nữ) và 74.005 trường hợp tử vong về căn bệnh này Tại Hoa Kỳ, khoảng 40.000 trường hợp mắc mới và 7.500 ca tử vong năm 2008 UTNMTC là một trong những ung thư phổ biến nhất ở các nước Bắc Mỹ và Châu Âu, thấp ở các nước Châu Phi, Nam Mỹ và Châu Á Tỷ lệ mắc bệnh cao ở phụ nữ da trắng, gấp 2 lần phụ nữ da đen ở cùng độ tuổi và cùng cộng đồng UTNMTC ít phổ biến ở phụ nữ
Mỹ gốc Phi nhưng nhóm này lại có tỷ lệ tử vong cao hơn Phụ nữ da đen có tỷ lệ mắc UTNMTC 13/100.000 người so với 23/100.000 phụ nữ da trắng với nguy cơ tử vong gấp 4 lần Tỷ lệ tử vong quá mức ở nhóm này do nhiều yếu tố bao gồm chẩn đoán bệnh giai đoạn muộn, các típ mô học ác tính, các yếu tố dịch tễ, vấn đề điều trị, các bệnh kèm theo Những phụ nữ da đen có tỷ lệ mắc cao với các típ mô học có tiên lượng xấu như thanh dịch hay tế bào sáng, carcinoarcom và sarcom Các típ u xâm nhập chiếm tới 53% ở tỷ lệ tử vong của phụ nữ da đen so với 36% ở phụ nữ da trắng
Trang 13UTNMTC phụ thuộc vào độ tuổi, thường gặp ở phụ nữ mãn kinh Từ 2-14% UTNMTC xảy ra ở phụ nữ < 40 tuổi; tỷ lệ gặp cao nhát 55- 65 tuổi và độ tuổi trung bình là 63 tuổi Theo ghi nhận của Globocan 2012, tính chung trên toàn cầu, ung thư nội mạc tử cung đứng hàng thứ 6(với tỷ lệ mắc chuẩn theo độ tuổi là 8,3%) trong tổng số các loại ung thư ở người, sau ung thư vú, ung thư cổ tử cung và xếp trên ung thư buồng trứng Nếu tính riêng số mới mắc và số tử vong năm 2012, có sự khác biệt giữa các nước phát triển và kém phát triển như biểu đồ dưới đây:
1.1.1.2 Tỷ lệ mới mắc và tử vong do ung thư trong năm 2012
Tần suất ung thư nội mạc tử cung có khoảng 320.000 trường hợp mới mắc(chiếm 4,8% tổng số ung thư ở phụ nữ và 2,3% các trường hợp tử cong do ung thư)[1] Tuy nhiên, người ta quan tâm đến nguyên nhân gây ung thư nội mạc hơn là
số trường hợp mắc bệnh vì đây là một ung thư có tiên lượng tốt Tần suất bệnh cao nhất ở Bắc Mỹ(19,1/100.000 phụ nữ), tiếp đến là Bắc và Tây Âu(12,9 – 15,6/100.000 phụ nữ) Tỷ lệ mắc bệnh thấp ở Bắc Á và gần như toàn bộ Châu Phi(<5/100.000 phụ nữ) Tỷ lệ tử vong dao động từ 0,9/100.000 phụ nữ tại Bắc Phi
và 3,8/100.000 phụ nữ ở Melanesia[1]
Người ta ước tính rằng đã có 42.160 trường hợp mắc mới ung thư nội mạc tử cung tại Hoa Kỳ trong năm 2009 và 7.780 trường hợp tử vong do căn bệnh này Đây là bệnh phụ khoa ác tính phổ biến nhất tại Hoa Kỳ và là ung thư phổ biến thứ
tư sau vú, phổi và đại trực tràng Tỷ lệ của nó thay đổi đáng kể theo quốc gia và khu vực, tần suất bệnh ở Nhật Bản, Ấn Độ và Nam Á thấp hơn Hoa Kỳ và các nước phương Tây từ 4 – 5 lần Đối với phụ nữ Mỹ, nguy cơ trong đời xuất hiện ung thư nội mạc tử cung là 2,6%[2]
Ở Việt Nam số trường hợp mắc và tử vong là 3.054 cà 1.400 tương ứng tỷ mới mắc và tử vong trên 100.000 dân là 7,2 và 3,3 so sánh với năm 2002 là 2,5 và 0,9[3] Rõ ràng, tỷ lệ UTNMTC trên thế giới và nước ta ngày càng gia tăng, điều này phù hợp với tuổi thọ phụ nữ ngày càng cao, xu hướng sử dụng hóoc môn thay thế sau mãn kinh(MK) cũng như tỷ lệ tăng lên các yếu tố nguy cơ có sự tương quan với tỷ lệ bệnh như: béo phì, tăng huyết áp, đái tháo đường và các phương pháp chuẩn đoán bệnh cũng ngày càng tốt hơn
Trang 141.1.2 Tỷ lệ mắc ung thư ở phụ nữ Việt Nam theo Globocan 2012
Tuổi mắc bệnh
UTNMTC phụ thuộc vào độ tuổi, thường gặp ở phụ nữ mãn kinh, chỉ có 25% trước mãn kinh và 5% phụ nữ dưới 40 tuổi, tuổi trung bình 60 tuổi, tập trung cao ở lứa tuổi 55 – 65[3] Tuổi càng cao thì tỷ lệ ung thư xâm nhập ngày càng nhiều
vì nó liên quan đến tần suất mắc típ ung thư có độ hóoc môn cao, loại này thường phát hiện ở giai đoạn muộn Hofman và CS đã phân tích 37 trường hợp UTNMTC
có độ tuổi từ 75 – 92 tuổi[5] cho thấy: có khoảng 57% típ u dạng nội mạc ở nhóm lớn tuổi so với cộng đồng chung là 75% - 80%, có khoảng 23% u ở giai đoạn I(G1), phần lớn (77%) ở giai đoạn xâm nhập sâu (IC - IV) với G2, G3 và típ mô học thuộc loại không phải dạng nội mạc
Chủng tộc
Tỷ lệ cao nhất ở phụ nữ da trắng, gấp 2 lần phụ nữ da đen ở cùng độ tuổi và cùng cộng đồng, thấp nhất ở phụ nữ Châu Á, kể cả Nhật cũng là nước công nghiệp phát triển[1]
Các yếu tố nguy cơ
Yếu tố kinh nguyệt
Tuổi bắt đầu có kinh sớm, tuổi mãn kinh muộn, thời gian kinh nguyệt dài, chu kỳ kinh nguyệt không đều có tỷ lệ UTNMTC cao hơn Mãn kinh muộn có nguy
cơ ung thư tăng 2,4 lần[1]
Yếu tố nội tiết:
Những phụ nữ có biểu hiện cường estrogen nội sinh như: mắc các bệnh u buồng trứng tiết chế estrogen như u tế bào hạt hoặc sử dụng estrogen không đối kháng liều cao kéo dài có nguy cơ tăng UTNMTC[9]
Trang 15Tamoxifen:
Tamoifen là hợp chất không steroid hoạt động bằng cách cạnh tranh với estrogen tại các thụ thể, được sử dụng điều trị ung thư vú Tamoxifen có liên quan chặt chẽ tới sự phát triển của UTNMTC, nó làm tăng nguy cơ UTNMTC ở người bệnh ung thư vú lên 2 – 3 lần[10]
Sử dụng liệu pháp hormon thay thế:
Liệu pháp hormon thay thế và dùng thuốc tránh thai là sử dụng estrogen ngoại sinh, nó được thừa nhận là có ảnh hưởng gia tăng UTNMTC Sự ảnh hưởng này xuất hiện ở mức thấp hơn nếu kết hợp estrogen với progesterone Nghiên cứu của Creasman cũng cho thấy phụ nữ sử dụng liệu pháp estrogen đơn độc làm tăng nguy cơ UTNMTC lên 4 – 8 lần theo thời gian và liều sử dụng Tuy nhiên những người UTNMTC đã dùng liệu pháp hormon thay thế thường có tiên lượng tốt hơn
so với những người không sử dụng[11]
Tiền sử dụng thuốc tránh thai:
Nghiên cứu bệnh chứng 709 ca bệnh với 3368 ca chứng, Weiderpass cho thấy việc sử dụng thuốc tránh thai kết hợp bằng đường uống ít nhất là 12 tháng làm giảm nguy cơ UTNMTC 30% và sẽ tránh được UTNMTC sau đó ít nhất 20 năm, đặc biệt có tác dụng phòng bệnh rõ nhất ở phụ nữ vô sinh[12]
Quá sản không điển hình NMTC:
Tăng nguy cơ UTNMTC từ 8 – 29 lần bao gồm quá sản đơn giản không điển hình(Simple hyperplasia with atypia) và quá sản phức tạp không điển hình(Complex hyperplasia with atypia)[13]
Tiền sử gia đình:
UTNMTC thường gặp ở phụ nữ sau mãn kinh nhưng những người trẻ tuổi bị UTNMTC thì thường hay liên quan đến tiền sử gia đình Một số nghiên cứu cho thấy UTNMTC ở người trẻ hay có tiền sử gia đình bị UTNMTC hoặc ung thư đại trực tràng
Trang 16Bảng 1.1 Tổng hợp yếu tố nguy cơ của UTNMTC
>22 kg 10,0
So với 5 con 5,0
Hội chứng Cowden’s (đột biến PTEN) Tăng nguy cơ 3 – 5
lần Hội chứng ung thư đại tràng không
polyp di truyền(Hereditary
nonpolyposis colonic cancer syndrome)
Tăng 40% - 60% nguy cơ suốt đời
Có thành viên trong gia đình bị
Phân loại UTNMTC theo cơ chế sinh bệnh học gồm tuýp phụ thuộc estrogen(tuýp I) khoảng 80- 85% và típ không phụ thuộc estrogen(tuýp II) khoàng
10 – 15%[14] Tuýp I hầu hết có độ mô học thấp, xâm nhập tối thiểu, gồm típ dạng nội mạc hoặc tuýp nhầy và thường liên quan đến quá sản NMTC, đặc biệt quá sản
Trang 17không điển hình Típ II phổ biến nhất có độ mô học cao và xâm nhập sâu bao gồm típ thanh dịch, tế bào sáng [15]
EGD(Endometrial glandular dyslasia): Loại sản tuyến nội mạc
EIN(Endometrial intraepithelial neoplasia): Tân sản nội biểu mô nội mạc UPSC(Uterine papollary serous carcinomas): UTBM tuyến nhú thanh dịch SEIC(Serous endometrial intraepithelial carcinoma): UTBM thanh dịch nội biểu mô
Các con đường dẫn đến ung thư từ tuyến nội mạc tử cung đã được xác định chủ yếu là qua đột biến PTEN/MSI và p53, dẫn đến UTBMT tuýp dạng nội mạc và UTBMT típ thanh dịch Ngoài ra đột biến PAX2 cũng có thể dẫn đến UTNMTC, còn các con đường khác đóng một vai trò nhỏ hơn [9]
1.1.4 Các phương pháp chẩn đoán
Lâm sàng
Triệu chứng cơ năng:
- Ra máu bất thường hay chảy máu sau mãn kinh: Chảy máu sau mãn kinh làm gia tăng 64 lần nguy cơ ung thư nội mạc tử cung và nguy cơ tối đa là nếu chảy máu tái phát Một số yếu tố ảnh hưởng đến ra máu bất thường bao gồm:
+ Tuổi mãn kinh: Nguy cơ UTNM tăng từ 9% ở thập niên thứ 6 cuộc đời lên đến 60% trong thập niên thứ 9 của đời người Nhìn chung, nguy cơ UTNMTC ở phụ nữ ra máu sau mãn kinh từ 8% - 11%, đa số nội mạc teo(83%) và các tổn thương lành tính không teo(6%)[16] Nghiên cứu của Gemer và Segal cho thấy có 0,08% UTNMTC ở phụ nữ dưới 50 tuổi so với 3,7% ở nhóm phụ nữ trên 50 tuổi[17]
+ Liệu pháp hormon thay thế: Liệu pháp hormon thay thế có liên quan đến nguy cơ thấp UTNMTC trong ra máu bất thường Elliott và CS quan sát 299 phụ nữ mãn kinh và 204 phụ nữ sử dụng hiệu pháp hormon thay thế thấy tỉ lệ mắc ung thư nội mạc tử cung cao hơn đáng kể ở những phụ nữ lớn tuổi và những người không sử dụng liệu pháp hormon thay thế(RR>10)[18]
+ Ra máu dai dẳng: Twu và Chen đã nghiên cứu 77 người bệnh đã mãn kinh
ra máu mà ban đầu chuẩn đoán MBH là lành tính Kết quả là có 16 trường hợp sau
Trang 18trên 65 tuổi(44,8%)[16] Các tác giả kết luận rằng ra máu dai dẳng sau mãn kinh xảy ra nhiều nhất ở ung thư biểu mô nội mạc tử cung
- Ra máu âm đạo bất thường ở phụ nữ đã mãn kinh hoặc rong kinh, rong huyết ở phụ nữ tiền mãn kinh hoặc còn kinh Triệu chứng này hay gặp khoảng 80%[15]
- Chảy dịch hôi âm đạo có thể gặp khoảng 30% các bệnh nhân Chảy dịch thường do nhiễm khuẩn, máu lẫn chất hoại tử tạo mùi hôi[14]
- Đau vùng hạ vị thường xuất hiện muộn khi khối u đã tràn hoặc xâm lấn vào các bộ phận khác trong hố chậu, triệu chứng này có thể gặp khoảng 20,4%
Siêu âm: Siêu âm, đặc biệt là siêu âm đầu dò âm đạo được sử dụng đánh giá
ban đầu với những người bệnh nghi ngờ UTNMTC Siêu âm cho phép nhận biết chiều dày bất thường của NMTC, kích thước buồng TC, kích thước u, độ xâm lấn u Hạn chế của phương pháp này là độ đặc hiệu, giá trị chuẩn đoán thấp Các thông số quan trọng là độ dày nội mạc tử cung Sau đây là các chỉ số quan trọng khi siêu âm qua đường âm đạo:
- Theo quy định, sự tăng độ dày nội mạc tử cung như một chức năng bệnh lý:
độ dày nội mạc teo: 3,4mm; quá sản: 9,7mm và ung thư 18,2mm[12]
- Có sự khác biệt về độ dày nội mạc giữa các nghiên cứu, với những phụ nữ
sử dụng tamoxifen độ dày nội mạc thường khoảng 5 – 8mm Trong một nghiên cứu sàng lọc tại cộng đồng, gần như 100% các trường hợp ung thư có thể được loại trừ với các giá trị thiết lập độ dày nội mạc < 5mm, tuy nhiên giá trị dự đoán dương tính khá thấp [15] Trong một phân tích gộp 4 nghiên cứu về phụ nữ ra máu sau mãn kinh, Gupta và CS ghi nhận giá trị dự đoán dương tính là 31,3% cho một xét nghiệm dương tính(>5mm); tuy nhiên chỉ có 2,5% trường hợp chẩn đoán âm tính đã xác nhận UTNM trên sinh thiết buồng tử cung [13]
- Siêu âm qua đường âm đạo là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất để theo dõi sự biến đổi nội mạc ở phụ nữ sử dụng tamoxifen với chiều dày nội mạc quy
Trang 19ước là 5 – 8mm Tuy nhiên, độ dày nội mạc sẽ tăng ở nửa sau của chu kỳ dùng thuốc và hầu hết tăng độ dày nội mạc ở nhóm phụ nữ này thực chất là tăng độ dày ở lớp dưới niêm mạc[16]
Chụp buồng tử cung có thuốc cản quang: Ưu điểm của phương pháp này là
độ chính xác cao Dựa vào hình ảnh tổn thương trên phim chụp có thể lấy mẫu bệnh phẩm chính xác hơn Tuy nhiên nó được chỉ định thực hiện khi không có chảy máu hay nhiễm khuẩn buồng TC Phương pháp này hiện nay ít dùng do phức tạp hơn nữa nó có thể làm lan tràn tế bào ung thư vào ổ bụng
Chụp CT, MRI: CT, MRI cho phép đánh giá chẩn đoán u tại chỗ và các mức
độ xâm nhập u cũng như những tổn thương nghi ngờ di căn
Tế bào học cổ tử cung:
Chẩn đoán tế bào học UTNMTC nói chung có hiệu quả kém khi so sánh với giá trị của nó trong chẩn đoán ung thư sớm CTC Nhiều nghiên cứu trong y văn cho rằng chỉ có 1/3 đến ½ số người bệnh UTNMTC có bất thường trên phiếu đồ CTC
âm đạo khi tầm soát CTC[18]
Ung thư nội mạc tuýp thanh dịch trên phiến đồ Pap
Tế bào học nội mạc tử cung:
Nhờ sự phát triển của các phương pháp thăm dò bên trong buồng TC như hút nội mạc(Carry 1943), rửa nội mạc (Gravllê 1964), chải nội mạc .phương pháp chẩn đoán tế bào học NMTC ngày càng có độ tin cậy cao hơn Theo Matsui và CS
độ đặc hiệu của tế bào chải NMT từ 81 – 100%, độ chính xác 93% Tỷ lệ dương tính giả 8,7%, giá trị dương tính 85,7% và độ chính xác 70%[12] Tuy nhiên xét nghiệm này có âm tính giả cao(6 - 25 %) ngoài ra chẩn đoán phân biệt giữa UTNMTC biệt hóa cao với quá sản không điển hình rất khó khăn trên phiến đồ tế bào
Trang 20Hình 1.2 Ung thư nội mạc trên phiến đồ lấy từ buồng tử cung
Sinh thiết nội mạc tử cung
Sinh thiết NMTC là yêu cầu bắt buộc trong chẩn đoán UTNMTC Người ta dùng ống hút Novak hoặc thìa nhỏ đưa vào buồng tử cung hút, nạo một mảnh NMTC để làm xét nghiệm mô bệnh học Có hai lợi ích chính trong chẩn đoán mô bệnh học mảnh sinh thiết NMTC là: thứ nhất, tổn thương là lành tính hay ác tính?
Thứ hai, nếu mảnh sinh thiết là ác tính thì độ mô học là gì, tuýp MBH và ung thư nguyên phát ở NMTC hay của CTC
Soi buồng tử cung
Soi buồng TC cho phép nhìn thấy tổn thương, xác định mức độ lan rộng bề mặt và định hướng cho sinh thiết đúng vị trí tổn thương để chẩn đoán mô bệnh học
Chất chỉ điểm sinh học
Chất chỉ điểm như Ca – 125, TAG – 72, CA 15 – 3, LSA có thể tăng trong UTNMTC Tuy nhiên, các chất chỉ điểm này thường chỉ tăng trong giai đoạn IV của bệnh hoặc khi ung thư tái pháp, hầu như không tăng trong giai đoạn sớm Do đó, xét nghiệm này chỉ có giá trị tiên lượng và theo dõi mức độ tiến triển của bệnh hoặc theo dõi sau điều trị
Phát hiện sớm
Hiện không có xét nghiệm tầm soát ung thư nội mạc tử cung Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ khuyên phụ nữ đang tiến gần tới thời kỳ mãn kinh cần tìm hiểu những nguy cơ và triệu chứng của ung thư nội mạc tử cung[13] Phụ nữ được khuyên nên báo với bác sĩ của họ về bất kỳ triệu chứng ra máu bất thường nào hoặc tiết dịch âm