Đà Nẵng - 2017CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM NGHIỆMCHUNG BÀI 1 XÁC ĐỊNH ĐỘ ẨM VÀ CÁC CHẤT CHIẾT ĐƯỢC TRONG DƯỢC LIỆU Mục tiêu Sau khi thực hành, sinh viên phải: - Xác định được độ ẩm của dược liệu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN
KHOA DƯỢC
GIÁO TRÌNH
THỰC TẬP DƯỢC LIỆU 1
Trang 2Đà Nẵng - 2017CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM NGHIỆM
CHUNG
BÀI 1 XÁC ĐỊNH ĐỘ ẨM VÀ CÁC CHẤT CHIẾT ĐƯỢC
TRONG DƯỢC LIỆU
Mục tiêu
Sau khi thực hành, sinh viên phải:
- Xác định được độ ẩm của dược liệu bằng phương pháp sấy và phương phápchưng cất với dung môi
- Xác định được hàm lượng các chất chiết được trong dược liệu
I CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1 Định lượng độ ẩm trong dược liệu
Tất cả các dược liệu, trong điều kiện bảo quản bình thường, đều có chứa một lượng
nước nhất đinh Tỉ lệ phần trăm của lượng nước này trong dược liệu được gọi là độ
ẩm (hay thủy phần) của dược liệu Muốn bảo quản dược liệu, tránh hiện tượng lên
meo mốc, hoạt chất trong dược liệu bị biến đổi thì dược liệu phải có độ ẩm không
quá một giới hạn nào đó (được gọi là độ ẩm an toàn) Với đa số các dược liệu, độ
ẩm an toàn khoảng 13%
Định lượng độ ẩm trong dược liệu là xác định tỉ lệ phần trăm nước trong dược liệu
đó nhằm kiểm tra xem dược liệu có đạt tiêu chuẩn về độ ẩm hay không
Ngoài ra, xác định độ ẩm cũng cần thiết trong việc tính toán kết quả định lượnghay hiệu suất chiết của hoạt chất trong dược liệu
Có thể xác định độ ẩm bằng 2 phương pháp:
Phương pháp sấy
Trang 3Là phương pháp loại nước ra khỏi dược liệu bằng cách làm cho nước bay hơi ởnhững điều kiện nhiệt độ và áp suất nhất định Thông thường, nước được tách rakhỏi dược liệu bằng cách sấy ở 105oC dưới áp suất thường Thực nghiệm có thểtiến hành trong tủ sấy hay bằng một số thiết bị đặc biệt gọi là cân xác định độ ẩm.Phương pháp này áp dụng với đa số dược liệu; tuy nhiên không phù hợp với một
số dược liệu, ví dụ các dược liệu có chứa tinh dầu, khi sấy thì cả nước và tinh dầucùng bay hơi dẫn tới không xác định được chính xác lượng nước của dược liệu.Với các dược liệu quý hoặc dược liệu có hoạt chất dễ bị phân hủy hay dễ chảy dính
ở nhiệt độ cao (các dược liệu có nhiều đường hoặc tinh bột) người ta có thể sấy ởnhiệt độ thấp hơn trong áp suất giảm hoặc dùng chất hút ẩm hoặc kết hợp cả 2 cáchnày
Để thực hiện phương pháp sấy, người ta có thể dùng tủ sấy hoặc cân xác định độ
ẩm bằng tia hồng ngoại
Phương pháp cất với dung môi
Trong phương pháp này, nước được tách ra khỏi dược liệu bằng cách cất lôi cuốnvới một dung môi chọn lọc Phương pháp này áp dụng được cho mọi dược liệu, kể
cả các dược liệu có các chất bay hơi như tinh dầu Thực nghiệm được tiến hànhtrong một dụng cụ đặc biệt gọi là bộ dụng cụ xác định độ ẩm
2 Xác định các chất chiết được trong dược liệu (DĐVN IV, PL 12.10; PL-239)
Chất chiết được trong dược liệu bởi một dung môi là những chất có thể hòa tantrong dung môi đó và được tách ra khỏi dược liệu trong những điều kiện quy định.Chất chiết được không nhất thiết phải là hoạt chất của dược liệu, thông thường nógồm tất cả các chất (hoạt chất và những chất khác) tan được trong dung môi sửdụng Tùy theo dung môi mà thành phần của chất chiết được có thể thay đổi dẫntới thay đổi kết quả định lượng
Định lượng các chất chiết được trong dược liệu là xác định hàm lượng phần trămcác chất chiết được trong dược liệu trong những điều kiện quy định; thường áp
Trang 4dụng cho những dược liệu chưa có phương pháp định lượng hóa học hay sinh họcthích hợp.
Dung môi dùng trong xác định hàm lượng các chất chiết được thường là nước vàcồn Các dung môi khác như ether, cloroform đôi khi cũng được sử dụng
Có 2 phương pháp chiết được sử dụng là:
Phương pháp chiết nóng: Được áp dụng với các chất khó tan trong dung môi ở
nhiệt độ thường, tan tốt hơn trong dung môi nóng hoặc trong trường hợp dùngdung môi nước hay cồn thấp độ Chiết ở nhiệt độ cao thường tạo nên dung dịchnhớt, khó lọc
Phương pháp chiết lạnh: Được áp dụng cho những chất dễ tan trong dung môi ở
nhiệt độ thường hay dược liệu có nhiều carbohydrat
Tùy từng trường hợp mà Dược điển quy định sử dụng phương pháp chiết thíchhợp
Lấy một chén nung bằng sứ, sấy đến khối lượng không đổi ở 105oC Cân vào chén
sứ đã sấy khô ở trên một lượng chính xác khoảng 2-5g dược liệu rồi đem sấy trong
tủ sấy ở nhiệt độ 105oC trong 2 - 3 giờ Dùng kẹp lấy chén sứ ra, để vào bình hút
ẩm, mở khóa hoặc hé mở nắp bình hút ẩm cho thông khí với bên ngoài trongkhoảng 1 phút rồi đóng kín bình hút ẩm Để nguội trong bình hút ẩm 15 phút
Trang 5Cân và ghi kết quả Tiếp tục sấy trong 1 giờ, để nguội và cân mẫu như trên cho đến
khi kết quả 2 lần cân liên tiếp chênh lệch nhau không quá 5mg.
Tính kết quả: Độ ẩm được tính theo công thức
X: độ ẩm dược liệu, tính ra phần trăma: khối lượng dược liệu khi chưa sấy (g)b: khối lượng dược liệu sau khi sấy đến khối lượng không đổi (g)1.1.2.2 Phương pháp dùng cân xác định độ ẩm
Cân khoảng 1,5g dược liệu đã được nghiền mịn lên dĩa cân và tiến hành xác định
độ ẩm theo hướng dẫn sử dụng máy Đọc kết quả Sau khi kết thúc thực nghiệm,phải để máy nguội khoảng 10 phút rồi mới thực hiện mẫu kế tiếp
1.2 Phương pháp chưng cất với dung môi (phương pháp thể tích)
Dung môi thường dùng là: toluen (điểm sôi 112oC),xylen (hỗn hợp của 3 đồngphân có điểm sôi 136-140oC), benzen (điểm sôi 80oC)
1.2.2 Dụng cụ
Trang 61.2.3 Cách tiến hành
Cho khoảng 250 ml dung môi (toluen, xylen) và 2ml nước vào bình cầu A, lắpdụng cụ và cất trong khoảng 2 giờ Để nguội 30 phút và đọc thể tích nước (V)
trong ống hứng E chính xác tới 0,05 ml Trong bình cầu A lúc này là dung môi đã
bão hòa nước ở điều kiện thí nghiệm
Cân chính xác (với độ chính xác 0,01g) một lượng dược liệu dự đoán có thể giảiphóng khoảng 2-3ml nước (thông thường khoảng 20-25 g dược liệu khô) vào bình
cầu A đã có dung môi đã bão hòa nước ở trên Thêm vài hạt đá bọt vào bình cầu.
Đun nhẹ bình cầu trong 15 phút Khi hỗn hợp bắt đầu sôi, điều chỉnh nhiệt độ saocho hứng được khoảng 2 giọt/ giây cho tới khi hầu hết nước đã được cất hết thìtăng tốc độ cất lên 4 giọt/ giây cho đến khi mực nước ở ống hứng E không thay đổinữa
Dùng 5 ml dung môi tráng lòng ống sinh hàn và cất tiếp 5 phút nữa rồi ngưng cất
Để nguội ống hứng E cho tới nhiệt độ phòng (nếu có những giọt nước bám trênống hứng, dùng đũa thủy tinh đẩy xuống lớp nước phía dưới) và đọc thể tích nước(V1)
Độ ẩm được tính theo công thức:
Trang 7X: độ ẩm dược liệu tính theo phần trăm
V: thể tích nước cất được lần 1 tính bằng ml
V 1 : thể tích nước cất được lần 2 tính bằng ml
a: khối lượng dược liệu đem thử, tính bằng gam
1.3 Nội dung thực hành
Định lượng độ ẩm trong lá Trà bằng phương pháp sấy
2 Định lượng các chất chiết được trong dược liệu
Lấy chính xác 25ml dịch lọc vào một bercher 50ml (đã cân bì) Cô dịch lọc trênbếp cách thủy trong 1 chén kết tinh (đã được sấy khô tới khối lượng không đổi và
đã cân bì) cho đến cắn khô Tiếp tục sấy cắn ở 100-105oC trong 3 giờ Dùng kẹplấy chén kết tinh ra, để nguội trong bình hút ẩm và cân
Hàm lượng % chất chiết được tính bằng công thức:
Trong đó a: khối lượng dược liệu đem thử (g)
b: khối lượng cắn cân được (g) h: độ ẩm (%) của dược liệu 2.1.2 Phương pháp chiết nguội
Cân chính xác khoảng 2g dược liệu khô đã được xay thành bột nửa thôi vào erlen250ml có nút mài Thêm chính xác 50ml dung môi, đậy nút, lắc đều mỗi 30 phút
Trang 8trong 6 giờ Để yên ở nhiệt độ phòng trong 18 giờ Lắc đều hỗn hợp và lọc nhanhqua giấy lọc khô, tránh bay hơi dung môi.
Lấy chính xác 25ml dịch lọc vào một becher 50ml Cô dịch lọc trên bếp cách thủytrong 1 chén kết tinh (đã được sấy khô tới khối lượng không đổi và cân bì) cho đếncắn khô Tiếp tục sấy cắn ở 100-105oC trong 3 giờ Dùng kẹp lấy chén kết tinh ra,
để nguội trong bình hút ẩm và cân
Tính hàm lượng % chất chiết được như phương pháp chiết nóng
2.2 Nội dung thực hành
Tiến hành định lượng chất chiết được trong Kim ngân hoa bằng phương pháp chiếtnóng với dung môi là cồn 95%
III GỢI Ý THẢO LUẬN
1. Phương pháp sấy ở 1050C thường được áp dụng trong những dược liệu nào? Phương pháp này không thích hợp trong các trường hợp nào?
2. Vì sao phương pháp áp dụng độ ẩm với dung môi áp dụng được trong
trường hợp dược liệu có tinh dầu (mặc dù tinh dầu cũng bị cất khỏi dược liệu?
3. Ý nghĩa của việc xác định các chất chiết được trong dược liệu?
Trang 9BÀI 2 NHẬN THỨC BỘT DƯỢC LIỆU
BẰNG KÍNH HIỂN VI
Mục tiêu
Sau khi thực hành, sinh viên phải:
- Thực hiện được tiêu bản bột dược liệu đạt yêu cầu, quan sát được bột dược liệubằng kính hiển vi
- Tìm được và vẽ đúng những phần tử đặc trưng của bột dược liệu, xác định đượcbột dược liệu, độ tinh khiết và sự giả mạo nếu có của các dược liệu đã học
I CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Mỗi dược liệu đều có những đặc điểm mô học đặc trưng, chúng được thể hiện mộtphần qua đặc điểm bột dược liệu Những đặc điểm này có thể được dùng để phânbiệt dược liệu này với dược liệu khác, để xây dựng tiêu chuẩn kiểm nghiệm
Khảo sát bột dược liệu bằng kính hiển vi là tìm ra những đặc điểm vi học đặc trưngcủa bột dược liệu, giúp cho việc định danh, xác định độ tinh khiết của dược liệu,phân biệt với các dược liệu dễ bị nhầm lẫn và phát hiện sự giả mạo nếu có
- Bột lá thường có màu xanh lục tới nâu Các cấu tử thường thấy là: biểu bì mangkhí khổng, lông che chở, lông tiết, tinh thể calci oxalat, các mạch gỗ…
- Bột vỏ thân, vỏ rễ thường có màu vàng nâu tới nâu Các cấu tử thường thấy là:mảnh bần, mô mềm, các loại sợi (vách dày hay mỏng, khoang rộng hay hẹp), tinhthể calci oxalat hay calci carbonat (với các hình dạng khác nhau), mô cứng Mômềm chứa tinh bột, ống nhựa mủ… có thể gặp ở một số dược liệu
- Dược liệu là cành hay toàn bộ rễ thì ngoài các đặc điểm của vỏ còn có thể thấycác loại mạch gỗ và mô gỗ
- Các loại rễ củ, thân ngầm phình thành củ cần chú ý tới đặc điểm cấu tạo của hạttinh bột (hình dạng, kích thước, vân, tễ…)
Trang 10- Bột hoa, quả, hạt có màu sắc thay đổi tùy theo dược liệu.
- Các dược liệu là hoa, quả thì cần chú ý cấu tạo và hình dạng của hạt phấn, biểu bìcùng các loại lông che chở, lông tiết của bao hoa
- Các dược liệu là hạt cần chú ý biểu bì, mô chứa chất dự trữ (carbohydrat hay dầubéo), phôi
Khi khảo sát vi học một dược liệu mới, để xác định các cấu tử có trong dược liệuthuộc bộ phận nào, loại mô nào… thường cần kết hợp và so sánh với việc khảo sátriêng rẽ từng bộ phận của dược liệu
Ví dụ, cần xác định một cấu tử ở bột dược liệu là biểu bì, cánh hoa thì phải so sánh
với mảnh biểu bì quan sát được của bột từ cánh hoa tách riêng
Trong nhiều trường hợp, có thể dùng trực tiếp bột dược liệu chưa xử lý để quan sátcác thành phần của bột Tuy nhiên cũng có những trường hợp bột cần được xử lý
để tiêu bản được sáng, dễ quan sát hơn
1.Soi thường
Soi thường là phương pháp thường dùng nhất Bột dược liệu được phân tán trong
nước cất Đối với tinh bột và các dược liệu có nhiều tinh bột (như hạt, củ - bộtthường có màu trắng ngà), để quan sát cấu trúc của các hạt tinh bột có thể giảm bớtánh sáng Nếu không thấy rõ vân và tễ, có thể thêm 1 giọt dung dịch KOH 5% ở
mép lamelle rồi quan sát ngay, dung dịch KOH sẽ khuếch tán vào bột làm cho vân
và tễ của hạt tinh bột rõ hơn
Ngoài ra, có thể dùng phương pháp làm sáng hoặc phương pháp nhuộm để quan
sát được dễ hơn
2.Phương pháp làm sáng
Phương pháp này chỉ thực hiện khi cần tìm những phần tử bột bị che lấp khi soi thường Có thể chọn một trong các cách sau:
Trang 11- Lấy một ít bột đun sôi vài phút trong dung dịch NaOH 5% hoặc dung dịch KOH 5%, để nguội Soi trong kiềm hoặc rửa nước rồi soi trong dungdịch glycerin.
- Ngâm bột trong một ít nước Javel 50%, thỉnh thoảng khuấy đều Thay dung dịch đến khi bột mất màu, rửa nhiều lần bằng nước cất
- Dược liệu có nhiều tinh bột (hạt, củ) thì làm sáng bột như sau: Lấy một ít bột đun nhẹ trong dung dịch cloral hydrat 50% vài phút Soi trong dung dịch cloral hydrat Đối với bột không thân nước, có thể dùng hỗn hợp cloral hydrat với tỉ lệ 1:2 ngâm 15 phút rồi đun sôi
- Dược liệu có nhiều chất béo (quả và hạt) thì loại chất béo và làm sáng như sau: lấy một ít bột đun sôi trong acid nitric loãng 1 phút Lọc, rửa cắn với nước sôi Đun sôi cắn 1 phút trong dung dịch kiềm Lọc và rửa cắn với nước sôi Soi trong glycerin
3.Phương pháp nhuộm
- Để phân biệt màng tế bào còn cellulose hay đã được tẩm lignin ( hóa
gỗ ), bột đươc nhuộm kép bằng dung dịch carmin 1 % và lục iod 0,1% (hoặc các thuốc nhuộm tương tự) Sau mỗi giai đoạn, ly tâm để lấy được tất cả các phần tử bột
- Để nhuộm màu hạt tinh bột, đặt ở mép lamelle một giọt dung dịch iod 1% (TT) (dung dịch Lugol) Dung dịch iod sẽ thấm vào làm hạt tinh bột nhuộm màu xanh tím
- Để phát hiện các giọt dầu béo, tinh dầu hay chất nhựa, nhỏ vài giọt sudanIII lên bột, để yên vài phút Đậy lamelle và quan sát dưới kính hiển vi:tinh dầu, chất béo, chất nhựa sẽ cho màu đỏ cam tới đỏ
Trang 12- Ngũ gia bì chân chim
Ghi nhận đặc điểm cảm quan (màu sắc, mùi, vị, thể chất) của bột
Lấy một lượng bột dược liệu khoảng bằng đầu tăm cho lên một phiến kính (lame),nhỏ 1-2 giọt chất lỏng để soi (thường là nước), khuấy kỹ Đậy lamelle bằng cáchđặt nghiêng một cạnh lamelle lên lame rồi hạ dần đầu kia của lamelle cho đến khilamelle nằm ngang trên mặt lame Dùng ngón tay di nhẹ trên lamelle cho bột phântán đều Dùng giấy lọc thấm nhanh nước thừa ở mép lamelle
Soi trên kính hiển vi, đầu tiên với vật kính 10x, sau đó với vật kính 40x
Mỗi dược liệu có đặc điểm bột khác nhau (nếu có thể, nên xem vi phẫu trước rồiđối chiếu các đặc điểm vi phẫu để tìm các đặc điểm của bột)
Ghi nhận và vẽ các đặc điểm quan sát được của bột, chú ý các thành phần đặctrưng
Mỗi bột nên soi 2 - 3 mẫu
Trang 142.3 Hoa Hòe
1 Lông che chở đơn bào
2 Lông che chở đa bào
2.4 Ngũ gia bì chân chim
1 Sợi có vách dày có khoang traođổi
2 Các loại tế bào mô cứng
Trang 17III GỢI Ý THẢO LUẬN
1. Khi soi bột dược liệu nếu không tìm thấy một cấu tử quan trọng của dượcliệu đó bạn có suy nghĩ gì? ( lấy ví dụ từ các dược liệu trên)
2. Để một tiêu bản bột dược liệu có đầy đủ các phần tử như tài liệu đã mô tả thìcần phải chuẩn bị mẫu bột soi như thế nào?
Trang 18KIỂM NGHIỆM DƯỢC LIỆU CHỨA CARBOHYDRAT
BÀI 3 DƯỢC LIỆU CHỨA CARBOHYDRAT
Mục tiêu
Sau khi thực hành, sinh viên phải:
- Phân biệt được một số loại tinh bột thường gặp bằng kính hiển vi
- Định tính được tinh bột và các sản phẩm thủy phân từng phần của tinh bột
- Xác định được chỉ số nở của dược liệu có chứa gôm, pectin hay chất nhầy
I CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Các polysaccharid trong tự nhiên được chia thành hai nhóm lớn:
- Homopolysaccharid: là các polysaccharid tương đối thuần nhất có cấu tạo gồm
một loại monosaccharid Homopolysaccharid quan trọng trong ngành dược là tinhbột
- Heteropolysaccharid: là những polysaccharid có cấu tạo phức tạp của không dưới
hai loại monosaccharid Theo truyền thống, các heteropolysaccharid thường đượcxếp vào các nhóm: gôm, chất nhầy, pectin, thạch, alginat…
Trong tự nhiên, tinh bột tồn tại dưới dạng kết tinh tạo thành các hạt tinh bột trong
tế bào thực vật Tinh bột của các loài thực vật khác nhau có thể được phân biệtbằng hình dạng và kích thước của chúng dưới kính hiển vi Quan sát tinh bột bằngkính hiển vi có thể kiểm tra được độ thuần nhất của tinh bột và phát hiện sự giảmạo
Tinh bột và các sản phẩm thoái giáng từng phần của tinh bột có thể được định tínhbằng dung dịch Iod 1% (TT) (dung dịch Lugol)
Các dược liệu chứa gôm, pectin, chất nhầy có thể được đánh giá bằng chỉ số nở
dựa vào tính chất có thể hút nước và trương nở của các hợp chất này
Trang 19Kích thước nhỏ (2-12μm) hạt đơn hình đa giác.
Thường gặp hạt kép, có khi kết thành đám rấtnhiều hạt
Tễ là một chấm nhỏ, vân tăng trưởng không rõ
Tinh bột Bắp
(Amylum Maydis)
Hình đa giác, hiếm khi gần tròn
(Amylum Puerariae)
Hình chỏm cầu hay hình chuông nhỏ 10μm)
(2-Tễ là một điểm
Tinh bột Khoaimì
(Amylum Manihot)
Hình chỏm cầu hay hình chuông
Kích thước từ 5-30μm
Tễ hình sao, rõ
Hình dĩa
Tinh bột Lúa mì
(Amylum Tritici)
Hình dĩa, hình quả lê, đôi khi có rìa sứt mẻ.Hạt to (30-40μm), hạt nhỏ (2-8μm), ít có hạt kích thước trung gian Tễ không rõ
Tinh bột Ý dĩ
(Amylum Coicis)
Mép thường dợn sóng, kích thước hạt trung bình
Tễ phân nhánh hình sao
Hình Tinh bột Khoai Hình trứng, kích thước trung bình 50μm, có
+ Iod
Trang 20tây
(Amylum Solani)
hạt lớn đến 80μm Thỉnh thoảng có hạt kép 2 hoặc 3
Tễ là một điểm ở đầu hẹp, vân rõ
Tinh bộtHoàng tinh
(Amylum Marantae)
Hình trứng, kích thước 50-80μm Tễ là một
vạch ngắn nằm ở đầu to, vuông góc với trục
dài của hạt tinh bột Hạt tinh bột có khi lẹm.
Tinh bột Đậuxanh
(Amylum Phaseoli)
Hình bầu dục, kích thước 50μm
Tễ dài phân nhánh hình xương cá
Tinh bột Hoàisơn
(Amylum Dioscoreae)
Hình trứng hay hình chuông, dài 20-80μm,
rộng 20μm
Tễ dài không phân nhánh, dọc theo trục dài
của hạt; nhiều hạt không thấy tễ
2 Định tính tinh bột
Tinh bột được cấu tạo bởi 2 loại polysaccharid là amylose và amylopectin
Trong hồ tinh bột ở nhiệt độ thường, phân tử tinh bột và các sản phẩm thủy phântừng phần của nó là dextrin tồn tại dưới dạng các chuỗi xoắn; cứ 6 phân tử glucoselập thành một bước xoắn có thể hấp thụ 1 phân tử iod làm cho dung dịch có màu.Màu này thay đổi tùy thuộc vào cấu trúc của phân tử tinh bột (tỷ lệamylose/amylopectin) và chiều dài của phân tử Amylose cho màu xanh đậm vớiiod, trong khi amylopectin lại cho màu tím đỏ với iod
Khi đun nóng, các vòng xoắn này duỗi ra làm cho hồ tinh bột mất màu Khi làmnguội, các phân tử có xu hướng trở về dạng chuỗi xoắn làm hồ tinh bột có màu trởlại
Trang 21Tinh b t ộ
Amylodextrin
Màu xanh
Màu tím đỏ + Iod
Erythrodextrin Màu đ nâu ỏ
+ Iod
Không màu Achrodextrin
3 Xác định chỉ số nở của dược liệu
3.1 Định nghĩa
Chỉ số trương nở của một dược liệu là thể tích (ml) chiếm giữ của 1g dược liệu, saukhi để trương nở hoàn toàn trong nước (hoặc một dung môi khác đã được quyđịnh) thực hiện trong những điều kiện quy định
3.2 Nguyên tắc
Cho một lượng nước thừa (hay dung môi làm trương nở theo quy định của từngchuyên luận) vào một lượng cân biết trước của dược liệu (để nguyên hay xay nhỏ).Đọc thể tích của dược liệu đã trương nở sau một thời gian quy định suy ra thể tích
tương ứng với 1g dược liệu (chỉ số trương nở) DĐVN quy định tính hệ số trương
nở từ kết quả trung bình của 3 lần thực hiện (DĐVN IV, PL 12.19)
Trang 22- Tinh bột hoài sơn
- Tinh bột hoàng tinh
- Vỏ bưởi
Tinh bột khoai tây Tinh bột hoàng tinh
Tinh bột đậu xanh Tinh bột hoài sơn Tinh bột gạo Tinh bột bắp Tinh bột sắn dây
Tinh bột khoai mì Tinh bột lúa mì Tinh bột ý dĩ
Trang 23- Hạt é
B Phương pháp tiến hành
1 Quan sát tinh bột bằng kính hiển vi
Nhỏ một giọt nước lên phiến kính (lame), dùng góc của phiến kính mỏng (lamelle)lấy một ít bột cho vào giọt nước đó và khuấy đều Đậy nghiêng một cạnh lamellelên lame rồi hạ dần đầu kia của lamelle cho đến khi lamelle nằm ngang trên mặtlame Dùng ngón tay di nhẹ trên lamelle cho bột phân tán đều Dùng giấy lọc thấmnhanh nước thừa ở mép lamelle
Quan sát với vật kính 10x, sau đó là 40x và vẽ lại hạt tinh bột bằng bút chì đen
2 Định tính tinh bột
2.1 Định tính tinh bột
Hòa 0,5g tinh bột gạo với 30ml nước cất trong một becher 50ml, đun sôi 3 phút,khuấy đều Dung dịch thu được là hồ tinh bột (A) có thể chất lỏng, trong mờ, hơinhớt
Lấy 1ml hồ tinh bột (A) cho vào 1 ống nghiệm, pha loãng với 5ml nước cất rồithêm 1 giọt TT Lugol, sẽ xuất hiện màu xanh dương đậm
Làm nóng nhanh dung dịch (nhúng ống nghiệm trong nước nóng) cho tới khi dungdịch nhạt màu, rồi làm nguội dung dịch (nhúng ống nghiệm trong nước lạnh) sẽxuất hiện trở lại màu xanh (thường nhạt hơn khi chưa đun nóng)
2.2 Phản ứng thủy giải tinh bột
Lấy 10ml dung dịch hồ tinh bột nguội (A) của thử nghiệm 1 cho vào becher 100ml,thêm 30ml nước cất và 20ml dung dịch HCl 2N, khuấy đều
Lấy ngay dung dịch thu được cho vào 6 ống nghiệm, mỗi ống 5ml Cho đồng loạt 6
ống vào nồi cách thủy đang sôi Lần lượt lấy từng ống nghiệm ra ở các thời điểm sau 3, 7, 11, 15, 17, 20 phút Làm nguội nhanh ống nghiệm trong nước đá hoặc
dưới vòi nước Khi đã có đủ 6 ống nghiệm, thêm vào mỗi ống 1 giọt dung dịchLugol
Trang 24Quan sát, nhận xét màu sắc và độ nhớt của các dung dịch so với ống chứng là hồtinh bột trong nước cất có cùng nồng độ Giải thích kết quả.
3 Xác định chỉ số trương nở của dược liệu
3.1 Tiến hành
Cân chính xác khoảng 1 g dược liệu, làm ẩm với 1,0 ml ethanol 96% (TT), cho vào
1 ống lường 50ml có nút mài Thêm 25 ml nước và lắc đều theo chiều thẳng đúngcủa ống lường mỗi 10 phút trong vòng 1 giờ Để yên trong vòng 3 giờ ở nhiệt độphòng và đọc thể tích chiếm chỗ (tính bằng ml) của dược liệu bao gồm toàn bộ cácchất nhầy bám dính Tính chỉ số trương nở của mẫu thử từ kết quả trung bình của 3lần thí nghiệm
3.2 Yêu cầu
Xác định chỉ số trương nở của mẫu bột vỏ Bưởi (cân 1g, thêm 25ml nước) hoặc hạt
É (cân 0,5 g hạt không xay, thêm 50 ml nước)
Trang 25KIỂM NGHIỆM DƯỢC LIỆU CHỨA GLYCOSID
BÀI 4 DƯỢC LIỆU CHỨA GLYCOSID TIM
Mục tiêu
Sau khi thực hành, sinh viên phải:
- Chiết xuất và tinh khiết hóa được glycosid tim từ dược liệu để dùng cho địnhtính
- Xác định được glycosid tim trong dược liệu bằng các phản ứng hóa học đặc hiệu
I CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Glycosid là một nhóm hợp chất có cấu tạo đặc trưng và có tác dụng đặc hiệu trêntim theo quy tắc 3R của Potair Cấu tạo chung của glycosid tim gồm 2 phần:
- Phần đường: các đường thường gặp trong glycosid tim có thể là những đường
hexose và pentose thông thường (như glucose, rhamnose…) hay những đườngdesoxy thường gặp trong các glycosid tim (đường 2-desoxy, 2,6-desoxy hexose)
- Phần aglycon gồm có 2 phần:
+ Khung hydrocarbon có cấu trúc steroid (nhân androstan)
+ Vòng lacton 5 hay 6 cạnh gắn vào vị trí C17 (hướng β) của khung
Các phản ứng định tính glycosid tim chủ yếu được thực hiện trên phần đường desoxy và vòng lacton 5 cạnh
2 Phản ứng với phần đường 22 desoxy và nhân steroid được tiến hành trong môitrường acid
- Phản ứng với vòng lacton 5 cạnh thường được thực hiện trong môi trường kiềm.Thuốc thử cho các phản ứng này thường là các dẫn chất nitro thơm
Các glycosid tan được trong cồn, nước nóng; ít tan trong dung môi kém phân cực,tính tan của dạng aglycon thì ngược với tính tan của dạng glycosid
Trong định tính, có thể chiết glycosid tim bằng 2 phương pháp sau:
Trang 26A. Nguyên vật liệu thí nghiệm
1. Dung môi, hóa chất và thuốc thử
- Thuốc thử Keller – Kiliani
- Thuốc thử Raymond – Marthoud
2.2. Thuốc thử Keller – Kiliani
Dung dịch 1: 1 ml dung dịch FeCl3 5% trong 100 ml acid acetic đậm đặc
Dung dịch 2: 1 ml dung dịch FeCl3 5% trong 100 ml acid sulfuric đậm đặc
2.3. Thuốc thử Balijet
Trang 27Lấy 0.1 g acid picric hòa tan trong 25 ml cồn etylic 90%, cho thêm đủ 50 ml bằng một hỗn hợp gồm 5 g NaOH 15% và 70 ml nước, trộn đều (khi dùng mới pha).Cũng có thể sử dụng thuốc thử pha theo cách sau:
TT Baljet 1: dung dịch 0.2% acid picric trong cồn 90%
TT Bajet 2: dung dịch NaOH 1.5% trong nước
Khi sử dụng pha đồng lượng thuốc thử Baljet 1 và Baljet 2
Lưu ý: tất cả dụng cụ đều phải khô
3. Dược liệu
- Trúc đào (Folium Nerii) là lá cây trúc đào (Nerium oleander L., Apocynaceae)
- Đay (Semen Corchori) là hạt cây Đay quả dài (Corchorus olitorius L.,
Tiliaceae)
B Phương pháp tiến hành
1 Chiết xuất glycosid tim
1.1 Từ lá Trúc đào
Lấy 5g bột lá Trúc đào ngâm trong một erlen 100ml với 30ml ethanol 25% trong
24 giờ Sau đó đun nóng 5-10 phút (thỉnh thoảng lắc) trên bếp cách thủy sôi Gạnhay lọc dịch lọc vào 1 becher
Phần bã còn lại được chiết tiếp trên bếp cách thủy sôi như trên thêm 2 lần nữa, mỗilần với 15ml ethenol 25% Gộp chung các dịch lọc
Thêm vào dịch chiết 6ml dung dịch chì acetat 30%, khuấy kỹ, để lắng rồi gạn vàlọc qua giấy lọc Kiểm tra việc loại tạp bằng cách nhỏ thêm dung dịch chì acetat,nếu còn xuất hiện tủa thì phải cho thêm chì acetat và lọc lại
Thêm vào dịch lọc trên 6ml dung dịch natri sulfat 15%, khuấy kỹ, để lắng rồi gạn
và lọc lại qua giấy lọc (Kiểm tra việc loại chì acetat bằng 1 giọt natri sulfat)
Dịch lọc sau khi đã loại hết muối chì thừa được lắc với CHCl3 (10ml x 2 lần) trongmột bình lắng gạn Gộp chung các dịch CHCl3 và làm khan bằng bột Na2SO4 khan.Chia dịch CHCl3 thành 6 phần (5 ống nghiệm và 1 chén sứ) Bốc hơi CHCl3 trong
4 ống nghiệm trên cách thủy cho đến cắn khô (thực hiện trong tủ hốt) Dịch CHCl3
trong ống nghiệm thứ 5 được dùng ngay để làm phản ứng Liebermann-Burchard
Trang 28Dịch CHCl3 trong chén sứ được dùng để thực hiện phản ứng Raymond-Marthoud.
1.2 Từ hạt Đay
Lấy 5g bột hạt Đay cho vào erlen 100ml, thêm 30ml cồn 50% Đun nóng trên bếp
cách thủy trong khoảng 5 phút, thỉnh thoảng lắc đều Để nguội và lọc dịch chiết
qua bông vào một becher 100ml Tiếp tục chiết như trên thêm 2 lần nữa, mỗi lần
với 15ml cồn 50% và lọc nguội vào becher trên Cô dịch lọc còn ½ thể tích.
Dịch cô được lắc với CHCl3 (15ml x 2 lần) trong bình lắng gạn và tiến hành tiếp(chia thành 6 phần…) như trong phần dịch CHCl3 chiết từ lá Trúc đào
2.1.2 Phản ứng với thuốc thử xanthydrol
Thêm 5ml thuốc thử xanthydrol (bằng pipet khô) vào 1 ống nghiệm khô có chứacắn glycosid tim, khuấy kỹ cho tan cắn Đậy ống nghiệm bằng nút bông rồi nhúngvào một becher chứa nước nóng trong 3 phút, thỉnh thoảng quan sát
Phản ứng dương tính khi dung dịch có màu đỏ mận lan dần từ trên xuống.