1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Mô phôi YDK 2017

233 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mụn Học
Trường học Trường Đại Học Duy Tân
Chuyên ngành Bác Sĩ Đa Khoa
Thể loại Tập Bài Giảng
Năm xuất bản 2017
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 233
Dung lượng 15,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở mặt cắt song song với bề mặt tế bào: mỗi dãi lưới xơ này gắn liên tuc một vòng mặt trong màng bào tương cực ngọn mỗi tế bào Vòng dính là cấu trúc liên kết những lưới tận có trong bào t

Trang 2

PHỤ LỤC

BIỂU MÔ 3

MÔ LIÊN KẾT 11

MÔLIÊNKẾTCHÍNHTHỨC 11

MÔSỤN 17

MÔXƯƠNG 20

MÔ CƠ 29

MÔ THẦN KINH 37

HỆ THẦN KINH 45

GIÁC QUAN 52

A:THỊGIACQUAN 52

B.THÍNHGIÁCQUAN 63

HỆ TUẦN HOÀN 70

HỆ BẠCH HUYẾT - HỆ MIỄN DỊCH 80

HỆ TIÊU HÓA 90

HỆ HÔ HẤP 110

DA VÀ CÁC BỘ PHẬN PHỤ THUỘC DA 119

HỆ TIẾT NIỆU 126

Ệ NỘ T ẾT 139

HỆ SINH DỤC NAM 147

HỆ SINH DỤC NỮ 153

PHẦN 2: PHÔI THAI HỌC 160

SỰ TẠO GIAO TỬ 161

SỰ THỤ TINH VÀ LÀM TỔ 166

SỰ HÌNH THÀNH BẢN PHÔI 2 LÁ VÀ BẢN PHÔI 3 LÁ 172

SỰ BIỆT HÓA CỦA 3 LÁ PHÔI VÀ HÌNH DẠNG CỦA PHÔI 2 THÁNG 180

P ÁT TR ỂN CÁC BỘ P ẬN P Ụ CỦA P Ô T A NGƯỜ 189

DỊ TẬT BẨM SINH 200

SỰ ÌN T ÀN Ệ T M MẠC 203

SỰ ÌN T ÀN Ệ T ÊU HÓA 214

SỰ ÌN T ÀN Ệ T ẾT N ỆU - S N DỤC 222

Trang 3

Phần 1: MÔ HỌC BIỂU MÔ

Mục tiêu bài học:

1 Nêu được định nghĩa, nguồn gốc và chức năng biểu mô

2 Nêu được tính chất chung của biểu mô

3 Nêu được các nguyên tắc phân loại biểu mô

1 ĐẠ CƯƠNG

1.1.Định nghĩa

Biểu mô là loại mô được tạo thành bởi những tế bào hình đa diện nằm sát nhau

và gắn kết chặt chẽ với nhau, rất ít chất gian bào Biểu mô làm nhiệm vụ che phủ bề mặt cơ thể, lót các khoang cơ thể hoặc đảm nhiệm chức năng chế tiết

1.2.Nguồn gốc

Biểu mô có nguồn gốc từ cả 3 lá phôi:

- Ngoại bì bề mặt là nguồn gốc của biểu bì da, giác mạc, biểu mô của các khoang mũi miệng, hậu môn

- Nội bì là nguồn gốc của biểu mô hô hấp, ống tiêu hóa

- Trung bì là nguồn gốc của lớp nội mô lát mạch máu và mạch bạch huyết, biểu

mô các thanh mạc…

1.3.Chức năng

Biểu mô có những nhóm chức năng chính sau đây:

- Che phủ, giới hạn, tạo hàng rào bảo vệ

- Vận chuyển, hấp thu, bài xuất, chế tiết

- Thu nhận cảm giác

Để đảm nhiệm những nhiệm vụ nói trên tế bào biểu mô đã biệt hóa về cấu trúc phù hợp với những nhiệm vụ nhất định

2.NHỮNG TÍNH CHẤT CỦA BIỂU MÔ

2.1.Các tế bào tạo thành biểu mô nằm sát nhau

Dưới kính hiển vi quang học không quan sát được khoảng gian bào giữa các tế bào Dưới kính hiển vi điện tử, khoảng gian bào chỉ từ 15-20nm Ở một số biểu mô,

có nơi khoảng gian bào giãn rộng trở thành tiểu quản gian bào, lưu chuyển các chất gian giữa các lớp tế bào của biểu mô

2.2.Kích thước và hình dạng biểu mô

Khi ranh giới của tế bào không nhìn rõ thì hình dạng của nhân tế bào có thể cung cấp về hình dạng của tế bào

Trang 4

- Những tế bào khối vuông hay đa diện thường có nhân hình cầu

- Những tế bào dẹt thường có nhân hình thoi, dài

- Những tế bào hình trụ thường có nhân hình trứng, đứng thẳng

2.3.Sự phân cực của tế bào biểu mô

Người ta quy ước rằng phần bào tương trông về phía màng đáy gọi là cực đáy, còn phần bào tương ở phía trên gọi là cực ngọn Sự phân cực đó có liên quan với các chức năng của tế bào

2.4.Nuôi dưỡng và phân bố thần kinh ở biểu mô

Trong biểu mô không có mạch máu và mạch bạch huyết Nó được nuôi dưỡng nhờ những chất khuếch tán từ mô liên kết qua màng đáy vào biểu mô

Xen giữa các tế bào biểu mô có những tận cùng thần kinh, đó là những đầu thần kinh trần không có vỏ bọc, chia nhánh nhỏ, chạy trong khoảng gian bào, tiếp xúc với các tế bào biểu mô Ở một số biểu mô, đầu thần kinh cảm giác tiếp xúc với tế bào biểu mô đã biệt hóa thành tế bào cảm giác phụ

2.5.Màng đáy phân cách biểu mô với mô liên kết

Những tế bào biểu mô họp thành lớp và phân cách với mô liên kết sát bên dưới hay xung quanh bởi một màng gọi là màng đáy

Ở tiêu bản nhuộm thông thường (Hematoxyline eosin) khó nhận được màng đáy Nếu nhuộm PAS hay ngấm bạc, màng đáy thể hiện rõ ràng, nó là một màng mỏng liên tục dán chặt vào đáy biểu mô

2.6 Những hình thức liên kết và truyển thông tin đặc biệt ở mặt bên của tế bào biểu mô

2.6.1 Những cái mộng

Ở mặt bên của những tế bào biểu mô nằm cạnh nhau màng tế bào này lồi ra khớp với chỗ lõm của màng bào tương tế bào bên cạnh Đó là cấu trúc mộng, giúp tê bào liên kết với nhau

Hình 1: Cấu tạo của màng đáy

A Màng đáy của mao mạch Malpighi tiểu cầu thận B: Cấu trúc màng đáy của biểu mô và mô liên kết

Trang 5

2.6.2 Dải bịt

Ổ mặt bên ngay sát mặt tự do của tế bào

biểu mô có dải bịt Ở đây, lớp ngoài cùng của

màng bào tương hai tế bào cạnh nhau hòa nhập

lại một khoảng dài từ 0,1- 0,3 µm, trong khoảng

này có nơi còn thấy khoảng gian bào hẹp

Dải bịt lấp kín phần ngọn khoảng gian

bào quanh các tế bào biểu mô, không cho các

chất vào khảng gian bào phía dưới

2.6.3 Vòng dính (Zonula adherens)

Dưới kính hiển vi điện tử, vòng dính được

mô tả như sau: Ở mặt cắt thẳng góc với bề mặt

tế bào ngay sát dưới dải bịt khoáng gian bào

rộng khoảng 20cm, có mật độ điện tử thấp; tại

đây, màt trong màng bào tương mỗi tế bào có

một dải xơ lưới mảnh gắn vào Ở mặt cắt song

song với bề mặt tế bào: mỗi dãi lưới xơ này

gắn liên tuc một vòng mặt trong màng bào tương cực ngọn mỗi tế bào

Vòng dính là cấu trúc liên kết những lưới tận có trong bào tương cực ngọn những tế bào biểu mô

2.6.4 Thể liên kết (Deamosomes)

Không như dải bịt và vòng dính váy quanh toàn bộ mặt bên tế bào, thể liên kết giống như những “mối hàn" liên kết từng điểm của hai màng bào tương cạnh

Trang 6

nhau Chúng kết nối các xơ trương lực của tế bào này với các xơ trương lực của tế bào bên cạnh (xơ trương lực là loại xơ trung gian có đường kính khoảng 10nm)

Thể liên kết là một cấu trúc phức tạp hình đĩa, khoảng gian bào ở đây thường lớn hơn30nm Ở trong bào tương của mỗi tế bào biểu mô, hình thành một tấm gắn (attachement plaque), ít nhất có 12 loại protein tham gia vào cấu tạo tấm gắn Từ tấm gắn này sẽ xuất phát sợi tơ trương lực chạy sâu vào trong bào tương của tế bào, một

số sợi khác chạy xuyên qua màng tế bào vào khoảng gian bào ( 30nm) và đến gắn với tấm gắn của tế bào biểu mô kế cận

2.6.5 Liên kết khe

Tại liên kết khe có những đơn vị kết nối hình ống chạy xuyên qua khoảng gian bào hẹp (2nm) hai đầu mở vào bào tương mỗi tế bào Liên kết khe là cấu trúc liên kết và truyền thông tin ở mặt bên cùa một số loại tế bào biểu mô, hay ở một vài

mô trong cơ thể người như mỏm mô thần kinh Sự truyền thông tin giữa hai tế bào tại liên kết khe theo cơ chế hoạt động của synap điện

3 PHÂN LOẠI BIỂU MÔ

Dựa vào chức năng và cấu trúc người ta chia biểu mô làm hai loại là biểu mô phủ và biểu mô tuyến

3.1 Biểu mô phủ

Biểu mô phủ có nhiệm vụ phủ mặt ngoài hoặc lót mặt trong của cơ thể Dựa vào số hàng tế bào kể từ màng đáy và hình dạng tế bào ở lớp trên cùng mà người ta chia biểu mô phủ ra làm 8 loại chính:

Hình 4: Biểu mô phủ đơn

Trang 7

3.1.1 Biểu mô lát đơn

Ðó là loại biểu mô được lót bởi một hàng tế bào mỏng, trung tâm tế bào chứa 1 nhân hơi lồi vào lòng khoang Biểu mô này thường lót cho màng bụng, màng phổi, mặt trong của thành tai trong, mặt trong của màng nhĩ

3.1.2 Biểu mô vuông đơn

Tạo thành bởi 1 hàng khối vuông nằm trên màng đáy, nhân tròn, nằm giữa tế bào Ðó là trường hợp của biểu mô sắc tố võng mạc

3.1.3 Biểu mô trụ đơn

Gồm một hàng tế bào hình trụ nhân nằm ở đáy biểu mô, lót cho phần lớn ống tiêu hoà từ dạ dày đến ruột già

3.1.4 Biểu mô lát tầng

Có nhiều hàng tế bào kể từ màng đáy, hàng trên cùng dẹp Người ta chia làm 2 loại biểu mô lát tầng dẹp:

- Biểu mô lát tầng kiểu Malpighi: hàng tế bào trên cùng dẹp, còn có nhân Ðó

là biểu mô lót cho niêm mạc miệng, thực quản, ống ngoài hậu môn, âm đạo

- Biểu mô lát tầng sừng hoá: lớp tế bào trên cùng mất nhân, bào tương tẩm nhuộm Keratohyaline và biến thành các lá mỏng Ðó là trường hợp biểu mô phủ của

da

Hình 5: Biểu mô phủ tầng

Trang 8

3.1.5 Biểu mô vuông tầng

Có nhiều hàng tế bào, hàng trên cùng có hình khối vuông Ðó là trường hợp

biểu mô lót cho võng mạc thể mi

3.1.6 Biểu mô trụ tầng

Có nhiều hàng tế bào, hàng trên cùng có hình trụ Ðó là trường hợp biểu mô màng tiếp hợp mi mắt, biểu mô niệu đạo đoạn tiền liệt

3.1.7 Biểu mô trụ giả tầng

Có hình trụ, tất cả đều có chân đứng trên màng đáy, nhưng vì sự phân bố không đồng đều nên cho hình ảnh của nhiều hàng tế bào Ðó là trường hợp biểu mô lót đường dẫn khí của hệ hô hấp, ống Eustache

3.1.8 Biểu mô chuyển tiếp

Nhiều hàng tế bào, hàng tế bào trên cùng thay đổi hình dạng có thể từ dạng dẹt sang hình đa diện, khối vuông Ðó là biểu mô lót cho bàng quang, sự thay đổi này

là do lớp biểu mô trên cùng ngoài việc chịu sức ép của sức căng còn chịu sự thay đổi liên tục do sự thay đổi nồng độ nước tiểu

3.2 Biểu mô tuyến

3.2.1.Dựa vào cách chế tiết: người ta chia biểu mô tuyến ra làm 3 loại:

3.2.1.1 Tuyến toàn vẹn ( merocrine)

Sản phẩm chế tiết đi ra ngoài màng tế bào, tế bào còn nguyên vẹn Ðó là trường hợp của tuyến nước bọt, tuyến mồ hôi, tuyến tuỵ

3.2.1.2 Tuyến bán huỷ ( apocrine)

Sản phẩm chế tiết được đưa ra khỏi tế bào cùng với cực ngọn của tế bào Ðó là trường hợp của tuyến sữa, phần cực ngọn sẽ được hồi phục nhanh chóng và tái tạo lại phần sẽ tiếp tục được chế tiết

3.2.1.3 Tuyến toàn huỷ ( holocrine)

Toàn bộ tế bào được chế tiết vào lòng tuyến Ðó là trường hợp của tuyến bã

3.2.2 Dựa vào số lượng tế bào tham gia vào quá trình chế tiết: người ta chia biểu mô tuyến thành 2 loại:

3.2.2.1 Tuyến đơn bào

Chỉ có một tế bào chế tiết Ðó là trường hợp tế bào hình đài tiết nhầy

3.2.2.2 Tuyến đa bào

Nhiều tế bào cùng tham gia chế tiết, phần lớn tuyến trong cơ thể thuộc loại tuyến đa bào

Trang 9

3.2.3 Dựa vào vị trí nhận sản phẩm đầu tiên người ta chia làm 2 loại tuyến:

3.2.3.1 Tuyến ngoại tiết

Sản phẩm bài tiết được đổ ra ngoài hoặc vào các khoang tự nhiên của cơ thể

Ðó là trường hợp tuyến sữa, tuyến mồ hôi, tuyến nước bọt, tuyến bã Trong loại tuyến này có 2 phần:

- Phần chế tiết: là nơi sản phẩm bài tiết được tổng hợp và chế tiết, theo đặc điểm chế tiết c thể có những dạng:

+ Hình túi: phần chế tiết phình rộng gọi là nang, các tế bào chế tiết đứng trên màng đáy Các nang thường đổ vào các ống nhỏ, các ống nhỏ đổ vào ống lớn tạo thành tuyến kiểu chùm nho (tuyến nước bọt, tuyến tuỵ ngoại) hoặc đổ chung vào 1 ống bài xuất đơn (tuyến bã)

+ Hình ống: phần chế tiết tạo thành ống: tuyến mồ hôi, tuyến lieberkulin của ruột

+ Hình ống túi: phần chế tiết có đoạn phình ra thành túi, đoạn hẹp lại thành ống Ðó là trường hợp của tuyến tiền liệt 1.7 Biểu mô trụ giả tầng

- Phần bài xuất: Là những ống dẫn các chất tiết đổ vào các khoang tự nhiên hoặc mặt ngoài của cơ thể

Hình 7: Tuyến ngoại tiết kiểu ống Hình 6: Tuyến ngoại tiết kiểu túi

Trang 10

3.2.3.2 Tuyến nội tiết

Sản phẩm bài tiết được đổ trực tiếp vào máu qua khoảng gian bào của mô liên kết, không qua ống dẫn

Theo cấu tạo hình thái có thể chia làm 3 loại:

- Tuyến kiểu lưới: các tế bào tuyến tạo thành những dây tế bào nối với nhau chạy theo nhiều hướng tạo thành lưới, các lưới tế bào nằm giữa một hệ thống mao mạch rất phát triển Ða số tuyến nội tiết thuộc loại tuyến kiểu lưới: thuỳ trước tuyến yên, tuyến thượng thận, tuyến cận giáp

- Tuyến kiểu túi: các tế bào tuyến họp lại thành những nang kín đứng trên màng đáy, lòng tuyến chứa sản phẩm dự trữ của tuyến Chỉ có tuyến giáp trạng có kiểu này

- Tuyến tản mác: các tế bào tuyến nằm rải rác hoặc tụ tập lại thành đám giữa một hệ thống mao mạch phát triển Ðó là trường hợp tuyến kẽ của tinh hoàn

BÀI TẬP:

1: Biểu mô hô hấp, ống tiêu hóa có nguồn gốc từ:

2: Trong biểu mô:

A Không có mạch máu và mạch bạch huyết

B Có mạch máu nhỏ, đường kính 0,8µm

C Có mạch máu nhỏ, đường kính 0,1µm

D Có mạch bạch huyết nhưng không có mạch máu

3: Biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển lợp các cơ quan, NGOẠI TRỪ:

A Phần lớn đường dẫn không khí của bộ máy hô hấp

B Vòi Eustache

C Túi lệ

D Thực quản

4: Biểu mô KHÔNG CÓ đặc điểm nào sau đây:

A Tế bào đứng sát nhau B Không có mạch máu

C Có nhiều thể liên kết D Chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ mà thôi 5: Biểu mô KHÔNG THỂ phân loại dựa trên tiêu chuẩn nào sau đây:

A Nguồn gốc phôi thai B Hình dạng tế bào

6: Biểu mô thực quản là:

A Biểu mô trụ giả tầng B Biểu mô lát tầng không sừng

C Biểu mô lát tầng có sừng D Biêu mô chuyển tiếp

Trang 11

MÔ LIÊN KẾT

Mục tiêu học tập

1 Trình bày được cấu trúc và chức năng mô liên kết

2 Phân loại được mô liên kết

3 Mô tả được cấu trúc các sợi liên kết và các tế bào liên kết

ĐẠ CƯƠNG

Mô liên kết là loại mô phổ biến nhất, có ở hầu khắp các bộ phận của cơ thể, xen giữa các mô khác giúp chúng gắn bó với nhau Mô liên kết có nguồn gốc từ lá thai giữa, tức là từ trung mô

Trong cơ thể có nhiều loại mô liên kết, đều được tạo thành bởi:

- Thành phần gian bào gồm: phần lỏng gọi là dịch mô, phần đặc hơn là chất căn bản

- Các sợi liên kết vùi trong chất căn bản

- Các tế bào liên kết nằm rải rác trong thành phần gian bào

Căn cứ vào sự khác nhau của chất căn bản, người ta phân mô liên kết thành 3 loại:

- Mô liên kết chính thức: mật độ mềm và có mặt mọi nơi trên cơ thể

- Mô sụn: chất căn bản nhiễm cartilagein (chất sụn) mật độ rắn vừa phải

- Mô xương: chất căn bản nhiễm ossein và muối canxi, mật độ rắn

MÔ LIÊN KẾT CHÍNH THỨC

Mô liên kết chính thức là loại mô có tính đặc trưng và chất căn bản ở thể vô định hình, đồng nhất, trong suốt làm nền cho tế bào với các phân tử sợi có tính chất là một dạng nhờn ở giữa 2 trạng thái là sol và gel với hàm lượng nước và chất điên giải tương đương với máu

Những tế bào trong mô liên kết chính thức phân bố đều trong chất căn bản, những phân tử sợi chiếm đa số là sợi tạo keo (sợi collagen), đa số lớp đệm của niêm mạc ống tiêu hóa, của khí quản, mô dưới da đều có cấu tạo mô liên kết chính thức

1 CHẤT CĂN BẢN

Chất căn bản mô liên kết chính thức là một chất vô định hình, đồng nhất, trong suốt, làm nền cho tế bào với các phân tử sợi, có tính nhờn với hàm lượng nước và chất điện giải tương đương với máu, được hình thành bởi 2 loại protein chính: glycoaminoglycans và glycoprotein cấu trúc

Trang 12

1.1.Glycosaminoglycans

Là những chuỗi Polysaccharide

được tạo với sự đa trùng hợp của

những đơn vị disaccharide gắn với

acid uronic và nhóm hexosamine,

những nhóm đa đường này thường

gắn với protein bởi những nối

đồng hoá trị (covalent) để tạo

những phân tử proteoglycan, các

protein hoà tan này thường là

dermatan sulfate, chondroitin

sulfate, keratan sulfate, heparan

sulfate

- Dermatan sulfate phần lớn

ở da, gân, dây chằng, sụn xơ, tất cả

cấu trúc này chứa collagene type I

- Chondroitin sulfate có

nhiều ở sụn trong và sụn đàn hồi

- Heparan sulfate có khuynh

hướng kết hợp với sợi võng và

Collagene type III Những

proteoglycan này làm cho chất căn

bản ở trạng thái nửa sol nửa gel

Ðúng tính chất của sợi là không màu nhưng vì sự sắp xếp cuả chúng cho nên gần dây chằng có màu trắng ngà trong lúc giác mạc mắt trong suốt.Dưới hiển vi điện tử,sợi xuất hiện dưới dạng những sợi nhỏ hợp nhau thành bó, với những băng sáng

và băng tối chạy ngang, đều đặn một cách chu kỳ, chu kỳ là 640

Lúc đầu người ta không biết vì sao sợi lại có hình ảnh này, cho mãi đến năm

1950, Groos, Schmit và Highberger mới tìm cách tách các protein từ gian bào chất cuả mô liên kết đang phát triển (non) một loại protein hình gậy có chiều dài chừng 30nm, đường kính 1,4 nm Protein này hoà tan trong nước muối sinh lý ở nhiệt độ lạnh và chúng có khuynh hướng kết hợp thành sợi ở nhiệt độ của cơ thể, các sợi này có hình ảnh rất giống sợi collagene khi quan sát bằng hiển vi điện tử

GAG gồm những đơn vị disaccharide liên kết với lối protein để tạo thành proteoglycan (Hình trên) GAG gắn với hyaluronic acid với sự trợ giúp của những protein liên kết để tạo tổ hợp proteoglycan

(Hình dưới)

Trang 13

Hodge và Petruska đã giải thích sự hình thành của sợi collagene một cách đầy

đủ nhất, các protein hình gậy ở trên chính là tropocollagene - một đơn vị protein cơ bản để tạo nên sợi collagene, trong gian bào chất các tropocollagene sắp xếp theo một trình tự nghiêm ngặt để tạo nên sợi collagene, quá trình này thường được mệnh danh là đa trùng hợp Những protein này sắp xếp song song, những sợi tropocollagene ở cùng một hàng cách nhau khoảng 0,6D, sợi trên và sợi dưới chênh nhau 0,4D, chiều dài tropocollagene được tính bằng 4,4D, D = 67nm Chính sự sắp xếp này đã tạo nên các ô lỗ lưới Khi sử dụng osmium để cố định đồng thời cũng là thuốc "nhuộm" trong kỹ thuật hiển vi điện tử, các muối osmium đã bị tẩm vào các

ô này, do đó trên hiển vi điện tử sợi có band sáng và band tối có chu kỳ

Tropocollagene là một protein phức tạp được hình thành do sự xoắn lại của

3 sợi polypeptide dưới dạng (helic, mỗi sợi polypeptide được gọi là: sợi (polypeptide Sợi (collagene là một trong những polypeptide dài nhất đã được biết có chừng 1050 acide amine, trọng lượng phân tử 100000

2.2 Sợi đàn hồi: cho màu nâu đỏ với thuốc nhuộm resorcin-fuchsin là những sợi

mảnh phân nhánh, có tính đàn hồi, là thành phần cấu tạo giữ chức năng đàn hồi cho 1

số cơ quan (phổi, động mạch)

Sợi được tạo nên bởi 2 thành phần: thành phần vô định hình(Elastin) nằm

ở giữa, bao quanh là những ống vi sợi có đường kính 14nm, trong quá trình hình thành sợi đàn hồi, người ta thấy những ống vi sợi được hình thành trước Thành phần

vô định hình elastin dần dần được tích luỹ cho đến khi chúng chiếm toàn bộ phần trung tâm Elastin được tạo ra từ tế bào sợi, tế bào cơ trơn dưới dạng proelastin là

1 glycoprotein dạng keo Thành phần acide amine của elastin gần giống thành phần acide amine của sợi collagene nhưng nhiều glycin và prolin hơn Ngoài ra elastin còn chứa desmosine và isodesmosine làm cho protein ở dạng keo

2.3 Sợi võng:

Là những sợi rất mảnh, với phương pháp nhuộm thông thường những sợi này không bắt màu, với phương pháp nhuộm ngấm bạc sợi có màu nâu hoặc đen, sợi cho phản ứng PAS dương tính, sở dĩ sợi có phản ứng với 2 loại thuốc nhuộm trên là

Hình 2: Sợi collagen và sợi chun Hình 3: Sợi võng

Trang 14

do thành phần glycoprotein của nó Sợi được tạo thành bởi các procollagene type III Sợi thường ở dạng lưới làm thành khoang cho các cơ quan (lách, hạch, mô thần kinh)

3 NHỮNG TẾ BÀO LIÊN KẾT:

Những tế bào liên kết có thể cố định hoặc di động tạo thành một hệ thống trong biểu mô, giữ nhiệm vụ bảo vệ cơ thể, kiểm tra tế bào lạ (tế bào ung thư, vi khuẩn, virus), cung cấp năng lượng dự trữ, có thể cho đây là một hệ thống vừa chiến đấu vừa hậu thuẫn cho cơ thể

3.1 Tế bào sợi: là tế bào phổ biến của mô liên kết, gồm 2 loại có hình thái khác nhau:

- Tế bào sợi non: tế bào thường biến dạng với nhiều nhánh bào tương, nhân lớn, hình trứng, ít bắt màu thuốc nhuộm, sợi nhiễm sắc mảnh, hạt nhân lớn Bào tương chứa lưới nội bào có hạt và bộ Golgi phát triển

- Tế bào sợi: là những tế bào nhỏ hình thoi, nhân hình gậy, sẫm màu, lưới nội bào, bộ Golgi ít phát triển

Tế bào sợi có nhiệm vụ tổng hợp collagene và các glycosaminoglycan, chất căn bản Ở người lớn, tế bào sợi ít phân chia, hình ảnh gián phân thường được quan sát ở

mô liên kết bị tổn thương

3.2 Ðại thực bào: những tế bào này thường được khám phá đầu tiên bởi tính thực

bào của chúng, khi những thuốc nhuộm sống được đưa vào cơ thể, những tế bào này thực bào và tích luỹ những sản phẩm này trong các túi có thể quan sát được bằng hiển

vi quang học Ðại thực bào có nguồn gốc từ tế bào gốc ở tuỷ xương(monocyte) nhưng monocyte này di cư vào mô liên kết , ở đây chúng biệt hoá trưởng thành và được gọi

là đại thực bào Hình dạng của đại thực bào rất biến thiên, thường chúng có những nhánh bào tương trải rộng, bào tương chứa nhiều tiêu thể, bộ Golgi phát triển Ðại thực bào có đời sống khá lâu, có thể tồn tại nhiều tháng trong mô liên kết, khi bị kích thích hình dạng thường thay đổi, chúng có thể biến thành tế bào bán liên, tế bào khổng lồ đa nhân

3.3 Dưỡng bào: (tế bào bón) thường có hình trứng hay hình cầu, đường kính từ 30m, nhân nhỏ hình cầu, thường được che mờ bởi các hạt bào tương.Danh từ mast do

20-Erhlich đề xuất là một sai lầm, 20-Erhlich cho rằng những hạt tế bào bón là do tế bào lấy

từ gian bào Dưới kính hiển vi điện tử cho thấy tế bào bón có ít ty thể hình cầu Hệ thống lưới nội bào có hạt ít phát triển, nhưng bộ Golgi rất phát triển Những hạt dị sắc

có đường kính từ 0,3-0,5 µm, dưới kính hiển vi điện tử những hạt này có dạng đồng nhất ở chuột, ở người mang những vòng đồng tâm

Thành phần chứa trong những hạt này là Histamine, Proteases trung tính, yếu

tố hoá hướng bạch cầu của acide(ECFA) Ngoài ra dưỡng bào còn tạo ra leucotrienes khi màng tế bào bị huỷ (SRS.A), ít nhất có 2 loại dưỡng bào:

- Nhóm được gọi là dưỡng bào ở mô liên kết: ở những tế bào này những hạt dị sắc có proteoglycan là heparin

Trang 15

- Nhóm được gọi là dưỡng bào niêm mạc: hạt dị sắc chứa chondroitin sulfate, dưỡng bào phân bố rộng rãi khắp cơ thể nhưng nhiều nhất ở da, ống tiêu hoá, đường hô hấp

Vai trò của dưỡng bào được xem như là 1 tế bào bán nội tiết, có nhiệm vụ điều hoà, biến dưỡng mô, huyết lưu ở mao mạch và chịu trách nhiệm trong các shock phản vệ

3.4 Tương bào: tương bào ít hiện diện trong mô liên kết, có nhiều ở nơi xâm nhập

của vi trùng và protein lạ( niêm mạc ruột) hoặc thương tổn viêm mãn tính

Là những tế bào hình trứng, bào tương ưa base Hệ thống lưới nội bào có hạt rất phát triển Bộ máy Golgi và trung thể chiếm 1 vùng khá lớn tạo thành 1 hình ảnh nhạt trong bào tương Nhân hình cầu với các hạt nhiễm sắc phân phối đều cho hình ảnh "mặt đồng hồ" Tương bào có nhiệm vụ tạo ra kháng thể thể dịch cho cơ thể

3.5 Bạch cầu: Bạch cầu là những tế bào có nguồn gốc từ tuỷ xương Chúng thường ở trong hệ tuần hoàn, nhưng thường xuyên xuyên mạch để vào mô liên kết,

nhất là trong những trường hợp viêm nhiễm Dựa vào các hạt trong bào tương, người

ta thường chia bạch cầu ra làm: bạch cầu hạt và bạch cầu không hạt

- Bạch cầu hạt:

+ Bạch cầu ưa acide: chứa những hạt ưa acide trong bào tương Kính hiển vi điện tử cho thấy hạt có màng sinh học cơ bản bao bọc Những hạt này chứa nhiều Aryl sulfatase, histamine Bạch cầu ưa acide giữ nhiệm vụ thực bào phức hợp kháng nguyên kháng thể và đóng vai trò hồi dưỡng âm trong phản ứng dị ứng

+ Bạch cầu ưa base: bạch cầu này chứa nhũng hạt có thành phần giống những hạt trong bào tương, dưỡng bào Nó là nguồn cung cấp Histamine chính cho máu Những tế bào này chịu phần nào trách nhiệm phản ứng dị ứng

- Bạch cầu không hạt

Hình 4: Dưỡng bào, nguyên bào sợi Hình 5: Mô mỡ

Trang 16

6 Tế bào mỡ: tế bào mỡ thường có hình cầu, các tế bào hợp nhau thành từng đám

tạo nên tiểu thuỳ mỡ Người ta thường phân biệt tế bào mỡ vàng và nâu:

- Ở tế bào mỡ vàng: các hạt lipid sau khi được tổng hợp được tích luỹ trong các hạt mỡ, càng ngày các hạt này càng lớn và có khuynh hướng sáp nhập lại thành 1 khối lớn đẩy nhân nằm sát bào tương

- Ở các tế bào mỡ nâu: các hạt mỡ nằm riêng rẽ ở giữa 1 hệ thống ty thể rất phát triển Nhân nằm ở giữa, tế bào mỡ nâu có nhiều ở trẻ sơ sinh, phân bố ở một số vùng nhất định ở cơ thể trưởng thành

Tế bào mỡ là nguồn dự trữ năng lượng lớn nhất của cơ thể, tế bào mỡ thường

là những tế bào rất hoạt động Lượng mỡ trong tế bào luôn luôn được đổi mới Quá trình biến dưỡng mỡ chịu sự chi phối của nhiều kích thích tố: growth hormone, glucose corticoides, prostaglandin, corticotropin, insulin, thyoroxin, cũng như thần kinh qua trung gian Epinephine

Trang 17

MÔ SỤN

1 ĐẠ CƯƠNG

Mô sụn là một dạng mô liên kết, được tạo thành bởi những tế bào có tên là những tế bào sụn và những sợi vây quanh, vùi trong một cái nền gelatin vô hình Cái nền này thực chất là chất căn bản đã nhiễm chất cartilagein (chất sụn), một hợp chất của protein acid chondroitin sulfuric, do đó có độ cứng rắn vừa phải đủ để đáp ứng yêu cầu chống đỡ

Khác với các mô liên kết khác, trong mô sụn không có mạch máu và thần kinh riêng Những thuộc tính keo của chất nền có ý nghĩa quan trọng đôi với sự dinh dưỡng của các tế bào và có vai trò đặc biệt trong sự cứng rắn, vững chắc và chun dãn của mô sụn

Khi đã ra đời, trong cơ thể ngươi, mô sụn vẫn tiếp tục thực hiện vai trò cần thiết trong sự phát triển dài ra, to ra, lớn lên của các xươnag dài và các xương khác Đến tuổi trưởng thành, mô sụn chỉ còn tồn tại ở mặt khớp xương dài và một sô nơi khác trong cơ thể

Tùy theo sự có mặt của những thành phần sợi có trong chất nền của sụn, người

ta phân mô sụn thành ba loại; sụn trong, sụn xơ và sụn chun

2 SỤN TRONG

Ớ phôi thai có nhiều sụn trong Nhưng ở người đã trưởng thành, chỉ còn gặp

sụn trong ở một số nơi: ở đầu các xương dài, xương sườn, ở khí quản, thanh quản, phế quản, ở mặt các khớp xương Sụn trong hơi có tính chun dãn, có màu trắng sữa, hơi

Thành phần hữu cơ chủ yếu gồm: Collagen (typ II) 40% trọng lượng khô, những proteoglycan hình thành do sự gắn kết GAG với các lõi protein Hàng trăm phân tử proteoglycan lại liên kết với các phân tử hyaluronic acid để tạo tổ hợp phân tử proteoglycan liên kết với collagen Thành phần quan trọng khác làglycoprotein chondronectin – là đại phân tử hoạt hóa sự gắn kết của tế bào sụn với chất căn bản

Chất căn bản sụn xung quanh ổ sụn giàu GAG nhưng nghèo collagen được gọi

là cầu sụn, bắt màu base đậm, PAS (+)

Mô sụn không có mạch máu và thần kinh nên các tế bào được dinh dưỡng bằng các chất khuếch tán từ màng sụn

Trang 18

2.2 Tế bào sụn

Vùng ngoại vi của mô sụn, tế bào sụn chưa trưởng thành, hình trứng, trục dài tế bào song song với bề mặt miếng sụn Vùng trong tế bào hình cầu, đường kính khoảng 10- 30µm, có thể đứng thành nhóm tới 8 tế bào Tế bào sụn nằm trong các hốc nhỏ của chất căn bản gọi là ổ sụn Ổ sụn có thể chứa một hoặc một số tế bào sụn, các tế

bào nằm trong cùng một ổ sụn được gọi là các tế bào cùng dòng

Tế bào hình cầu hoặc hình trứng, có mộtnhân hình cầu, trong bào tương chứa

bộ Golgi, lưới nội bào hạt, ty thể Tế bào sụn tổng hợp và chế tiết chất gian bào sụn: collagen typ II, những proteoglycan và chondronectin

- Lớp trong (lớp sinh sụn) có nhiều tế bào sợi, nhiều tế bào tiền thân có khả

năng sinh sảnvà có khả năng biến thành tế bào sụn Lớp này đảm bảo sự phát triến của miếng sụn bằng cách đắp thêm

2.4 Sự phát triển của sụn

Sau khi được hình thành, có màng sụn học ngoài, miếng sụn tiếp tục phát triển,

nở ra theo chiều dài và chiều rộng bằng hai cách:

Cách đắp thêm: Các tế bào thuộc lớp trong của màng sụn, sinh sản, biệt hoá thành tê bào sụn, đắp thêm những lớp sụn mới vào miếng sụn đã có từ trước, miếng sụn ngày càng to thêm

Cách gian bào: Các tế bào sụn sinh sản bằng gián phân Những phân chia nối tiếp từ một tế bào mẹ sẽ tạo ra những tế bào con cùng dòng nắm chung trong một sụn Tuỳ theo hướng của các mặt phân chia nôi tiếp sẽ tạo ra những đám tế bào sụn cùng dòng kiểu vòng hay kiểu trục

Hình 6: Sự phát triển của sụn theo cách gian bào: A:Kiểu trục B: Kiểu vòng

Trang 19

Tế bào phân chia sinh ra những nhóm tế bắo cùng dòng kiểu vòng làm cho sụn

nỏ to ra Còn các nhóm tế bào cùng dòng kiểu trục làm cho miếng sụn phát triển theo chiều dài, làm miếng sụn dài ra

Tế bào sụn hình cầu, nằm trong ổ sụn Trong một ổ sụn có một tế bào hay một nhóm nhóm 2-4 tế bào cùng dòng

4 SỤN XƠ

Có ở 1 số ít vùng của mô liên kết: đĩa gian đốt sống, ở một số sụn khớp, chỗ nối gân với xương Thành phần sợi chiếm nhiều, chủ yếu là các bó sợi collagen typ I chạy theo các hướng Chất căn bản ít, khó quan sát, trừ vùng sát ngay xung quanh các

Trang 20

MÔ XƯƠNG

Mô xương là hình thái thích nghi đặc biệt của mô liên kết Mô xương khác với

mô liên kết khác ở chỗ các thành phần ngoài tế bào bị canxi hóa làm cho chất căn bản trở nên rất cứng rắn, rất chắc Nhiệm vụ của mô xương là tạo bộ khung chống đỡ và đóng vai trò quan trọng trong hoạt động chuyển hóa canxi của cơ thể

1 CẤU TẠO

1.1 Chất nền xương (chất gian bào xương)

Chất nền xương gồm: chất căn bản và các sợi liên kết vùi trong chất căn bản Dưới kính hiển vi quang học, chất căn bản xương mịn, không có cấu trúc, ưa màu acid, tạo thành những lá xương gắn với nhau Vùi trong chất căn bản là những sợi collagen và những hốc nhỏ được gọi là ổ xương, các ổ xương được nối thông với nhau bởi những ống nhỏ gọi là vi quản xương

Chất nền xương được cấu tạo bởi:

- Thành phần vô cơ: 70 - 75% trọng lượng khô chất căn bản xương, trong đó nhiều nhất là muối calci và phospho dưới dạng tinh thể hydroxyapatit

- Thành phần hữu cơ chiếm 25 - 30% trọng lượng khô Collagen chiếm 90-95% các chất hữu cơ ở dạng sợi, bó sợi hoặc phân tán, chủ yếu là collagen type I và các Glycosaminoglycans kết hợp với các proteins, ngoài ra có một số glycoprotein đặc hiệu: Sialoprotein, osteocalcin liên kết mạnh với ion calci

Tạo cốt bào xuất hiện ở nơi nào có sự tạo xương Nhiệm vụ của tạo cốt bào tổng hợp thành phần hữu cơ của chất căn bản, gián tiếp làm lắng đọng muối calci trên chất căn bản và tự vùi mình vào đó để trở thành tế bào xương

1.2.2 Tế bào xương (cốt bào)

Tế bào xương nằm trong các ổ xương trong chất căn bản xương Tế bào xương

có hình sao, có nhiều nhánh bào tương dài nối với nhau Thân tế bào nằm trong ổ xương, các nhánh bào tương nằm trong các vi quản xương Các vi quản xương nối thông các ổ xương với nhau, là con đường vận chuyển các chất dinh dưỡng và

Trang 21

oxygen đến cung cấp cho các tế bào xương Nhân tế bào hình trứng Bào tương chứa nhiều riboxom, lưới nội bào hạt, bộ golgy, hạt glycogen

Cốt bào không có khả năng phân chia nhưng có vai trò trong việc duy trì chất nền xương Sự chết của tế bào xương dẫn đến sự hấp thụ chất nền xương xung quanh

1.2.3 Huỷ cốt bào

Hủy cốt bào có kích thước lớn, có nhiều nhân, xuất hiện ở những vùng xương hoặc sụn đang bị phá huỷ Nhân hình cầu, bào tương ưa acid và chứa nhiều tiêu thể (lysosomes), nhiều không bào, ty thể và bộ golgy phát triển Ở phía tiếp xúc với sụn hoặc xương đang bị phá huỷ, bề mặt tế bào có nhiều vi nhung mao ăn sâu vào chất căn bản xương

Hủy cố bào có vai trò tiêu huỷ xương hoặc sụn Huỷ cốt bào chế tiết acid, enzym collagenase và một số enzym ly giải protein khác để tiêu huỷ chất căn bản xương, giải phóng các muối khoáng

1.3 Màng xương

Màng xương là màng liên kết bọc ngoài xương, gồm 2 lớp:

- Lớp ngoài: Ðược tạo bởi những bó sợi collagen, ít sợi chun, tế bào sợi và chứa nhiều mạch

- Lớp trong: Dán sát vào xương, lớp này được cấu tạo bởi những sợi collagen hình cung xâm nhập vào chất nền xương, liên kết màng xương với xương gọi là sợi Sharpey và những tế bào sợi, những tiền tạo cốt bào là tiền thân của tạo cốt bào Lớp trong của màng xương được gọi là lớp tạo xương

đa nhân, tế bào nhân khổng lồ, bạch cầu đơn nhân

- Tuỷ mỡ: Màu vàng, cấu tạo bởi tế bào mỡ xen lẫn với các đại thực bào, tế bào trung

mô kém biệt hoá, tế bào lưới

- Tuỷ xơ: Màu xám, được cấu tạo chủ yếu bởi các tế bào sợi và các sợi collagen

2 PHÂN LOẠ XƯƠNG

Căn cứ vào nguồn gốc tạo xương, xương được chia làm 2 loại:

Trang 22

- Xương cốt mạc: là xương do màng xương tạo ra

- Xương havers: là xương do tuỷ tạo cốt tạo ra, gồm xương havers đặc và xương havers xốp

Căn cứ vào cấu tạo, có 2 loại xương:

- Xương đặc: gồm xương havers đặc, xương cốt mạc

- Xương xốp

2.1 Xương cốt mạc

Tế bào thuộc lớp trong màng xương sinh sản và biệt hoá tạo thành các tạo cốt bào, tạo cốt bào tổng hợp và chế tiết chất căn bản xương rồi vùi mình trong chất căn bản xương đã nhiễm canci và lá xương cốt mạc được tạo thành Các lá xương cốt mạc nằm sát nhau và được tạo thành từ trong ra ngoài làm cho xương phát triển theo chiều rộng

2.3 Xương haver xốp

Hình 10: Cấu tạo xương Havers đặc

Trang 23

Xương haver xốp là loại xương cấu tạo nên đầu các xương dài, xương dẹt và xương ngắn

Xương haver xốp được cấu tạo bởi những vách xương, xen giữa các vách xương là những hốc lớn chứa tuỷ xương gọi là hốc tuỷ Mỗi vách xương được tạo thành bởi một số các lá xương Vùi trong chất gian bào của vách xương là các ổ xương chứa tế bào xương

3 CẤU TẠO CÁC XƯƠNG DÀ

3.1 Xương dài

3.1.1 Thân xương:

Ðược cấu tạo bởi xương đặc Gồm 3 lớp:

- Lớp ngoài mỏng (hệ thống cơ bản ngoài): là xương cốt mạc

- Lớp giữa: dày, là xương Haver đặc

- Lớp trong mỏng (hệ thống cơ bản trong): là xương đặc

Phía ngoài thân xương được bao bọc bởi màng xương, giữa thân xương là một cái ống chứa tuỷ xương gọi là ống tuỷ

3.1.2 Ðầu xương: Gồm 2 lớp:

- Lớp ngoài: Mỏng, cấu tạo bởi xương cốt mạc, trừ diện khớp

- Lớp giữa: là xương havesr xốp Phía ngoài đầu xương được bao bọc bởi màng xương trừ diện khớp

3.2 Xương ngắn:

Cấu tạo tương tự đầu xương dài

3.3 Xương dẹt

Xương vòm sọ, gồm 3 lớp:

+ Lớp ngoài và trong: là xương cốt mạc

+ Lớp giữa là xương havers xốp

Mặt ngoài của xương vòm sọ được phủ bởi màng xương, mặt trong được phủ bởi màng liên kết (màng cứng)

4 SỰ CỐT HOÁ (SỰ TẠO XƯƠNG)

- Xương nào cũng được hình thành từ mô liên kết, hoặc từ mô liên kết nguyên thuỷ gọi là cốt hoá trực tiếp hay cốt hoá trong màng, hoặc từ một mô hình sụn gọi là cốt hoá trên mô hình sụn

- Quá trình cốt hoá gồm 2 giai đoạn:

+ Giai đoạn cốt hoá nguyên phát: tạo mô xương đầu tiên (xương nguyên phát) thay thế mô liên kết

Trang 24

+ Giai đoạn cốt hoá thứ phát: tạo mô xương thứ phát thay thế cho xương được tạo thành ở giai đoạn cốt hoá nguyên phát

- Trong quá trình cốt hoá, 2 quá trình trái ngược nhau cùng song song tiến hành: tổng hợp xương và phá huỷ xương hoặc sụn, vì vậy, ở một cái xương đang được hình thành và phát triển những vùng xương nguyên phát, vùng xương đang bị phá huỷ, vùng xương thứ phát xuất hiện cạnh nhau

4.1 Cốt hoá trực tiếp (cốt hoá trong màng)

Hầu hết xương dẹt được tạo thành bởi sự cốt hoá trực tiếp từ một màng liên kết: xương vòm sọ, xương hàm

4.1.1 Giai đoạn cốt hoá nguyên phát: chủ yếu xảy ra trong thời kỳ phôi thai

Sự xuất hiện các trung tâm cốt hoá và hình thành các lá xương đầu tiên: trong màng liên kết xuất hiện những điểm cốt hoá đầu tiên gọi là trung tâm cốt hoá Tại trung tâm cốt hoá: tế bào trung mô của mô liên kết biệt hoá thành tạo cốt bào, tạo cốt bào tổng hợp và chế tiết chất gian bào xương, tiếp theo là sự lắng đọng muối khoáng trên chất gian bào mới được tạo ra, các tạo cốt bào được bao quanh bởi chất gian bào

đó trở thành tế bào xương và những bè xương đầu tiên được hình thành Ở các trung tâm cốt hoá, các bè xương tiếp tục phát triển lan rộng ra và cuối cùng kết kợp với nhau hình thành một màng xương thay thế màng liên kết Khoảng cách giữa các bè xương lúc đầu rộng sau hẹp dần do mô liên kết được thay thế bằng mô xương

Mô liên kết dính ở mặt ngoài của tấm xương đầu tiên được tạo ra biệt hoá thành màng xương Màng xương tạo ra những lá xương đắp vào tấm xương đầu tiên làm cho xương dày lên Phần mô liên kết dính ở mặt trong của tấm xương sẽ biệt hoá thành màng cứng bọc ngoài não bộ

Khi trẻ ra đời, vòm sọ được cấu tạo bởi xương đặc Sự cốt hoá lan tới giữa các xương, trừ ở góc giữa các xương vẫn còn một ít mô liên kết chưa cốt hoá gọi là thóp Sau 1- 2 năm, mô liên kết ở các thóp mới được cốt hoá hoàn toàn

Hình 11: Quá trình cốt hoá trong màng

Trang 25

4.1.2 Giai đoạn cốt hoá thứ phát:

Xẩy ra sau sinh:

- Lớp giữa xương vòm sọ bị phá huỷ tạo ra những hốc lớn chứa tuỷ tạo huyết, những hốc tuỷ được ngăn cách nhau bởi những vách xương Lớp giữa xương vòm sọ được thay thế bằng xương havers xốp

- Màng xương tiếp tục tạo những lá xương mới đắp phía ngoài xương havers xốp làm xương dày lên

4.2 Cốt hoá trên mô hình sụn

Sự tạo xương từ các miếng sụn có hình dạng của các xương tương lai

4.2.1 Giai đoạn cốt hoá nguyên phát

Mạch máu và các tế bào tạo xương (huỷ cốt bào và tạo cốt bào) từ màng xương xâm nhập vào trung tâm mô hình sụn, huỷ cốt bào phá huỷ phần sụn nhiễm calci tạo những đường hầm nằm xen giữa các mảnh sụn nhiễm calci còn sót lại, tạo cốt bào tạo những lá xương đắp vào bề mặt những mảnh sụn nhiễm calci còn sót lại tạo ra một

Hình 12: Cốt hoá từ mô hình sụn

Trang 26

loại xương gọi là xương trong sụn Xương trong sụn bị phá huỷ ở giai đoạn cốt hoá thứ phát tạo ra ống tuỷ dài ở thân xương

Từ trung tâm cốt hoá, mạch máu và mô liên kết tạo xương tiếp tục tiến về 2 đầu của thân mô hình sụn lần lượt phá huỷ và thay thế sụn Kết quả là miếng sụn đặc biến thành một ống xương cốt mạc, 2 đầu được bịt kín bởi 2 nút sụn, ở giữa có một hốc dài

là ống tuỷ chứa tuỷ xương

Giữa đầu và thân của xương có một vùng gọi là vùng cốt hoá với những lớp theo thứ tự từ đầu đến thân xương như sau:

+ Lớp sụn trong không có những thay đổi hình thái của tế bào sụn

+ Lớp sụn xếp hàng (sụn tăng sinh): gồm những tập đoàn tế bào sụn cùng dòng kiểu trục

+ Lớp sụn phì đại: các tế bào sụn trương to

+ Lớp sụn nhiễm calci: chất căn bản sụn nhiễm calci, tế bào sụn bị thoái hoá + Lớp sụn cốt hoá: Sụn bị phá huỷ và xương trong sụn được tạo thành

4.2.1.2 Ở đầu mô hình sụn: sự cốt hoá nguyên phát bắt đầu muộn hơn cốt hoá thứ

phát

- Ðầu tiên cũng là sự xuất hiện trung tâm cốt hoá ở trung tâm khối sụn của đầu

mô hình sụn Sự cốt hoá lan toả từ vùng trung tâm ra xung quanh khối sụn Kết quả: ở trung tâm khối sụn là một hốc chứa tuỷ xương và xung quanh nó là vùng cốt hoá, từ ngoại vi vào trung tâm cũng gồm các lớp theo thứ tự: sụn trong, sụn xếp hàng, sụn phì đại Ở phía trông vào thân xương, sự cốt hoá sớm bị ngừng lại vì phải để ra một băng sụn nối giữa đầu và thân xương

4.2.2 Giai đoạn cốt hoá thứ phát

4.2.2.2 Ở đầu xương:

Xương trong sụn dần dần bị phá huỷ và được thay thế bởi xương havers xốp, trừ vùng ngoại vi là xương cốt mạc và ở mặt khớp là sụn khớp

Trang 27

Sự phát triển của xương dài: xương dài ra do sự phát triển của băng sụn nối nằm giữa đầu và thân xương Xương to ra do sự hoạt động của màng xương

5 NHỮNG YẾU TỐ ẢN ƯỞNG ÐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA XƯƠNG 5.1 Yếu tố dinh dưỡng

- Thiếu protein: làm giảm tổng hợp collagen dẫn đến làm giảm sự phát triển của xương

- Thiếu calci: làm cho sự calci hoá chất nền xương không hoàn toàn vì vậy làm giảm độ cứng rắn của xương Thiếu calci xẩy ra ở trẻ em gây bệnh còi xương, ở người lớn gây bệnh loãng xương

- Thiếu vitamin D: làm giảm sự hấp thu calci từ thức ăn Tác động giống như thiếu calci

- Thiếu vitanmin A: Làm chậm sự phát triển của xương

- Thiếu vitamin C: ức chế sự phát triển của xương do vitamin C rất cần cho quá trình tổng hợp collagen

5.2 Yếu tố hormone:

- PTH (parathyroid hormone): làm tăng quá trình huỷ xương và ức chế quá trình tạo xương Thừa PTH làm xương mất calci, tăng calci máu và gây sự lắng đọng calci bất thường ở một số các mô, đặc biệt ở thận, thành các động mạch

- Calcitonin: có tác động ngược với PTH, làm tăng quá trình tạo xương

- GH (Growth hormone): GH kích thích sự phát triển của băng sụn nối Ở trẻ

em, thiếu GH dẫn đến sự phát triển sớm bị dừng lại gây bệnh lùn tuyến yên, thừa GH gây bệnh khổng lồ Ở người trưởng thành, thừa GH gây bệnh to đầu chi

- Các Steroids giới tính (Androgens và estrogens): kích thích sự tạo xương Thiếu hormone giới tính làm chậm dậy thì, chậm sự kết thúc của đĩa sụn nối

Trang 28

- Lớp trung gian: có những tập đoàn tế bào sụn kiểu vòng và những sợi

collagen xếp thành bó bắt chéo nhau

- Lớp chính: lớp đồng nhất có những tế bào sụn kiểu trục và nhiều bó sợi tạo

keo xếp vuông góc với mặt khớp

- Lớp sâu chất căn bản đã nhiễm muối vôi tiếp nối với xương ở đầu xương

6.2 Bao khớp

Bao khớp là bao liên kết có nhiều sợi tạo keo, ít tế bào và ít mạch máu

6.3 Màng hoạt dịch

Ở người trưởng thành, màng hoạt dịch gồm 2 lớp: lớp xơ chun và một lớp tế

bào phủ bề mặt Trong lớp tế bào phủ bề mặt có 2 loại tế bào:

- Tế bào A còn gọi là tế bào khớp thực bào, có khả năng thực bào mạnh,

bào tương chứa nhiều lysosome

- Tế bào B: tổng hợp acid hyaluronic và chế tiết vào dịch khớp

6.4 Ổ khớp

Ổ khớp là nơi chứa dịch khớp có tác dụng cơ học và dinh dưỡng đối với khớp

Khối lượng, độ nhớt, tỷ lệ các chất và thành phần tế bào thay đổi rõ rệt trong các bệnh

khớp

BÀI TẬP:

1: Tế bào võng của mô liên kết có hình gì?

A Hình sao B Hình tháp C Hình vuông D Hình tròn

2: Tế bào mỡ nâu có nhiều ở độ tuổi:

5: Hệ thống Havers đơn vị cấu tạo của mô xương đặc, đây là một khối hình trụ được

tạo bởi các là xương đồng tâm, số lượng các lá xương:

A 20 - 30 lá B 10 – 15 lá C 25 – 35 lá D Trên 50 lá

6: Chức năng của hủy cốt bào, NGOẠI TRỪ:

C Tiêu hủy chất căn bản xương D Tạo màng xương

Trang 29

MÔ CƠ

ục tiêu học tập:

1 Trình bày được cấu trúc và chức năng của các loại cơ

2 Mô tả được cấu trúc và chức năng của bản vận động cơ vân

3 Trình bày được cơ chế sự co cơ

1 ĐẠ CƯƠNG

Mô cơ là mô cấu tạo bởi những tế bào đã biệt hóa để đảm nhiệm chức năng co duỗi

1.1.Cấu tạo hình thái

Các tế bào thường dài nên còn được gọi là sợi cơ, trong bào tương của sợi cơ

có nhưng sợi nhỏ, xếp dọc theo chiều dài của sợi cơ gọi là các tơ cơ Các tơ cơ này đảm nhiệm những chức năng co duỗi và ta có thể quan sát được bằng kính hiển vi quang học Các tơ cơ do những xơ cơ tạo thành

1.2 Cấu tạo hóa hoc

Mô cơ được coi là nơi dự trữ protein lớn nhất của cơ thể, protein trong cơ rất phong phú bao gồm những protein tạo nên sự co rút như myosin, actin, troponin, α- actinin, β- actinnin, titin, ngoài ra trong cơ còn có myoalbumin, myogen, myoglobin, chính myoglobin làm cho cơ có màu đỏ

Trong cơ glucid được dự trữ nhiều dưới dạng glycogen, lipid tồn tại dưới dạng

mỡ trung tính hoặc lipoprotein Các chất vô cơ trong cơ bao gồm nước chiếm 75-80%, các muối khoáng Na, Ca, Mg, K, P, các nucleotide ADP, ATP

2 PHÂN LOẠ CƠ

Người ta chia mô cơ thành 3 loại: cơ vân, cơ tim và cơ trơn Cả 3 loại cơ đều

có nguồn gốc từ trung mô

Trong cơ thể, ngoài 3 loại trên còn có những tế bào có khả năng co duỗi đó là

tế bào cơ biểu mô, tế bào quanh mạch và nguyên bào sợi cơ Tế bào cơ biểu mô có ở phần chế tiết của tuyến nước bọt, tuyến sữa và tuyến mồ hôi, đây là những tế bào hình sao dẹt bào tương có nhánh nối với nhau, các tế bào cơ biểu mô nằm chen giữa màng đáy và tế bào chế tiết của phần chế tiết những tuyến này

Tế bào quanh mạch là những tế bào hình thoi nằm xung quanh các mao mạch máu chen giữa màng đáy và tế bào nội mô

Nguyên bào sợi cơ có hình thoi trong mô bình thường nguyên bào sợi cơ khó nhận biết và không hoạt động nhưng khi mô bị tổn thương các nguyên bào sợi cơ tăng sinh và tăng tổng hợp collagen để khôi phục chất nền vùng tổn thương Khi các bó cơ rút làm kích thước vùng tổn thương co hẹp lại dần

Trang 30

2.1 Mô cơ vân

Cơ vân gồm các tế bào cơ nhiều nhân hình trụ dài với các vân ngang, cơ vân có tính co rút nhanh mạnh và theo ý muốn

Tế bào cơ còn gọi là sợi cơ, tập hợp lại thành từng bó sợi cơ nằm giữa mô liên kết giàu mạch máu, thần kinh và sợi collagen, tế bào có nhiều nhân, nhân hình gậy nằm sát màng bào tương, vị trí nhân cho phép phân biệt tế bào cơ vân với tế bào cơ tim và cơ trơn (nhân nằm giữa tế bào)

Phía ngoài màng cơ tương là màng đáy Cơ tương nhiều tơ cơ, bao quanh tơ cơ

có lưới nội bào không hạt, nhiều ty thể, ngoài ra còn có myoglobin, nhiều hạt vùi glycogen, hệ thống ống ngang gọi là vi quản T

2.1.1 Tơ cơ (vi sợi cơ)

Chiếm hầu hết khối cơ tương, xếp song song, suốt chiều dài sợi cơ và họp thành bó.mĐường kính 0,5µm, chiều dài bằng chiều dài sợi cơ Dọc trên mỗi tơ cơ có các vạch sáng, tối nối tiếp nhau theo chu kỳ Vạch sáng là đĩa (band) I, chiều dài 0,8µm, giữa đĩa I có vạch Z Vạch tối là đĩa (band) A, chiều dài từ 1- 1,5µm, giữa đĩa

A có vạch H, giữa vạch H là vạch M Cấu trúc này lặp có chu kỳ, đoạn tơ cơ được giới hạn bởi 2 vạch Z kế tiếp nhau gọi là sarcomere, dài 2,5µm (khi cơ nghỉ) goi là đơn vị

co cơ

Hình 1: Sơ đồ cấu tạo của 3 loại cơ

Trang 31

Tơ cơ được cấu tạo bởi 2 loại xơ cơ song song với nhau và với trục của tơ cơ

và lồng vào nhau theo kiểu cài răng lược:

+ Xơ actin: mảnh, đường kính 5- 7nm, dài 1µm, được cấu tạo từ các phân tử

protein: actin, tropomyosin, troponin Xơ actin có ở cả đĩa A và I nhưng gián đoạn ở vạch H, chạy giữa và song song với xơ dày, có một đầu được gắn với vạch Z, một đầu gối lên xơ dày

+ Xơ myosin: dày, đường kính 10- 15nm, dài 1,5µm (dài bằng đĩa A), được

cấu tạo từ các phân tử protein: myosin, chỉ cơ ở đĩa A, phần trung tâm của sarcomere

- Sự co cơ: là sự trượt của các xơ actin lồng sâu hơn vào xơ myosin

Kết quả co cơ: chiều dài 2 xơ không thay đổi, đĩa A không thay đổi

Chiều dài của đĩa I, vạch H, tơ cơ, sợi cơ ngắn lại Xơ actin gối đầu hoàn toàn lên xơ myosin

Hình 2: Sơ đồ cấu tạo cơ vân

Trang 32

Hệ thống vi quản T được tạo thành do sự lõm sâu vào trong cơ tương của màng

cơ tương Gồm các ống nhỏ bao quanh tơ cơ, nằm ngang mức ranh giới đĩa A và I, có

lỗ mở ở màng cơ tương Hai bên vi quản T là 2 túi ngang lưới nội bào, tạo thành bộ ba triad

Myoglobin chính là sắc tố cơ, màu đỏ, là protein liên kết với oxygen (sắc tố dự trữ oxygen cho tế bào cơ) Người ta thường chia cơ ra làm 3 nhóm nhóm cơ đỏ, cơ trắng, cơ đỏ vừa Cường độ, trường độ co cơ mỗi nhóm mỗi khác

Nhiều enzym của quá trình đường phân, giữ nhiệm vụ cung cấp ATP tạm thời khi thiếu oxy và một lượng lớn Creatinin phosphate

2.2.Cơ tim

Trước sinh, các tế bào trung bì lá tạng tạo ra ống tim nguyên thủy với các dãy

tế bào xếp song song với nhau, sau đó tạo nên các tế bào cơ tim từ sự liên kết các nhánh bào tương của chúng

Các tế bào trong cung một dãy tế bào phân nhánh, do đó tim hình thành từ những tập hợp tế bào đan xen vào nhau theo một quy cách phù hợp cho việc tạo ra một đợt co thắt dẫn đến sự co bóp khá mạnh của các tâm thất

Hình 3: Cấu trúc Sarcomere

Trang 33

Tế bào cơ tim có đường kính 15µm, dài 85-100µm, cũng có những band sáng

và band tối có chu kỳ như cơ vân, chỉ có 1 hoặc 2 nhân nằm ở giữa tế bào Bao quanh sợi cơ không phải là màng đáy mà là một bao liên kết mỏng trong đó chứa 1 hệ thống mao mạch rất phát triển Các tế bào cơ tim thường nối với nhau thành lưới, ngăn cách nhau bằng những vạch bậc thang, đây là những phức hợp liên kết giữa 2 tế bào cơ tim

kế cận

+ Có 2 loại phức hợp liên kết:

Vạch bậc thang chạy ngang: chạy hầu như thẳng góc với chiều dài sợi cơ Vạch bậc thang chạy dọc: chạy song song với sợi cơ

+ Có 3 loại liên kết đặc hiệu ở vạch bậc thang:

Liên kết bó: thường thấy ở các vạch chạy ngang, giữ chức vụ như 1 cấu trúc để các sợi actin gắn vào, cấu trúc này nằm ngay ở vạch Z

Desmosome: gắn chặt các tế bào cơ, tách các tế bào bị rời ra khi co cơ

Liên kết bên (liên kết khe): cho phép các ion có thể đi từ tế bào này qua tế bào khác, đồng thời truyền điện thế từ tế bào này qua tế bào khác khi co cơ

+ Trong bào tương:

Tơ cơ họp thành bó Tơ cơ có vạch sáng, tối do sự sắp xếp của 2 xơ: actin và myosin và cũng tạo sarcomere

Ống ngang (vi quản T) nhiều hơn, rộng hơn cơ vân, ở ngang vạch Z Các tế bào

cơ tim không có cấu trúc bộ ba mà kết hợp với túi ngang lưới nội bào ở 1 bên tạo bộ

Hình 4: Cấu trúc cơ tim

Trang 34

đôi (diad) Các tế bào cơ ở tâm nhĩ có ít vi ống T hơn ở tâm thất và kích thước tế bào

cơ cũng nhỏ hơn

Lưới nội bào ít phát triển hơn và bao quanh tơ cơ không đều đặn Các hạt nhỏ ở bên trong màng bào tương cơ có đường kính 0,2 -0,3 mm đều có ở 2 cực của những tế bào cơ và có ở các bộ Golgi Các hạt này có nhiều ở các tế bào cơ của tâm nhĩ phải( 600/1tế bào) Các hạt ở tâm nhĩ phải có yếu tố sodium niệu tâm nhĩ ( atrial natriuretic factor) có tác động đến thận gây mất sodium và mất nước

Ty thể chiếm 40% thể tích cơ tương, có chiều dài bằng 1 sarcomere Cho thấy nhu cầu chuyển hóa cao của cơ tim (cơ vân chỉ có 2%)

Bào tương còn chứa nhiều lipid dưới dạng triglyceride, nguồn năng lượng chính, ít glycogen, hạt sắc tố lipofuscin

2.3 Cơ trơn

Mô cơ trơn được tạo thành bởi những tế bào hình thoi Nhân nằm ở giữa, hình gậy và thường bị gấp lại nhiều nếp khi cơ co Các tế bào này thường sắp xếp sát nhau tạo thành từng khối cơ

Tế bào cơ trơn không có vạch chạy ngang như ở cơ vân và cơ tim Màng tế bào được bao bọc bởi 1 màng đáy và 1 lưới sợi võng Chính lưới sợi này liên kết các tế bào cơ trơn với nhau thành từng khối Ở tế bào cơ trơn các bó siêu sợi cơ nằm xéo bên trong tế bào tạo nên cấu trúc khung lưới các bó siêu sợi cơ bao gồm các siêu sợi mảnh 5-7nm chứa actin và tropomyasin và siêu sợi dày (12-16nm) chứa myosin

Các nghiên cứu về hình thái và hóa sinh cho thấy actin và myosin cũng co rút theo kiểu trượt vào nhau như ở tế bào cơ vân Xơ actin và myosin thường lồng vào nhau theo tỷ lệ 16:1 Xơ actin gắn vào thể đặc Có 2 loại thể đặc; thể đặc ở màng bào tương và thể đặc ở bào tương Cả 2 loại thể đặc này đều có α- actinin có cấu tạo giống như vạch Z ở cơ vân

Hình 6: Sự co duỗi cơ trơn Hình 5: Cấu trúc cơ trơn

Trang 35

Trong lúc xơ myosin có đường kính từ 12-14nm rất dài, khác với xơ myosin cơ vân là các đầu phân tử hướng về 1 phía Bó xơ actin myosin chạy chéo theo nhiều hướng tạo thành khối, cơ trơn được điều khiển bởi hệ thần kinh thực vật thuộc 2 hệ giao cảm và phó giao cảm Khi đến gần cơ trơn các đầu tận cùng phình lên thành 1 túi vùi trong bao liên kết giàu sợi võng

Tế bào cơ trơn có các siêu sợi trung gian mảnh, đường kính khoảng 10nm sắp xếp đâm xuyên qua bào tương của tế bào cơ trơn Thành phần cấu tạo chính của các siêu sợi trung gian là desmin (skeltin) có ở hầu hết các cơ trơn và vimetin có ở các tế bào cơ trơn thành mao mạch máu Các siêu sợi mảnh và siêu sợi trung gian đều đi vào các thể đặc để truyền lực co rút đên các tế bào cơ trơn kế cận và đến cấu trúc màng các lưới bao quanh chúng

Khác với cơ vân, cơ trơn không có bản vận động và các sợi thần kinh vận động, nó có đầu cuối phình to ra và nằm trong mô nội cơ Cơ trơn tạo nên những lớp

cơ nằm bên trong các thành của các tạng rỗng như, ruột, niệu quản, tử cung Chiều dài

tế bào cơ trơn thay đổi từ 20nm ở mao mạch máu đến 50nm ở tử cung đang mang thai, trong suốt thai kì, các tế bào cơ trơn ở tử cung không ngừng gia tăng kich thước và số lượng

Các tế bào cơ trơn có khá nhiều hình thức liên kết khe và có ít sợi thần kinh, đây là các cơ trơn có chức năng thể hiện dưới hình thức cơ trơn tạng (visceral smooth muscle) Ngược lại các cơ trơn nhiêu sợi cơ (multiunit smooth muscle) thì có nhiêu sợi thần kinh hơn để tạo nên các cử động tinh vi ( cơ trơn ở đồng tử mắt)

Cơ trơn hoạt động theo cách tự nhiên không cần kích thích thần kinh do vậy nguồn thần kinh phân bổ cho cơ trơn có ý nghĩa cho sự co cơ hơn là khởi phát hoạt động co cơ như là cơ vân Cơ trơn tiếp nhận nhận cả các tận cùng thần kinh adrenecgic và cholinergic có hoạt động đối kháng nhau ở một số tạng tận cùng thần kinh cholin kích hoạt, adrenalin ức chế Ngoài nhiệm vụ co cơ, cơ trơn còn tổng hợp collagen type III, elastin, và proteoglycan cho chất gian bào

2.4 Sự tái tạo cơ

Ba loại cơ có khả năng tái tạo khác nhau sau tổn thương:

Cơ tim không có khả năng tái tạo sau tổn thương tuổi thiếu niên, mô cơ tim bị mất hay bị hỏng (do nhồi máu) sẽ được thay thế bằng mô liên kết (sẹo)

Cơ vân được tái tạo từ các tế bào vệ tinh (satellite cells) đây là các tế bào hình thoi nằm riêng lẽ ở bên dưới màng đáy Khi cơ vân bị tổn thương hay bị kích thích các

tế bào vệ tinh ở trạng thái nghỉ bị kích hoạt sẽ phát triển và sát nhập vào nhau tạo nên sợi cơ vân mới Khả năng tái tạo của cơ vân có giới hạn, các tổn thương nặng sẽ làm cho cơ vân thoái triển

Ở cơ trơn, các tế bào có thể gia tăng trong điều kiện sinh lý bình thướng (cơ trơn tử cung phát triển lúc có thai) Khi có tổn thương các tế bào cơ trơn phân bào cho các tế bào mới, bổ sung cho mô cơ đã bị phá hủy

Trang 36

C Nguyên bào sợi cơ

D Lớp đáy của biểu mô lát tầng sừng hóa ở da

3: Tế bào cơ vân có nhiều nhân, nhân hình gậy và:

C Nằm sát màng bào tương D Nằm ở lưng chừng tế bào

4: Vạch sáng đĩa I của tơ cơ mô cơ vân dài:

5: Tế bào cơ tim chỉ có 1 hoặc 2 nhân, nằm ở:

C Nằm sát màng bào tương D Nằm ở đáy tế bào

6: Hai bên vi quản T của mô cơ vân là hai túi ngang lưới nội bào tạo thành:

A Bộ ba Triad B Bộ đôi Diad C Bộ đơn D Bộ tứ 7: Cơ trơn có các đặc điểm sau, NGOẠI TRỪ:

A Có siêu sợi Actin và Myosin B Có phức hợp Troponin

Trang 37

MÔ THẦN KINH

Mục tiêu học tập

1.Trình bày được đặc điểm cấu tạo và chức năng của mô thần kinh

2 Mô tả được cấu tạo của một Neuron

3 Mô tả được cấu tạo của synapse thần kinh và cơ chế dẫn truyền xung động thần kinh

4 Mô tả được cấu tạo và chức năng của các loại tế bào thần kinh đệm

Mô thần kinh bao gồm những tế bào đã biệt hoá cao để cảm nhận kích thích, tạo xung động và dẫn truyền xung động đó Mô thần kinh phân bố hầu như khắp cơ thể tạo thành một hệ thống thông tin hoàn chỉnh điều hoà hoạt động các mô và cơ quan trong cơ thể, làm cho cơ thể trở thành một thể hoàn chỉnh và thống nhất

Mô thần kinh được cấu tạo bởi 2 loại tế bào: Tế bào thần kinh chính thức (Neuron) và tế bào thần kinh đệm

Mô thần kinh tạo thành những cấu trúc và tập hợp của những cấu trúc đó được gọi là hệ thần kinh Về mặt giải phẫu, hệ thần kinh được chia làm 2 nhóm:

- Hệ thần kinh trung ương nằm trong hộp sọ và cột sống: gồm não bộ và tuỷ sống

- Hệ thần kinh ngoại biên: Bao gồm các dây thần kinh và các hạch thần kinh, các đầu tận cùng thần kinh

1 NEURON

Neuron là đơn vị cấu tạo và chức năng của mô thần kinh Ðó là những tế bào

có cấu tạo đặc trưng, thích ứng với chức năng tiếp nhận và dẫn truyền xung động thần kinh Hình thái và kích thước của neuron rất đa dạng Mỗi neuron có 3 phần chính: thân neuron chứa nhân, là trung tâm dinh dưỡng tiếp nhận và phân tích các tín hiệu, các nhánh neuron (đuôi gai và sợi trục) là phần kéo dài từ thân Neuron, đầu tận cùng thần kinh (cúc tận cùng của sợi nhánh hoặc sợi trục)

1.1 Cấu tạo neuron

1.1.1 Thân neuron

Thân Neuron có hình dạng khác nhau, thường là hình sao, hình cầu, hình tháp Kích thước thân cũng rất khác nhau, từ 4 - 6 µm ở tế bào lớp hạt của tiểu não, đến 130 (m ở tế bào Betz của vỏ bán cầu đại não Hầu hết các tế bào thần kinh đều có một nhân hình cầu, bào tương chứa hầu hết các bào quan phổ biến, đặc biệt lưới nội bào

có hạt rất phát triển, cùng với các đám ribosom tự do chúng tạo thành những vùng ưa màu base đậm, phân bố đều khắp bào tương thân neuron gọi là thể Nissl Bào tương của thân neuron còn chứa nhiều xơ thần kinh và vi ống thần kinh Hình dạng của thân

và các nhánh neuron được duy trì bởi xơ thần kinh Các vi ống (siêu ống) có tác dụng vận chuyển các chất từ vùng này đến vùng khác của neuron

Trong thân Neuron còn chứa những hạt mỡ, hạt glycogen, hạt vùi màu nâu hoặc màu đen (hạt sắc tố Lipofuscin) thường thấy ở những tế bào thần kinh già

Trang 38

1.1.2 Nhánh neuron

Là các nhánh bào tương kéo dài từ thân neuron và phân nhánh nhiều lần Căn

cứ vào hướng dẫn truyền xung động thần kinh, các nhánh neuron được chia làm 2 loại: sợi nhánh và sợi trục

1.1.2.1 Sợi nhánh (đuôi gai) Là

mặt sợi nhánh thường không đều

đặn, có những chồi, hay gai lồi ra,

đây là những vị trí tiếp xúc, liên hệ

với các neuron xung quanh Trong

bào tương của sợi nhánh chứa

lưới nội bào có hạt, ty thể, xơ thần

neuron dài nhất, dẫn truyền luồng

xung động thần kinh từ thân

neuron truyền sang tế bào khác,

mỗi neuron chỉ có một sợi trục

Sợi trục có hình trụ, kích

thước và chiều dài thay đổi tùy

từng loại Neuron Sợi trục có

đường kính lớn, dẫn xung động

thần kinh nhanh hơn sợi nhánh

Sợi trục có đường kinh ít thay đổi,

ít chia nhánh, trên đường đi sợi

trục có thể phân ra một vài nhánh bên Phần xa của sợi trục thường chia ra các nhánh tận nhỏ, đầu cuối của các nhánh tận đó tận cùng trên những tế bào kế tiếp bằng những đầu phình gọi là cúc tận cùng (đầu tận cùng) Băo tuong của sợi trục chứa ty thể, vi ống thần kinh, xơ thần kinh, không có lưới nội bào hạt và riboxom

Màng sợi nhánh và màng sợi trục đều là màng bào tương có tốc độ khử cực rất

nhanh

Trang 39

trung ương, sợi thần

kinh không myelin nằm

trong chất xám và

chính là các nhánh bào

tương (sợi nhánh hoặc

sợi trục) của neuron

không có vỏ bọc, còn

gọi là sợi thần kinh

trần Ở hệ thần kinh

ngoại biên sợi thần kinh

không myelin được bao

bọc phía ngoài bởi 1

Cấu tạo của bao myelin: bao myelin không liên tục, có nhiều chỗ bị gián đoạn gọi là vòng thắt (nút) Ranvier, khoảng cách giữa 2 vòng thắt Ranvier liên tiếp của bao gọi là quãng Ranvier Sự dẫn truyền xung động thần kinh qua sợi myelin nhanh hơn rất nhiều lần (hàng chục, hàng trăm lần) so với sợi TK không myelin

Trụ trục không có bao Myelin thường có đường kính nhỏ Sự dẫn truyền của

những sợi thần kinh có đường kính lớn và bao myelin dày thường nhanh hơn

1.2 Phân loại neuron

1.2.1 Phân loại theo hình thái

Neuron có kích thước và hình dạng rất khácnhau Nơi xuất phát của các sợi nhánh và sợi trục từ thân neuron gọi là cực Căn cứ vào số lượng cực phát sinh các nhánh, có thể chia neuron thành các loại sau:

Sơ đồ cấu tạo của sợi thần kinh Myelin

1 Bao Myelin 2 Trụ trục

Trang 40

- Neuron đa cực: đa số neuron thuộc loại neuron đa cực với nhiều sợi nhánh

và một sợi trục Thuộc loại này là: neuron vận động ở sừng trước tuỷ sống, tế bào purkinje ở vỏ tiểu não, tế bào tháp ở bán cầu đại não

- Neuron 2 cực: thân neuron hình thoi hoặc hình trứng, một cực là nơi xuất phát sợi nhánh và cực kia là sợi trục Loại neuron này có ở một số vùng như võng mạc thị giác, hạch xoắn của ốc tai, hạch tiền đình tai trong

- Neuron một cực giả: đó là các neuron chữ T ở các hạch tuỷ sống (hạch gai)

Từ thân hình cầu hoặc hình trứng cho ra một sợi lớn, sau một đoạn chạy quanh thân sợi này tách ra làm 2: 1 sợi nhánh và 1sợi trục

- Neuron 1 cực: loại này rất hiếm, chỉ có một sợi trục, không có sợi nhánh

1.2.2 Phân loại theo chức năng

Có 3 loại neuron:

- Neuron vận động: vận chuyển xung động từ các trung tâm thần kinh tới các

cơ quan, điều khiển hoạt động co cơ và hoạt động chế tiết của các tuyến

- Neuron cảm giác: nhận các xung động thần kinh được tạo thành do sự kích thích từ các tế bào, cơ quan cảm giác ngoại biên và vận chuyển vào hệ thần kinh trung ương

- Neuron trung gian: vận chuyển xung động thần kinh giữa các neuron vận động hoặc giữa các neuron cảm giác hoặc giữa các neuron vận động và neuron cảm giác

1.3 Synapse (khớp thần kinh, giao thoa thần kinh):

1.3.1 Cấu tạo synapse

Xung động thần kinh truyền từ neuron này sang neuron khác nhờ một cấu trúc đặc biệt gọi là synapse Ðó là nơi 2 tế bào thần kinh tiếp xúc với nhau và có cấu trúc đặc biệt để dẫn truyền xung động thần kinh chỉ theo một chiều nhất định

Cấu tạo của synapse: gồm có 2 phần: tiền synapse và hậu synapse Giữa tiền synapse và hậu synapse là một khoảng gian bào hẹp kích thước khoảng 20nm gọi là khe synapse

- Phần tiền synapse: thường là đầu tận cùng của sợi trục thuộc neuron trước Màng bào tương bao bọc phần tiền synapse đối diện với phần hậu synapse gọi là màng tiền synapse Màng tiền synapse thường dày hơn màng bào tương ở những chỗ khác

Trong bào tương của tiền synapse có nhiều ty thể, xơ thần kinh, siêu ống thần kinh, đặc biệt có chứa nhiều túi nhỏ chứa chất trung gian hoá học đóng vai trò quyết định trong việc dẫn truyền xung động thần kinh qua synapse, gọi là túi synapse

Ngày đăng: 01/04/2022, 20:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ y tế: Mô phôi, (2007), NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô phôi
Tác giả: Bộ y tế: Mô phôi
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2007
3. “Mô học”. Bộ môn Mô học và phôi thai học Trường Đại học Y Hà Nội, NXB Y học, Hà Nội, năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô học
Nhà XB: NXB Y học
5. “Atlas of human histology”, Mariano S. H. D. Flore, fourth edition - 1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Atlas of human histology
2. Mô – Phôi : Phần Mô học. Chủ biên: GS.TS. Trịnh Bình, NXB Y học Khác
4. Giáo trình Mô phôi, Tuwongf Đại học Y Dƣợc Huế, năm 2015 Khác
7. Đỗ Kính: Phôi thai học: thực nghiệm và ứng dụng lâm sàng, (2008), NXB Y học Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w