GT MO PHOI 2017 GT MO PHOI 2017 GT MO PHOI 2017 GT MO PHOI 2017 GT MO PHOI 2017 GT MO PHOI 2017 GT MO PHOI 2017 GT MO PHOI 2017 GT MO PHOI 2017 GT MO PHOI 2017 GT MO PHOI 2017 GT MO PHOI 2017 GT MO PHOI 2017 GT MO PHOI 2017
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN
KHOA Y
GIÁO TRÌNH
MƠ PHƠI
HẬU GIANG - 2017
Trang 62MỤC LỤC
PHẦN 1: MÔ HỌC ĐẠI CƯƠNG ……… 1
Trang 63NHẬP MÔN MÔ HỌC
1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM:
Mô học là môn khoa học nghiên cứu hình thái vi thể và siêu vi thể của tế bào,
mô, cơ quan cơ thể người bình thường, trong mối quan hệ chặt chẽ với ý nghĩa chức năng của chúng
Tế bào là đơn vị cấu tạo và chức năng của cơ thể sống dựa vào chức năng có
thể xếp tế bào cơ thể thành những nhóm cơ bản sau: tế bào gốc, tế bào biểu mô,
tế bào chống đỡ, tế bào co rút (tế bào cơ), tế bào thần kinh, tế bào máu, tế bào miễn dịch và tế bào chế tiết hormon
Mô gồm quần thể tế bào đã chuyên môn hóa và những sản phẩm của tế bào
đảm nhiệm một hoặc vài chức phận nhất định Cơ thể người có 05 loại mô cơ bản: (1) biểu mô, (2) mô liên kết (mô liên kết chính thức, mô xương, mô sụn, mô
mỡ, mô lưới), (3) mô cơ, (4) mô thần kinh và (5) mô máu và bạch huyết
Cơ quan là đơn vị cấu trúc gồm các nhóm mô, đảm nhiệm một hoặc nhiều
chức năng nhất định
Hệ cơ quan gồm một nhóm các cơ quan liên hệ hoặc phụ thuộc nhau, đảm
nhiệm 1 hoặc nhiều chức phận nhất định
Cơ thể người bao gồm các cơ quan và hệ cơ quan hoạt động tương tác với
nhau, đảm bảo sự thích nghi trong môi trường sống
2 QUAN HỆ GIỮA MÔ HỌC VÀ CÁC MÔN HỌC KHÁC TRONG Y SINH HỌC
Mô học được coi là mô học cơ sở về hình thái cho các môn học cơ sơ chức năng như: sinh lý học, sinh hóa học và các môn học tiền lâm sàng như: giải phẩu bệnh, sinh lý bệnh, dược lý học
Với giải phẫu học: giải phẫu học và mô học là hai môn học hình thái học mà sinh viên được học ngay những năm đầu khi vào trường y Gải phẫu học nghiên cứu mô tả bằng quan sát đại thể, mô học nghiên cứu mô tả cơ thể ở mức hiển vi Những phát hiện và hiểu biết về giải phẫu học là tiền đề để ngành mô học đi sâu nghiên cứu; đổng thời những kiến thức về mô học làm phong phú và sâu thêm những hiểu biết về giải phẫu
Với sinh lý học: Sinh lý học nghiên cứu những cơ chế và qui luật hoạt động chức năng của các cơ quan, hệ cơ quan của cơ thể người Những hiểu biết về cấu trúc đại thể (giải phẩu học) và đặc biệt là những kiến thức về vi thể, siêu vi thể (mô học) giúp trả lời câu hỏi vì sau các cơ quan, hệ cơ quan lại thực hiện được những chức năng đó
Với những hiểu biết hiện nay về cơ thể con người, có thể nói: “Trong cơ thể không có một cấu trúc nào không đảm một chức năng không có chức năng nào không liên quan đến một cấu trúc” Khi nghiên cứu mô tả cấu trúc hình thái của
tế bào, mô của cơ quan nào đó, người làm mô học luôn tìm hiểu liên hệ với ý nghĩa chức năng của tế bào và mô ấy Mô học không có nhiệm vụ nghiên cứu hoạt động sinh lý của các cơ quan, hệ cơ quan, nhưng mô học luôn tìm hiểu ý nghĩa chức năng của các cấu trúc đã nghiên cứu, ngày nay, mô sinh lý học là một trong những hướng nghiên cứu của mô học hiện đại
Trang 64Với sinh hóa học: việc áp dụng nghững kỹ thật nghiên cứu hóa tế bào, hóa mô nhằm phát hiện và xác định vị trí, sự phân bố và những biến đổi các thành phần hóa học ở tế bào và mô đã chứng tỏ mối quan hệ mật thiết giữa hóa học, hóa sinh học với tế bào học, mô học,…
Với những môn bệnh học và lâm sàng: những kiến thức mô học của cơ thể người bình thường là không thể thiếu để có thể nhận ra được những cấu trúc bệnh
lý bất thường và giúp hiểu thấu đáu những quá trình sinh hóa bất thường và sinh
lý bệnh
Cùng với những khám xét lâm sàng và cận lâm sàng khác các lâm sàng còn
sử dụng các kết quả phân tích về tế bào học, mô học… Giúp cho việc chẩn đoán, tiên lượng, theo dõi trong quá trình điều trị cho người bệnh Nhà bệnh lý học người Đức Rudolf Virchow (1821 - 1902) đã từng có câu nói nổi tiếng: “…Tôi khẳng định rằng, không một thầy thuốc giỏi nào lại không hiểu biết tường tận về cấu trúc cơ thể con người! ”
3 PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP
Để đạt kết quả học tập, cần có phương pháp phù hợp Ngoài việc phải nắm vững những mục tiêu học tập của mỗi bài, sinh viên cần lưu ý những điểm sau: + Vì mô học là môn học hình thái mô tả, nhiều chi tiết và thuật ngữ, nên cần học cách gọi tên và mô tả đúng các cấu trúc, hiểu các hình và tập vẽ các hình minh họa; nên làm dàn ý chi tiết bài học của riêng mình
+ Nên liên hệ giữa đặc điểm hình thái với ý nghĩa chức năng của cấu trúc + Tích cực, chủ đông tham gia các buổi thực tập trên tiêu bản để củng cố kiến thức
Trang 65MÔ VÀ BIỂU MÔ
MỤC TIÊU:
1 Trình bày được khái niệm và các đặc điểm cấu tạo của biểu mô
2 Mô tả được các cấu trúc liên kết giữa các tế bào
3 Mô tả được cấu trúc mô học của 9 loại biểu mô phủ và trình bày vị trí của chúng trong cơ thể
4 Phân loại biểu mô tuyến
5 Mô tả được các kiểu chế tiết của biểu mô tuyến
NỘI DUNG
1 MÔ LÀ GÌ?
Mọi cơ thể sống có hai phạm trù cơ bản: cấu tạo và chức năng Bất kỳ cấu tạo nào cũng đều đảm nhiệm những chức năng nhất định và ngược lại, bất kỳ chức năng nào cũng đều do một hoặc một số cấu tạo nào đó thực hiện
Cơ thể người và động vật là một thề thống nhất, toàn vẹn, trong đó có thể chia thành nhiều mức độ tổ chức khác nhau: phân tử, tế bào, mô, cơ quan và cơ thể
Tế bào là đơn vị sống cơ bản về cấu tạo và chức năng của mọi cơ thể sống
Mô là một hệ thống các tế bào và chất gian bào có cùng nguồn gốc, cấu
tạo và chức năng, chúng được hình thành trong quá trình tiến hóa sinh học và xuất hiện ở cơ thể đa bào do quá trình biệt hóa
Cơ thể người có 5 loại mô chính:
- Biểu mô (biểu mô phủ và biểu mô tuyến)
- Mô liên kết (mô liên kết chính thức, mô sụn và mô
xương, mô mỡ và mô lưới)
- Mô cơ
- Mô thần kinh
- Mô máu và bạch huyết
2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA BIỂU MÔ:
Biểu mô là mô gồm những tế bào xếp sát nhau với một khoảng gian bào
không đáng kể Biểu mô có tác dụng phủ mặt ngoài cơ thể, các khoang trong cơ thể hoặc tạo thành các tuyến
Biểu mô có nguồn gốc từ ngoại bì hoặc trung bì hoặc nội bì
Biểu mô có hai loại:
+ Biểu mô phủ: Lợp mặt ngoài cơ thể hoặc mặt trong các khoang thiên nhiên như: da, ống tiêu hóa, bàng quang , tử cung…
+ Biểu mô tuyến: tuyến ngoại tiết và tuyến nội tiết
Chức năng chung của biểu mô: bảo vệ, hấp thu, tái hấp thu, chế tiết
Trang 66Biểu mô có 5 đặc điểm cấu tạo:
- Các tế bào biểu mô thường đứng sát nhau, tạo thành lớp và tựa trên màng đáy ngăn cách với mô liên kết
- Lớp biểu mô thường có tính phân cực: cực ngọn quay về phía môi trường hoặc các khoang, cực đáy tựa trên màng đáy Tính phân cực thể hiện ở cấu tạo, phân bố bào quan và hoạt động tế bào
- Các tế bào biểu mô lân cận liên kết với nhau rất chặt chẽ bằng các hình thức liên kết phong phú
- Trong biểu mô không có mạch máu Biểu mô được nuôi dưỡng nhờ sự thẩm thấu các chất từ mô liên kết qua màng đáy
- Hầu hết biểu mô, đặc biệt là biểu mô phủ có khả năng tái tạo mạnh
3 BIỂU MÔ PHỦ:
3.1 Tế bào biểu mô phủ
3.1.1 Bào quan đặc biệt:
Vi nhung mao: là những nhánh bào tương cực ngọn tế bào, do bào tương
đội màng tế bào lên để tăng diện tích bề mặt tế bào Có cấu trúc khá kiên định nhờ bên trong có những sợi actin chạy dọc theo nhung mao
Lông chuyển: có cấu trúc giống như trung thể, bên ngoài được bọc bởi
một màng tế bào, nó có nhiều ở cực ngọn của tế bào trụ có lông chuyển của biểu
mô đường hô hấp Mỗi lông chuyển gồm 9 nhóm siêu ống ngoại vi và 2 siêu ống trung tâm xếp song song nhau và chạy theo chiều dọc của lông chuyển
Nếp gấp đáy: là những chỗ màng bào tương ở cực đáy tế bào biểu mô lõm
sâu vào bào tương tế bào tạo thành những mê đạo đáy
3.1.2 Sự liên kết giữa các tế bào:
Các tế bào biểu mô gần nhau liên kết với nhau rất chặt chẽ, nhờ các cấu trúc liên kết phong phú: chất gắn, khớp mộng, liên kết vòng bịt, thể liên kết vòng, thể liên kết, liên kết khe
Chất gắn: Là những phân tử kết dính tế bào nằm trong khoảng gian
bào hẹp giữa các tế bào
Khớp mộng: Là cấu trúc lồi lõm của tế bào khớp vào nhau
Liên kết vòng bịt: Là vùng liên kết khít ở cực ngọn, 2 màng tế bào như
được may lại bởi những hàng phân tử protein
Trang 67 Thể liên kết vòng: Cũng tạo thành 1 dãy quanh cực ngọn của tế bào
Thể liên kết: Là những cấu trúc liên kết điển hình, thường gặp, có
dạng bầu dục Ở mỗi phần tế bào đối diện có 1 tấm bào tương đặc với nhiều siêu sợi trương lực xuyên qua màng bào tương và đan vào nhau ở khoảng gian bào và làm cho sự liên kết càng thêm chắc
Liên kết khe: là những vùng rộng có đường kính khoảng 1000nm, ở đó
2 màng tế bào cách nhau 2- 3nm, trên màng tế bào có những phức hợp protein đặc biệt (connexon) tạo nên những khe thông có thể đóng mở để vận chuyển ion
có trọng lượng phân tử 2.103 từ tế bào này đến tế bào kia Loại liên kết này có thể
gặp ở tất cả các mô
3.2 Phân loại biểu mô phủ:
Dựa vào hình dáng tế bào:
Trang 68- Biểu mô lát,
- Biểu mô vuông,
- Biểu mô trụ
Dựa vào số hàng tế bào:
- Biểu mô đơn,
- Biểu mô tầng
Tổng hợp 2 tiêu chuẩn phân loại trên, biểu mô được phân thành:
- Biểu mô lát đơn,
- Biểu mô lát tầng,
- Biểu mô vuông đơn,
- Biểu mô vuông tầng,
- Biểu mô trụ đơn,
- Biểu mô trụ tầng
Ngoài ra còn gặp biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển và biểu mô trung gian (= biểu mô đa dạng tầng = BM chuyển tiếp = BM chuyển dạng = biểu mô niệu)
H5A BM lát đơn H5B BM vuông đơn
H5C BM trụ đơn
Trang 693.2.1 Biểu mô lát đơn: một lớp tế bào dẹt tựa trên màng đáy VD: biểu
mô của lá thành, lá tạng của phúc mạc, bao Bawnman của tiểu cầu thận…
3.2.2 Biểu mô vuông đơn: một lớp
tế bào hình khối vuông tựa trên màng đáy
Tế bào có nhân hình cầu nằm ở giữa VD:
biểu mô mầm buồng trứng, biểu mô các ống
thận…
3.2.3 Biểu mô trụ đơn: một lớp tế bào hình trụ có nhân hình bầu dục
nằm lệch về phía cực đáy VD: biểu mô dạ dày, ruột non, ruột già…
BM lát tầng
BM trung gian
Trang 703.2.4 Biểu mô lát tầng không sừng hóa: gặp ở thực quản, giác mạc…
Biểu mô này gồm 3 lớp:
- Lớp đáy (lớp sinh sản): là một hàng tế bào hình trụ thấp hay hình khối vuông, có nhiều tế bào nguồn có khả năng phân chia tạo tế bào mới thay thế lớp
tế bào già và bị bong của lớp bề mặt
- Lớp trung gian (lớp gai): gồm nhiều hàng tế bào hình đa diện
- Lớp bề mặt: vài hàng tế bào dẹt, dần dần bị già và bong ra
Biểu mô lát tầng không sừng hóa Biểu mô lát tầng sừng hóa
3.2.5 Biểu mô lát tầng sừng hóa:
- Lớp đáy (lớp sinh sản): là một hàng tế bào hình trụ thấp hay hình khối vuông, bào tương của lớp tế bào này có khả năng tổng hợp protein đặc hiệu tạo nên siêu sợi trương lực, có nhiều tế bào nguồn có khả năng phân chia tạo tế bào mới thay thế lớp tế bào già và bị bong của lớp bề mặt
- Lớp gai (lớp sợi, lớp Malpighi): gồm nhiều hàng tế bào hình đa diện Trong cả lớp đáy và lớp gai còn gặp tế bào hắc tố, đại thực bào biểu bì và lympho bào Tế bào hắc tố nằm ở lớp đáy nhưng các nhánh bào tương phát triển vào lớp gai, bào tương của chúng chứa nhiều hạt melanin
- Lớp hạt: nằm trên lớp gai gồm một số tế bào dẹt, bào tương chứa nhiều hạt kératohyalin và tơ trương lực
- Lớp bóng: gồm một số hang tế bào dẹt, bào tương chứa chất eleidin ( là phức hợp giữa kératohyalin và tơ trương lực)
- Lớp sừng: không còn hình ảnh cấu tạo tế bào, chất eleidin biến thành kératin (chất sừng) các vẩy sừng trên cùng không còn liên kết và bong ra
3.2.6 Biểu mô vuông tầng: gồm nhiều lớp tế bào hình vuông chồng lên
nhau VD: nang trứng thứ cấp, nang trứng có hốc, ống bài xuất của tuyến mồ hôi
Trang 713.2.7 Biểu mô trụ tầng: hiếm gặp trong cơ thể người, có ở kết mạc mắt
và các ống bài xuất lớn của tuyến nước bọt
3.2.8 Biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển: phủ bề mặt đường hô hấp
như xoang mũi, khí quản, phế quản và ống dẫn của một số cơ quan khác
Biểu mô này có các loại tế bào như: tế bào trụ có lông chuyển, tế bào đài,
tế bào đáy, tế bào mâm khía, tế bào chế tiết, tế bào nội tiết
3.2.9 Biểu mô đa dạng tầng (biểu mô trung gian = BM niệu = BM chuyển tiếp = chuyển dạng): lợp bề mặt bàng quang Gồm 3 loại tế bào đều tựa
trên màng đáy, hình dáng tế bào thay đổi tùy thuộc bàng quang căng đầy hay rỗng:
- Tế bào đáy: ở lớp đáy, hình khối vuông hay đa diện
Trang 724 BIỂU MÔ TUYẾN:
Gồm các tế bào tuyến có nhiệm vụ tổng hợp và bài xuất các sản phẩm đặc hiệu, chất tiết nên trong bào tương có lưới nội bào phát triển
4.1 Phân loại các tuyến:
Dựa vào cách chế tiết, bản chất chất tiết và hiệu qủa hoạt động của chúng,
ta phân thành tuyến nội tiết và tuyến ngoại tiết
4.1.1 Tuyến ngoại tiết:
- Là những tuyến đổ các chất tiết lên bề mặt da hoặc vào trong các khoang thiên nhiên
- Cấu tạo gồm 2 phần: chế tiết và ống bài xuất
- Tuyến ngoại tiết được chia làm 3 loại:
4.1.1.1 Tuyến ống:
Phần chế tiết và bài xuất tạo thành ống bao gồm:
- Tuyến ống đơn thẳng (tuyến Lieberkuhn ở ruột)
- Tuyến ống đơn cong queo (tuyến mồ hôi)
- Tuyến ống chia nhánh thẳng (tuyến đáy vị)
- Tuyến ống chia nhánh cong queo (tuyến môn vị)
4.1.1.2 Tuyến túi:
H13A Bàng quang rỗng H13B Bàng quang đầy
Trang 73+ Phần chế tiết phình ra tạo thành những nang tuyến
- Tuyến túi đơn (tuyến bã ở da) có nhiều nang tuyến đổ vào 1 ống bài xuất duy nhất
- Tuyến túi phức tạp hay còn gọi là tuyến túi kiểu chùm nho (tuyến vú, tuyến nước bọt) có nhiều nang tuyến và ống bài xuất phân nhánh kiểu cành cây
4.1.1.3 Tuyến ống túi:
+ Là những tuyến ống nhưng thành ống có nhiều túi phình (tuyến tiền liệt)
4.1.2 Tuyến nội tiết:
- Là những tuyến tiết ra các chất có tác dụng đặc hiệu (hormon) và ngấm vào máu
- Cấu tạo: Có 2 phần chính là tế bào chế tiết và mao mạch Ngày nay, người ta còn phân biệt 02 loại chế tiết nữa là: cận tiết (Paracrine) và tự tiết (Autocrine) mà thực chất cũng là nội tiết nhưng chỉ khác là chất tiết có thể không vào máu và các tế bào chế tiết đứng rãi rác tạo thành hệ nội tiết phân tán, không tạo thành các tuyến (Xem ống tiêu hóa)
- Về mặt hình thái học, tuyến nội tiết có 03 loại chính:
4.1.2.1 Tuyến túi:
Có cấu tạo từ những túi kín (tuyến giáp)
4.1.2.2 Tuyến lưới:
H15 Hình thái cấu tạo các loại tuyến ngoại tiết
Tuyến ống túi hỗn hợp và Tuyến ống phức tạp Tuyến túi phức tạp
Ống đơn Ống đơn cong queo Ông đơn chia nhánh Tuyến túi
Trang 74Các tế bào chế tiết tạo thành dãy và đan thành lưới, bên cạnh dãy tế bào là mao mạch (tuyến thượng thận và cận giáp)
4.1.2.3 Tuyến tản mác:
Các tế bào chế tiết đứng rãi rác hoặc thành nhóm nhỏ (tuyến kẻ ở tinh hoàn), các tế bào nội tiết ở biểu mô ống tiêu hoá tạo thành 1 hệ nội tiết phân tán
có thể xem như 1 hệ nội tiết tản mác
TUYẾN TÚI TUYẾN LƯỚI TUYẾN TẢN MÁC
4.2 Các kiểu chế tiết: Có 03 kiểu chế tiết:
4.2.1 Chế tiết toàn vẹn: (Xuất bào)
- Chất tiết được hình thành và chế tiết liên tục, là khối phân tử nhỏ nên tế bào không thay đổi cấu trúc
4.2.2 Chế tiết bán hủy:
- Là kiểu chất tiết hình thành từng khối lớn
- Khi tiết 1 phần cực ngọn tế bào bị mất
4.2.3 Chế tiết toàn hủy:
- Là kiểu cả tế bào bị biến thành chất tiết và được tiết ra ngoài
- Các tuyến ngoại tiết có thể chế tiết theo kiểu:
Toàn vẹn: Tuyến tụy ngoại tiết và tuyến nước bọt
Bán hủy: Tuyến vú
Toàn hủy: Tuyến bã
- Các tuyến nội tiết chỉ tiết theo kiểu toàn vẹn