1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Tài liệu Tây thiên thập bát tổ pptx

23 463 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tây thiên thập bát tổ
Chuyên ngành Điêu khắc cổ Việt Nam
Thể loại Bài thuyết trình
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 314,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tây thiên thập bát tổ Trong nghệ thuật điêu khắc cổ Việt Nam, từ những tượng cổ điển ở thời Lý, đến loạt tượng Phật - tượng Tổ - tượng Hậu thế kỷ XVI -XVII với nhiều tác phẩm đặc sắc tro

Trang 1

Tây thiên thập bát tổ

Trong nghệ thuật điêu khắc cổ Việt Nam, từ những tượng cổ điển ở thời Lý, đến loạt tượng Phật - tượng Tổ - tượng Hậu thế kỷ XVI -XVII với nhiều tác phẩm đặc sắc trong các chùa là sự khẳng định tài năng của nghệ sĩ Việt Nam Thế kỷ XVIII

ít có điều kiện cho điêu khắc phát triển, song là sự tích tụ âm ỉ của những kỳ tài Nguyễn Công Huệ, Tô Phú Vượng, Hoàng Đình Ưc và Đào Thúc Kiên để đến thời Tây Sơn đã chớp cơ hội tốt nhất, sáng tạo ra những tuyệt tác "Tượng chùa Tây Phương" mà đỉnh điểm là bộ tượng "Tây thiên thập bát tổ" (西天十八祖) mà chúng ta quen gọi là 18 vị La Hán chùa Tây Phương

Năm 1632, vào đời vua Lê Thần Tông, một ngôi chùa được xây dựng thượng điện

3 gian và hậu cung cùng hành lang 20 gian Khoảng những năm 1657-1682, Tây

Đô Vương Trịnh Tạc lại cho phá chùa cũ, xây lại chùa mới và tam quan Đến năm

1794 dưới thời nhà Tây Sơn, chùa lại được đại tu hoàn toàn với tên mới là "Tây Phương Cổ Tự" và hình dáng kiến trúc còn để lại như ngày nay

Hệ thống tượng "Tây thiên thập bát tổ" (Các vị Tổ kế đăng) ở chùa Tây phương trước 1943 và ngày nay bày có khác nhau, song cơ bản được tập trung ở toà chùa trong của khu Tam Bảo, vì thế toà chùa này mang tính Hậu đường hơn là chùa Thượng

Không rõ trước kia tượng các vị Tổ được bày theo hệ thống nào, hiện nay không bày theo trật tự kế đăng nhưng cũng không quá lộn xộn Trừ Tổ thứ 1 Ca Diếp Tôn giả và Tổ thứ 2 A Nan Đà tôn giả bày ở Phật điện chính trong bộ tượng "Nhất Phật Nhị tôn giả", các Tổ khác được bày ở gian bên của toà chùa trong, do tượng

có pho đứng pho ngồi đã gây được nhịp điệu vui mắt, có vươn lên, có dàn trải với quãng cách khác nhau

Hệ thống tượng Tổ kế đăng ở chùa Tây Phương có 18 pho là 18 cá thể, mỗi người một dạng vẻ, một tư thế, ai nấy có cuộc sống riêng biệt rất sắc nét, tất cả đều sống

Trang 2

động Đối chiếu những tượng này với hình vẽ trong thư tịch cổ "Thiền uyển kế đăng lục" soạn từ thời Lê Trung Hưng thì hầu hết có bố cục giống nhau, chỉ một ít tượng khác hẳn bố cục song vẫn đồng nhất về cái chung và nhất là ở những chi tiết đặc thù Vì thế qua nhận diện có thể khôi phục chính xác tên và xây dựng lai lịch cho từng nhân vật Bám theo hình mẫu trong thư tịch cổ, nhấn mạnh tính cách cá nhân, các nhà điêu khắc xưa đã sáng tạo được những tác phẩm điêu khắc mang đậm chất chân dung, chẳng những nắm bắt cấu tạo cơ thể chính xác, mà còn đi sâu vào cuộc sống nội tâm của nhân vật, đảm bảo được cả hai mặt của loại hình tác phẩm chân dung là giống và sống, cái giống ở đây là chất người của nhân vật đã tạo thành mẫu hình ổn định trong ý thức người xem Các vị Tổ đều là người Ấn

Độ, song ở chùa Tây Phương tượng các vị đã được các nghệ nhân Việt Nam sáng tạo mang phong cách riêng của nghệ thuật truyền thống Việt Nam Chúng ta gặp ở đây sự xum họp của những lớp người Việt đang sinh sống trên mọi miền quê đất nước Nó đạt tính dân tộc ở thời điểm ra đời, và giữ mãi tính dân tộc ấy để đóng góp một diện mạo Việt Nam vào kho tàng nghệ thuật tạo hình thế giới

Bộ tượng "Tây thiên thập bát tổ":

Tổ thứ 1: Ma-ha-ca-diếp (摩訶迦葉 mahākāśyapa)

Trang 3

Ở chùa Tây Phương, tượng Ca Diếp hiện đứng ở bên trái tượng Tuyết Sơn, là một người tuổi cao, ăn mặc nghiêm chỉnh, ánh mắt tinh tường, khoát tay ở thế chém Đây là một pho đậm chất chân dung, đặc tả cả dung mạo và tính cách

Gọi tắt là Ca Diếp nghĩa là uống ánh hào quang nên còn gọi là Ẩm Quang Trong một kiếp xa xưa, Ca Diếp đã giúp cô gái tán cục vàng để thếp lên chỗ tượng Phật

bị bong, vì thế liền 91 kiếp thân 2 người đều có màu vàng ròng Trước khi khuất gia, ông làm thợ kim hoàn, rất sành tuổi vàng ròng Là con một gia đình Bà La Môn, song ông quyết xả bỏ dòng dõi để tu theo Phật trở thành người nêu cao đạo lớn Khi Đức Phật Thích Ca ở núi Linh Thúy, một hôm giơ bông hoa cho mọi xem Hàng trăm vạn người không hiểu ý, chỉ một mình Ca Diếp hiểu ý, rạng rỡ mỉm cười Đức Phật bèn nói: "Ta có chính pháp nhãn tạng, nay trao cho ông Diệu pháp Niết bàn", phong ngài làm Tổ sư đầu tay cai quản Giáo hội Tăng già Sau khi

Trang 4

Đức Phật nhập diệt, ngài gõ chuông tập hợp chúng tăng kết tập ba tạng kinh điển tiểu thừa Khi A Nan chứng quả A La Hán, ngài truyền cho y bát

Tổ thứ 2: A-nan-đà (阿難陀 ānanda)

Theo quy định của bài trí Phật điện, A Nan phải được bày sóng đôi với Ca Diếp trong bộ tượng "Nhất Phật nhị tôn giả", đáng ra ở bên phải Tuyết Sơn thì trong một lần bày lại đã tiến lên hàng trước đổi chỗ cho Đại Diệu Tường Do tượng Ca Diếp đứng nên với tính sóng đôi A Nan cũng được tạc ở thế đứng với hình dáng chung nuột nà, trẻ trung, đang kết tập kinh tạng (ôm sách), ánh mắt và khóe miệng cùng cười vui vẻ Nụ cười hể hả biểu hiện bản chất của nhân vật đã trở thành tên gọi Tượng được tạo dáng đứng thẳng chững chạc, những nếp áo chảy sóng càng

Trang 5

làm tượng vươn lên trong khối chung óng nuột, tỷ lệ các phần cân đối, cả hình dáng và nội tâm đều sáng láng

A Nan, nghĩa là vui mừng, là Hoan Hỉ, Khánh Hỷ Ngài là em thúc bá của đức Phật sinh vào đêm phật thành đạo, 25 tuổi xuất gia và theo hầu bên đức Phật suốt

25 năm liền, được thụ trì tất cả Phật pháp, là người đa văn (hiểu biết ) số một Ngài có hâù bên Phật lúc cuối cùng, được Phật truyền cho những giáo điều sau rốt

Sau khi Ca Diếp nhập tịch, A Nan được truyền làm Tổ thứ 2 Khi A Nan mệnh yểu nhược, ngài vắt chân ngồi yên trên dòng sông Hằng cứ nhè giữa dòng mà đi vào cõi Niết bàn

Tổ thứ 3: Thương-na-hòa-tu (商那和修 śānavāsin)

Thương Na Hòa Tu còn gọi là Thương Nặc Ca Phoọc Sa, xuất phát từ loại cỏ thiêng và một loại áo lạ gọi là Thương Na hay Thương Nặc Ca Khi nào có bậc thánh nhân ra đời thì loại cỏ này ứng nghiệm từ đất sạch mọc lên báo trước Khi còn ở kiếp trước, ngài đã lấy loại cỏ thiêng này tết thành áo Ngài ở trong bụng mẹ những 6 năm mới sinh hạ, sinh ra đã có áo mặc sẵn theo thân, thân mình cao lớn dần thì áo mặc cũng rộng lớn theo cho phù hợp Khi ngài xuất gia thì áo đó trở thành pháp phục, khi ngài thụ cụ túc giới thì áo đó biến thành áo cà sa 9 mảnh, khi

Trang 6

sắp tịch ngài nguyện để lại áo cho đến khi đạo pháp của đức giới Thích Ca huyền tận thì áo mới bị mục nát Do đó tên cỏ và tên áo trở thành tên người

Ngày trước khi Thích Ca đi hoằng dương đạo pháp có đến xứ sở của ngài, thấy dải cây xanh um, mới nói với A Nan rằng: " Sau khi ta tịch diệt 100 năm sẽ có một

vị tăng nhân tên là Thương Na Hoà Tu truyền bá giáo pháp của ta ở đây" Nay quả đúng như thế

Thương Na Hoà Tu sau khi chứng ngộ quả pháp, có lần đi giáo hoá chúng sinh đã tìm được Ưu Ba Cúc Đa, cho xuống tóc làm thị giả Một lần ngài hỏi Ưu Ba Cúc

Đa về tuổi đời và tâm tính, được đáp: "Thân con 17 tuổi nhưng tính tình chăớng phải 17 đâu" Đây là vấn đề hiện tượng và bản chất thuộc triết học, nói chung thì phù hợp nhưng không phải lúc nào cũng phù hợp Sau khi dặn Ưu Ba Cúc Đa chớ sao nhãng làm đứt đoạn đạo pháp, ngài vào núi ở ẩn nhưng vẫn thiền định theo dõi

và nhắc nhở Khi các tăng chúng chứng được quả A La Hán, Thương Na Hoà Tu bèn hiện 18 ban biến hoá đi vào ánh lửa Tam muội để tự thiêu, xá lị nhập tháp

Trong chùa Tây Phương, tượng Thương Na Hoà Tu bày ở gian bên phải toà chùa trong là một ông già luôn lo toan, ngồi chân thõng chân co vắt ngang, một tay để trên đùi còn tay kia thu trong bọc, áo mặc nhiều nếp lượn để hở bộ ngực gầy giơ xương đôi mắt xụp, miệng mím, ít nói nhưng nghĩ nhiều đã tạo nên một ông già khắc khổ, sống bằng nội tâm

đá trắng Lúc đầu đá đen nhiều, đá trắng ít, rồi dần đá đen và đá trắng bằng nhau,

về sau không có đá đen chỉ toàn đá trắng, bấy giờ ngài đã vững vàng Năm 17 tuổi

Trang 7

ngài xuất gia, năm 20 tuổi đã chứng được quả Ngài hay vân du để xiển dương Phật pháp, độ được rất nhiều người Điều đó khiến ma quỉ lo sợ và tìm mọi cách quấy phá Nhờ pháp thuật cao, ngài hàng phục được cả ma Khi thuyết pháp, cứu

độ được cho một người, ngài lại cất một thẻ tre vào nhà đá Về sau có Hương Văn xin xuất gia Qua trao đổi, biết hương Văn đã ngộ được đạo, ngài làm lễ xuống tóc cho và trao cho giới thanh văn, lại bảo: "Phụ thân người nằm mộng thấy mặt trời chói lọi sắc vàng, liền đó sinh ra người, vậy nên đặt pháp danh là Đề Đa

Ca".Truyền đạo xong, ngài ngồi yên trên pháp toà, tự nhiên hoá, Xá lị được xây tháp để thờ

Tượng Ngài ở chùa tây Phương đặt ở góc sau bên phải toà chùa trong thể hiện ngài là một người độ lượng, ham học hỏi, ham giúp đời Ngồi nhấp nhổm trên gót chân trái quỳ gập lại, còn chân phải gấp chống làm điểm tựa cho bàn tay cầm một vật nhẹ (bút hay thanh tre? - đã bị mất), tay bên kia cầm thẻ tre, người dướn lên, đầu nhô cao, mình mặc 2 lớp áo dài xoà trùm xuống đất Tượng có đầu to tròn, trán cao, hói quá đỉnh biểu hiện sự thông minh; lông mày to rộng cùng với bộ râu quai nón và hàng ria mép là những vệt đen đậm làm nổi đôi mắt tròn sáng mở to nhìn xa rất chăm chú, phối hợp với cái miệng chúm mở, rõ ràng là sự thuyết giảng nhũng giáo lý uyên thâm, cứ như thôi miên quán xuyến cả đám đông người nghe Đôi tai dài, gò má đầy và cánh mũi nở càng ăn ý với những mảng khối căng tròn trên vai và đầu gối, tất cả đều biểu đạt sự sung mãn mà ngay khi xuất gia tâm tính

đã vượt xa 17 tuổi đời Bộ ngực chỉ lộ một mảng nhỏ hơi hằn nổi xương sườn, cùng với các mảng khối da thịt khác sáng láng là sự tráng kiện của tuổi trung niên Pho tượng đơn chiếc nhưng người chiêm ngắm lại cứ mường tượng có đám đông chúng sinh phía trước cùng hướng về nơi Tổ ngồi Đây là một pho tượng rất thành công trong sự cân đối và sống động

Tổ thứ 5: Đề Ca Đa 提多迦 dhītika

Trang 8

Tên tục là Hương Văn (hay Hương Trượng), khi xuất gia được sư phụ đặt pháp hiệu Đề Đa Ca nghĩa là thông chân lượng, biểu hết thảy vì khi được hỏi rằng:

"Thân người xuất gia hay tâm người xuất gia?" đã trả lời: "Tôi xuất gia chẳng vì thân cũng chẳng vì tâm Không sinh không diệt là cái chân thường của Đại Đạo, chư Phật cũng là thường đạo Tâm không hình tướng, thể cũng vậy?

Khi ngài mới sinh ra, ông bố nằm mơ thấy 1 mặt trời chói lọi sắc vàng từ trong nhà bay ra chiếu khắp trời đất, phía trước có toà núi lớn, khắp núi là những thứ chân bảo hoa mĩ, đỉnh núi có khe nước trong vọt ra phân thành 4 nhánh chảy réo rắt Khi biết chuyện, Ưu Ba Cúc Đa giải thích: Núi báu kia là thân thể ngươi, suối nước là chỉ pháp Phật vô tận, mặt trời là sự nhập đạo của ngươi để rồi rọi chiếu trí tuệ đến mọi người

Đề Đa Ca sau khi nhận y bát của Ưu Ba Cúc Đa để làm Tổ thứ 5 đã phụng trì không biếng trễ Một lần đến miền trung Âấn Độ, Di Giá Ca đem 8 ngàn Đại tiên đến nghênh đón Xa xưa 2 người là đồng học, rồi một tu đạo Tiên một tu thiền định, đã qua 6 kiếp nay lại gặp nhau Đề Đa Ca thọ giới cho Di Giá Ca, lại vận thần thông để tất cả các vị Tiên đều xin xuất gia Sau đấy Đề Đa Ca đem thanh tịnh pháp nhãn truyền lại cho Di Giá Ca làm Tổ thứ 6

Ở chùa Tây Phương, tượng Tổ thứ 5 Đề Đa Ca được bày ở bên trái Tổ thứ 4, ở thế ngồi , hai tay đưa trước ngực Toàn bức tượng tạo thành một khối chóp đóng kín, đường viền rõ ràng, mảng khối óng ả, các nếp áo chảy song hành dễ dàng, tất cả như gợi lại điềm lành khi sinh, nhưng khuôn mặt đăm chiêu như có sự vướng mắc chờ đợi người xứng đáng để trao truyền y bát, do đó gợi khoảng không mênh mông tuyệt đối

Tổ thứ 6: Di-Giá-Ca (彌遮迦 miśaka )

Di Giá Ca sau khi trở thành vị Tổ thứ 6 đã đi giáo hoá nhiều nơi Một hôm thấy

Trang 9

trên thành có mây lãnh sắc vàng bèn bước vào, đến chợ gặp người cầm chén rượu chặn hỏi Sau những câu thăm dò, Tổ bảo người kia nói rõ họ tên sẽ cho biết

nguyên cớ Được biết đó là Bà Tu Mật họ Phả La Đọa, Di Giá Ca liền bảo: "Thầy

ta là Đề Đa Ca có nói rằng xưa đức Thế Tôn vân du đến miền Bắc Âấn, đã nói với

A Nan rằng: Sau khi ta tịch diệt chừng 300 năm, xứ này sẽ sinh bậc thánh nhân họ Phả La Đoạ tên Bà Tu Mật làm vị Thiền Tổ thứ 7 Đức Phật đã biết trước, vậy nay ngươi nên xuống tóc xuất gia" Bà Tu Mật cũng cho hay: Trong một kiếp xưa có cúng giàng, được Như Lai bảo ở đời Hiền kiếp sẽ thay ngài xiển dương chính pháp, vậy nay xin Đại sư cho được xuất gia Tổ bèn thu nhận, và về sau trao

truyền cho Phật pháp để làm Tổ thứ 7 Tổ nhắm mắt đi vào cảnh giới giải thoát, vọt vào hư không rồi lại trở về pháp toà làm ngọn lửa tự thiêu, xá lị để vào tháp

Ở chùa Tây Phương, tượng Tổ thứ 6 Di Giá Ca được đặt ở giữa Tổ thứ 3 và Tổ thứ 5, thế đứng chững chạc, mặc áo dài nghiêm túc, đang trong sự ngỡ ngàng tìm hiểu điều gì đó, tay phải thu trong bọc còn tay trái như bấm đốt lần tính, khuôn mặt có vẻ bàng hoàng ngơ ngác, cả mắt và miệng đều đang thăm dò với động thái hấp háy khó nói rõ Và như thế, người xem cảm nhận phía trước Tổ có cảnh lạ hay

ai đó đang đối thoại Tượng có dáng vẻ bình tĩnh song nội tâm lại động rộn

Tổ thứ 7: Bà Tu Mật ( 婆須密 vasumitra, còn gọi là Thế Hữu)

Bà Tu Mật vốn là người thích ăn mặc sạch sẽ, tay không rời chén rượu, thường du hành trong đám dân quê, hay ngâm thơ và lớn tiếng ca hát Người ta cho ngài là người cuồng Khi được Tổ thứ 6 tuyên giảng về tiền duyên, Bà Tu Mật bỏ rượu và xin xuất gia Sau khi tiếp thừa y bát trở thành Tổ thứ 7, ngài hay đi các nơi giáo hoá chúng sinh Một hôm có kẻ trí đến gặp, xưng tên là Phật Đà Nan Đề, muốn được cùng bàn về nghĩa cả, nhưng khi biết Tổ thứ 7 hơn hẳn một cái đầu, thì tình nguyện xin theo để cầu chính pháp

Sau khi xuống tóc và trao giới thanh văn cho Phật Đà Nan Đề, ngài nhắc phải

Trang 10

Đọc xong Tổ đi vào cảnh giới niết bàn

Hình Tổ thứ 7 Bà Tu Mật được vẽ trong các thư tịch cổ và tạc thành tượng ở chùa Tây Phương đặt ở bên trái Tổ thứ 3 gần như tương đồng: Tổ là người cao tuổi, rất chú ý đến trang sức, đầu tóc buộc dây và chải mượt, mặc áo tĩnh y với những nếp gấy chảy nuột, chân giầy, cổ tay đeo vòng, đứng thẳng, ngửa mặt lên trời, miệng

há vừa như chào đon đả hay đọc kệ, hai tay chắp lại đưa lên ngang mặt thi lễ, mắt lim dim hẳn nghệ sỹ xưa muốn diễn tả giây phút cuối đời của Tổ đang truyền

kệ cho các chư Tiên Là tượng đơn, song chiêm ngắm Tổ, người xem cảm được cả một tập thể mà Tổ đang giao tiếp Hình ảnh Tổ được nghiên cứu rất kỹ để từng chi tiết phối hợp lại bộc lộ rõ tính cách lịch thiệp, trang trọng, ngoại hình gắn bó chặt chẽ với nội tâm

Tổ thứ 8: Phù Đà Nan Đề ( 浮陀難提 buddhanandi) hoặc Phật-đà-nan-đề

(佛陀難提)

Tổ có nhục kháo trên đầu, có tài biện luận, giỏi ăn nói, sống thoải mái Khi biết Tổ thứ 7 đến nước mình, ngài chủ động tìm gặp, tự giới thiệu và xin cùng luận bàn nghĩa cả Sau khi được Bà Tu Mật trao truyền giáo Pháp làm Tổ thứ 8, đã đi vân

Trang 11

du khắp nơi để xiển dương chính pháp

Một lần thấy trên nhà nọ toả ra thứ ánh sáng trắng kỳ lạ Tổ nói với các đồ đệ:

"Trong nhà ắt có thánh nhân có thể hoằng dương Phật pháp Người này chưa hề nói và đi đâu vì không muốn tiếp xúc với ô uế bên ngoài" Chủ nhà ra mời Tổ vào

và nói rõ: "Con trai tôi là Phục Đà Mật Đa đã 50 tuổi mà chưa nói một lời, chưa đi một bước" Tổ nhận ra đây là người mình cần tìm, thì Phục Đà Mật Đa cũng bước

ra thi lễ, đọc kệ nói lên công ơn cha mẹ khó đáp đền và tâm nguyện muốn đi tìm đạo, sau đó đi 7 bước

Sau khi nghe Tổ giải thích, vị trưởng giả chủ nhà quyết định xa con, để Phục Đà Mật Đa theo Tổ làm đầu đà Không bao lâu, Phật Đà Nan Đề trao truyền thanh tịnh pháp nhân cho Phục Đà Mật Đa làm Tổ thứ 9

Tượng Tổ thứ 8 ở chùa Tây Phương bày ở các góc ngoài phía bên phải toà chùa trong, là một người béo tốt, ngồi bệt, chân phải xếp bằng, chân trái chống

nghiêng, tay trái để trên đùi, tay phải đang ngoáy tai Cả pho tượng thể hiện sự căng nây, óng ả, mặt hỉ hả, đôi mắt hóm hỉnh, miệng cười dễ dãi, khuôn mặt sáng sủa, tất cả toát lên sự thông minh, mềm mỏng, nói khéo, dễ gần Đây là pho tượng đặc biệt sống động, dù cái que bị mất vẫn luôn gợi động tác ngoáy tai, ngoài sự kích thích còn biểu hiện sự giao tiếp và ứng xử văn hoá uyên bác

Tổ thứ 9: Phù-đà-mật-đa ( 浮陀密多 buddhamitra) hoặc Phật-đà-mật-đa

(佛陀密多)

Phục Đà Mật Đa tuy 50 năm liền không nói không đi nhưng không phải là bệnh lý

mà là muốn giữ mình trong sạch Ngay cả khi gặp Tổ thứ 8 Phật Đà Nan Đề, ngài

đã có những biểu hiện như khi đức Phật ra đời là đọc bài kệ và đi 7 bước, khiến Tổ thứ 8 nhận xét về ngài: "Vị Tiên sinh này kiếp xưa chắc đã gặp Phật Tổ, có tâm nguyện sâu rộng, nhưng khó báo ân nghĩa mẹ cha" Ngay sau khi nhận sự phó thác

Ngày đăng: 15/02/2014, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w