hiểu phân bố dân cư và địa bàn cư Nguyễn Hằng,Thế Hùng, Xuân Hùng,Bích Ngọc Nét đặc sắc trong văn hóa vật chất của người Mường ở Ninh Bình: Ăn uống Kiến trúc nhà ở Trang phục Nhóm 3:
Trang 1DÂN TỘC MƯỜNG
Ở NINH BÌNH
Trang 2hiểu phân bố dân
cư và địa bàn cư
Nguyễn Hằng,Thế Hùng, Xuân Hùng,Bích Ngọc
Nét đặc sắc trong văn hóa vật chất của người Mường
ở Ninh Bình:
Ăn uống Kiến trúc nhà ở Trang phục
Nhóm 3: Trung Hưng, Cẩm Liên, Cẩm Ly, Văn
Thanh, Minh Thư
Chủ đề: Nét đặc sắc trong văn hóa tinh thần của
người mường ở Ninh Bình
Tổ chức cộng đồng
Hôn nhân gia đình
Tín ngưỡng Văn hóa văn nghệ
Trang 31 Phân bố dân cư và địa bàn cứ trú
• Dân số có khoảng 20.149 người,
• Cư trú vừa tập trung, vừa xen kẽ với người Kinh và sống rải rác trên địa bàn huyện Nho Quan, thuộc 8 xã: Thạch Bình, Xích Thổ, Yên Quang, Văn Phương, Phú Long, Kỳ Phú, Cúc Phương, Quảng Lạc.
Trang 4• Người Mường ở Ninh Bình có 4 nhóm cộng
đồng là:
+ Mường Vang (ở xã Thạch Bình, Xích Thổ, Yên Quang)
+ Mường Rậm (ở xã Cúc Phương và xã Văn
Phương sau này)
+ Mường Bơ (ở xã Quảng Lạc)
+ Mường Kỳ Lão (ở xã Kỳ Phú và xã Phú Long sau này)
Trang 5Về địa hình cư trú và sinh sống:
• Hầu hết các bản, trại, xóm Mường ở huyện Nho Quan - Ninh Bình đều có địa hình phức tạp,
theo địa thế các dải đồi núi, các thung lũng,
vùng bán sơn địa, cách xa tỉnh lỵ, huyện lỵ, các trung tâm kinh tế và văn hoá
• Nơi cư trú chính (nhà ở) của Mường vùng này thường là ven các đồi núi, và trên bề mặt các
thung lũng có thể canh tác lúa nước và hoa màu (ngô, sắn, đậu, khoai, vừng…) Có những bản,
xóm trại của người Mường rất đa dạng, về địa hình khá phức tạp
Trang 6Về đất đai canh tác:
• Đất đai canh tác của đồng bào Mường ở Nho Quan - Ninh Bình gồm nhiều chủng loại: đất đồi vùng bán sơn địa, (đất đỏ lẫn sỏi, đá gan trâu), đất bạc màu, đất
bồi lắng ở các thung lũng khá màu mỡ
Trang 7Về kinh tế
• Người Mường biết làm ruộng từ lâu đời
và sống định canh định cư Nghề nông chiếm vị trí hàng đầu trong đời sống kinh
tế và lúa là cây lương thực chủ yếu Lúa nếp được trồng nhiều hơn lúa tẻ
Trang 8• Người Mường cũng làm nương rẫy, diện tích nương không lớn nhưng thường gia đình nào cũng có Bên cạnh trồng hoa màu, đồng bào còn trồng các cây công nghiệp và một số cây khác như: Luồng (Thanh Hóa), Trầu, Sở (Hòa Bình) Một vài nơi có trồng cây Gai, Đay, Quế, cây thuốc, cây lấy cánh kiến… Bông cũng là loại cây trồng quan trọng trước đây.
Trang 9• Người Mường chăn nuôi trâu, bò
chủ yếu là dùng làm sức kéo trong nông nghiệp, trong nghề rừng và một phần làm phân bón ruộng Trâu được nuôi nhiều hơn bò và còn được dùng trong các nghi lễ tôn giáo, trong cưới xin, để trao đổi hay bán cho miền xuôi Ngoài ra đồng bào còn nuôi các loại gia súc, gia cầm khác như: lợn,
gà, vịt…
Trang 10• Người Mường cũng có nghề thủ công là dệt vải, đan lát, nuôi tằm ươm tơ Một số nghề thủ công quan trọng như: nghề gốm, đúc kim loại, rèn hầu như không có Những sản phẩm bằng gốm, bằng kim khí đều phải mua hoặc trao đổi.
Trang 11• Cơ chế thị trường đã tác động rất lớn đến tập quán canh tác và chăn nuôi của cư dân Mường, việc trao đổi, mua bán hàng hóa trong vùng Mường cũng diễn ra phong phú
và nhộn nhịp không khác gì các chợ miền xuôi, đây là điều kiện thuận lợi để người dân thoát dần ra khỏi tập quán canh tác cũ, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào
Trang 122 Văn hóa tinh thần
• - Về thiết chế xã hội và cộng đồng:
• Thiết chế xã hội của người Mường ở Ninh Bình trước đây được chia thành mường và xóm,
Trang 13• Tổ chức Mường của người Mường tỉnh Ninh Bình không quy định phạm vi lớn,
bé và có bao nhiêu xóm hợp thành , có các mường do nhà lang quản lý trực tiếp đến các xóm
Trang 14• Thiết chế xã hội của người Mường ở Ninh Bình và người Mường ở những nơi khác
có những điểm tương đồng, cũng là thiết chế xã hội theo kiểu xóm, mường, nhưng mường của người Mường ở Ninh Bình không có các mường nhỏ dưới quyền mường lớn
• Quan hệ giữa tầng lớp quý tộc thống trị với tầng lớp bị trị cũng rất rõ ràng, bộ máy cai trị của Thổ tù trong các Mường ở Ninh Bình được tổ chức đơn giản
Trang 15Về đặc điểm gia đình và hôn nhân:
• Gia đình và hôn nhân của người Mường
ở Ninh Bình, chúng tôi thấy: Người
Mường nói chung thuộc tộc người phụ
hệ, gia đình Mường cổ truyền thường tồn tại hai loại cơ bản là gia đình lớn và gia đình nhỏ.
Trang 16Văn hóa văn nghệ dân gian qua các lễ hội, phong tục, tập quán:
• + Các truyền thuyết dân gian: Chủ yếu tập
trung lý giải về nguồn gốc các nhóm cộng
đồng người Mường, chủ yếu là bốn nhóm
người Mường, đã giới thiệu ở phần trên
• Mỗi nhóm cộng đồng người Mường ở Ninh
Bình thường có cách lý giải riêng về lai lịch
của mình
Trang 17• Lịch Mường tương truyền có trước âm lịch và dương lịch,
được gọi là “Lịch Trăng”, gắn bó mật thiết với cuộc sống
sinh hoạt đơn sơ.
• Mỗi ngày đêm được chia thành 16 giờ lịch Mường Như
giờ “Ca cáy” (5h-6h30), giờ “Hiệng sáng” (6h30-8h) Mỗi
tháng được chia làm 3 tuần theo tên gọi: Thượng tuần,
gọi là “Cây”, Trung tuần gọi là “Lồng”, còn Hạ tuần gọi là
“Cối” Cứ thế ba tuần nối tiếp nhau lần lượt trong năm
Trong thượng tuần có mười “ngày cây” Ngày cây một, ngày cây hai… Trung tuần có mười “ngày lồng”, Hạ tuần
có mười “ngày Cối”…
Trang 18• + Hát đúm ngày Xuân: Hát đúm là một
loại dân ca Mường Các cuộc hát đúm thường chỉ diễn ra vào mùa Xuân, khi hoa mơ, hoa mận, hoa đào nơi các bản Mường đang độ khoe sắc.
Trang 19• + Hát Rằng Thường: Trong ko tàng văn hoá phi
vật thể của dân tộc Mường nói chung, trong
hệ thống dân ca Mường nói riêng, có một
dạng thức dân ca, một lối hát đặc biệt, có
nguồn gốc từ lâu đời là hát “Rằng thường”
(Rằng thường - tiếng Mường ở Nho Quan,
Ninh Bình)
Trang 20• Ngoài các hình thức sinh hoạt văn hóa văn
nghệ dân gian nêu trên, người Mường ở Ninh Bình còn có nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng khác như: ném còn, múa mỡi, múa đâm ống…