(Luận án tiến sĩ) Sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình, Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình, Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình, Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình, Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình, Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình, Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình, Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình, Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình, Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình, Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình, Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình, Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình, Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình, Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình, Việt Nam hiện nay
Trang 1HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYấN TRUYỀN
ĐINH THỊ THANH MINH
Sự biến đổi văn hóa truyền thống của
ng-ời M-ờng
ở Hòa Bình, Việt Nam hiện nay
Chuyờn ngành: Triết học
Mó số: 92 29 001
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Nguyễn Thị Minh Tõm 2 PGS.TS Lương Quỳnh Khuờ
HÀ NỘI - 2022
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu, số liệu trích dẫn trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận án chƣa từng đƣợc
ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả luận án
Đinh Thị Thanh Minh
Trang 3MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN 7
1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 7
1.2 Đánh giá tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra đối với luận án 22
Tiểu kết chương 1 25
Chương 2: LÝ LUẬN VỀ SỰ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở HÕA BÌNH 27
2.1 Quan niệm về văn hóa, văn hóa truyền thống và sự biến đổi văn hóa truyền thống 27
2.2 Văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình 38
2.3 Những nhân tố tác động đến sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường Hòa Bình hiện nay 53
Tiểu kết chương 2 71
Chương 3: THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG HÕA BÌNH HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 73
3.1 Thực trạng biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường Hòa Bình hiện nay 73
3.2 Nguyên nhân sự biến đổi trong văn hóa truyền thống của người Mường Hòa Bình hiện nay và một số vấn đề đặt ra 97
Tiểu kết chương 3 109
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC ĐẾN SỰ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở HÕA BÌNH HIỆN NAY 110
4.1 Phương hướng tác động tích cực đến sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường hiện nay 110
4.2 Một số giải pháp tác động tích cực đến sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình hiện nay 117
Tiểu kết chương 4 145
KẾT LUẬN 146
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 149
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 150 PHỤ LỤC
Trang 4DT : Dân tộc
VH : Văn hóa CNH : Công nghiệp hóa HĐH : Hiện đại hóa VHDT : Văn hóa dân tộc UBND : Ủy ban nhân dânDTTS : Dân tộc thiểu số
KT - XH : Kinh tế - xã hội
THCS : Trung học cơ sở ATK : An toàn khu
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
VH là năng lực sáng tạo của con người trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, biểu hiện ra bằng hệ thống giá trị được tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn và bằng các hình thức tổ chức đời sống con người Do đó, VH luôn giữ một vị trí, vai trò quan trọng, là nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn lực nội sinh, động lực cho sự phát triển đất nước Đặc biệt ngày nay, trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, VH càng trở thành vấn đề hệ trọng của các quốc gia, bởi nó đã trở thành điều kiện thiết yếu cho sự phát triển bền vững
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của VH như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chủ trương xây dựng nền VH tiên tiến, đậm đà bản sắc DT (Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI), trong
đó có VH các tộc người
Trong đại gia đình các DT Việt Nam, người Mường có số dân đông thứ tư
ở Việt Nam (sau người Kinh, Tày, Thái), có nguồn gốc từ người Việt cổ Người Mường sống tập trung ở vùng núi phía Bắc, nơi tập trung đông nhất là ở tỉnh Hòa Bình và một số huyện miền núi của Thanh Hóa Trong suốt chiều dài lịch
sử, người Mường đã tạo nên những giá trị VH đặc sắc Những giá trị VH này được sáng tạo, tích lũy, trao truyền trong cộng đồng người Mường, qua sàng lọc của thời gian đã kết tinh trong hệ giá trị vật chất và tinh thần làm nên bản sắc riêng trong cộng đồng VH Việt Nam Những giá trị VH đó là điều kiện tiên quyết để cố kết cộng đồng người Mường trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt
xã hội, trong chống thiên tai, chống giặc ngoại xâm, xây dựng xã hội người Mường sống ngăn nắp, nề nếp, trật tự, kỷ cương Ngày nay, giá trị VH của người Mường là sợi dây gắn kết giữa truyền thống và hiện đại, giúp xã hội người Mường phát triển bền vững
Tuy nhiên, hiện nay đất nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh thì việc mở rộng giao lưu, hội nhập trong bối cảnh toàn cầu hóa đã và đang đem đến cho dân tộc Việt Nam nói chung và
Trang 6tộc người Mường nói riêng cơ hội mới để phát triển, song cũng đặt ra không ít thách thức
Cơ hội mà toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đem lại trong lĩnh vực VH đó chính là việc thông qua sự tăng cường giao lưu, ảnh hưởng và xích lại gần nhau giữa các quốc gia, dân tộc đã tạo điều kiện để các dân tộc giao lưu, học hỏi lẫn nhau làm cho VH các dân tộc phong phú, đa dạng hơn Trong sự giao lưu, tiếp biến VH sẽ tất yếu nảy sinh nhu cầu tiếp thu tinh hoa VH nhân loại làm cho VH
DT nói chung và VH tộc người Mường nói riêng được bổ sung, làm giàu giá trị
và bản sắc VH truyền thống Mặt khác, những yếu tố VH lạc hậu, không phù hợp với bối cảnh mới, thậm chí cản trở sự phát triển của DT, tộc người sẽ được nhìn nhận đánh giá và đào thải khỏi đời sống cộng đồng Tất cả góp phần tạo nên những giá trị VH vừa đậm đà bản sắc vừa tiên tiến và hiện đại hóa, trở thành sức mạnh nội sinh, động lực và hệ điều tiết cho sự phát triển đất nước nói chung và
sự phát triển tộc người Mường ở Hòa Bình nói riêng
Bên cạnh những cơ hội cho sự phát triển thì VH DT nói chung và VH tộc người Mường nói riêng cũng đang phải đối mặt với những thách thức, đó là nhiều giá trị VH truyền thống có sự biến đổi, có những yếu tố bị mai một, pha tạp, mất dần bản sắc và tính đa dạng Bên cạnh đó là sự tiếp thu ồ ạt VH ngoại lai, coi thường, quay lưng lại với VH truyền thống của tộc người Đặc biệt là giới trẻ hiện nay, họ không mặn mà gì với VH truyền thống của DT
Khi nghiên cứu về dân tộc Mường ở Hòa Bình, tôi nhận thấy nét VH Mường đang có những biến đổi không hề nhỏ, có những biến đổi tích cực, có những biến đổi làm mai một, phai nhạt bản sắc giá trị VH truyền thống Những thay đổi có thể nhận thấy ngay bằng việc quan sát bề ngoài như cái ăn, cái mặc, chỗ ở và cách xây dựng nhà, phương tiện đi lại Cùng với đó là những thay đổi
trong tín ngưỡng - phong tục tập quán và lễ hội Sâu xa hơn đó là sự biến đổi
trong lý tưởng, lối sống, cách ứng xử của người Mường trước những mối quan
hệ giữa người với người, với cộng đồng làng bản, với dân tộc và mối quan hệ ứng xử giữa tộc người Mường với môi trường thiên nhiên Trước tình hình đó tôi thiết nghĩ bản thân mình cần làm gì đó để góp phần vào việc bảo tồn và phát huy
Trang 7những yếu tố VH đặc sắc của dân tộc Mường ở Hòa Bình; đồng thời đưa ra những giải pháp để tác động tích cực vào sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình và hạn chế những yếu tố tiêu cực tác động đến VH
Hòa Bình trong thời kỳ đổi mới Vì thế, tôi chọn đề tài: “Sự biến đổi văn hóa
truyền thống của người Mường ở Hòa Bình, Việt Nam hiện nay” làm luận án
tiến sỹ chuyên ngành triết học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích làm rõ những biến đổi của
VH truyền thống của người Mường ở Hòa Bình (Việt Nam) hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp tác động tích cực vào sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình Qua đó, góp phần xây dựng, giữ gìn, phát huy giá trị
VH truyền thống của người Mường trong tiến trình xây dựng nền VH Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc DT hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận án và xác định những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về sự biến đổi VH Mường Hòa Bình trong giai đoạn hiện nay
- Phân tích những nhân tố tác động đến sự biến đổi VH truyền thống của người Mường ở Hòa Bình trong giai đoạn hiện nay
- Phân tích, đánh giá sự biến đổi trong VH truyền thống của người Mường Hòa Bình hiện nay, làm rõ xu hướng biến đổi, phân tích nguyên nhân và những vấn đề đặt
ra đối với sự biến đổi VH của người Mường Hòa Bình hiện nay
- Đề xuất ra một số giải pháp tác động tích cực vào sự biến đổi VH truyền thống để góp phần giữ gìn, phát huy vai trò VH truyền thống và xây dựng VH của người Mường Hòa Bình hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là: Sự biến đổi VH truyền thống của người Mường ở Hòa Bình hiện nay
Trang 83.2 Phạm vi nghiên cứu
- Luận án nghiên cứu sự biến đổi VH truyền thống của người Mường ở Hòa Bình trong giai đoạn hiện nay, thời gian là trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam (bắt đầu từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ năm 1986 trở lại đây), khi Việt Nam thực hiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, hội nhập quốc tế, thực hiện CNH, HĐH
- VH truyền thống của người Mường ở Hòa Bình hết sức phong phú Trong khuôn khổ của luận án tiến sĩ, luận án tập trung nghiên cứu sự biến đổi
VH truyền thống ở khía cạnh VH vật chất (tổ chức xã hội, làng của người Mường; tập quán canh tác; nhà ở truyền thống; ẩm thực truyền thống; trang phục truyền thống)
và VH tinh thần (ngôn ngữ; tín ngưỡng truyền thống; lễ hội truyền thống; một số tập quán truyền thống; nghệ thuật dân gian)
- Luận án nghiên cứu VH truyền thống của người Mường với tư cách là một DT - tộc người trong cộng đồng quốc gia DT Việt Nam
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, quan điểm của Liên Hợp quốc về xây dựng, giữ gìn, phát huy bản sắc VH DT và tộc người
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đặc biệt là quan điểm khách quan, toàn diện, phát triển, lịch sử - cụ thể, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, lịch sử và logic Ngoài ra luận án còn sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp tổng kết, so sánh, điều tra xã hội học, sử dụng các tư liệu
- Tư liệu sơ cấp: Các số liệu, thông tin được lấy từ phương pháp điền dã, phát vấn và phân tích tài liệu thu thập được từ Hòa Bình
- Tài liệu thứ cấp: Những số liệu, tài liệu, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, kể cả các công trình nghiên cứu cấp trường và luận văn luận án
Trang 9- Tư liệu cấp ba: Các văn kiện Đại hội Đảng, các văn bản quy phạm của nhà nước, chính phủ, thủ tướng chính phủ, các bộ ngành, các báo cáo đánh giá, tổng kết của tỉnh Hòa Bình về tộc người Mường
Những tư liệu này giúp cho tác giả có cái nhìn tổng thể về đối tượng nghiên cứu, từ đó có kế hoạch và định hướng cho việc nghiên cứu đề tài
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu về sự biến đổi VH truyền thống của người Mường Hòa Bình ở Việt Nam hiện nay tiếp cận dưới góc độ triết học, phân tích chỉ ra tính khách quan trong sự vận động biến đổi VH truyền thống của người Mường Hòa Bình, xem xét VH với tư cách là một sự vật có kết cấu nội tại, vận động theo quy luật khách quan; đồng thời VH là kết quả sáng tạo của con người nhằm đáp ứng nhu cầu tồn tại của con người, con người vừa là chủ thể sáng tạo VH, vừa là bộ phận của VH mà con người đã sáng tạo ra
Tiếp cận triết học, luận án chỉ ra nguyên nhân bên trong của sự biến đổi
VH truyền thống: sự tương tác giữa các yếu tố nội tại cấu thành VH truyền thống, tác động của chủ thể VH đối với sự biến đổi VH truyền thống; chỉ ra sự tác động của nhân tố bên ngoài đối với sự biến đổi VH truyền thống; Tính kế thừa, tiếp biến, sự mai một một số yếu tố trong quá trình vận động biến đổi của
VH truyền thống
Nghiên cứu thực trạng biến đổi VH truyền thống của người Mường Hòa Bình hiện nay, luận án chỉ ra xu hướng đặc trưng của sự biến đổi VH truyền thống của người Mường Hòa Bình hiện nay là: gìn giữ, kế thừa các yếu tố phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội hiện nay; tiếp thu những yếu tố bên ngoài phù hợp với nhu cầu lợi ích của chủ thể VH; sự mai một một số yếu tố VH Từ
đó, luận án chỉ ra những vấn đề đặt ra đối với sự biến đổi VH Mường và đề xuất một số giải pháp chủ yếu tác động tích cực vào sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình Qua đó, giữ gìn, phát huy VH truyền thống của người Mường Hòa Bình hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm rõ hơn tác động của những nhân tố
Trang 10làm biến đổi VH người Mường, phân tích những biến đổi, đề xuất những giải pháp chủ yếu tác động tích cực vào sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình Qua đó, góp phần giữ gìn và phát huy vai trò của VH truyền thống trong xây dựng VH của người Mường hiện nay để để xây dựng cuộc sống của người Mường thêm giàu mạnh trong đại gia đình DT Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là nguồn tư liệu tham khảo cho những nhà quản lý VH, cho những người muốn tìm hiểu VH người Mường và cho những nhà hoạch định đường lối phát triển kinh tế, VH, giáo dục…tỉnh Hòa Bình
7 Kết cấu của luận án
Với mục tiêu đề tài nêu trên, ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương, 9 tiết
Trang 11Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN
1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
1.1.1 Những nghiên cứu liên quan đến văn hóa, văn hóa truyền thống
và sự biến đổi văn hóa truyền thống
1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến văn hóa
VH là một lĩnh vực rộng lớn nên nó là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như VH học, nhân học, triết học… Trong đó, mỗi ngành khoa học tùy vào mục tiêu nghiên cứu mà có những cách tiếp cận khác nhau về VH
Quan niệm về VH cũng như bản chất, đặc điểm của nó đã được rất nhiều các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước cũng như các tổ chức quốc tế đề cập đến Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
Công trình “Tư tưởng VH, khái luận về triết học VH” [76] của Zlobin
(Hoàng Thu Hương và Dương Công Thao dịch) đã tiếp cận VH là hoạt động sáng tạo của con người có ý nghĩa xã hội và như vậy, Zlobin nhấn mạnh vai trò chủ thể VH là con người, VH gắn với hoạt động sáng tạo của con người
Trong Tuyên bố chung của UNESCO về tính đa dạng VH [165] đã cho
rằng VH nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức, xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội
và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin Tổng giám đốc UNESCO, ngài Federico Mayor tiếp cận VH là hoạt động sáng tạo của con người tạo ra các giá trị, và nó làm nên đặc tính riêng của các DT để phân biệt DT này với DT khác
Như vậy, các nhà khoa học và các tổ chức quốc tế đều đề cập đến VH theo nghĩa đó là hoạt động sáng tạo của con người tạo ra các giá trị và do đó, VH thuộc về con người
Trong trang cuối của bản thảo “Nhật ký trong tù”(1942) dưới tiêu đề Mục
đọc sách [100], Hồ Chí Minh đã định nghĩa hết sức khái quát về VH Theo định
Trang 12nghĩa này, Hồ Chí Minh đã chỉ ra các thành tố của VH đó là ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc và các phương thức sử dụng Đồng thời Người chỉ ra đặc trưng của VH là tính sáng tạo và mục tiêu của VH chính là vì sự sinh tồn và mục đích của cuộc sống con người
Trong cuốn “Tìm về bản sắc VH Việt Nam” [141], tác giả Trần Ngọc Thêm
cho rằng: VH là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình Khái niệm VH theo nghĩa hẹp được tác giả giới hạn theo các chiều cạnh như chiều sâu, chiều rộng, không gian, thời gian… Giới hạn theo không gian, VH dùng để chỉ những giá trị đặc thù theo vùng văn hóa (VH Tây Bắc, văn hóa vùng Kinh Bắc, VH Nam Bộ…); theo thời gian, VH được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn của các tiến trình lịch sử (VH Hoà Bình, VH Đông Sơn…); theo chiều sâu, VH được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (VH truyền thống, văn học, nghệ thuật dân gian…); theo chiều rộng, VH dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (VH ứng xử, VH kinh doanh…) Theo nghĩa rộng, khái niệm VH được xem là bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra
Trong “Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 5 khóa
VIII” [38], Đảng ta tiếp cận VH ở những lĩnh vực trọng yếu như: tư tưởng, đạo
đức, lối sống, phong tục tập quán, giáo dục và khoa học, VH nghệ thuật… Như vậy, trong Nghị quyết này, Đảng ta tiếp cận VH dưới góc độ toàn bộ những giá trị tinh thần, tạo nên nền tảng tinh thần của xã hội
Công trình “VHDT - Một số vấn đề triết học” [100] của tác giả Hoàng
Xuân Lương đã tiếp cận VH theo nghĩa là toàn bộ hoạt động sáng tạo mang tính nhân đạo của con người trong quá trình sản xuất, đấu tranh làm nên các giá trị vật chất, tinh thần, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Như vậy, tác giả đã tiếp cận VH theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ các giá trị vật chất
và tinh thần được con người tạo ra trong quá trình sản xuất nhằm mục đích, nhu cầu của con người
Tác giả Hồ Bá Thâm với nghiên cứu “VH và bản sắc VH dân tộc” [140] đã đề
Trang 13cập đến VH với tư cách một khái niệm khoa học - triết học Do đó, nó phải có đủ 4 đặc
trưng sau: Thứ nhất, VH là toàn bộ hoạt động (sản xuất, quan hệ, giao tiếp, đấu tranh
xã hội) của con người (cá nhân, cộng đồng) trong quan hệ với tự nhiên, xã hội và bản
thân mình Thứ hai, VH là một hệ thống giá trị không chỉ tinh thần mà cả vật chất, cả vật thể và phi vật thể Thứ ba, VH là phát triển (tiến bộ) Thứ tư, VH là phương thức
tồn tại, phương thức sống và phát triển của con người và cộng đồng người Từ 4 đặc trưng trên, tác giả đã đưa ra định nghĩa về VH như sau: “VH là tổng hòa các giá trị vật chất và tinh thần theo tính chân - thiện - mỹ, do hoạt động của con người sáng tạo ra, thông qua các phương thức sinh tồn của đời sống xã hội, và ngày càng phát triển VH
là sự phát triển, tiến bộ và phát triển, tiến bộ là VH” [139, tr.20]
Giáo sư Ngô Đức Thịnh với cuốn sách “Giá trị VH Việt Nam - truyền
thống và biến đổi” [148] đã tiếp cận khái niệm VH theo nghĩa “VH là hệ thống
hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường
tự nhiên và môi trường xã hội, nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của mình” [148, tr.18] Tác giả cũng khẳng định, không phải tất cả những gì
do con người tạo ra đều được coi là VH mà chỉ những thứ kết tinh thành giá trị mới là cốt lõi của VH
Như vậy, qua các công trình trên có thể khẳng định, mỗi một nhà nghiên cứu có một cách nhìn khác nhau nên thường đưa ra quan niệm khác nhau về VH,
có định nghĩa theo kiểu đặc trưng hay theo kiểu biểu hiện, mô tả hoặc có quan niệm cho rằng, VH là khái niệm tích hợp toàn bộ hoạt động của con người hay
VH là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần Sở dĩ có nhiều quan niệm khác nhau như vậy là do góc độ tiếp cận và mục tiêu nghiên cứu là khác nhau
1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu về văn hóa truyền thống và sự biến đổi văn hóa truyền thống
Đi nghiên cứu về VH truyền thống, hai tác giả Lương Gia Ban và Nguyễn
Thế Kiệt (đồng chủ biên) cũng có cuốn sách “Giá trị VH truyền thống dân tộc
với việc xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay” [6] Cuốn sách được
chia ra làm ba chương, trong chương I các tác giả cũng đã đi nghiên cứu về VH
Trang 14và VH truyền thống dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về VH Từ việc chỉ ra quan điểm của một số nhà nghiên cứu về khái niệm truyền thống, tác giả đã đi đến kết luận VH truyền thống là những hiện tượng VH - xã hội (bao gồm các giá trị, các chuẩn mực giao tiếp, các khuôn mẫu VH, các tư tưởng xã hội, các phong tục, nghi thức xã hội, thiết chế xã hội ) được bảo tồn qua năm tháng trong đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng
xã hội khác nhau và có thể được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác
Công trình “Giá trị VH Việt Nam - truyền thống và biến đổi” [148] của tác
giả Ngô Đức Thịnh, trước khi tìm hiểu về những giá trị VH Việt Nam và phân tích sự biến đổi của nó trong quá trình đổi mới và hội nhập, tác giả đã có sự phân tích và làm rõ hàng loạt các khái niệm như: VH, VH truyền thống, bản sắc, bản sắc VH, giá trị VH Trong đó, VH truyền thống được tác giả hiểu như là VH gắn với xã hội tiền công nghiệp, phân biệt với VH hiện đại của thời đại công nghiệp hóa và khái niệm VH truyền thống được tác giả làm rõ hơn như “để chỉ những hiện tượng, những giá trị đã hình thành từ lâu đời, mang tính bền vững và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thì không thể trong xã hội tiền công nghiệp mới có, mà như một tập quán, nó tồn tại ngay trong xã hội công nghiệp, xã hội hiện đại Hơn thế nữa, còn có sự kết nối hữu cơ giữa VH truyền thống với VH hiện đại, mà sự kết hợp đó thể hiện trong từng hiện tượng hay giá trị VH ngày nay” [148, tr.19-20]
Tác giả Nguyễn Duy Bắc với công trình “Sự biến đổi các giá trị VH trong
bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” [7] đã nêu lên các giá trị
VH truyền thống của DT Việt Nam và chỉ ra rằng dưới tác động của nền kinh tế thị trường hiện nay, các giá trị VH truyền thống đã có sự biến đổi nhất định về cả nội dung và hình thức biểu hiện Có những giá trị đang bị mai một, biến tướng nhưng cũng những giá trị được bồi đắp thêm, làm giàu có thêm, phát huy được giá trị của nó trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường Tác giả nhấn mạnh nguyên nhân của sự biến đổi có nguồn gốc từ sự biến đổi các phương thức sản xuất trong xã hội hay nói cách khác các giá trị VH đang thay đổi cùng với sự thay đổi của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Nghiên cứu sự biến đổi VH truyền thống, nhà nghiên cứu VH dân gian Ngô
Trang 15Đức Thịnh đã có những kiến giải rất cụ thể, chi tiết về sự xuất hiện của các nhân
tố mới trong nền VH Việt Nam ở thời kì đổi mới và hội nhập - một biểu hiện của
sự biến đổi VH truyền thống Điều này được thể hiện rõ trong công trình “Bảo
tồn, làm giàu, phát huy các giá trị VH truyền thống Việt Nam trong thời kì đổi mới hội nhập” [147] Công trình đã phân tích sự biến đổi giá trị VH truyền thống trong
đổi mới và hội nhập cả ở bình diện các giá trị tổng thể cũng như các giá trị bộ phận Trên cơ sở phân tích tính tất yếu của việc bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị VH truyền thống, tác giả đã đề xuất những kiến nghị mang tính quan điểm định hướng cho việc bảo tồn, làm giàu và phát huy giá trị VH truyền thống Việt Nam trong thời kì đổi mới và hội nhập
Công trình “Những xu hướng biến đổi VH các DT miền núi Phía Bắc Việt
Nam” [73] của tác giả Nguyễn Thị Huế đã chỉ ra các DT miền núi phía Bắc Việt
Nam có một nền VH truyền thống phong phú mang nhiều dấu ấn độc đáo, đặc sắc và góp phần tạo nên một nền VH Việt Nam thống nhất trong đa dạng Công trình cũng chỉ ra dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế mà VH các DT miền núi phía Bắc cũng có những biến đổi nhất định, sự biến đổi đó diễn ra theo cả xu hướng tích cực và theo hướng tiêu cực
Nghiên cứu “Sự biến đổi quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng dưới tác
động của quá trình đổi mới ở Việt Nam.Nghiên cứu trường hợp nông thôn đồng bằng sông Hồng” [129] đã phân tích sự biến đổi VH truyền thống vùng nông
thôn đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đổi mới; phân tích những nhân tố tác động đến quá trình này và tác động của nó đối với sự biến đổi quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng trên địa bàn Tác giả phân tích tác động của mối quan hệ hệ lợi ích giữa cá nhân và cộng đồng, cá nhân và xã hội trong sự biến đổi VH truyền thống ở nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay
Mai Văn Hai, Phạm Việt Dũng với nghiên cứu Xu hướng biến đổi trong
văn hóa và lối sống ở Việt Nam [58], với những nghiên cứu xã hội học chỉ ra sự
biến đổi văn hóa, lối sống về các phương diện cá nhân, gia đình; cơ cấu lứa tuổi; quan hệ hàng xóm, láng giềng; văn hóa tiêu dùng; xu hướng thay đổi giá trị, triết
Trang 16lý sống của cá nhân và các nhóm xã hội Các tác giả luận giải nguyên nhân, yếu
tố ảnh hưởng đến biến đổi đó được chỉ ra là tác động của kinh tế thị trường, văn minh công nghiệp, sự chuyển đổi xã hội truyền thống sang hiện đại
Tóm lại, qua các công trình nghiên cứu trên về VH truyền thống và sự biến đổi VH truyền thống cho thấy, các tác giả đều quan niệm VH truyền thống
là những hiện tượng, những giá trị VH được hình thành từ lâu đời trong lịch sử của một cộng đồng người nhất định, là kết quả của quá trình lao động sản xuất thích ứng với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội và nó được truyền từ đời này sang đời khác.Các tác giả cũng chỉ ra sự biến đổi của VH truyền thống, thể hiện ở sự biến đổi các thành tố VH dưới tác động của sự biến đổi xã hội ở các nhân tố môi trường tự nhiên, kinh tế, chính trị, sự tác động của mối quan hệ lợi ích của con người và xã hội… Các công trình trên đã phần nào cung cấp cơ sở
lý luận về VH truyền thống cũng như sự biến đổi của nó để tác giả luận án tiếp thu, nghiên cứu về VH truyền thống của người Mường và sự biến đổi VH truyền thống của người Mường ở Hòa Bình
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về văn hóa truyền thống của người Mường
và của người Mường ở Hòa Bình; sự biến đổi VH truyền thống của người Mường ở Hòa Bình
1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu về VH truyền thống của người Mường, VH truyền thống của người Mường ở Hòa Bình
Một là, tình hình nghiên cứu về VH truyền thống của người Mường
Ngay từ khi thực dân Pháp đặt được ách đô hộ của chúng ở Việt Nam cho đến thời điểm hiện nay, đã có không ít những học giả nước ngoài và cả những nhà nghiên cứu ở Việt Nam quan tâm, nghiên cứu, tìm hiểu về người Mường ở Việt Nam cũng như VH truyền thống của họ Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu sau:
“Người Mường, địa lý nhân văn và xã hội học”[78] của Jeanne Cuisinier
Đây là công trình nghiên cứu công phu về tất cả các khía cạnh đời sống sinh hoạt của người Mường, trong đó nghiên cứu rất đầy đủ những phong tục, tập quán như ma chay, cưới hỏi bên cạnh cuộc sống của người dân dưới chế độ Lang Đạo Nghiên cứu này là nguồn tài liệu vô cùng quý giá, trong đó bước đầu tìm hiểu
Trang 17một cách bài bản và đầy đủ, chi tiết về người Mường ở Việt Nam với VH truyền thống của họ Nghiên cứu này giúp cho tác giả luận án có cái nhìn sâu sắc hơn về
xã hội Mường những năm đầu của thế kỷ XIX để có những so sánh, đánh giá về
sự biến đổi trong VH truyền thống của người Mường
Công trình “Đôi điều về VH Mường”[175] của tác giả Trần Quốc Vượng
đã nghiên cứu VH cổ truyền Mường với những nét tiêu biểu trong phong tục, tập quán, lễ hội từ đó cho chúng ta thấy những nét VH rất riêng của người Mường
mà ít dân tộc có được
Vương Anh với “ Tiếp cận VH bản Mường”[3] cũng đã tìm hiểu đặc điểm
chung của khu vực định cư người Mường, đó là nơi các thung lũng nằm ép mình dưới những dãy núi đá vôi, núi đất tạo thành hình rẻ quạt nối liền Tây Bắc, miền núi Bắc Trung bộ, cùng cội nguồn lịch sử với người Kinh, nay là láng giềng gần gũi với người Thái người Tày Ngoài ra, tác giả cũng tìm hiểu các hình thái kinh
tế của người Mường, tính chất xã hội Mường từ đó chỉ ra thực trạng của việc quản lí bảo tồn VH truyền thống Mường
Công trình “Người Mường ở Việt Nam” [97] của tác giả Bùi Tuyết Mai,
với cách tiếp cận liên - đa ngành đã cung cấp cho bạn đọc những hiểu biết tương đối đầy đủ về người Mường ở Việt Nam với những nét đặc trưng về lối sống, phong tục tập quán, truyền thống VH của họ
Tác giả Bùi Huy Vọng với công trình “VH Mường một góc nhìn” [173] đã
cung cấp cho bạn đọc bức tranh toàn cảnh về người Mường với đầy đủ các yếu
tố thuộc về VH vật chất và VH tinh thần được hình thành qua lịch sử hàng ngàn năm của người Mường - một tộc người có chung nguồn gốc với người Việt
Người Mường xuất hiện từ rất sớm cùng với sự xuất hiện của người Việt bởi vậy người Mường cũng có những quan niệm cách tổ chức sinh hoạt hàng ngày và đời sống tinh thần vô cùng phong phú Do đó, nó đã trở thành đối tượng nghiên cứu, tìm hiểu của nhiều nhà nghiên cứu Trước tiên, nghiên cứu về VH vật chất của người Mường thông qua yếu tố cụ thể như trang phục, ẩm thực có các công trình nghiên cứu sau:
Công trình “Hoa Văn Mường” [21] của tác giả Nguyễn Từ Chi, “Hoa Văn
Trang 18cạp váy Mường và VH Đông Sơn” [11] của tác giả Đặng Việt Bích, Mai Thị
Hồng Hải với công trình “Góp phần nghiên cứu Xường giao duyên của người
Mường” [61], “Xường cài hoa dân tộc Mường” [4] của tác giả Vương Anh,
“Trang phục các dân tộc thiểu số nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, Tày - Thái, Ka
Đai” [71] của tác giả Đỗ Thị Hòa… Nhìn chung các nghiên cứu này đều đề cập
tới những hoa văn cạp váy, những hình tượng trang trí của chiếc váy Mường và
ý nghĩa của các hình tượng đó trong đời sống của người Mường - Một loại nghệ thuật tạo hình độc đáo bậc nhất trong chiều sâu lịch sử VHDT Mường
Bên cạnh trang phục, nét VH ẩm thực của người Mường được đánh giá vô cùng tinh tế và mang hơi hướng núi đồi với các món ăn dân dã nhưng rất dễ ăn, thơm ngon và là sự kết hợp của nhiều loại gia vị Nghiên cứu về lĩnh vực này
phải kể đến tác giả Bùi Huy Vọng với công trình “Phong tục làm chay” [168] Tác giả Hoàng Anh Nhân với công trình “VH ẩm thực Mường” [111], Hoàng Anh Nhân và Hoàng Thị Hạnh cũng có công trình “VH ẩm thực của dân tộc
Mường và dân tộc Khơ mú” [115] Những nghiên cứu này đều chủ yếu đi vào
miêu tả một cách chi tiết các món ăn của người Mường từ những thức ăn mặn đến các món canh và cách chế biến các món xôi… Nhìn chung các nghiên cứu
đã cho chúng ta thấy được nét ẩm thực vô cùng phong phú, gần gũi với cách chế biến độc đáo Người Mường chủ yếu dựa vào nguồn thực phẩm núi rừng nơi mình sinh sống là chủ yếu và tận dụng các hương vị mang đặc trưng riêng để tạo
ra sự khác biệt với ẩm thực các dân tộc khác
Đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu từng lĩnh vực cụ thể hay từng thành tố của VH tinh thần truyền thống của người Mường cũng được nhiều tác giả trong nước quan tâm Trong lĩnh vực phong tục, tập quán, tín ngưỡng có các công
trình tiêu biểu sau: “Mấy ghi chép về lễ cưới cổ truyền của người Mường” [132] của tác giả Nguyễn Ngọc Thanh, “Nghi lễ cưới xin của người Mường” [124] của
tác giả Phùng Quỳnh Các công trình này đã phần nào cho chúng ta thấy được phong tục hôn nhân của người Mường từ lễ cưới hỏi cho đến cách tổ chức cuộc sống gia đình sau hôn nhân Nói chung các tác giả đã đi sâu tìm hiểu về một yếu
tố VH cụ thể của người Mường song những nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc miêu
Trang 19tả chưa có đánh giá hay so sánh với nét VH mới để nhân ra sự biến đổi của lễ cưới người Mường hiện nay
Tìm hiểu về phong tục tang ma cổ truyền cùng với các nghi thức của nó,
tác giả Nguyễn Từ Chi với công trình “Cõi sống và cõi chết trong quan niệm của
người Mường” [20] đã nghiên cứu, tìm hiểu quan niệm của người Mường về
vòng đời người; thế giới của con người khi còn sống và khi đã chết được chia ra như thế nào, con người phải sống ra sao trong thế giới đó; cùng với đó là cách thức tổ chức nghi lễ của người Mường cả khi sống và khi chết
Công trình “Góp thêm tư liệu DT học về tục chôn cất của người Mường”
[137] của nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Thanh đã miêu tả khá chi tiết các bước trong tang ma của người Mường, đó là một nghi thức vô cùng quan trọng trong hành trình đưa linh hồn người chết về thế giới bên kia và thể hiện yếu tố đậm nét trong bản sắc VH Mường
Trong tang ma, nghi lễ Mo là là một hiện tượng VH có tính đặc sắc trong đời sống tinh thần của người Mường Nghi lễ này hội tụ nhiều loại hình VH nghệ thuật dân gian và nghi lễ, phong” tục tập quán, qua đó phản ánh đậm nét tín ngưỡng dân gian của người Mường Do đó, Mo Mường đã được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu chuyên sâu như: Các tác giả Đặng Văn Lung, Bùi Thiện,
Bùi Văn Ngợi với công trình “Mo Mường và nghi lễ tang ma” [94], tác giả Đặng Văn Lung và Bùi Thiện với công trình “Đôi điều về nguồn gốc Mo Mường”[93],
“Mo trong ngày lễ Mường” [92] của tác giả Đặng Văn Lung, “Nghi lễ Mo trong
đời sống tinh thần của người Mường” [118] của tác giả Bùi Thị Kim Phúc,
“Diễn xướng Mo trượng Mỡi” [142] của tác giả Bùi Thiện Các công trình này
đã đi sâu nghiên cứu khá chi tiết về các áng Mo, nguồn gốc của các áng Mo và việc sử dụng áng Mo trong nghi lễ tang ma, vị trí của thầy Mo cũng như vai trò của nhân vật này trong đời sống tinh thần người Mường Các tác phẩm đã dựng lên một bức tranh khá sinh động về đời sống tinh thần của người Mường thông qua các áng Mo với hệ thống tín ngưỡng dân gian phong phú
Những nghiên cứu trong lĩnh vực nghệ thuật dân gian của người Mường phải
kể đến công trình “VH dân gian Mường - Một góc nhìn” [125] của tác giả Cao Sơn
Trang 20Hải, tác giả Bùi Thiện cũng có hàng loạt các công trình nghiên cứu như “VH dân
gian Mường” [146], “Dân ca Mường” [143], “Tục ngữ, câu đố, trò chơi trẻ em Mường” [145] Ngoài ra còn có tác giả Kiều Trung Sơn với công trình “Cồng chiêng Mường” [126] Các tác giả trình bày khá độc đáo và công phu về người
Mường và có cái nhìn, cách tiếp cận mới về VH dân gian Mường nhưng ở mức độ khảo sát, tìm hiểu và liệt kê chi tiết, sưu tập các câu hát dân ca, VH cồng chiêng độc đáo của người Mường và những câu đố vui, cũng như các cách tổ chức trò chơi dân gian của người mường bằng cả tiếng Mường và bản dịch ra tiếng Việt
Tóm lại, những công trình nghiên cứu về VH truyền thống của người Mường khá phong phú với nội dung sâu sắc, đầy đủ và chi tiết, với nhiều hướng nghiên cứu khác nhau Có hướng nghiên cứu thì khái quát hóa bức tranh toàn cảnh về VH truyền thống của người Mường, có hướng nghiên cứu thì đi sâu vào những nét độc đáo, riêng biệt, có hướng lại tập trung nghiên cứu chuyên sâu một lĩnh vực cụ thể, một thành tố trong VH truyền thống người Mường Với những kết quả nghiên cứu trên đã tạo nên một bức tranh tổng thể về người Mường với nền VH truyền thống mang nhiều yếu tố đặc sắc của họ và đây chính là nguồn nguyên liệu cơ bản, đặc sắc để nhiều nhà nghiên cứu hướng vào nghiên cứu VH truyền thống của người Mường ở Hòa Bình
Hai là, tình hình nghiên cứu về VH truyền thống của người Mường ở Hòa Bình
Hòa Bình là một vùng đất cổ trong đó người Mường là cư dân bản địa có gốc gác lâu đời Do đó, mặc dù ngày nay người Mường cư trú trên một vùng đồi núi khá rộng, từ phía tây Bắc của tỉnh Yên Bái đến phía Bắc tỉnh Nghệ An nhưng tập trung nhất trên toàn tỉnh Hòa Bình, vì vậy, Hòa Bình là tỉnh duy nhất được gọi là “tỉnh Mường” Cũng vì lẽ đó mà người Mường ở Hòa Bình cùng với nền VH truyền thống của họ là đối tượng nghiên cứu của nhiều học giả trong và
ngoài nước Trong đó, tác giả Pierre Grossin với nghiên cứu “Tỉnh Mường Hòa
Bình” [120] đã mô tả về đặc điểm địa lý, cư trú và những nét khái quát về DT
thiểu số nói chung và DT Mường nói riêng ở Hòa Bình, góp phần tìm hiểu nguồn gốc DT Mường và mối quan hệ giữa người Việt với người Mường
Cuốn sách “Người Mường với VH cổ truyền Mường Bi” [23] của tác giả
Trang 21Nguyễn Từ Chi (Trần Từ) và các đồng nghiệp Cuốn sách là tập hợp các bài viết của nhiều tác giả trong việc miêu tả cụ thể, chi tiết, rõ ràng, tỉ mỉ các nghi lễ trong tín ngưỡng, phong tục, lễ hội của người Mường như cưới treo, tang ma, lễ thôi nôi… song kết quả chỉ dừng lại ở khuôn khổ là các bài báo, phóng sự viết chung
Tác giả Trần Từ với công trình “Người Mường ở Hòa Bình” [158] đã đề cập
khá chi tiết về xã hội cổ truyền, đặc biệt của chế độ ruộng Lang, hoa văn cạp váy, đám tang… nhờ đó mà những vấn đề hình thái kinh tế, tổ chức xã hội, ruộng đất, ngôn ngữ…được làm sáng tỏ thêm Ở đây, Trần Từ đề cập đến tang ma nhưng chỉ với mục đích qua đám tang để tìm hiểu vũ trụ Luận của người Mường
Công trình “VH truyền thống một số tộc người ở Hòa Bình” [137] của tác
giả Nguyễn Ngọc Thanh đã nghiên cứu về VH truyền thống của một số DT sinh sống trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, trong đó có VH truyền thống của người
Mường “Làng Mường ở Hòa Bình” [172] của tác giả Bùi Huy Vọng chưa phải
là một công trình nghiên cứu mà mới dừng lại ở mức độ sưu tầm, đi sâu giới thiệu về hình thái tổ chức, về đặc trưng VH, tín ngưỡng, phong tục của Làng người Mường nhằm cung cấp cho người đọc hiểu cụ thể hơn đời sống người Mường tại chính quê hương của họ
Trong khi có nhiều nhà nghiên cứu theo hướng khái quát hóa toàn bộ bức tranh VH của người Mường Hòa Bình, thì một số nhà nghiên cứu lại tập trung nghiên cứu chuyên sâu một lĩnh vực, một thành tố trong VH truyền thống của người Mường Hòa Bình như:
Tác giả Lưu Huy Chiêm với “Ngôi nhà sàn Mường Hòa Bình, xưa và
nay” [25] đã đi vào nghiên cứu ý nghĩa của ngôi nhà, cung cách xây dựng tới
các kỹ thuật dựng và yêu cầu về cách sắp xếp các thành tố để lắp giáp ngôi nhà truyền thống Từ đó tác giả so sánh với kiến trúc nhà ở của người Mường hiện
nay Tác giả Bùi Chỉ với công trình “VH ẩm thực dân gian Mường Hòa Bình” [19], tác giả Đặng Hoàng Hà với bài viết “Khẩu vị phổ biến của người Mường ở
Hòa Bình” [53] Đó là các công trình nghiên cứu rất công phu và hết sức đầy đủ
về nét VH ẩm thực của người Mường với những món ăn và cách chế biến, trưng bày vô cùng độc đáo, đặc sắc
Nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu VH người Mường ở một địa bàn cụ thể
Trang 22của tỉnh Hòa Bình với nhiều những nét khái quát nhất trong VH truyền thống của
họ như:
Công trình “Người Mường với VH cổ truyền Mường Bi” [163] do Ủy ban
nhân dân huyện Tân Lạc phối hợp với Sở VH thể thao Hà Sơn Bình thực hiện Công trình này là kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả nhằm giới thiệu những nét khái quát trong VH cổ truyền của người Mường Bi ở huyện Tân Lạc như: tập tục sinh đẻ, cưới xin, tang ma, nghệ thuật múa
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga với công trình “Người Mường ở Tân Lạc
- tỉnh Hòa Bình” [108], đã phân tích khá chi tiết về đời sống vật chất và đời sống
tinh thần của người Mường ở Tân Lạc - một huyện của tỉnh Hòa Bình Trong đó công trình đặc biệt phân tích yếu tố VH truyền thống của người Mường nơi đây
Công trình “VH DT Mường huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình” [12] của tác
giả Hoàng Hữu Bình đã giới thiệu khá đầy đủ về VH người Mường ở Kim Bôi như VH vật chất và VH tinh thần
Nghiên cứu một lĩnh vực cụ thể trong VH vật chất hay VH tinh thần truyền thống của người Mường ở một địa bàn cụ thể ở Hòa Bình cũng được nhiều công trình, bài viết nghiên cứu, tìm hiểu, đề cập đến như:
Bài viết “Tục cưới xin của người Mường huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình”
[133] của nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Thanh Tác giả đã giới thiệu một phong tục tập quán đặc sắc trong VH Mường truyền thống đó là tục cưới - Một yếu tố thuộc VH tinh thần của người Mường ở huyện Kim Bôi Bên cạnh đó, tác giả
còn có bài viết “Bổ sung tư liệu về thiết chế xã hội cổ truyền của người Mường ở
Mường Bi, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình” [135] Trong nghiên cứu này tác giả
chỉ đi vào nghiên cứu cách thức tổ chức đời sống sinh hoạt trong xã hội cổ truyền và những thiết chế của xã hội Từ nghiên cứu này tác giả đã cho chúng ta thấy bức tranh toàn diện về xã hội cổ truyền Mường Bi thời xa xưa
Bài viết “Tìm hiểu một số nghề thủ công truyền thống của người Mường ở
Tân Lạc - Hòa Bình” [104], “Nghề đan lát thủ công truyền thống của người Mường ở Tân Lạc (Hòa Bình)” [105] của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga đã đi sâu
vào một địa bàn cụ thể là huyện Tân Lạc để tìm hiểu, giới thiệu cho bạn đọc một
Trang 23số ngành nghề thủ công truyền thống của người Mường, trong đó có nghề đan lát - yếu tố thuộc VH vật chất của người Mường Tác giả đi nghiên cứu nguồn gốc, chất liệu và cách thức để tạo ra các công cụ thủ công của người Mường từ việc đan lát; cũng như công năng sử dụng của chúng
Tác giả Nguyễn Thẩm Thu Hà với công trình “Tục lệ cưới xin của Mường
ở xóm Đa, xã Tân Mỹ, huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình” [54] Cuốn sách đi nghiên
cứu một địa bàn cụ thể với nghi lễ cưới xin mang một nét VH đậm bản sắc DT
Bùi Huy Vọng là tác giả có nhiều công trình nghiên cứu về tín ngưỡng người
Mường ở huyện Tân Lạc trong đó có thể kể tới như: “Tang lễ cổ truyền người
Mường” (quyển 1) [169], “Tang lễ cổ truyền người Mường”(quyển 2) [170], “Tang
lễ cổ truyền người Mường” (quyển 3) [171] Tác giả tập trung mô tả về tang lễ cổ
truyền của người Mường ở Tân Lạc, Hòa Bình bao gồm các bước gắn với nghi lễ
để đưa linh hồn người chết về thế giới bên kia Các công trình này chỉ dừng lại ở việc mô tả, liệt kê những nghi lễ truyền thống mà chưa phân tích, so sánh và hướng tiếp cận là theo phương pháp nghiên cứu của DT học
Trên đây là các nghiên cứu về VH Mường ở Hòa Bình với những nội dung nghiên cứu chủ yếu là về những nét VH như phong tục tập quán, lễ hội, trang phục, cách tổ chức sản xuất… Hầu hết các nghiên cứu đều tìm hiểu rất chi tiết, cụ thể về VH Mường với từng lĩnh vực cụ thể của nó, là kết quả của quá trình điền dã DT và khảo sát của các tác giả, do đó, nó là nguồn dữ liệu vô cùng quý báu cho tác giả luận án tiếp thu, bổ sung
1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu sự biến đổi VH truyền thống của người Mường ở Hòa Bình
VH Mường nói chung và VH truyền thống của người Mường ở Hòa Bình nói riêng bao gồm toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do người Mường trong quá trình hình thành và phát triển thông qua lao động sản xuất mà tạo nên Nó phản ánh sự chủ động, sáng tạo của người Mường trong việc thích nghi với điều kiện thiên nhiên vùng miền núi Trong quá trình vận động, biến đổi của xã hội,
VH Mường nói chung và VH truyền thống của người Mường ở Hòa Bình nói riêng cũng có sự vận động, biến đổi theo Sự vận động, biến đổi đó đã được các
Trang 24nhà nghiên cứu DT học, VH học, xã hội học nghiên cứu, tìm hiểu và các tác giả
đã đề xuất giải pháp, biện pháp cụ thể tác động vào sự biến đổi VH truyền thống của người Mường ở Hòa Bình Tiêu biểu là các công trình sau:
Công trình “Người Mường với VH cổ truyền Mường Bi” [23] của tác giả
Từ Chi, bên cạnh việc nghiên cứu toàn bộ VH vật chất và VH tinh thần của người Mường Bi, tác giả đã chỉ ra sự biến đổi ngôi nhà truyền thống (yếu tố VH vật chất của người Mường) dưới khía cạnh tâm linh, như là mối quan hệ giữa con người với thế lực siêu nhiên trong chính ngôi nhà người Mường đã giảm sút, thay vào đó là những mối quan hệ mới của cuộc sống với những nếp ăn, nếp ở mới phù hợp với cuộc sống hiện nay
Trong công trình “VH truyền thống một số tộc người ở Hòa Bình” [107]
của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga cũng đề cập đến sự biến đổi VH vật chất của người Mường ở Hòa Bình, cụ thể sự biến đổi đó diễn ra trong lĩnh vực VH ẩm thực và trang phục truyền thống Tác giả cho rằng, ngày nay khi những nguyên liệu mới được làm sẵn bày bán ngoài chợ, người Mường ở Hòa Bình không còn
tự làm nguyên liệu truyền thống như men rượu nữa Vì thế, rượu cần của người Mường không còn nguyên chất truyền thống nữa
Công trình “Các DT ở Việt Nam, tập 1 - nhóm ngôn ngữ Việt - Mường”
[153] do tác giả Vương Xuân Tình chủ biên đã nghiên cứu sự biến đổi VH truyền thống của các DT trong nhóm ngôn ngữ Việt - Mường Trong đó, nghiên cứu sự biến đổi về tập quán canh tác của người Mường theo hướng có sự đầu tư
về mặt khoa học kỹ thuật và bên cạnh những ngôi nhà truyền thống thì đã xuất hiện những ngôi nhà mang đậm dấu ấn kiến trúc nhà của người Việt như nhà mái ngói, nhà mái bằng, nhà cao tầng Ngoài sự biến đổi của các giá trị vật chất thì tác giả cho rằng trong tín ngưỡng truyền thống người Mường có sự biến đổi nhất định Bên cạnh việc người Mường vẫn tiếp tục duy trì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thì tín ngưỡng nông nghiệp không còn được nguyên vẹn như xưa, nhiều tập tục bị mai một
Đề tài “Biến đổi về xã hội và VH của người Mường tỉnh Hòa Bình dưới
tác động của kinh tế thị trường, 1986 - 2004)” [154] của tác giả Vương Xuân
Trang 25Tình Thông qua quá trình điền dã DT học, cùng với việc quan sát, khảo sát và phỏng vấn sâu, tác giả đã khái quát những nét cơ bản về sự biến đổi về mặt xã hội và mặt VH của người Mường dưới tác động của kinh tế thị trường trong khoảng thời gian từ 1986 đến 2004
Công trình “Bản sắc VH Mường cổ truyền và xu hướng biến đổi hiện nay
- Qua khảo sát VH Mường ở tỉnh Hòa Bình” [82] của tác giả Lương Quỳnh
Khuê Dưới góc độ DT học và VH học, tác giả đã nghiên cứu, tìm hiểu những giá trị tiêu biểu trong bản sắc VH Mường cổ truyền, chỉ ra những biến đổi của chúng hiện nay, dự báo xu hướng vận động của bản sắc VH Mường trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và kiến nghị những giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy, phát triển bản sắc VH Mường của đất nước trong giai đoạn hiện nay
Tác giả Nguyễn Thị Song Hà với công trình “Nghi lễ trong chu kỳ đời
người của người Mường ở Hòa Bình” [56] Tác giả đã nghiên cứu nghi lễ trong
chu kỳ đời người và sự biến đổi của chúng từ truyền thống đến hiện đại Tác giả cũng chỉ ra nguyên nhân của sự biến đổi và đề xuất một số kiến nghị góp phần bảo tồn, phát huy giá trị VH này trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đây thực sự là công trình chuyên khảo về nghi lễ trong chu kỳ đời người - một phong tục tập quán mang giá trị nhân văn sâu sắc của người Mường
ở Hòa Bình
Công trình “Những biến đổi VH và tính cố kết cộng đồng hiện nay:
Nghiên cứu trường hợp DT Mường tại tỉnh Hòa Bình” [67] của tác giả Nguyễn
Thị Hằng đã nghiên cứu sự biến đổi VH của người Mường trong thời kì đổi mới trên cả ba phương diện là: VH vật chất, VH tinh thần và VH xã hội Tác giả đã vận dụng các lý thuyết xã hội học và các phương pháp tiếp cận liên ngành để tìm hiểu sự biến đổi văn hóa và tính cố kết cộng đồng của dân tộc Mường ở Hòa Bình trong thời kỳ đổi mới, tìm hiểu nguyên nhân và xu hướng biến đổi một số giá trị văn hóa cũng như các yếu tố tác động tới sự biến đổi VH của người Mường ở Hòa Bình, từ đó, tác giả đề xuất sáu biện pháp cụ thể xây dựng nhằm
góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường hiện nay: về mặt
Trang 26nhận thức, giáo dục cho thế hệ trẻ ý thức tôn trọng, lòng tự hào của cán bộ, nhân
dân lớp trẻ Mường về bản sắc VH truyền thống; về chính sách văn hóa, cần
khuyến khích duy trì và khôi phục một số nét đẹp văn hóa cũng như loại bỏ các
hủ tục lạc hậu; tôn vinh cá nhân có đóng góp lớn trong việc bảo tồn và phát huy BSVH dân tộc Mường; lưu ký tư liệu văn hóa Mường; bảo tồn những ngôi nhà
cổ và hiện đại hóa nhà sàn truyền thống của người Mường; tiếp tục phát huy phong trào xây dựng nếp sống văn hóa, xây dựng gia đình văn hóa kết hợp với xây dựng bản sắc VH
Như vậy, các công trình trên dù tiếp cận dưới góc độ DT học hay xã hội học, nhưng đã cung cấp nhiều dữ liệu quan trọng, hữu ích về VH Mường cùng với những biến đổi của nó (có thể ở tất cả các lĩnh vực, thành tố VH hay một lĩnh vực, một thành tố VH cụ thể), giúp cho tác giả luận án khái quát hóa để rút ra được những kết luận về VH Mường truyền thống và sự biến đổi của nó dưới góc
độ triết học; các nghiên cứu đã cung cấp nhiều dữ liệu quan trọng, hữu ích về những giải pháp tác động vào sự biến đổi VH truyền thống như củng cố các thiết chế xã hội, đề xuất các chính sách quản lý xã hội trong bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường đã gợi mở cho tác giả luận án khái quát hóa, đề xuất giải pháp tác động vào sự biến đổi VH truyền thống của người Mường ở Hòa Bình hiện nay
1.2 Đánh giá tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra đối với luận án
1.2.1 Đánh giá tình hình nghiên cứu
VH là một lĩnh vực rộng lớn, do đó nó là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như DT học, VH học, VH dân gian, triết học, xã hội học Các nghiên cứu trong lĩnh vực này đều đưa ra định nghĩa VH dưới góc độ nghiên cứu của từng ngành, có định nghĩa theo kiểu chỉ ra các đặc trưng của VH,
có kiểu định nghĩa thì theo kiểu mô tả các sắc thái VH Tuy nhiên, điểm chung của các kiểu định nghĩa trong nghiên cứu của các tác giả là đều khẳng định chủ thể sáng tạo ra VH là con người, và VH gắn với hoạt động của con người trong việc cải tạo tự nhiên và xã hội Sản phẩm của quá trình đó chính là các giá trị vật
Trang 27chất và giá trị tinh thần Luận án tiếp cận VH theo nghĩa là toàn bộ các giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử
VH truyền thống và sự biến đổi VH truyền thống cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến Qua các công trình nghiên cứu của họ, có thể thấy các công trình đều đi tìm hiểu VH truyền thống của một cộng đồng cụ thể (có cả một cộng đồng rộng lớn là DT - quốc gia, có cả cộng đồng ở phạm vi nhỏ hơn là cộng đồng tộc người trong một quốc gia) Các công trình nghiên cứu đều tìm hiểu và đưa ra khái niệm VH truyền thống và các thành tố của VH truyền thống
để từ đó làm cơ sở cho việc nghiên cứu sự biến đổi của VH truyền thống trước bối cảnh xã hội mới, đó là quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường và tiến hành hội nhập quốc tế sâu rộng
Từ một lĩnh vực VH rộng lớn, nhiều nhà nghiên cứu lại đi sâu vào nghiên cứu VH của một tộc người cụ thể trong cộng đồng quốc gia DT Việt Nam, trong
đó có VH của tộc người Mường và sự biến đổi VH truyền thống của họ Nhiều nghiên cứu được công bố có giá trị, làm cơ sở cho việc đi tìm về nguồn gốc và quá trình hình thành tộc người Mường cũng như VH truyền thống của người Mường Là một dân tộc có cùng xuất hiện với người Việt cổ, người Mường có những nét VH cổ xưa mang giá trị tinh thần vô cùng to lớn do điều kiện sinh sống và lao động và ít chịu tác động bởi các cuộc đấu tranh giữ nước nên những nét VH cổ đó ít bị mai một sau hàng ngàn năm VH Mường không ngừng được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau và ngày càng được nhìn nhận một cách toàn diện thông qua những nhà nghiên cứu
Các hướng nghiên cứu về người Mường và VH Mường rất đa dạng Có hướng nghiên cứu dưới dạng khát quát hóa VH Mường truyền thống với toàn bộ các thành tố của nó, từ VH vật chất đến VH tinh thần Kết quả của công trình nghiên cứu theo hướng này đã giúp cho người đọc có cái nhìn toàn diện về người Mường với một nền VH truyền thống của họ Có hướng nghiên cứu lại không đi vào cái khát quát mà tập trung vào những nét độc đáo, riêng biệt mang tính bản sắc của VH truyền thống của người Mường Điều đó giúp cho người đọc thấy được sự riêng biệt của người Mường về mặt VH mà không lẫn vào các tộc người
Trang 28khác cùng chung sống trên lãnh thổ Việt Nam Có hướng nghiên cứu lại tập trung phân tích, làm rõ một thành tố VH cụ thể trong VH truyền thống của người Mường, có những nghiên cứu về một lĩnh vực cụ thể trong VH vật chất, cũng có những nghiên cứu tập trung vào một lĩnh vực cụ thể trong VH tinh thần Và kết quả của các nghiên cứu này đã giúp ích rất nhiều cho tác giả luận án những dữ liệu cụ thể để luận án có sơ sở khái quát hóa dưới góc độ triết học
Người Mường sống chủ yếu ở Hòa Bình Do đó, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về VH Mường Hòa Bình và sự biến đổi VH truyền thống của người Mường ở Hòa Bình Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đó tiếp cận dưới góc
độ DT học, xã hội học hay VH học, nên mới chỉ dừng lại ở việc miêu tả, ghi chép lại qua lời kể của những người dân bản địa bằng những lần đi điền dã Có công trình thì nghiên cứu về VH Mường và sự biến đổi của nó diễn ra ở một thành tố cụ thể hoặc là diễn ra ở một địa bàn cụ thể của tỉnh Hòa Bình Các nghiên cứu này giúp cho tác giả có cái nhìn toàn diện hơn về người Mường ở Hòa Bình Nó là tư liệu vô cùng có giá trị để luận án có cách nhìn và đánh giá khách quan về người Mường ở Hòa Bình
Toàn bộ những kết quả của công trình nghiên cứu trên đã đóng góp những chất liệu quan trọng giúp cho tác giả luận án có thể khái quát, tổng hợp để bổ sung chất liệu cho luận án của mình Mặc dù vậy, cũng chưa có một công trình nào đề cập một cách trực tiếp đến sự biến đổi VH truyền thống của người
Mường ở Hòa Bình dưới góc độ triết học
1.2.2 Những vấn đề đặt ra đối với luận án
Tình hình nghiên cứu trên đã đặt ra cho luận án một số vấn đề cần tiếp tục giải quyết sau:
Một là, luận án tiếp tục làm rõ các khái niệm về VH, VH truyền thống, sự
biến đổi VH truyền thống, làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu VH truyền thống của người Mường ở Hòa Bình ở cả VH vật chất và VH tinh thần Từ đó, tiếp cận VH từ phương diện triết học phân tích những nhân tố quy định và tác động đến sự biến đổi của VH truyền thống của người Mường ở Hòa Bình
Hai là, luận án phân tích, làm rõ thực trạng biến đổi VH truyền thống của
Trang 29người Mường ở Hòa Bình, cả ở khía cạnh VH vật chất (tổ chức xã hội và làng của người Mường; tập quán canh tác; nhà ở truyền thống của người Mường; ẩm thực truyền thống; trang phục truyền thống) và VH tinh thần (ngôn ngữ; tín ngưỡng truyền thống; lễ hội truyền thống; một số tập quán truyền thống; nghệ thuật dân gian), phân tích những nguyên nhân của sự biến đổi đó và xác định những vấn đề đặt ra trong sự biến đổi VH của người Mường Hòa Bình hiện nay
Ba là, luận án đề xuất phương hướng và giải pháp để tác động vào sự biến đổi
VH truyền thống của người Mường Hòa Bình nhằm góp phần giữ gìn, phát huy giá trị VH truyền thống, xây dựng nền VH của người Mường Hòa Bình trong tiến trình xây dựng nền VH Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc DT
Tiểu kết chương 1
VH từ lâu đã được đánh giá có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của mỗi một DT, tộc người Nó góp phần vào sự ổn định và phát triển đất nước Trong bối cảnh ngày nay, khi các quốc gia đẩy mạnh sự hội nhập với thế giới thì vai trò của VH ngày càng được khẳng định rõ nét hơn trong việc khẳng định bản sắc của mỗi một DT khi tham gia vào quá trình toàn cầu hóa Vì thế, quan tâm nghiên cứu về VH luôn là đối tượng nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước dưới nhiều hình thức và góc độ tiếp cận khác nhau Luận án
đã tổng quan được những công trình cơ bản nghiên cứu về VH, chỉ ra được vị trí, vai trò, đặc trưng bản chất của VH, là cơ sở cho các nhà quản lý hoạch định những chiến lược phát triển VH trong hiện tại cũng như trong tương lai
Trong kho tàng rộng lớn về VH, VH truyền thống chính là cái cội, cái gốc
rễ của nền VH của mỗi DT, tộc người Do đó, để đóng góp vào sự phát triển VH thì nhiệm vụ nghiên cứu VH truyền thống cũng như sự biến đổi của nó có vai trò
vô cùng quan trọng trong chiến lược phát triển VH của đất nước Luận án cũng tổng quan được các công trình nghiên cứu về mảng này, đặc biệt là những công trình của nhà nghiên cứu VH dân gian Ngô Đức Thịnh, tác giả Nguyễn Duy Bắc, tác giả Nguyễn Thị Huế đã gợi mở hướng đi nghiên cứu về sự biến đổi VH truyền thống cho luận án tiếp thu
VH truyền thống của người Mường có nhiều yếu tố độc đáo, đặc sắc, vẫn
Trang 30còn lưu giữ được nhiều yếu tố của VH người Việt cổ Điều đó được thể hiện trong nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về người Mường và VH truyền thống của họ Luận án cũng khái quát được một số công trình nghiên cứu về VH Mường và sự biến đổi VH truyền thống của người Mường ở Hòa Bình dưới tác động của nền kinh tế thị trường, của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
Tuy nhiên, thực tiễn luôn biến đổi, cùng với sự vận động, biến đổi của xã hội, VH truyền thống của người Mường ở Hòa Bình cũng có sự vận động, biến đổi theo Do đó, vấn đề này cần được tiếp tục nghiên cứu, lý giải dưới góc độ triết học để góp phần xây dựng nền VH của người Mường Hòa Bình trong tiến trình xây dựng nền VH Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc DT
Trang 312.1.1 Quan niệm về văn hóa
Những nghiên cứu VH xuất hiện khá sớm ở cả phương Đông và phương Tây nhưng đến đầu thế kỷ XVIII, thuật ngữ này mới được sử dụng rộng rãi VH
là một khái niệm rộng với nhiều cách tiếp cận của các ngành khoa học, phụ thuộc vào mục đích, phương pháp nghiên cứu
Ngày nay, trong đời sống, thuật ngữ VH ở phương Tây dùng để chỉ trình
độ hiểu biết, tri thức, phép lịch sự của con người VH còn được xem xét ở chiều cạnh gắn với văn minh
Điểm thống nhất trong các quan niệm về VH là các tác giả đều thừa nhận
VH là sản phẩm mang tính xã hội, khác với tự nhiên thuần túy
Tác giả Zlobin cho rằng, VH là “hoạt động sáng tạo của con người và do
đó có thể định nghĩa là hoạt động sáng tạo có ý nghĩa xã hội, ở trong mối quan
hệ biện chứng giữa sự thể hiện kết quả của nó (đã được vật thể hóa - theo chuẩn mực, giá trị, truyền thống, hệ thống ký hiệu và biểu tượng) với trình tự quá trình con người đưa ra để khai thác (chủ thể hóa) những kết quả sáng tạo đã có, tức là biến tài sản và kinh nghiệm của lịch sử nội tại của cá nhân, một lần nữa lại thể hiện nội dung của tài sản ấy trong hoạt động xã hội của mình, nhằm cải biến thực tiễn và cải tạo chính bản thân con người” [76, tr.453] Như vậy, Zlobin nhấn mạnh vai trò chủ thể VH là con người, VH gắn với hoạt động sáng tạo của con người; giá trị xã hội của VH; VH tồn tại ở hai dạng là vật thể và khả năng hoạt động của cá nhân
Nhấn mạnh bản chất của VH là hoạt động sáng tạo của con người tạo ra các giá trị, nguyên tổng giám đốc UNESCO đặc biệt lưu ý đặc tính xã hội của
VH, vai trò của VH là tính đặc trưng riêng có để phân biệt DT này với DT khác,
Trang 32ông cho rằng:“VH phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt
của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng
DT tự khẳng định bản sắc riêng của mình” [165, tr.23]
Ở Việt Nam, thuật ngữ VH được Hồ Chí Minh đề cập đến trong bản thảo Nhật ký trong tù (1942) như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo đó tức là
VH VH là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó
mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn” Đây là quan điểm có giá trị khoa học về VH, trong đó đã chỉ ra (i) các thành tố của VH (ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, và các phương thức sử dụng); (ii) đặc trưng của VH là tính sáng tạo; (iii) mục tiêu của
VH (vì sự sinh tồn và mục đích của cuộc sống con người)
Theo Hoàng Xuân Lương: “VH là năng lực sáng tạo, là thái độ, phương thức sống, phương thức hoạt động, tính nhân đạo của con người trong quá trình sản xuất, đấu tranh làm nên các giá trị vật chất, tinh thần, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người” [95, tr 20]
Ngô Đức Thịnh cùng các cộng sự của mình trong cuốn Giá trị VH Việt
Nam truyền thống và biến đổi cho rằng: “VH là hệ thống hữu cơ các giá trị vật
chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của mình” [148, tr.18]
Trong Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 5 (khóa VIII), Đảng ta tiếp cận VH dưới góc độ toàn bộ những giá trị tinh thần, tạo nên nền tảng tinh thần của xã hội và VH biểu hiện ở những lĩnh vực trọng yếu như: tư
Trang 33tưởng, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán, giáo dục và khoa học, VH nghệ thuật, thông tin đại chúng, giao lưu VH với nước ngoài, các thể chế và thiết chế VH
Từ các quan niệm trên về VH cho thấy, khái niệm VH được quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng, VH là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử thông qua hoạt động thực tiễn nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người
Từ góc độ này, tiếp cận triết học Mác - Lênin chúng ta có thể nhìn nhận
VH như là hình thức lịch sử cụ thể của tồn tại xã hội và ý thức xã hội của một xã hội trong giai đoạn lịch sử nhất định, phản ánh trình độ phát triển xã hội với các quan hệ xã hội, các thể chế và thiết chế xã hội như phương thức sản xuất (hình thức khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên, hoạt động sản xuất, quan hệ phân phối, trao đổi sản phẩm), cách thức tổ chức cộng đồng cư trú (làng và thiết chế quản lý, địa vị xã hội và danh hiệu xác nhận, nhà ở, lễ hội, tập quán, ý thức của cá nhân về những quy tắc chuẩn mực chung ) mà các thành viên xã hội ý thức và tuân thủ
Theo nghĩa hẹp, VH là các giá trị tinh thần thuộc đời sống tinh thần của
xã hội phân biệt với đời sống vật chất VH là một trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội: lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực chính trị, lĩnh vực xã hội, lĩnh vực VH
Nhìn chung, có thể thấy sự thống nhất quan điểm của các tác giả trong cách hiểu VH theo nghĩa rộng nhất bao gồm tất cả những gì con người sáng tạo
và tích lũy vì sự tồn tại của con người trong tự nhiên và xã hội Có nhiều cách tiếp cận định nghĩa VH bởi VH là một phạm trù rộng lớn và mục tiêu nghiên cứu của các ngành khoa học là khác nhau nhưng các quan điểm thống nhất trên những vấn đề chung nhất, căn bản nhất ở những điểm sau:
Một là, con người là chủ thể sáng tạo ra VH nhằm đáp ứng nhu cầu tồn tại
của con người, VH là toàn bộ những gì con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động xã hội, nghĩa là khẳng định vai trò chủ thể VH của con người và bản chất xã hội của VH, phân biệt VH khác với tự nhiên - cái vốn có; phân biệt VH khác với phương diện sinh học mang tính bản năng
Trang 34Khẳng định vai trò chủ thể sáng tạo của con người theo quan niệm duy vật lịch sử và phân biệt VH khác với tự nhiên, C.Mác và Ph.Ăngghen từng khẳng định: “Chính con người, khi phát triển sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình, đã làm biến đổi, cùng với hiện thực đó của mình, cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình” [16, tr.48] Ph.Ăngghen từng chỉ ra, con người là một bộ phận của giới tự nhiên, tự nhiên là cái có trước con người và sự xuất hiện của con người là một bước nhảy vọt về chất trong sự tiến hóa của tự nhiên, lịch
sử loài người chẳng qua chỉ là “sự tiếp nối lịch sử tự nhiên” [17, tr.476] Ph.Ăngghen từng phê phán quan niệm tự nhiên chủ nghĩa trong việc coi “chỉ có
tự nhiên mới tác động đến con người, chỉ có những điều kiện tự nhiên mới quyết định ở khắp mọi nơi sự phát triển lịch sử của con người, quan niệm ấy là phiến diện, nó quên rằng, con người cũng tác động trở lại tự nhiên, cải biến tự nhiên” [17, tr.720]
Vì thế, nghiên cứu sự hình thành, phát triển VH, một mặt cần xem xét vai trò chủ thể của con người đồng thời thấy được vai trò của điều kiện tự nhiên như
là một nhân tố tác động quan trọng đối với VH
Hai là, VH là một giá trị xã hội được xem xét theo quá trình tiến hóa lịch sử,
gắn với quá trình hình thành, phát triển xã hội và ý nghĩa của VH đối với xã hội
Tiếp cận triết học, khái niệm giá trị được xác định trong mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể, là bản thân sự vật với những thuộc tính bản chất khách quan của nó và sự nhận thức (đánh giá) của chủ thể con người với khách thể đó Giá trị là
“giá trị của đối tượng”, mang tính khách quan, nhưng lại là kết quả của sự đánh giá của chủ thể về những phẩm chất, thuộc tính, bản chất vốn có của sự vật theo hướng
tư duy về những cái cần, tốt, đẹp, nói cách khác, là những cái được con người cho
là chân, thiện, mỹ, giúp khẳng định và nâng cao bản chất người Do vậy, VH là giá
trị xã hội, do con người sáng tạo ra, gắn bó mật thiết với hoạt động sống của con người, sự tồn tại và phát triển của mỗi xã hội Cần khẳng định, bản thân hoạt động đánh giá không tạo ra giá trị mà chỉ góp phần phát hiện giá trị trên cơ sở con người nhận thức về mức độ phù hợp, khả năng thoả mãn nhiều hay ít của khách thể đối với hệ thống những yêu cầu, đòi hỏi về vật chất cũng như tinh thần của đời sống xã
Trang 35hội Do vậy, không thể phủ nhận, có những giá trị có ý nghĩa trên phạm vi rộng, mang tính thực tiễn - lịch sử, mang tính xã hội, có tác dụng, có ý nghĩa với cả cộng đồng xã hội, được xã hội thừa nhận, nó cũng giữ ý nghĩa chuẩn mực xã hội VH là một giá trị như thế
Giá trị VH là sản phẩm của sự phát triển xã hội và VH mỗi thời đại, nó là cái tạo nên nét độc đáo, truyền thống, bản sắc DT, căn cứ vào đó có thể so sánh, nhận
định về nền VH của DT này với DT khác Khi hệ giá trị VH đã hình thành, nó lại có
vai trò định hướng cho các mục tiêu, phương thức hành động của con người trong cộng đồng, xã hội, nó có tác dụng điều tiết, thẩm định đánh giá hành vi của các
thành viên cộng đồng Vì thế, VH có vai trò đặc biệt quan trọng
Việc khẳng định VH là giá trị xã hội, mang tính xã hội, do con người sáng tạo ra cũng cho phép xem xét tác động của VH với xã hội, đồng thời gợi mở cho
việc xem xét tác động của xã hội đối với VH
Một mặt, hoạt động sáng tạo của con người phụ thuộc vào trình độ nhận thức, năng lực hoạt động thực tiễn của con người, mặt khác nó chịu sự tác động của trình độ phát triển xã hội với tác động của các nhân tố như kinh tế, chính trị, quan hệ xã hội, tác động của các nền VH khác, của trình độ phát triển chung của
nhân loại
Trong xã hội có giai cấp luôn tồn tại hai giai cấp có lợi ích đối lập nhau nên quan niệm về giá trị, chuẩn mực VH khác nhau, gắn liền với một hệ thống chính trị nhất định Tuy nhiên, vẫn tồn tại những giá trị chung như tính nhân văn, yếu tố DT, thời đại, những yếu tố được coi là chuẩn mực của cái đẹp Trong mỗi một thời điểm khác nhau, giai đoạn lịch sử khác nhau thì một hiện tượng VH cũng được nhìn nhận và đánh giá khác nhau dựa vào những điều kiện khách quan và tương quan của những điều kiện khách quan đó
Ba là, VH có tính bền vững tương đối, đồng thời không ngừng biến đổi
Tính bền vững của VH là ở chỗ nó là giá trị được kết tinh, chắt lọc trong suốt quá trình lịch sử lâu dài, bởi nhiều thế hệ, không dễ bị mai một do ý muốn hay hoạt động chủ quan của con người, được truyền từ đời này sang đời khác trở thành truyền thống Những tư tưởng, tình cảm, cảm xúc, cách thức tạo ra của cải
Trang 36vật chất… của người đi trước giúp cho thế hệ sau nhận thức được về cách thức, đời sống sinh hoạt truyền thống của ông cha Các yếu tố VH ăn sâu, bám rễ vào tâm trí của con người và xã hội Con người lưu truyền VH từ đời này sang đời khác, làm cho VH ngày càng hoàn thiện hơn
VH có tính tịnh tiến, nó có thể hòa đồng, tiếp thu, tiếp nhận, tiếp biến những yếu tố tích cực và đồng thời loại bỏ sàng lọc những yếu tố không còn phù hợp để hình thành những giá trị VH mới phù hợp, đáp ứng nhu cầu của con người Hệ thống giá trị xã hội vận động, biến đổi theo trình độ nhận thức, nhu cầu phát triển của cá nhân và cộng đồng Mỗi thời đại, mỗi DT, mỗi cộng đồng
xã hội có những quan niệm giá trị khác nhau, từ đó kế thừa và tìm ra các giá trị
mới phù hợp hơn cho sự phát triển của con người và xã hội
Nhìn chung VH là phạm trù rộng lớn, phức tạp, có nhiều cách định nghĩa khác nhau Trong luận án này, để thuận lợi cho việc nghiên cứu, giải quyết các nhiệm vụ, thực hiện mục đích luận án đề ra, Nghiên cứu sinh tiếp cận VH theo nghĩa rộng, theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: tiếp cận VH qua các thành tố của VH bao gồm các giá trị vật chất và tinh thần; vai trò của chủ thể VH trong gìn giữ, bảo lưu, tiếp biến các giá trị VH vì mục tiêu sinh tồn và mục đích của cuộc sống con người; đồng thời vận dụng quan điểm triết học Mác - Lênin
để nhìn nhận VH như là hình thức lịch sử cụ thể của tồn tại xã hội và ý thức xã hội của một xã hội trong giai đoạn lịch sử nhất định, phản ánh trình độ phát triển
xã hội với các quan hệ xã hội, các thể chế và thiết chế của xã hội đó
2.1.2 Quan niệm về văn hóa truyền thống
Truyền thống là những thứ đã được khẳng định và bám rễ vào trong đời sống và sinh hoạt cộng đồng, là tập hợp những tư tưởng, tình cảm, lối tư duy, cách ứng xử, phương thức sản xuất,… trong lịch sử và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Nguyễn Trọng Chuẩn viết: “Theo nghĩa tổng quát nhất, truyền thống - đó là những yếu tố di tồn của VH, xã hội thể hiện trong chuẩn mực hành vi, tư tưởng, phong tục, tập quán, thói quen, lối sống và cách ứng xử của một cộng đồng người, được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định, được truyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ lâu dài thì được gọi là truyền thống” [27, tr.9]
Trang 37Không phải bất kỳ nét VH nào cũng được con người trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác mà con người dựa vào năng lực tự nhận thức và đánh giá tự nhiên, xã hội mà có những lựa chọn lưu giữ những nét VH cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh sống Những nét VH được gìn giữ, lưu truyền qua các thế hệ đó được gọi là VH truyền thống Tác giả Trần Văn Đoàn khẳng định “Chỉ khi nào nó trở thành một phần thiết yếu của cuộc sống chúng ta và chỉ khi nào nó có khả năng phát triển cuộc sống chúng ta thì khi đó được gọi là truyền thống” [27, tr.23]
Như vậy, có thể khẳng định, truyền thống như một phần của cuộc sống, là phương tiện, là công cụ để thể hiện sự phát triển của cuộc sống, có sức mạnh định hướng cho cuộc sống của các thành viên cộng đồng
Theo tác giả Trần Nguyên Việt “truyền thống” theo nghĩa Latinh, là sự kế thừa di sản xã hội có giá trị, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Theo đó, có thể coi truyền thống là một bộ phận tương đối ổn định của ý thức xã hội, được lặp đi lặp lại trong suốt tiến trình hình thành và phát triển các nền VH tinh thần và vật chất,
là một giá trị nhất định đối với từng nhóm người, từng giai cấp, cộng đồng và xã hội nói chung Truyền thống có chuẩn mực riêng, thể hiện một giá trị nào đó được các chủ thể lựa chọn nó làm cơ sở cho phương thức hoạt động của nó” [27, tr 113] Khi nghiên cứu về VH truyền thống tác giả Trần Văn Giàu cho rằng “Truyền thống là những đức tính hay thói tục kéo dài nhiều thế hệ, nhiều thời kỳ lịch sử và hiện có nhiều tác dụng, tác dụng có thể là tích cực, có thể là tiêu cực” [51, tr 10]
Nhất quán với quan điểm trên, Nguyễn Trọng Chuẩn khẳng định “Khi nói đến giá trị truyền thống thì hàm ý đã muốn nói tới những giá trị tương đối ổn định, tới những gì tốt đẹp, tích cực là tiêu biểu cho bản sắc DT có khả năng truyền lại qua không gian, thời gian, những gì cần phải bảo vệ và phát triển” [26, tr.753] Giá trị VH truyền thống là những giá trị tốt đẹp được chắt lọc, lưu giữ,
nó tiêu biểu cho một nền VH, tạo nên được bản sắc riêng của mỗi DT, nó được truyền từ đời này sang đời khác xuyên suốt chiều dài lịch sử Nó là ngọn lửa dẫn đường cho kinh tế, chính trị của DT đó phát triển Các giá trị VH được kết tinh lại trong các quan niệm, tư tưởng, triết lý, đạo đức và cách ứng xử của con người trong xã hội Giá trị VH truyền thống chính là nét đẹp tâm hồn, là những tinh túy
Trang 38được chắt lọc trong các sản phẩm lao động do bàn tay, khối óc của con người làm ra
Như vậy, có thể khái quát về đặc trưng của truyền thống như sau:
Một là, có tính ổn định và bền vững tương đối, lặp đi lặp lại qua các thế
hệ, trở thành những đức tính, thói quen, những phong tục tập quán trong xã hội, trong cộng đồng Truyền thống có sức sống dai dẳng, tồn tại lâu dài Cái nhất thời không phải là truyền thống;
Hai là, truyền thống mang tính cộng đồng, được cộng đồng thừa nhận ở
nhiều cấp độ và hình thức khác nhau;
Ba là, truyền thống mang tính lưu truyền từ đời này sang đời khác song
bản thân nó có sự biến đổi cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của từng giai đoạn lịch sử, góp phần quy định những chuẩn mực giá trị, chuẩn mực ứng xử trong cộng đồng, trong xã hội
Như vậy, Những giá trị VH của một DT nhất định được lưu truyền lại
trong cộng đồng qua nhiều thế hệ, trong quá trình lịch sử lâu dài được gọi là VH truyền thống của DT Nó là cái thể hiện bản chất nhất, đặc trưng nhất, cốt lõi nhất của VHDT
Trong VH của mỗi dân tộc có những yếu tố cấu thành mang tính truyền thống, có những yếu tố mới hình thành, có những yếu tố mới được tiếp thu từ các nền VH khác
Việt Nam là một đất nước có lịch sử lâu đời, cùng với những điều kiện địa
lý, tự nhiên thuận lợi, con người đoàn kết, hồn hậu, nhân ái Mặt khác, dân tộc Việt Nam cũng luôn phải đối phó với thiên tai, địch họa Quá trình đó đã hình thành nên nền VH lâu đời, giàu bản sắc, có những giá trị đã được đúc kết thành truyền thống và trở thành động lực để cho DT Việt Nam vượt qua mọi thử thách, gian truân Đồng thời, nền VH của dân tộc Việt Nam cũng có quá trình tiếp thu các giá trị từ các nền VH khác, có sự hình thành những giá trị mới làm giàu và sâu sắc hơn bản sắc VH của mình
Từ tiếp cận duy vật biện chứng có thể khẳng định, VH cũng như mọi sự vật hiện tượng khách quan, có quá trình hình thành, biến đổi, phát triển Sự biến
Trang 39đổi VH diễn ra nhanh hay chậm là tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có trình
độ nhận thức của chủ thể và tác động của điều kiện chính trị, kinh tế, lịch sử, xã hội VH truyền thống bao hàm những giá trị tốt đẹp tiêu biểu cho một nền VH được chắt lọc, lưu truyền qua các thời kỳ lịch sử
2.1.3 Quan niệm về sự biến đổi văn hóa truyền thống
Sự biến đổi VH có thể được nhìn nhận đánh giá ở nhiều góc độ Có thể hiểu sự biến đổi VH là một sự thay đổi so sánh với tình trạng nền VH đã có từ trước (so với thời kỳ trước, so với truyền thống) Trong phạm vi hẹp hơn, sự biến đổi VH là sự thay đổi trong các thành tố của chính nó về cấu trúc và nội dung ảnh hưởng sâu sắc đến phần lớn các thành viên chủ thể của nền VH đó
Theo quan điểm duy vật biện chứng, các sự vật, hiện tượng luôn nằm trong
sự chằng chịt các mối liên hệ Đó là sự liên hệ, tác động qua lại và quy định, chuyển hóa lẫn nhau giữa các yếu tố, các mặt, các bộ phận trong sự vật, hiện tượng - được gọi là mối liên hệ bên trong Mối liên hệ này quy định sự tồn tại, sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Ngoài ra, sự vật, hiện tượng còn có mối liên hệ bên ngoài với các sự vật, hiện tượng khác Mối liên hệ bên ngoài phải thông qua mối liên hệ bên trong mới có thể tác động đối với sự tồn tại, sự vận động và sự phát triển của sự vật
Tuy nhiên, tồn tại của sự vật mang tính ổn định tương đối (biểu hiện trạng thái đứng im tương đối) là do những tác động diễn ra trong trạng thái thăng bằng Đứng im, ổn định chỉ có thể là một hiện tượng tạm thời Ph.Ăngghen viết:
"Vận động riêng biệt có xu hướng chuyển thành cân bằng, vận động toàn bộ lại phá hoại sự cân bằng riêng biệt" [17, tr.740] Vận dụng quan điểm duy vật biện chứng trong nghiên VH, có thể khẳng định, sự biến đổi của mỗi nền VH là tất yếu, khách quan Nguyên nhân của sự biến đổi nằm bên trong nền VH do sự tác động qua lại của các yếu tố cấu thành nền VH (tác động giữa VH vật chất và VH tinh thần như giữa phương thức sản xuất và ẩm thực, trang phục, nhà ở, tín ngưỡng…; nguyên nhân còn ở sự tác động giữa các thành viên là chủ thể VH, trình độ nhận thức, ý thức của họ đối với các giá trị VH truyền thống và nhu cầu trong cuộc sống hiện tại của họ Nguyên nhân sự biến đổi VH còn do tác động
Trang 40của những nhân tố bên ngoài như tác động từ tồn tại xã hội (điều kiện tự nhiên, thể chế chính trị, kinh tế, lịch sử, tác động từ các nền VH khác… Tuy nhiên tác động của nhân tố bên ngoài là không trực tiếp, mà phải thông qua các nhân tố bên trong (các yếu tố cấu thành VH) và thông qua hoạt động của chủ thể VH
Tác giả Nguyễn Duy Bắc cho rằng: “Biến đổi VH chính là quá trình thay đổi các phương thức sản xuất, bảo quản, truyền bá… các sản phẩm và thay đổi các giá trị phù hợp với những biến đổi về chính trị, kinh tế, xã hội ở từng thời kỳ nhất định trong sự phát triển của các quốc gia DT và nhân loại” [7, tr.36]
Chỉ ra sự biến đổi VH dưới tác động của nền sản xuất vật chất, của sự phát triển khoa học, công nghệ, C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định, lịch sử tư tưởng luôn chứng minh rằng sản xuất tinh thần biến đổi theo sản xuất vật chất và những tư tưởng thống trị thời đại bao giờ cũng là tư tưởng của giai cấp thống trị Chúng ta không thể phủ nhận rằng thời kỳ khoa học công nghệ hiện nay đã đưa đến sự thay đổi VH một cách rộng rãi Nhờ sự phát triển về khoa học công nghệ giúp cho các quốc gia, DT, các nền VH xích lại gần nhau hơn
Theo nhà nghiên cứu Phan Ngọc: “VH không phải là một hiện tượng cố định mà trái lại, sự biến chuyển về VH là chuyện bình thường ” [109, tr.23], ông chỉ ra tác động của VH Trung Quốc, VH Châu Âu, tác động của quá trình cách mạng Việt Nam đối với sự biến đổi VH Việt Nam Nhà nghiên cứu Từ Chi cho rằng: “không phải chỉ bây giờ mà trong lịch sử, VH Việt Nam đã luôn thay đổi và nhiều khi thay đổi rất nhanh” [24, tr.565]
Liên quan đến vấn đề biến đổi VH còn có các lý thuyết: truyền bá VH, vùng VH, tiếp biến VH, thích nghi VH, hội nhập VH…
Sự biến đổi VH được biểu hiện trên thực tế là, bên cạnh giá trị truyền thống tiếp tục được bảo tồn, lưu giữ, có những giá trị truyền thống được hiện đại hóa và sự mất dần của các giá trị truyền thống không phù hợp, hình thành các giá trị VH mới Sự biến đổi VH là hiện tượng phổ biến, nhưng ở mỗi DT thì cách thức, tốc độ, mức độ, nội dung biến đổi khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Sự biến đổi không đối lập với truyền thống, không đối lập với tính bền vững và ổn định VH Sự biến đổi của VH là kết quả của sự tác động giữa