1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hôn nhân và gia đình truyền thống của người mường ở kỳ phú nho quan ninh bình và sự biến đổi của nó trong giai đoạn hiện nay

110 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gia đình là nơi thực hiện những chức năng đặc biệt mà không tổ chức, đoàn thể xã hội nào thay thế được, đây cũng là nơi thể hiện những mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, thể

Trang 1

Trường đại học văn hóa hμ nội Khoa văn hóa dân tộc thiểu số

*********

HễN NHÂN VÀ GIA ĐèNH TRUYỀN THỐNG

CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở KỲ PHÚ (NHO QUAN, NINH BèNH)

VÀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA Nể TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

khóa luận tốt nghiệp

(Khóa 13: 2007 - 2011)

Sinh viờn thực hiện : ĐINH THỊ NGÂN Giảng viờn hướng dẫn : Th.S PHẠM HỮU DU

Hμ nội - 2011

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận là nơi thể hiện kĩ năng và kiến thức của sinh viên qua bốn năm học ở bậc đại học Do khả năng và điều kiện thời gian còn hạn chế, trong quá trình thực hiện đề tài sinh viên còn gặp nhiều khó khăn, nhưng được sự giúp đỡ của thầy cô, bạn bè, các cán bộ và người dân xã Kỳ Phú- Nho Quan- Ninh Bình và đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của Th.s Phạm Hữu

Du người đã trực tiếp hướng dẫn sinh viên trong quá trình viết bài Tác giả khóa luận xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả mọi người, quý cơ quan đã giúp đỡ sinh viên hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2011

Đinh Thị Ngân

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Mục đích nghiên cứu 6

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Phạm vi nghiên cứu 6

5 Đối tượng nghiên cứu 7

6 Phương pháp nghiên cứu 7

7 Kết cấu của đề tài 7

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI VÀ NGƯỜI MƯỜNG Ở KỲ PHÚ (NHO QUAN, NINH BÌNH) 8

1.1 Tổng quan về người Mường ở Việt Nam 8

1.1.1 Tên gọ i, nguồn gốc lị ch sử, dân số và phân bố dân cư 8

1.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội của người Mường 12

1.2 Đặc điểm tự nhiên, xã hội ở Kỳ Phú 17

1.2.1 Đặc điểm tự nhiên 17

1.2.2 Đặc điểm xã hội 20

1.3 Khái quát về người Mường ở Kỳ Phú (Nho Quan, Ninh Bình) 21

1.3.1 Lịch sử cư trú 21

1.3.2 Đặc điểm văn hóa vật chất 22

1.3.3 Đặc điểm văn hóa tinh thần 26

CHƯƠNG 2: HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở KỲ PHÚ ( NHO QUAN, NINH BÌNH ) 32

2.1 Hôn nhân truyền thống 32

2.1.1 Quan niệm truyền thống về hôn nhân 33

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn vợ, chọn chồng, con dâu, con rể 36

2.1.3 Nguyên tắc trong hôn nhân 38

2.1.4 Các bước trong hôn nhân 39

2.1.5 Cư trú sau hôn nhân 43

2.2 Gia đình truyền thống 44

2.2.1 Phân loại gia đình 45

Trang 4

2.2.2 Cấu trúc gia đình 47

2.2.3 Quy mô gia đình 47

2.2.4 Những chức năng cơ bản của gia đình 47

2.2.5.Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình 54

CHƯƠNG 3: BIẾN ĐỔI TRONG HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở KỲ PHÚ (NHO QUAN, NINH BÌNH ) VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ CỦA NÓ HIỆN NAY 60

3.1 Những biến đổi trong hôn nhân 60

3.1.1 Biến đổi về quan niệm hôn nhân 60

3.1.2 Những biến đổi trong tiêu chuẩn chọn vợ, chọn chồng, con dâu, con rể 65

3.1.3 Biến đổi trong các bước hôn nhân 68

3.1.4 Biến đổi cư trú sau hôn nhân 71

3.2 Biến đổi trong gia đình truyền thống của người Mường 72

3.2.1 Biến đổi về cấu trúc gia đình 72

3.2.2 Biến đổi về quy mô gia đình 72

3.2.3 Biến đổi về các chức năng cơ bản của gia đình 73

3.2.4 Biến đổi về quan hệ giữa các thành viên trong gia đình 76

3.3 Đánh giá sự biến đổi trong hôn nhân và gia đình người Mường 80

3.3.1 Biến đổi trong hôn nhân 80

3.3.2 Biến đổi trong gia đình 84

3.4 Các giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy nét đẹp trong hôn nhân, gia đình truyền thống của người Mường hiện nay 86

3.4.1 Giải pháp về kinh tế 87

3.4.2 Giải pháp về chính trị và tuyên truyền giáo dục 88

3.4.3 Giải pháp về nhận thức 89

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC 96

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hôn nhân là một hiện tượng xã hội, luôn gắn liền với chu kỳ của mỗi đời người Hôn nhân là sự khởi đầu đánh dấu sự trưởng thành của mỗi con người về mặt sinh lý cũng như mặt xã hội, là cơ sở tạo dựng gia đình mới Gia đình là nơi thực hiện những chức năng đặc biệt mà không tổ chức, đoàn thể xã hội nào thay thế được, đây cũng là nơi thể hiện những mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, thể hiện nếp sống, nếp nghĩ của con người với nhiều nét đẹp, đôi khi trở thành chuẩn mực trong văn hóa ứng xử mà con người muốn hướng tới

Hôn nhân và gia đình của người Mường ở Kỳ Phú (Nho Quan, Ninh Bình) vừa có những tương đồng so với các cộng đồng khác, lại vừa có hững nét riêng biệt, mang đậm bản sắc dân tộc Trong bối cảnh hòa nhập, hiện đại hóa, công nghiệp hóa, kinh tế thị trường hiện nay, văn hóa tộc người nói chung và hôn nhân gia đình truyền thống nói riêng đang đứng trước thách thức rất lớn Người Mường ở Kỳ Phú (Nho Quan, Ninh Bình) không đứng ngoài tình trạng

đó Chẳng những văn hóa truyền thống của họ đang có nguy cơ mai một, mà hôn nhân gia đình truyền thống của họ cũng đang biến đổi rất nhanh Vấn đề đặt ra là phải làm sao phát triển, mà vẫn bảo tồn được các giá trị văn truyền thống Đây đang là một câu hỏi lớn không chỉ với các cơ quan chức năng mà còn là câu hỏi đặt ra với mỗi con người và gia đình trong cộng đồng người Mường ở Kỳ Phú (Nho Quan, Ninh Bình) Đó cũng chính là nhu cầu của thực tiễn đòi hỏi phải nghiên cứu, tìm hiểu thấu đáo để tìm ra phương sách hữu hiệu

Với những lý do trên, em mạnh dạn chọn đề tài: Hôn nhân và gia đình

truyền thống của người Mường ở Kỳ Phú (Nho Quan, Ninh Bình) và sự biến đổi của nó trong giai đoạn hiện nay, cho khóa luận tốt nghiệp của mình

Trang 6

2 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu những đặc điểm chính của hôn nhân và gia đình truyền

thống của người Mường và sự biến đổi của nó hiện nay

- Khẳng định những nét đẹp trong hôn nhân và gia đình truyền thống người Mường ở Kỳ Phú (Nho Quan, Ninh Bình)

- Tìm kiếm các giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy những giá trị tốt đẹp của hôn nhân gia dình truyền thống của người Mường ở Kỳ Phú (Nho Quan, Ninh Bình)

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khái quát chung về đặc điểm tự nhiên và xã hội của người Mường ở

Kỳ Phú (Nho Quan, Ninh Bình)

- Đặc điểm của hôn nhân và gia đình truyền thống của người Mường ở

Kỳ Phú (Nho Quan, Ninh Bình)

- Biến đổi trong hôn nhân và gia đình truyền thống của người Mường ở

Kỳ Phú (Nho Quan, Ninh Bình) hiện nay

- Bước đầu tìm hiểu và đưa ra các giải pháp bảo tồn, phát huy những giá trị tốt đẹp của hôn nhân gia dình truyền thống của người Mường ở Kỳ Phú (Nho Quan, Ninh Bình)

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu tại xã Kỳ Phú (Nho Quan, Ninh Bình), có khảo sát thực tế, hỏi và phỏng vấn người dân, cán bộ xã tại địa bàn khảo sát

Để làm rõ sự biến đổi,đề tài nghiên cứu trong 2 giai đoạn chính:

- Hôn nhân và gia đình người Mường ở Kỳ Phú (Nho Quan, Ninh Bình) trước năm 1945

- Hôn nhân và gia đình người Mường ở Kỳ Phú (Nho Quan, Ninh Bình) sau năm 1945

Trang 7

5 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài lấy hôn nhân và gia đình người Mường ở Kỳ Phú làm đối tượng nghiên cứu chính Để tìm hiểu cơ sở tồn tại và biến đổi của hôn nhân gia đình người Mường, tình hình kinh tế, xã hôi, văn hóa của người Mường ở Kỳ Phú (Nho Quan, Ninh Bình) sẽ là các đổi tượng nghiên cứu mang tính bổ trợ của khóa luận nay

6 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phép biện chứng duy vật, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, kim chỉ nan đặt nền móng

để đề tài không đi chệch hướng đề ra

Ngoài ra để hoàn thành đề tài người viết còn đọc tài liệu, sử dụng phương pháp dân tộc học, điền dã dân tộc tại Kỳ Phú- Nho Quan- Ninh Bình phỏng vấn trực tiếp người dân để thu thập nguồn tư liệu

Xử lý, thống kê và tổng hợp tư liệu viết bài

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ luc và Tài liệu tham khảo, đề tài được bố cục làm 3 chương chính:

Chương 1: Khái quát chung về đặc điểm tự nhiên và xã hội của người

Mường ở Kỳ Phú (Nho Quan, Ninh Bình)

Chương 2: Hôn nhân, gia đình truyền thống của người Mường ở Kỳ

Phú (Nho Quan, Ninh Bình)

Chương 3: Biến đổi trong hôn nhân, gia đình của người Mường ở Kỳ

Phú (Nho Quan, Ninh Bình) và các giải pháp bảo tồn, phát huy các giá trị của nó hiện nay

Trang 8

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN

VÀ XÃ HỘI VÀ NGƯỜI MƯỜNG Ở KỲ PHÚ

(NHO QUAN, NINH BÌNH)

1.1 Tổng quan về người Mường ở Việt Nam

1.1.1 Tên gọi, nguồn gốc lịch sử, dân số và phân bố dân cư

Về tên gọi: Dân tộc Mường được xếp vào nhóm các dân tộc có tiếng

nói thuộc hệ ngôn ngữ Việt- Mường Trong đời sống và cả trong văn học dân gian người Mường tự gọi mình là Mol, Mual, Mul, Mon Tùy theo cách gọi của từng địa phương Cả Mol, Mual, Mul, Mon đều có nghĩa là người Trước kia, người Mường không tự gọi mình là “Mường” để phân biệt với các dân tộc láng giềng, họ tự gọi mình là “ Mol tloong” có nghĩa là người trong khác với “Mol ngoài” là người ngoài Theo tập quán đồng bào thường nêu tên địa phương, tên vùng miền cư trú, chẳng hạn nói mình là “ Mol Mương Vang”, hay “Mol Mương Chanh” có nghĩa là người Mường Vang, người Mường Chanh, qua giao tiếp với các dân tộc khác tiếng để chỉ địa phương, chỉ vùng ít được chú ý hoặc quên đi và chỉ còn nhớ lại tiếng Mường Còn trong các tác phẩm viết bằng chữ Hán thời phong kiến, từ Mường thường được phiên âm là từ Mang – một từ dùng để chỉ một địa phương, một khu vực, một vùng hay có khi dùng để chỉ một nước Dần dần từ Mường vốn để chỉ một địa phương đã trở thành tên dân tộc và hiện nay từ Mường đã trở thành tộc danh chính thức Hiện nay, chưa thể xác định một cách chắc chắn tộc danh Mường xuất hiện từ bao giờ song đã tìm thấy một số cứ liệu nói về thời gian xuất hiện của tộc danh Mường Nguyễn Dương Bình khi bàn về mối quan hệ Việt- Mường trong lịch sử đã viết: Trong sách lược của kinh lược Nguyễn Trọng

Trang 9

Hiệp đề ngày hai ba tháng sáu năm Đồng Khánh thứ nhất (23/6/1888) Ở điều một có nói “Lập một tỉnh gồm các đất(của dân) Mường xưa thuộc các tỉnh Hưng Hóa, Sơn Tây, Hà Nội, Vĩnh Phú Như vậy, theo Nguyễn Dương Bình thì từ Mường xuất hiện vào khoảng thế kỉ XVII Tuy nhiên, trong các bài báo của các sĩ quan và viên chức thực dân Pháp hồi cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỉ

XX, tiếng Mường vẫn được dùng một cách tùy tiện nhiều khi để chỉ những tộc người khác và người Mường Mãi sau tộc danh Mường mới được dùng để chỉ nhóm người Mường như hiện nay

Về nguồn gốc, lịch sử: Đại đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng

người Mường và người Việt có chung một nguồn gốc Theo tài liệu khảo cổ học và một số tài liệu khác đã chứng minh tổ tiên người Mường, người Việt là người Lạc Việt – vốn là một khối thống nhất từ xa xưa, là chủ nhân của nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng Xét về mặt ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Mường đều có những điểm tương đồng về ngữ pháp, ngữ âm và từ vị Về mặt nhân chủng hai nhóm Việt Mường cùng chung những đặc điểm nhân chủng trong nhóm Nam Á thuộc tiểu chủng Môngôlôit phương Nam Về phong tục tập quán giữa người Việt và người Mường có chung những đặc điểm về tục ăn trầu, làm bánh chưng, nhuộm răng đen Đây là những cứ liệu được xem xét một cách có hệ thống để tìm hiểu mối quan hệ thân thuộc giữa người Việt và người Mường, từ đó có thể khẳng định người Việt và người Mường có chung một nguồn gốc dân tộc.Vào thời Hùng Vương cả hai dân tộc Việt và Mường vẫn là một khối thống nhất nhưng đến thời kì Bắc thuộc, đất nước ta bị phong kiến phương Bắc đô hộ, chúng bóc lột nhân dân ta bằng tô thuế, lao dịch hết sức nặng nề Lúc này, một bộ phận của khối thống nhất đã chống lại

sự áp bức, bóc lột và thống trị của quan quân nhà Hán nên đã lùi sâu hơn vào miền rừng núi Thời kì này đã có cuộc di cư của người Việt cổ ở đồng bằng, trung du, lên miền núi để thoát khỏi sự ràng buộc và chính sách đồng hóa của

Trang 10

các thế lực bên ngoài Những người mới di cư lên, cùng với cư dân cũ ở đây trong điều kiện và hoàn cảnh cư trú của miền rừng núi ít thuận lợi đã làm cho

sự phát triển của xã hội phần nào chậm hơn sự phát triển của đồng bằng Những người ở miền xuôi điều kiện sinh sống thuận lợi hơn cộng thêm với với việc chịu sự thống trị trực tiếp của phong kiến phương Bắc nên chịu ảnh hưởng của Trung Hoa cả về mặt văn hóa lẫn xã hội, dần dần biến đổi thành người Việt Còn một bộ phận những người ở miền núi sống trong các thung lũng, chân núi xa xôi hẻo lánh không trực tiếp bị phong kiến phương Bắc thống trị nên ít chịu ảnh hưởng trở thành một dân tộc thiểu số đó là người Mường hiện nay Từ đây hình thành nên hai nền văn hóa: Văn hóa Mường và văn hóa Việt Văn hóa Mường buổi đầu tuy gặp khó khăn nhưng do ít chịu ảnh hưởng và biến động bên ngoài nên vẫn kiên trì và bảo lưu được nhiều nét văn hóa cổ truyền của tổ tiên xưa đến tận ngày nay về ăn mặc đi lại làm cho người Mường có những đặc điểm riêng biệt, độc đáo trở thành bản sắc riêng khác với các dân tộc anh em và ngay cả với người Việt vốn có chung nguồn gốc

Về đặc điểm dân số và phân bố dân cư: Người Mường cư trú trên một

địa bàn khá rộng ít bị chia cắt thành những khu vực cách biệt hẳn nhau Về địa lý cư trú của người Mường được hình thành như một khối đệm giữa miền xuôi và miền núi Nơi họ mang tính chất trung du khá đậm nét, họ tập trung chủ yếu trong các thung lũng lòng chảo, xung quanh có núi bao bọc có những cánh đồng có thể làm ruộng nước Người Mường thường tìm đến những chỗ gần sông suối, những nơi có điều kiện đưa nước vào ruộng và ven các đồi núi không cao lắm Địa vực cư trú của người Mường nằm giữa vùng người Việt ở phía Đông và vùng người Thái ở phía Tây, chiều dài khoảng 350km từ Tây Bắc tỉnh Yên Bái đến Tây Bắc tỉnh Nghệ An, chiều rộng khoảng 80-90km Người Mường sống tập trung ở các tỉnh như Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ Ở Hòa Bình họ có mặt ở tất cả các huyện với số dân là 501.956 người,

Trang 11

chiếm khoảng 64% dân số toàn tỉnh Ở Thanh Hóa, người Mường sống tập trung ở các huyện Ngọc Lặc, Cẩm Thủy, Bá Thước, Thạch Thành với số dân là 341.359 người chiếm 10% dân số toàn tỉnh Ở Phú Thọ, người Mường sống tập trung ở các huyện Thanh Sơn, Yên Lập, Thanh Thủy với dân số là 184.141 người chiếm 14% dân số toàn tỉnh Ở Sơn La người Mường có mặt ở các huyện Phù Yên, Bắc Yên, Mộc Châu với 81.502 người Ở Yên Bái người Mường định

cư chủ yếu ở các huyện Văn Chấn, Trấn Yên với 14.619 người Ở Hà Nội, người Mường có khoảng 49.339 người Còn tại Ninh Bình, người Mường sống chủ yếu

ở huyện Nho Quan với 22.614 người ( số liệu năm 2009 )

Ngoài dải đất ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, hiện nay người Mường còn

cư trú ở các tỉnh miền Nam và Tây Nguyên như tỉnh Đắk Lắk với 15.510 người, ở Bình Dương là 10.227 người người Mường đi đến đâu thì văn hóa Mường lan tỏa ra đên đó Tuy nhiên, có một đặc điểm về cư trú của người Mường khá thống nhất suốt từ miền Tây Thanh Hóa đến Yên Bái, ở tỉnh nào người Mường cũng ở phía Tây so với người Kinh

Ở Yên Bái, người ta chỉ thấy một Mường nhỏ bên bờ sông Hồng, tất cả các làng khác đều tụ tập trên cao nguyên Nghĩa Lộ Ở Sơn La các làng ở bên sông đã có người Mường ở từ Thạch Bi theo xu hướng định cư ở nơi thấp hơn Trong tỉnh Phú Thọ người Mường được phân chia đều trong các làng ở bên

bờ hay gần bờ sông Hồng và trong những làng ở trên những ngọn núi cao hơn sông Trong tỉnh Hà Tây(cũ) người Mường cũng tập trung trong các sườn gò

và thung lũng Ở tỉnh Thanh Hóa người Mường sinh sống chủ yếu ở thung lũng các sông như sông Mã, sông Luồng, sông Âm tại các huyện Ngọc Lặc, Cẩm Thủy Ngoài ra, họ còn cư trú ở các thung lũng như đồi núi thấp của huyện Thường Xuân, Lang Chánh, đồi núi thấp xen bán bình nguyên cổ và thung lũng rộng ở các huyện Ngọc Lặc, Cẩm Thủy Ở Ninh Bình người Mường sinh sống tập trung ở huyện Nho Quan trong các thung lũng lòng chảo,

Trang 12

dưới chân núi, điều kiện giao thông tương đối thuận lợi làm cho văn hóa người Mường nơi đây khá độc đáo và có sự giao lưu với tiếp biến văn hóa Mường ở Hòa Bình, Mường Thanh Hóa và đặc điểm với người Kinh trong quá trình cùng cư trú

Như vậy, có thể thấy cư dân Mường thích ứng với loại địa hình trung hóa trung du, khu vực họ cư trú là cây cầu nối gắn liền miền núi và đồng bằng,

họ cư trú ở các đồi núi nhưng phải gần nguồn nước Họ sống gần sông Đà, sông Mã, trong các thung lũng chân núi, địa lý, môi sinh có nhiều thuận lợi cho sản xuất

Chính những đặc điểm cư trú đã tác động tích cực đến đời sống của người Mường Trên cơ sở người Mường đã sáng tạo ra văn hóa thung lũng đa dạng, thống nhất nền văn hóa ấy coi là gạch nối giữa văn hóa miền núi- văn hóa châu thổ

1.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội của người Mường

Người Mường cư trú ở các thung lũng chân núi và trung du Từ xa xưa người Mường đã lấy trồng trọt là hoạt động kinh tế chủ đạo nuôi sống họ Đặc biệt, nghề trồng lúa nước đóng vai trò vô cùng quan trọng, kỹ thuật canh tác lúa nước của đồng bào Mường không thua kém gì với kỹ thuật canh tác của người Việt Kỹ thuật canh tác của họ gồm nhiều công đoạn nhưng có 4 công đoạn chính là: làm đất, gieo trồng, chăm bón và thu hoạch Từng khâu kỹ thuật được người Mường làm khá thành thạo Công cụ để canh tác chủ yếu là cày bừa, cuốc, liềm, cào cỏ Cây trồng chủ yếu là lúa, sắn, khoai, đỗ trong

đó, cây lúa đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong các loại giống cây trồng Trên nền tảng của truyền thống là làm nông nghiệp ruộng nước, người Mường

đã xây dựng một hệ thống nông lịch hoàn chỉnh Đồng thời, đúc kết và tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu trong trồng trọt đến ngày nay vẫn còn có nhiều ý nghĩa quan trọng

Trang 13

Trong trồng trọt ruộng nước, kỹ thuật dẫn thủy nhập điền vào thung lũng chân núi khá phát triển, hệ thống mương phai (đập ngăn nước), guồng (cọn) rất hoàn chỉnh để đưa nước lên cao Ngoài ra, việc khơi dòng mương máng cung cấp nước tưới lên cao cho cây trồng được đồng bào Mường rất chú ý Tuy sống trong các thung lũng khép kín không có những cánh đồng thẳng cánh cò bay, không phải chịu bão tố, lũ lụt thường xuyên như người Việt nhưng không vì thế

mà kinh tế nông nghiệp của đồng bào Mường không gặp khó khăn nhất định đặc biệt là trong việc chọn giống cây trồng Việc chăm sóc, bảo vệ cây trồng nhất là cây lương thực cũng rất được đồng bào chú ý nhằm chống sự phá phách của thú

dữ, chim muông đối với cây trồng và hoa màu

Không chỉ làm ruộng nước, người Mường còn tiến hành làm nương trên các sườn đồi, núi bao quanh thung lũng Kinh nghiệm sản xuất qua nhiều thế hệ

đã cho họ nhiều kinh nghiệm “một ruộng ba nương”, việc phát rẫy làm nương vẫn được tiến hành thường xuyên Đặc biệt, những nông sản thu được từ nương rẫy đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của người Mường Nương của dân tộc Mường cũng giống như nhiều dân tộc khác là những khoảnh đất rừng được phát sau đó được đốt lá, không được giữ nước như ruộng nước, không bằng phằng chỉ có thể cày hoặc chọc lỗ tra hạt chủ yếu là nương lúa Ngoài ra, còn có nương ngô, nương sắn, nương mía, nương bông họ cũng có tập quán xen canh với một số cây trồng khác như đỗ, bầu bí, khoai để cung cấp thức ăn hàng ngày Việc trồng xen canh như vậy nhằm tiết kiệm diện tích cây trồng chính Đặc biệt,

ở các tỉnh như Thanh Hóa, Hòa Bình, Ninh Bình người Mường còn tiến hành trồng luồng, trẩu, quế, keo và một số cây công nghiệp với giá trị kinh tế cao, đem lại thu nhập đáng kể cho đồng bào

Ngoài trồng trọt, đồng bào còn tiến hành chăn nuôi Tuy đây chỉ là ngành kinh tế phụ nhưng đã đáp ứng được nhu cầu tự cấp tự túc, thậm chí còn đem ra trao đổi với tư cách là hàng hóa Trâu bò được nuôi theo kiểu thả rông,

Trang 14

dùng làm sức kéo phục vụ sản xuất, chuyên chở đò đạc và là một mặt hàng đem bán rất có giá trị Khác với người Tây Nguyên, trâu chỉ được dùng trong cúng bái, lễ nghi và trao đổi, không được dùng trong mục đích làm sức kéo Bên cạnh chăn nuôi trâu bò, đồng bào còn tiến hành chăn nuôi lợn gà, vịt nhằm cải thiện bữa ăn, đôi khi còn là vật tiết kiệm để trao đổi, mua bán dùng cho những khoản tiền phát sinh

Cùng với trồng trọt và chăn nuôi, các nghề thủ công gia đình của người Mường cũng tương đối phát triển Tuy chỉ là hoạt động kinh tế phụ trợ như: chăn nuôi, phụ thuộc vào nông nghiệp nhưng các sản phẩm ấy không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, phục vụ sản xuất trồng trọt của gia đình mà còn mang

ra trao đổi Đáng chú ý nhất phải kể đến đan lát, dệt may, rèn, mộc sản phẩm đan lát của họ là sọt (choáng); bung, bồ (trò ổ); các loại nong nia, mẹt (cập) sản phẩm của dệt may là những chiếc áo váy của phụ nữ thường được may bằng vải tự nhiên Trước đây, gia đình Mường nào cũng có khung cửi Nếu nói đến người Thái thì không ai không biết đến nghệ thuật dệt mặt chăn

“nà phà” và nghệ thuật thêu khăn đầy tinh tế và công phu, còn nhắc đến người Mường ta phải nhắc đến nghệ thuật cạp váy mà chỉ có ở người Mường mới độc đáo hơn cả với nét nổi bật trên cạp váy được trang trí, dệt rất công phu với nhiều họa tiết như rồng, phượng, rùa khá đẹp đạt đến trình độ kĩ thuật cao

Nghề rèn và nghề mộc cũng phụ trợ cho hoạt động nông nghiệp, cung cấp dụng cụ cho sản xuất như cày, bừa, cuốc đồ dùng cho sinh hoạt như bàn, ghế, tủ, xây dựng nhà cửa Tuy vậy, tất cả các ngành nghề thủ công tuy chỉ mang tính thời vụ, tranh thủ lúc nông nhàn rảnh rỗi chưa mang tính chuyên môn hóa thành nghề mang độc lập

Cũng như nhiều dân tộc khác hình thức kinh tế chiếm đoạt ở người Mường còn phổ biến Trong xã hội truyền thống hái lượn săn bắt vẫn giữ vị trí đáng kể, cung cấp thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày, cung cấp phần nào sự

Trang 15

thiếu hụt lương thực cho những năm hạn hán hay mùa giáp hạt Mặt khác, sản phẩm của hái lượm cũng trở thành hàng hóa trao đổi như măng, mộc nhĩ, nấm hương , hình thức săn bắt cũng đóng vai trò khá quan trọng, săn bắt được tiến hành cả trên cạn và dưới nước Trên cạn tiến hành hoạt động săn bắt thú rừng, xưa kia người Mường thường tiến hành săn bắn tập thể và săn bắn cá nhân, dưới nước thường tiến hành đánh bắt tôm cua, ốc nhằm cung cấp thức

ăn tươi cải thiện bữa ăn cho đồng bào Nếu trồng trọt đáp ứng nhu cầu lương thực lâu dài thì hái lượn, săn bắt đáp ứng nhu cầu về thức ăn cho gia đình Mường hàng ngày

Về xã hội Mường cổ truyền, nằm trong khuôn khổ một xã hội có nhiều đẳng cấp, có tổ chức, có kỷ luật chặt chẽ Số phận của mỗi cá nhân trong xã hội ấy không phân biệt giới đều phụ thuộc chặt chẽ vào dòng họ của người ấy Trong khuôn khổ gia đình dòng họ, phụ thuộc vào luật lệ của làng trong khuôn khổ xã hội do làng cai quản Tầng lớp thống trị trong xã hội Mường truyền thống là nhà Lang mà các thành viên nam là “Lang”, thành viên nữ là

“Nàng” Các tầng lớp bị trị chiếm số đông trong xã hội được gọi là “dân” Ở

xã hội ấy hình thành một bộ máy quản lý tự quản, điều hành theo luật tục, mọi thành viên đều phải tuyệt đối tuân thủ Về nơi cư trú của người Mường thường được gọi là làng xóm (quê) hay Mường, mỗi xóm Mường xưa thường

có lãnh địa, ranh giới riêng mang tính ước lệ thường gọi là sông, suối, tảng đá, gốc cây cổ thụ nhưng cho dù gọi là xóm hay Mường đều có ý nghĩa là làng Làng là đơn vị cơ sở của xã hội gồm nhiều gia đình nhỏ, là hạt nhân của xã hội gồm cha mẹ, con cái Trong đó, con trưởng là người được ưu ái nhiều hơn Mỗi gia đình người Mường là môi nhà riêng, một nền kinh tế riêng Mỗi làng thường quần tụ nhiều dòng họ, trong đó có các dòng họ lớn, dòng họ quý tộc,

họ nhà Lang như (Đinh, Quách, Bạch, Hà) cai quản mỗi Mường mà họ chiếm lĩnh Đứng đầu toàn Mường là Tạo theo cách gọi ở Hòa Bình, Thổ Lang theo

Trang 16

cách gọi ở Phú Thọ, đạo Mường theo cách gọi ở Thanh Hóa Họ là anh em ruột thịt của dòng họ Lang Cun, giúp việc cho Lang Cun là Khán, Ậu mọi công việc của Thổ Lang, Tạo trong quản lý cũng đều phải xin ý kiến của Lang Cun, đạo Mường và hàng năm Thổ Lang, Tạo có nghĩa vụ đóng lễ vật cho Lang Khi bố mẹ Lang Cun, đạo Mường chết thì các Lang Tạo, Thổ Lang phải chịu tang như bố mẹ mình Các Lang Cun, đạo Mường được toàn dân trong Mường kính nể Xưa kia trống đồng, vàng bạc là biểu tượng uy quyền của nhà Lang Theo tục lệ hàng năm khi nhà Lang có đám cưới, đám ma, làm nhà mới toàn dân Mường phải có nghĩa vụ lao dịch, đóng góp tùy vào hoàn cảnh kinh tế từng gia đình Dân trong làng có việc gì mổ trâu, bò, lợn đều phải tới biếu nhà Lang phần ngon nhất, săn được con thú rừng thường phải đem tới biếu nhà Lang một phần, nếu là thú quá nhỏ thì không phải đưa Ruộng nương nhà lang cũng nhiều nhất trong Mường, ruộng nhà Lang thường

do dân làm rồi thu hoạch và chỉ được ăn một bữa hôm cày cấy và thu hoạch Không chỉ đứng đầu Mường về kinh tế, chính trị mà Lang còn là hiện thân của thần quyền đứng đầu về mặt tôn giáo dân Mường coi nhà Lang là người đại diện cho mình tiếp xúc với thần, những vị thánh mà dân Mường thờ, tin cậy Trong nhiều nghi lễ của người Mường nhất thiết phải có mặt nhà Lang tham dự

Bên cạnh tầng lớp thống trị chiếm số ít trong xã hội, xã hội Mường cổ truyền còn có cả một tầng lớp đông đảo đó là tầng lớp bị trị làm cho sự phân hóa ở bất kì Mường nào cũng trở nên sâu sắc Nếu tầng lớp thống trị là dòng

họ quý tộc (Đinh, Quách, Bạch, Hà) thì tầng lớp bị trị thường có chung một tên họ là họ Bùi Như vậy, Bùi không có nghĩa thực là tên gọi nữa mà trở thành tên riêng chỉ tầng lớp nghèo trong xã hội Mường Họ dù muốn hay không muốn đều phải thừa nhận sự thống trị của nhà Lang, chịu mọi lao dịch, thuế má do nhà Lang đưa ra, nhà Lang quản lý Mường bằng một loạt hệ thống

Trang 17

luật tục do con trưởng cai quản dưới sự chỉ đạo của Lang Cun, đạo Mường Tuy nhiên, hệ thống luật tục có khác nhau giữa các Mường

Ngoài tầng lớp bị trí mang tính phổ biến trong xã hội còn có một số hộ được coi là hạng “cùng đinh” của xã hội không được hưởng quyền lợi gì hay tham gia một nghi lễ nào của nông nghiệp do không có lúa nước mà chỉ sống bằng nghề đốt nương rẫy Khu vực định cư của họ cũng không ở trong các thung lũng của làng mà tách ra ở riêng ra các rẻo thấp của đường lên nương Con trai của những gia đình này không bao giờ được lấy con gái của tầng lớp trên

Như vậy, xã hội Mường cổ truyền đã phân hóa thành hai tầng lớp khác sâu sắc Sự phân hóa ấy chính là những song sắt vô hình ngăn cách hai lớp người hợp thành xã hội một bên sẽ mãi là tầng lớp thống trị, tầng lớp giàu sang (nhà Lang) một bên sẽ vẫn chỉ là tầng lớp bị trị, tầng lớp nghèo hèn (dân thường) Sự chan hòa san sẻ quyền lợi cho nhau giữa hai tầng lớp là những hiện tượng cá biệt Trong xã hội ấy hiện tượng cha truyền con nối, cố kết sức mạnh dòng tộc luôn là điều phổ biến ở mỗi bản Mường, mỗi làng Mường không khác gì một xã hội thu nhỏ với chế độ tự quản thông qua hệ thống luật tục là chỗ dựa vững chắc cho chính tầng lớp thống trị nắm quyền Khi miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội (1954), chế độ nhà Lang mới không còn cơ sở tồn tại, người dân mới thoát khỏi sự áp bức, được tự do làm ăn, có quyền bình đẳng về mọi mặt, xã hội Mường quản lý bằng hệ thống hành chính Nhà nước, nhân dân đều được tham gia đóng góp ý kiến

1.2 Đặc điểm tự nhiên, xã hội ở Kỳ Phú

1.2.1 Đặc điểm tự nhiên

Tỉnh Ninh Bình là một tỉnh nằm ở cực Nam đồng bằng Bắc Bộ Với tọa

độ địa lý 20 vĩ độ Bắc và 106 kinh độ Đông Phía bắc giáp Nam Định và Hà Nam, phía Đông Nam giáp biển Đông, phía Tây Nam giáp Thanh giáp Hóa, phía Đông Bắc giáp tỉnh Hòa Bình

Trang 18

Ninh Bình nằm trên tuyến đường giao thông xuyên Bắc Nam, cách thủ

đô Hà Nội 90km, có con đường giao thông huyết mạch chạy qua quốc lộ 1A, nối liền vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc trong đó có thủ đô Hà Nội với duyên hải Miền Trung và Tây Nguyên Ninh Bình cũng là cửa ngõ liên lạc giao thông và giao lưu trực tiếp tới các tỉnh phía Nam với vùng Tây Bắc giàu tài nguyên Nơi đây, có cố đô Hoa Lư là kinh thành xưa của nhà Lý, địa bàn quan trọng của nền văn minh buổi đầu dựng nước Hiện nay, Ninh Bình có 2 thị xã và 6 huyện, Nho Quan là huyện duy nhất ở Ninh Bình có người Mường

cư trú Về vị trí thì phía Đông của huyện giáp với huyện Gia Viễn, Hoa Lư, phía Nam giáp thị xã Tam Điệp, phía Tây giáp với huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa, phía Bắc giáp với huyện Yên Thủy và Lạc Thủy tỉnh Hòa Bình Nho Quan có diện tích lớn nhất tỉnh Ninh Bình với diện tích tự nhiên là 475km2 nhưng số dân chỉ đứng thứ 2 sau huyện Kim Sơn, số dân toàn huyện 147.514 người Trong đó, người Kinh chiếm khoảng gần 90% dân số cả huyện còn người Mường chỉ có trên 10% Nho Quan có tất cả 26 xã tuy nhiên người Mường chỉ sống tập trung ở một số xã như xã Cúc Phương, Kỳ Phú, Quảng Lạc, Phú Long, Thạch Bình, Yên Quang trong đó có xã có tỷ lệ người Mường khá đông như xã Kỳ Phú với 2/3 dân số toàn xã là người Mường

Kỳ Phú là một xã vùng cao của huyện miền núi Nho Quan, phía Bắc giáp xã Cúc Phương, phía Đông giáp xã Phú Lộc, phía Tây và Tây Nam giáp với 4 xã của huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa, phía Nam giáp xã Phú Long Diện tích đất tự nhiên của toàn xã là 5698,25 ha, địa hình của xã tương đối hiểm trở và phức tạp, chủ yếu là đồi núi thấp với đá lộ đầu

Đất đai của toàn xã chủ yếu là đất đồi và đất phù xa cũ chua và nghèo chất dinh dưỡng chỉ thích ứng cho thâm canh lúa nước và trồng hoa màu, thuận lợi cho trồng trọt chủ yếu có ở các thung lũng nhưng lại không chủ

Trang 19

động được nguồn nước tưới tiêu So với các xã xung quanh Kỳ Phú là một xã tương đối nghèo, một trong 9 xã nghèo của tỉnh thuộc chương trình 135 thuộc giai đoạn 2

Khí hậu: Khí hậu xã Kỳ Phú nằm trong nền nhiệt đới của tỉnh, mang

những nét đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ và chịu ảnh hưởng sâu sắc khí hậu vùng Thanh Hóa và khu 4 cũ Khí hậu xã Kỳ Phú nằm trong nền nhiệt đới của tỉnh, mang những nét đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ và chịu ảnh hưởng sâu sắc khí hậu vùng Thanh Hóa và khu 4 cũ Khí hậu nơi đây thuộc vùng tiểu khí hậu của đồng bằng sông Hồng, nền nhiệt trung bình trong là 23˚C với hai mùa rõ rệt là mùa đông và mùa hè Mùa đông từ tháng thứ 5 đến tháng thứ 10, mùa hè từ tháng 11 đến tháng 4 sang năm Mùa đông có gió mùa đông Bắc lạnh, làm cho 2- 3 tháng nhiệt độ trung bình xuống 18˚C Vào khoảng tháng 1 nhiệt độ trung bình khá thấp khoảng 13-14˚ C Do sống trong thung lũng đồi núi nên mùa đông của toàn xã thường khá lạnh, lượng mưa trung bình của cả năm khoảng trên 1800mm nhưng phân bố không đều, lượng mưa tập trung tới 70% vào các tháng từ tháng 6 đến tháng 9 Khí hậu ở xã Kỳ Phú nói riêng và toàn bộ huyện Nho Quan nói chung tương đối khắc nhiệt, hàng năm thường xảy ra úng lụt ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt Ngoài ra, còn thường xuyên chịu ảnh hưởng của một số ngày nắng nóng, khô kiểu gió lào vào mùa hè,hàng năm toàn xa phải vất vả đối mặt với các hiện tượng thiên nhiên khắc nhiệt, vừa nắng đã hạn, vừa mưa đã ngập

Cơ sở hạ tầng: Do điều kiện kinh tế phát triển nên cơ sở hạ tầng vật

chất của xã cũng được quan tâm và có nhiều thay đổi Tuy nhiên, là một xã vùng cao nhưng hệ thống giao thông của xã cũng khá thuận lợi Căn cứ vào nghi quyết của HĐND huyện Nho Quan nhiệm kỳ 1994-1999 Đảng ủy UBND xã Kỳ Phú đã phát động phong trào làm đường với phương châm đường ta ta sửa ta đi Hiện nay, đường trong xã hầu hết được trải đường nhựa

Trang 20

hoặc đổ bê tông, ở giữa các bản đều có các con đường nhỏ thuận tiện cho nhân dân các bản giao lưu kinh tế, xã hội Đặc biệt, con đường du lịch núi Đính, Cúc Phương kéo dài 13km đã hoàn thành, đây là nét mới sẽ mở ra cho

cả xã Kỳ Phú tiềm năng về kinh tế Ngoài làm đường giao thông phục vụ đi lại sản xuất, xã còn tiến hành xây dựng và kiên cố lại các công trình công cộng như trạm y tế, trường học Hiện nay, 13 bản đều có trạm y tế và được xây dựng kiên cố, trạm y tế của xã đã đạt chuẩn quốc gia về y tế vào năm

2010 Xã có cả ba cấp học và mầm non và có 3 trường đạt chuẩn quốc gia là mầm non đạt chuẩn vào năm 2008, tiểu học vào năm 2000 và trung học cơ sở vào năm 2005 Trước đây, UBND xã phải nhờ vào nhà dân nay đã được xây dựng khang trang Hệ thống nhà văn hóa trên toàn xã cũng được xây dựng với 13/13 bản có nhà văn hóa là nơi sinh hoạt cộng đồng của dân bản, vừa là nơi tuyên truyền chính sách của Đảng và Nhà nước Hiện nay, 13/13 bản đều có điện lưới và 99% hộ sử dụng điện thắp sáng, toàn xã đã xây dựng được hơn

300 ngôi nhà kiên cố

1.2.2 Đặc điểm xã hội

Kỳ Phú là một xã miền núi với số dân tương thưa, xã được chia làm 13 bản, các bản phân bố rải rác, bản nọ cách bản kia từ 3- 5 km, mỗi bản đều có diện tích dài và rộng điển hình như bản Mét dài đến 6 km Cả xã có 1359 hộ với khoảng 5327 người (2008 ) Mật độ trung bình 94 người/km Dân tộc Mường chiếm khá đông 75% dân số toàn xã còn lại là người Kinh chiếm 25% dân số cả xã Hiện nay, toàn xã chỉ có hai dân tộc chính là dân tộc Mường và dân tộc Kinh cùng sinh sống Người Mường phân bố chủ yếu ở 10 bản: Bản Xăm, bản Vóng, bản Sạng, bản Thường Sung, bản Đồng Chạo, bản Ao Lươn, bản Mét, bản Ao, bản Sau, bản Cả Trong đó, bản Ao, bản Sau, bản Mét có số người Mường khá đông Chỉ có bản Xanh, bản Phùng Thượng, bản Tân Phú

là ít người Mường cư trú

Trang 21

1.3 Khái quát về người Mường ở Kỳ Phú (Nho Quan, Ninh Bình)

1.3.1 Lịch sử cư trú

Xã Kỳ Phú có người Mường sinh sống từ khá lâu, theo lời kể của ông Đinh Bắc Kinh và nhiều người khác, người Mường có mặt ở đây vào khoản thế kỉ X hoặc XI Một số dòng họ từ Hoà Bình xuống như họ Bùi, họ Quách,

họ Đinh tìm vùng đất mới định cư, cùng tụ cư về vùng đất Kỳ Phú sinh sống Như vậy, người Mường ở Kỳ Phú không phải là cư dân bản địa cũng theo lời

kể của ông Đinh Bắc Kinh tổ tiên của người Mường nơi đây là người Mường

Bi từ Hòa Bình xuống Qua tìm hiểu người Mường ở Kỳ Phú mỗi họ sinh sống thành một bản như bản Mét, bản Xăm, bản Sạng đặc biệt, có 3 bản là bản Cả, bản Ao, bản Sau là cùng mang họ Đinh và trước đây chỉ có người Mường, ông tổ của ba bản này cũng từ Mường Bi từ Hòa Bình xuống, tên là Quách Công Vi Theo lời kể, một lần Ông Cầm Mường-theo cách gọi của người dân 3 bản, ông cùng 3 người khác săn, đi mãi hết cả ngày mà không săn được con thú nào và khi nhìn lại thấy mình lạc vào một vùng đất mới là 3 bản này, trước đây được gọi là thôn Kỳ Lão thuộc xã Kỳ Phú hiện nay, ông Cầm Mường nhìn thấy một con chó chửa nằm trên ruộng (hiện nay gọi là ruộng chó đẻ), ông quyết định ở lại chăm sóc cho con chó đó, còn 3 người kia tiếp tục đi săn Khi ở lại ông thấy có khe nước ngầm từ núi chảy ra, chảy vào ruộng, địa hình nơi đây lại tương đối bằng phẳng Ông thấy mảnh đất này có

đủ điều kiện để sản xuất nên quyết định về quê tìm 3 người đi săn cùng đến khai hoang mảnh đất này Ông cắt cho mỗi ông mộ tbản: ông Bùi Văn Vương (bản Cả); ông Bùi Văn Vênh (bản Sau); ông Bùi Văn Vang (bản Ao) còn ông cầm chịch cả 3 bản Khi ở được một thời gian có quan Lang ở Thanh Hóa sang cướp phá, bằng sự dũng cảm và đoàn kết của dân trong bản các đã đánh thắng, giết được tên quan lang đầu xỏ xác lập chủ quyền ở đây Về sau này lại

có lính bắt dân trong bản phải đi phu phen lao dịch, chúng yêu cầu mỗi họ

Trang 22

phải cử hai người đi Lúc đó 3 bản có có 7 họ, để hạn chế số người đi và tăng tính đoàn, giúp đỡ lẫn nhau, ông đã quyết định đổi 3 bản thành một họ là họ Đinh, đến nay không ai có thể lý giải được vì sao ông lại đổi thành họ Đinh Với công khai phá vùng đất mới và tấm lòng đôn hậu ông cầm Mường được dân quý mến và lập đền thờ sau khi mất

Trước đây, xã Kỳ Phú được gọi là xã Kỳ Lão gồm 5 bản là bản Cả, bản Sau, bản Ao, bản Mét, bản Ao Lươn Năm 1952 đổi thành xã Kỳ Phú Hiện nay, toàn xã đã có 13 bản với 1359 hộ và 75% dân số là người Mường với 4 dòng họ chính là Đinh, Quách, Bùi, Hoàng

1.3.2 Đặc điểm văn hóa vật chất

* Thôn bản: Cũng giống như anh em người Mường ở các tỉnh khác

người Mường ở Kỳ Phú sống tập trung ven chân núi, nơi đất thoảng gần sông suối Người Mường sống quần cư thành bản Mỗi bản thường có hơn hai chục nóc nhà, quần tụ với nhau và thường có một dòng họ lớn như bản Cả, bản Ao, bản Sau là họ Đinh; bản Mét là họ Bùi Bản của người Mường không phân

bố ven các đường cái lớn mà thấp thoáng trong màu xanh của núi rừng, nơi cư trú của họ thường tập trung gần dòng họ, anh em và thuận tiện cho sản xuất cũng như sinh hoạt Cách đặt tên bản của người Mường trước đây căn cứ vào

vị trí lập làng, đặc điểm của nơi lập và nguồn gốc của nơi lập mà lấy tên Hiện nay, nơi cư trú của người Mường dần chuyển ra đường cái thuận lợi cho đi lại

và thích hợp với nền kinh tế hàng hóa, buôn bán Những ngôi nhà lảnh khuất trong màu xanh bạt ngàn của núi rừng đang ngày càng thưa dần

* Hoạt động mưu sinh : Đồng bào dân tộc Mường ở Kỳ Phú thường

sống chủ yếu bằng nghề sản xuất nông nghiệp thuần túy với cây trồng chủ đạo

là cây lương thực trong đó cây lúa đóng vai trò quan trọng Trước đây, nền kinh kế của toàn xã là sản xuất nương rẫy chọc lỗ bổ hạt với cơ cấu cây trồng chủ yếu là lúa nương cây sắn, cây ngô với trình độ sản xuất quảng canh coi

Trang 23

trọng việc mở rộng diện tích nên bình quân lương thực chỉ đạt 90kg/người/năm Vì thế, nạn đói thường xuyên xảy ra, nhiều hộ thiếu ăn từ 3-

80-6 tháng, cá biệt nhiều họ thiếu ăn đến 10 tháng, tỷ lệ người nghèo thiếu ăn chiếm 40-50% tổng số dân toàn xã, trong đó người Mường chiếm 35- 40% Hiện nay,

do tích cực cải thiện giống cây trồng, thâm canh tăng vụ nên năng suất đã tăng lên, năng suất cây lúa cây ngô tăng lên từ 60kg/sào lên 150-200kg/sào Đa số đồng bào toàn xã hiện nay đã tiến hành sản xuất 2 vụ/năm,vụ chiêm và vụ mùa Những năm gần đây song song với sự phát triển của kinh tế thị trường, nền sản xuất của toàn xã cũng đã thay đổi để cung ứng những mặt hàng mà thị trường cần Ngoài việc trồng lúa ở các thung lũng, để tận dụng diện tích đất đồi, đồng bào còn tiến hành trồng các cây hàng hóa như mía, lạc, khoai lang, dưa bở, dứa Vì vậy, mà đời sống của người dân thay đổi rõ rệt, kinh tế phát triển, 90%

số hộ đã có tivi để phục vụ cho nghe nhìn, trên 60% số hộ có xe máy dùng làm phương tiện đi lại Trước đây, chăn nuôi của người Mường trong xã chỉ là một ngành kinh tế phụ, phụ thuộc vào nông nghiệp trâu, bò chỉ dùng làm sức kéo là chủ yếu, hoạt động chăn thả cũng chỉ là thả rông Hiện nay, chăn nuôi trong vùng đã trở thành một ngành kinh tế độc lập, chăn nuôi cũng không dùng cho mục đích chính là cày bừa, là sức kéo nữa vì đã có chiếc máy công cụ để thay thế như máy cày, máy làm đất Chăn nuôi hiện nay được dùng vào mục đích buôn bán là chủ yếu, nhiều hộ lấy chăn nuôi là hoạt động kinh tế chính, hình thức thả rông không còn nhiều, đồng bào đã làm chuồng trại, chăm sóc vật nuôi cẩn thận Trước đây, người Mường chỉ chú trọng chăn nuôi trâu bò là chính Hiện nay, đồng bào có xu hướng chăn nuôi nhiều loại vật nuôi khác, thời gian chăn sóc ngắn ngày nhưng vẫn đem lại hiệu quả kinh tế cao như nuôi hươu lấy sừng, nuôi ong lấy mật, nuôi dê lấy thịt

* Nhà ở: Trong xã hội Mường cổ truyền nhà sàn là loại hình nhà phổ

biến Do đặc điểm cư trú của người Mường thường sống dọc theo các chân

Trang 24

núi, chân đồi nên họ không lấy hướng nào chuẩn nhưng không vì thế mà đầu đốc nhà người này được phép đâm vào nhà của người kia Nhà người Mường thường quay mặt ra ruộng lúa ra đường, mặt sau ngôi nhà là đồi núi Ngôi nhà của họ thường có 3 gian hoặc 4 gian, nhà thường có 4 cột, cột cái thường ở trong lòng nhà,cầu thang thường đặt ở 2 đầu hồi Cầu thang bên trái nhà thường đặt phía sau, là nơi phụ nữ thường lên xuống và là nơi khách rửa chân khi lên nhà, cầu thang bên phải dành cho nam giới, số bậc cầu thang là số lẻ 7 bậc, 9 bậc Ngôi nhà được thường chia làm 2 gian chính: gian ngoài và gian trong, gian trong giành cho sinh hoạt của phụ nữ, gian ngoài là sinh hoạt của nam giới, là nơi tiếp khách và đặt bàn thờ của tổ tiên Nếu chia ngôi nhà theo chiều ngang thì ngôi nhà của người Mường còn được chia thành bên trên và bên dưới Bên trên giành cho người già, bố mẹ, người lớn tuổi, bên dưới dành cho con cháu Tầng dưới của ngôi nhà thường dùng để chứa củi, phơi quần áo Xung quanh ngôi nhà của người Mường thường được trang trí bằng hàng cau, hàng chuối Trong điều kiện hiện nay người Mường ở đây chuyển sang nhà xây kiên cố, ngôi nhà sàn truyền thống chỉ còn trong tâm thức của nhiều người

* Trang phục truyền thống: Nếu trang phục của dân tộc vùng cao Tây

Bắc như Mông, Dao cho ta cảm giác sặc sỡ, trang phục của người Thái làm ta thấy nhẹ nhàng, mềm mại thì trang phục lại cho ta thấy một vẻ đẹp hài hòa giản dị Phụ nữ Mường mặc váy ống, vải màu đen, hơi rộng, dài đến mắt cá chân, có trang trí hoa văn ở cạp váy Cạp váy được dệt nhiều hoa văn mà màu sắc; ở cạp váy gồm 3 cạp nhỏ can lại giống như người Mường ở các nơi khác Mỗi phần được trang trí hoa văn riêng và có tên gọi riêng: dang trên, dang cao

và dang dưới Dang dưới là phần quan trọng nhất thường được trang trí bằng hoa văn động vật như rồng, hươu, rùa hai giang trên là các loại hoa văn hình học tinh tế khác Cạp váy của phụ nữ Mường chiếm khoảng 30% chiều dài của váy có các tác dụng che kín ngực và là nơi đẹp nhất của toàn bộ trang

Trang 25

phục của phụ nữ Mường Khăn thắt giữ váy gọi là tênh với nhiều màu sắc khác nhau nhưng đồng bào thường dùng màu xanh là chủ yếu Tênh được cuốn 2- 3 vòng quanh bụng rồi thắt lại ở bên hông làm nổi rõ phần eo của cơ thể Phụ nữ thường mặc áo cóm, có cổ tròn thường là màu trắng hoặc xanh, có khuy cài hoặc không, thường có 2 túi trước ngực, khi mặc vào gấu áo vừa chấm đến thắt lưng Cũng giống như người Kinh, phụ nữ Mường mặc yếm nhưng ngắn hơn yếm đào của phụ nữ Kinh một chút, khi mặc vào thường buộc dây qua cổ Khăn đội đầu là khăn trắng quấn quanh đầu như người Mường Hòa Bình Riêng ở ba bản, bản Cả, bản Ao và bản Sau khăn đội đầu

có khác hơn Khăn đội đầu là loại khăn vuông gấp chéo lại rồi buộc ở đằng sau như phụ nữ Kinh chỉ khác là không làm mỏ quạ đằng trước Còn trang phục của nam giới thường gồm áo dài, tay trùng đến mông có khuy ở 2 vạt trước Đây là loại áo tứ thân có xẻ tà, có 2 sống ở sau được ghép với nhau Áo thường có 2 túi ở tà trước và một túi nhỏ ở trước ngực trái, nẹp cổ áo cao Quần rộng và dài đến tận mắt cá chân, thường dùng dây dút buộc trước bụng Trước đây, khi chưa có dây dút người ta thường dùng khăn thắt nhiều vòng bụng Quần, áo thường nhuộm bằng củ nâu hoặc bằng cây lá má trên rừng sau

đó được nhuộm lại bằng bùn nên thường có màu xanh nước biển Đàn ông cũng đội khăn, đối với những người nghèo hèn thường dùng khăn vải thô to ngang nhưng ngắn, những người đàn ông khá giả thường dùng khăn gọi là khăn xếp Ngày lễ đàn ông Mường thường đội khăn xếp như người Kinh

* Ẩm thực: Người Mường nói chung thường có câu “cơm đồ, nhà gác,

nước vác, lợn thui, ngày lùi tháng tiến” Đồ là món ăn đặc trưng nhất của người Mường, họ thường đồ cơm nếp, cơm tẻ, các loại rau thập cẩm, các món thịt đặc biệt là thịt lợn, thường được nướng chín là chủ yếu Người Mường ở

Kỳ phú cũng vậy đồ và nướng là 2 món ăn chủ đạo và quen thuộc và không thể thiếu vào dịp tết Việc sống gần với thiên nhiên, rau có sẵn đi làm nương

Trang 26

phát rẫy đồng bào thường hái lượm các loại rau rừng đem về chế biến, các loại rau này vừa làm món ăn, nhiều loại còn có công dụng chữa bệnh, phòng ngừa bệnh tật cho đồng bào Người Mường ở đây có câu “củ mài, rau sắng, măng đắng, mật ong”, đó là những món ăn thường có trong bữa ăn hàng ngày của đồng bào Về đồ uống, hút, đồng bào thường uống rượu trong các bữa ăn, hút thuốc lào, vào dịp lễ hội có nghi thức cúng bái uống rượu cần

1.3.3 Đặc điểm văn hóa tinh thần

* Đời sống tín ngưỡng: Người Mường ở Kỳ Phú theo tín ngưỡng đa

thần.Vì vậy, đời sống tín ngưỡng tôn giáo của đồng bào rất phong phú và đa dạng Mỗi tục lệ thờ cúng đều chứa đựng những quan điểm, tình cảm với thiên nhiên, với các vị thần mà họ tin kính, cậy trông Vì thế, có nghi lễ cúng bái cũng rất đa dạng Những hiện tượng và vị thần mà họ thờ cúng đều liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất và đời sống tinh thần của cộng đồng Để tỏ lòng tin kính và niềm tin vào tín ngưỡng người Mường ở Kỳ Phú có những tục lệ thờ cúng như:

Thờ cúng tổ tiên: Là hình thức thờ cúng quan trọng nhất của người

Mường, gia đình nào cũng có bàn thờ tổ tiên được đặt gian khách Tùy vị trí khác nhau nhưng trong tâm thức mỗi gia đình Mường đó là nơi tốt nhất của ngôi nhà và đều thể hiện lòng thành kính đối với tổ tiên

Thờ thành hoành làng: Cũng giống như người Việt, trong đời sống tâm

linh của người Mường có tục thờ thành hoàng làng rất phổ biến Đây là vị thần bảo trợ chung cho bản Mường, che chở đỡ đầu cho bản Mường

Thờ thổ công: Cũng mang tính khá phổ biến trong các gia đình Mường,

gia đình cũng nơi thờ thổ công có thể là góc sân, góc nhà Đó là một bàn thờ nhỏ bằng tre hoặc tranh, vào dịp thể lễ tết các gia đình khấn thổ công để cầu mong sự phù hộ cho gia đình

Trang 27

Ngoài ra, tùy vào như dòng họ, từng gia đình mà người Mường có những phong tục thờ cúng, kiêng kỵ riêng như thờ thánh mẫu Liễu Hạnh, thờ Mẫu Thượng Ngàn, thờ tướng Trần Hưng Đạo, thờ cây

* Tục sinh đẻ và nuôi con: Đối với người Mường con cái chính là điều

hạnh phúc, là sợi dây liên kết gia đình.Vì thế, khi phụ nữ Mường mang thai được chăm sóc rất cẩn thận, không được làm các công việc nặng như vác đồ đạc quá sức sẽ dẫn đến xảy thai, được tẩm bổ để đẻ mẹ và con đều khỏe, tránh những kiêng kị nhất định như không được đến gia đình có đám ma khi phụ

nữ sinh nở họ sinh tại nhà do mẹ chồng hay bà mụ đỡ Đứa trẻ sinh ra thường tắm bằng các loại lá thường lá thơm hoặc dùng vải mềm lau khô Bà mụ cắt rốn đứa trẻ bằng dao nứa, rau rốn của đứa trẻ được rửa sạch, phơi khô bọc giấy rồi cất vào hòm cẩn thận Người Mường cho rằng làm như vậy đứa trẻ khi lớn lên mới không hay quên hay đánh mất đồ đạc, mới thông minh và hiểu rộng Phụ nữ trong thời gian ở cữ khoảng thời gian một tháng phải thường xuyên ngồi bên đống lửa để nhanh tẩy được uế tạp, khí độc trong người Khi trẻ được 3 ngày thì gia đình làm lễ mừng cháu mới hay còn gọi là

lễ báo cáo tổ tiên rằng gia đình, dòng họ có thêm thành viên mới, trẻ được nửa tháng hay đầy một tháng tuổi thì gia đình thường tiến hành đặt tên cho trẻ, tên đứa trẻ thường do bố mẹ đặt Nếu là con đầu lòng thì gia đình thường tổ chức

ăn mừng mời ông bà, cô dì, chú bác đến dự Mọi người được mời đến dự thường đem theo quà mừng như gà, trứng hoặc tiền Người Mường quan niệm

có con là hạnh phúc vì thế đứa trẻ lớn lên được bố mẹ chăm sóc rất cẩn thận

* Tang ma: Gia đình có người mất là niềm tiếc thương cho gia đình

và cả cộng đồng Khi gia đình có người mất, người nhà nổi chiêng phát tang thông báo cho làng xóm biết Thi hài người chết trước khi được khâm liệm thường được tắm rửa sạch sẽ bằng nước lá thơm (lá cây bưởi), sau đó mặc quần áo theo phong tục Đối với phụ nữ khi mất nhất thiết phải mặc chiếc

Trang 28

yếm cưới, sau đó cho vào quan tài bằng thân cây khoét lỗ lấy ở trên rừng về Tang lễ của người Mường do thầy mo chủ trì hát, kể chuyện mo Hình thức chịu tang không khác gì mấy so với người Kinh Đặc biệt, ở người Mường Kỳ Phú tang lễ không có bộ quạt ma như người Mường ở Hòa Bình Trước đây, đám tang của người Mường thường được tiến hành 4- 5 ngày trở lên, thậm chí đến 9 ngày đêm Người chết được chôn ở khu nghĩa địa chung thường ở phía Tây so với địa vực bản cư trú, cây cối um tùm, bốn mùa xanh tươi tốt mọi người không được xâm phạm, nó cũng giống khu mộ táng của người Tây Nguyên thường ở phía Tây của buôn làng Đồng bào quan niệm phía Tây là nơi mặt trời lặn, người chết chôn ở phía Tây giống như sự sống ở thế giới này không nhưng sẽ sớm được trở với tổ tiên

* Lễ hội, trò chơi dân gian, âm nhạc dân gian:

Lễ hội: Là một trong sinh hoạt văn hóa tinh thần không thể thiếu trong

đời sống tinh thần của người Mường ở Kỳ Phú tuy lễ hội ở đây không phong phú như người Mường ở nơi khác nhưng không vì thế mà kém đặc sắc, nó giữ một vị trí quan trọng, mang một ý nghĩa to lớn trong cuộc sống cuộc đồng người Mường

Lễ rước kiệu thành hoàng làng: Cứ 3 năm một lần,thường vào các thường vào các năm tý, mão, dậu người Mường lại tổ chức lễ rước các vị thành hoàng làng, làm một nơi tập trung tại một chỗ Làng Mường nào rước

vị thành hoàng làng của làng ấy đến Đến nơi tập trung mọi người sẽ tổ chức

lễ tế, múa hát với ý nghĩa “mua vui” làm hài lòng các vị thần và mong các vị thần tiếp tục che chở, phù hộ làng Mường.Tục lệ rước kiệu này không chỉ thể hiện lòng tôn kính của người Mường tới các vị thần linh mà còn thể hiện sự đoàn kết của dân Mường trong xã

Lễ cầu mùa: Thường tổ chức tháng 8 âm lịch Trong lễ này người ta

cầu mong trời đất phù hộ mưa thuận gió hòa để sản xuất được mùa

Trang 29

Lễ cơm mới: Lễ này thường tổ chức vào tháng 11 âm lịch Hàng năm

người ta quan niệm rằng khi mùa màng thu hoạch xong thì người ta ăn bát cơm bằng gạo mới phải là tổ tiên, trời đất, thần thánh vì họ cho rằng có tổ mới

có ta, có trời đất mới có mùa màng thuận hòa, có thần thánh mới bảo vệ được con tiên người khỏe mạnh để làm ăn Lễ này mang đậm tính tâm linh

Lễ đầu xuân: Gồm có: Lễ khai hạ ( khai ngõ ) thường được tổ chức

vào mồng 7 tháng giêng âm lịch hàng năm, tùy vào từng thôn, bản mà ngày tổ chức có thể khác nhau Lễ này với ý nghĩa cầu một năm làm ăn mưa thuận gió hòa; Tết Thượng Xuân được tổ chức vào mùng hai tháng hai âm lịc hàng năm cúng ba ông ở 3 bản là bản Cả, bản Ao và bản Sau

Lễ thanh minh được tổ chức vào mùng ba tháng ba âm lịch, đây là lễ

cúng đền mẫu

Lễ Trung Thu được tổ chức vào mùng 2 tháng tám âm lịch

Như vậy, lễ hội của người Mường mang rất nhiều giá trị Nó không chỉ giúp con người giao hòa với thiên nhiên,thần thánh,đất trời cầu mong sự no

đủ bình an mà còn giúp mỗi thành viên trong cộng đồng biết yêu thương, biết sống bác ái, tình nghĩa hơn

*Trò chơi dân gian: Trò chơi dân gian của người Mương rất phong phú,

đó là những trò chơi giúp giải trí thường được tiến hành vào các dịp lễ tết, hội

hè Trò chơi dân gian nó không chỉ mang ý nghĩa thuần túy mà còn biểu hiện cho tín ngưỡng dân gian Những trò chơi này thường rất thú vị mà rất dễ chơi, người xem chỉ cần xem qua đã có thể chơi được những trò này: đánh mảng, đi

cà kheo, chơi kéo co, đẩy gậy, ném còn những trò chơi ấy được tổ chức trong hội đầu năm Từ người già, trẻ nhỏ đều hòa mình vào các trò chơi để rồi cùng thỏa sức cười vui quên đi những ngày lao động vất vả Xã hội ngày càng đổi mới, mỗi mùa xuân lên thăm bản Mường ở Kỳ Phú sẽ thấy được những

Trang 30

đổi khác về kinh tế nhưng những nét đẹp truyền thống sẽ không bị phai mờ trong lòng những người con xứ Mường

*Âm nhạc dân gian: Âm nhạc dân gian giữ vai trò chủ đạo trong đời

sống cộng đồng Mường, ngay từ khi con người nhận thức được thế giới xung quanh thì những hình thức sinh hoạt dân gian cũng xuất hiện Nó trở thành người bạn tri kỉ của con người trong mọi hoàn cảnh vui buồn.Âm nhạc dân gian Mường rất phong phú với những làn điệu dân ca như: hát sắc bùa, hát rằng, hát bộ mẹng, hát đúm Đây là những thể loại đặc sắc nhất của văn hóa dân tộc Mường, nó là kho tàng dân gian truyền thống vô cùng quý giá Nó có

sự phong phú về giai điệu, đa dạng về nội dung, nó là lời ca thay cho lời dạy của cha mẹ, là lời ru ngọt ngào trìu mến yêu thương của mẹ, là lời tỏ tình say đắm của nam nữ Nói đến âm nhạc dân gian của người Mường còn phải kể đến giàn cồng chiêng khá đặc sắc với các loại kích cỡ khác nhau và nó không thể thiếu trong dịp lễ tết Cồng chiêng là loại nhạc cụ đệm duy nhất cho các cuộc hát sắc bùa diễn ra trong dịp xuân về

*Tri thức dân gian: Do sống trong môi trường rừng núi, người Mường

đã sưu tầm và đúc rút ra những bài thuốc dân gian chữa các bệnh mà họ gặp phải trong cuộc sống như: đau bụng, cầm máu, rắn cắn, chật gân và đặc biệt trong chăm sóc phụ nữ và trẻ em Đặc biệt, một trong những tri thức dân gian trở thành nét tinh hoa của người Mường là lịch Mường Theo người Mường một chu kỳ của mặt trăng ứng với 3 tuần tiết của người Mường Mỗi tuần tiết

có 10 ngày, tiết đầu gọi là “cây” có nghĩa là mát mẻ, xanh tốt là sinh, là mọc phù hợp với gieo trồng, tiết tiếp theo là “tiết lồng” là đêm trăng sáng lồng lộng, rọi ánh sáng chan hòa để chào đón những vị anh tài ra đời làm rạng danh xóm làng, quê hương, tiết thứ 3 là “ tiết cối” chỉ sự may mắn Ngoài yếu

tố “lịch trăng” lịch Mường còn yếu tố “lịch hậu vận” có nghĩa dựa vào sinh trưởng của cây cối mà đoán chuyện rủi, chuyện may

Trang 31

Tiểu kết chương 1

Qua tìm hiểu những nét sơ qua của người Mường ở Ninh Bình, từ đặc điểm cư trú đến những đặc điểm về kinh tế và văn hóa (văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần) thì bức tranh về người Mường ở Kỳ Phú đã được hiện lên tuy còn khái quát, người Mường ở đây có những đặc điểm giống với người Mường trên cả nước nhưng không phải không có đặc điểm khác về trang phục, sinh đẻ cho đến lễ hội tất cả tạo nên nét độc đáo riêng khi ta đi tìm hiểu, nghiên cứu từng thành tố Hôn nhân và gia đình là nơi thể hiện nhiều bản sắc

ở mỗi tộc người, để thấy được bức chân dung của hôn nhân, gia đình truyền thống của người Mường ở Kỳ Phú như thế nào chúng ta sẽ đi tìm hiểu ở chương sau

Trang 32

CHƯƠNG 2HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG

Ở KỲ PHÚ ( NHO QUAN, NINH BÌNH )

2.1 Hôn nhân truyền thống

Hôn nhân là một hiện tượng, là bản giao ước thiêng liêng, khởi đầu cho một cuộc sống mới cho những đôi nam nữ có ý định gắn bó với nhau Hôn nhân chính là hạt nhân, là cơ sở cho việc tạo dựng một gia đình mới Ngay từ thời nguyên sơ của xã hội loài người mặc dù chưa ai hiểu khái niệm hôn nhân là gì nhưng để bảo vệ cộng đồng, thị tộc của mình chống lại sự khắc nhiệt của thiên nhiên, sự uy hiếp của kẻ thù, sự hung bạo của thú dữ thì cần phải có số đông, phải có sức mạnh mà sức mạnh ấy được thể hiện qua con người Vì vậy, ngay từ lúc đó con người đã ý thức được vai trò vị trí của nguồn lực con người nhằm mục đích tồn tại và phát triển Trong môi trường

đó vấn đề tái sản xuất ra con người đã trở thành vấn đề cấp thiết và không thể thiếu Thực tế đó đã đặt ra một yêu cầu hôn nhân là điều tất nhiên nhằm duy trì sức mạnh cộng đồng, cố kết cộng đồng trở thành một khối thống nhất

Hôn nhân là sự liên minh giữa hai giới khác nhau (nam và nữ) được công nhận bởi những quy định của cộng đồng, xã hội (khi Nhà nước chưa hình thành thì hôn nhân được cộng đồng, thị tộc công nhận thông qua tập quán, tục lệ, luật tục Khi Nhà nước, giai cấp xuất hiện thì hôn nhân được thừa nhận thông qua hệ thống pháp luật) sự xuất hiện của hệ thống pháp luật với những điều khoản, điều luật rõ ràng đã nâng cao quyền hạn và trách nhiệm trong quan hệ vợ chồng và quan hệ với con cái, hạn chế sự thiếu trách nhiệm trong hôn nhân Từng giai đoạn phát triển của lịch sử có sự chuyển biến mau lẹ về mặt kinh tế, kéo theo đó là sự thay đổi về mặt chính trị, hôn

Trang 33

nhân cũng vậy cũng có sự thay đổi về hình thức và tính chất Trải qua ba bước phát triển của lịch sử xã hội là tương ứng với 3 hình thái hôn nhân khác nhau của con người “ở thời kỳ mông muội có chế độ quần hôn, ở thời đại dã man

có chế độ hôn nhân đối ngẫu, ở thời đại văn minh có chế độ hôn nhân một vợ một chồng” F.Ăngghen [2;108]

Hôn nhân ở các dân tộc Việt Nam là bức tranh thu nhỏ của lịch sử hôn nhân, hôn nhân ở các dân tộc Việt Nam cũng không nằm ngoài những quy luật chung của nhân loại, nó phải tuân thủ theo những nguyên tắc phù hợp với từng giai đoạn phát triển của lịch sử Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là một quốc gia đa dân tộc, sự đa dạng về sắc thái văn hóa và trình độ phát triển của xã hội

ở các giai đoạn lịch sử khác nhau đã làm cho hình thái hôn nhân cũng mang những nét khác nhau Trong khi nhiều dân tộc ở Tây Nguyên còn tồn tại hình thức hôn nhân mẫu quyền như Gia-Rai,Ê đê và một số dân tộc còn tồn tại tàn

dư của xã hội nguyên thủy thì các dân tộc ở miền Bắc lại khác hoàn toàn, hình thái hôn nhân và gia đình chủ yếu là phụ quyền như Thái, Kinh, Hoa

Người Mường ở Việt Nam hôn nhân và gia đình thuộc chế độ phụ quyền, trải qua quá trình lịch sử khá lâu dài, hình thái hôn nhân đã có nhiều thay đổi Tuy nhiên, những nhân tố mới của hôn nhân chưa ổn định còn cái cũ (cái lạc hậu) ở các thời kì trước chưa hoàn toàn mất đi đang tác động đến hôn nhân hiện nay Hôn nhân ở người Mường ở Kỳ Phú- Nho Quan- Ninh Bình cũng nằm trong quy luật đó, dưới đây là những đặc trưng cơ bản về hôn nhân truyền thống của người Mường ở Kỳ Phú

2.1.1 Quan niệm truyền thống về hôn nhân

Hôn nhân là việc lớn trong đời người, là hạnh phúc trăm năm của mỗi người Cũng như của các dân tộc khác, người Mường coi hôn nhân là điều hết sức quan trọng, mở đầu cho việc tạo gia đình mới Khi mỗi người quyết định tiến tới hôn nhân là họ tiến tới một cuộc sống mới, một cuộc sống độc lập, họ

Trang 34

đã được xã hội thừa nhận là một người trưởng thành có đầy đủ điều kiện tham gia các công việc của dòng họ, cộng đồng Bản thân họ, gia đình mới của họ trở thành một tế bào mới của xã hội Vì vậy, lấy vợ lấy chồng thực sự là một bước ngoặt trong cuộc đời, từ đây họ không còn nằm trong vòng tay yêu thương của cha mẹ, mà mỗi người sẽ cùng với người bạn đời của mình lo công việc, săn sóc tổ ấm của mình Hôn nhân truyền thống của người Mường mang ý nghĩa lấy vợ là để có thêm lao động, có người nối dõi tông đường, đồng bào quan niệm càng có nhiều con càng có nhiều của, nhiều hạnh phúc đặc biệt niềm vui sẽ nhân lên khi có nhiều con trai, nhiều con trai thì gia đình càng bề thế và được trọng vọng Theo quan niệm của đồng bào, nam nữ đến tuổi nhất định phải lấy vợ lấy chồng tạo dựng gia đình riêng, con trai, con gái tới 30 tuổi mà chưa lập gia đình bị coi là quá lứa thì còn những người không kết hôn được bị xã hội nhìn nhận là không bình thường hoặc gia đình có điều tiếng gì nên con cái không lấy được vợ, được chồng

Nhiều dân tộc trong đại gia đình Việt Nam có nhiều phong tục, tục lệ

mà các chàng trai phải trải qua mới được coi là người lớn và được phép tìm hiểu người khác giới Các dân tộc ở Tây bắc như dân tộc Mảng, Kháng các chàng trai đến tuổi trưởng thành phải trải qua lễ thành đinh, các dân tộc ở Tây Nguyên như dân tộc Ê Đê, Gia Lai, Bana phải qua lễ cà răng, căng tai mới được kết hôn nếu chưa trải qua các nghi lễ này thì cho dù lớn tuổi cũng chưa được lấy vợ

Hôn nhân trong dân tộc Mường không phải trải qua các tục lệ bắt buộc nhưng khi muốn kết hôn cũng phải theo một trình tự nhất định, trở thành quy định chung của xã hội Độ tuổi kết hôn từ 15 đến 20 tuổi, rất ít trường hợp 13,

14 tuổi đã kết hôn, khác với các dân tộc ở vùng Tây Bắc như Mông, Dao họ tin rằng hôn nhân là do số mệnh nên việc kết hôn từ 13, 14 tuổi là chuyện phổ biến trong xã hội, độ tuổi kết hôn của dân tộc Mường so với các dân tộc khác

Trang 35

là muộn hơn Khi nam nữ đến tuổi kết hôn cha mẹ thường thúc giục con cái nhất là các cô gái khi đến tuổi lập gia đình thì cha mẹ càng thúc giục mạnh hơn, áp lực không chỉ đến từ phía cha mẹ mà còn đến từ phía họ hàng, họ quan niệm đối với con gái việc lấy chồng, sinh con là việc quan trọng Người Mường cũng như người Kinh họ thường có câu “gái hơn hai, trai hơn một” vì vậy, cha mẹ hoặc các chàng trai khi hỏi vợ thì thường chọn cô gái bằng tuổi hoặc nhiều hơn tuổi vì những cô gái này sẽ chín chắn hơn các cô gái trẻ Lấy được cô gái như thế gia đình mới ngăn nắp, cơm canh mới ngon ngọt, chính

vì quan niệm như thế mà vợ có thể hơn chồng 4, 5 tuổi là chuyện bình thường

Hôn nhân ở người Mường cũng chịu ảnh hưởng của lễ giáo phong kiến, hôn nhân của con cái thường do cha mẹ quyết định, làm chủ “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”.Việc nam nữ tự do yêu nhau, tìm hiểu nhau rồi tiến tới hôn nhân rất ít, hôn nhân do cha mẹ quyết định là chính, quyền của cha mẹ là quyền cao nhất Các bộ luật ra đời trong lịch sử như bộ luật Hồng Đức thế kỉ

XV, bộ luật Gia Long thế kỉ XIX và các bộ dân luật của Pháp ở thế kỉ XX đã

ít nhiều đề cập đến vấn đề hôn nhân Bộ dân luật của Pháp năm 1931 có đoạn viết : Duy trì chế độ hôn nhân phụ thuộc vào cha mẹ ( điều77), duy trì quan

hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ; phân biệt đối xử giữa con trai và con gái

Bộ luật này đã có ảnh hưởng đến hôn nhân các dân tộc trong đó có hôn nhân của người Mường Vì vậy, các chàng trai khi có ý định kết hôn với cô gái nào

sẽ chủ động tìm hiểu về người con gái đó, sau khi tìm hiểu kĩ và thấy có thể lấy làm vợ chàng trai sẽ thưa chuyện với bố mẹ và nhờ bố mẹ tìm người làm mai mối sang thưa chuyện với gia đình cô gái Vì thế, có nhiều cô khi về làm dâu mà vẫn chưa tỏ mặt chồng mình, trừ những đôi tìm hiểu nhau thông qua lao động trên nương, buổi cấy cày dưới ruộng hoặc các buổi đi chơi hội nhưng cũng chỉ dừng ở mức độ đó Điều này như một tất yếu của xã hội Mường xưa, nhất là các cô gái việc hôn nhân đại sự là do bố mẹ sắp đặt, nếu

Trang 36

không nghe lời thì cả đời mang tiếng bất hiếu, đó là điều thiệt thòi của phụ nữ trong hôn nhân

Trong xã hội truyền thống của người Mường việc hôn nhân của mỗi cá nhân có vị trí đặc biệt quan trọng, nó không chỉ là vấn đề riêng của đôi nam

nữ mà là công việc chung của cả gia đình, cả dòng họ nên tất cả đều phải quan tâm lo lắng Người Mường quan niệm sống phải có cộng đồng vì vậy sự

có mặt, quan tâm của các thành viên trong dòng họ đối với hôn nhân của đôi trai gái sẽ làm hạnh phúc của đôi trai gái thêm trọn vẹn và luôn nằm trọn trong tình yêu thương của gia đình và dòng họ

Người Mường nghiêm cấm việc quan hệ trước hôn nhân đồng bào quan niệm việc đó xảy ra là do người con gái không được giáo dục tử tế, cha mẹ không quan tâm, xã hội người Mường là xã hội phụ quyền, nếu đôi trai gái có quan hệ với nhau mà bị phát hiện sẽ bị cả xã hội chê cười, đối với người con gái sẽ khó lấy được chồng vì đã bị mang tiếng Trường hợp có thai người con gái càng bị lên án nặng nề, còn người con trai ít bị ảnh hưởng trong vấn đề này hơn Bản thân cô gái và gia đình càng thấy xấu hổ hơn trước dư luận và

xã hội Có trường hợp cô gái phải bỏ đi ra khỏi làng vì gia đình nhà trai không muốn cưới cô gái về, nếu có lấy cũng bị nhà chồng coi thường vì đã không giữ được phẩm giá

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn vợ, chọn chồng, con dâu, con rể

* Tiêu chuẩn chọn vợ, chọn con dâu

Hôn nhân là sự kiện trọng đại nó liên quan tới hạnh phúc của cả đời

người, việc tìm được dâu tốt vợ hiền có ý nghĩa quan trọng

Trong quan niệm của người Mường những tư chất của người con gái có vai trò rất lớn trong việc lựa chọn bạn đời Một cô gái chuẩn mực lý tưởng phải là người nết na, dịu dàng, chăm chỉ trong việc làm ăn, biết cấy hái, nói năng nhẹ nhàng, biết thêu thùa khâu vá, thành thạo nội trợ, biết cách ứng xử

Trang 37

với cha mẹ, anh chị em trong gia đình, hàng xóm Đó là tiêu chí chung cho việc chọn vợ tốt trong xã hội Các chàng trai cần ở vợ mình sức khỏe,vì xã hội Mường với truyền thống làm nông nghiệp để nuôi sống gia đình do vậy người

vợ mà họ lấy về phải đảm đương được công việc cấy hái, thêu thùa, nương rẫy Sau đó mới là sự khéo léo trong công việc, khéo léo trong ứng xử với mọi người, vì họ quan niệm rằng người vợ mình khéo léo thì nhà cửa lúc nào cũng

ấm êm, gia đình họ hàng cũng bằng lòng với người con dâu đó Đối với họ lấy

vợ thì vấn đề kinh tế và hoàn cảnh gia đình cũng được quan tâm đến

Khi cưới vợ cho con, bố mẹ thường dặn con trai mình rằng “ Đừng tham nón rẻ mà đội trời mưa, đừng tham người đẹp mà thưa việc làm”, với họ, hình thức bên ngoài không phải vấn đề quan trọng Họ cho rằng người con gái đẹp mà vụng về, lười biếng, lơ là trong công việc thì khó mà trở thành một người vợ tốt , một người con dâu ngoan Ngoài ra, cô gái phải còn trinh tiết,

có sức khỏe và có khả năng sinh con vì trinh tiết là thước đo nhân phẩm của người con gái còn có sức khỏe và khả năng sinh con mới có thể lao động và duy trì nòi giống được cho nhà chồng Hơn nữa gia đình cô gái phải có nguồn gốc rõ ràng, gia đình không có những điều tiếng xấu, không mắc dị tật hoặc căn bệnh di truyền nào Các bậc cha mẹ cũng thường coi nặng việc môn đăng

hộ đối, sự ngang bằng kinh tế giữa hai gia đình

Đặc biệt, khi hỏi vợ cho người con trai cả thì vấn đề chọn con dâu càng trở nên kĩ hơn Lúc này việc chọn vợ cho con không phải là vấn đề riêng, người con gái ấy phải đảm nhận trách nhiệm của người con dâu trưởng Vì thế, phải có khả năng đảm nhiệm những công việc lớn trong những ngày lễ tết của gia đình và dòng họ

* Tiêu chuẩn của việc chọn chồng, chọn con rể

Hôn nhân truyền thống của người Mường thường do cha mẹ sắp đặt, vì thế người con gái ít khi có cơ hội tiếp xúc và tìm hiểu chàng trai một cách

Trang 38

thấu đáo nhưng không vì thế mà họ không đặt ra những tiêu chuẩn riêng trong việc chọn một người chồng tốt Họ thường có quan điểm và cách nhìn nhận riêng về một người nam giới tốt, một người chồng tốt Gia đình người Mường

là gia đình phụ hệ, vì vậy người chồng là trụ cột là “nóc nhà”, họ là người giữ vai trò chủ đạo trong sản xuất, xây dựng nhà cửa và tham gia các công việc của dòng họ, cộng đồng Gia đình giàu hay nghèo phụ thuộc vào người đàn ông Vì vậy, các cô gái Mường luôn mong muốn lấy được người chồng có sức khỏe, giỏi việc đan lát, cày bừa, là người luôn yêu vợ thương con, sống có nhân đức, không mắc những tật xấu và bệnh tật di truyền nhất là mẹ chàng trai phải là người phúc hậu, dễ gần gũi Đó là những tiêu chuẩn được cô gái Mường đánh giá cao Ngược lại “ đàn ông không biết làm cửa, làm cổng đàn ông hư” người đàn ông như thế cũng khó lấy được người vợ như ý

Còn khi chọn chàng rể cũng như nhà trai khi chọn con dâu, bố mẹ cô gái cúng căn cứ vào những đức tính của chàng trai để lựa chọn Người Mường

có câu “ kén rể nhìn vào bờ ruộng” thể hiện cách nhìn của họ về người đàn ông trong xã hội xưa Trong điều kiện lao động ở nông thôn chủ yếu là chân tay, trên các thửa ruộng không bao giờ vắng bóng người đàn ông, nhìn vào thửa ruộng thấy sạch, đẹp sẽ phần nào thấy được sự cần cù ở người đàn ông Cha mẹ cô gái cũng nhìn vào tiềm lực kinh tế của nhà trai mà cân nhắc việc hứa gả con, họ mong muốn con gái của họ sẽ được gả vào gia đình có chút kinh tế để con cái của họ sẽ đỡ khổ

2.1.3 Nguyên tắc trong hôn nhân

Cũng giống như hôn nhân của nhiều dân tộc khác, hôn nhân một vợ một chồng được hình thành khá lâu trong xã hội Mường Để tránh tình trạng lấy nhau chung dòng họ khi con cái lớn đến tuổi lập gia đình, người Mường

đã dạy cho con cái biết rõ về mối quan hệ trong dòng họ của mình, chỉ bảo có thể kết hôn được với ai, không được kết hôn với ai, nếu chẳng may mà lấy

Trang 39

nhau khi đang có mối quan hệ dòng họ thì bị dư luận xã hội lên án mạnh mẽ Trước kia, muốn lấy nhau phải trải qua 9 đời mới được lấy nhau nhưng do sự phát triển của xã hội nên những quy định này đã có sự lỏng lẻo hơn Do vậy, những người phụ nữ khi đi lấy chồng khi qua 5 đời thì con cháu của họ sẽ được lấy nhau Người Mường quan niệm nếu lấy sớm hơn số đời đã quy định thì sinh con cái sẽ bị tật do cùng huyết thống, nhưng trong xã hội truyền thống việc kết hôn chỉ trong phạm vi làng bản mình nên có thể vẫn còn quan hệ, đặc biệt là với con trai Vì thế, con cái họ sinh ra vẫn có nhiều trường hợp mang

dị tật và mất sớm nhưng nguyên nhân đó không được mọi người nghĩ đến mà theo họ nguyên nhân chủ yếu là do không có điều kiện nuôi dưỡng

2.1.4 Các bước trong hôn nhân

Gia đình người Mường là gia đình phụ hệ nên hôn nhân thường do nhà trai chủ động, hôn nhân truyền thống của gia đình người Mường rất phức tạp

và tốn kém, phải trải qua nhiều bước nhưng thường có 4 bước cơ bản: lễ dạm

hỏi, lễ ăn hỏi, lễ cưới và lễ đón dâu

Lễ dạm hỏi (còn gọi là lễ uống rượu hay còn gọi là lễ óong rạo)

Sau khi tìm được đối tượng và qua thời gian tìm hiểu về cô gái mà chàng thấy ưng ý và có ý định muốn kết hôn thì sẽ về gia đình thưa chuyện với bố mẹ, nếu bố mẹ chàng trai đồng ý sẽ nhờ người làm mai mối sang đặt vấn đề với nhà gái để tiến tới được hôn nhân theo tục lệ Nhà trai phải đến nhà gái 3 lần, hai lần đầu bố mẹ cô gái từ chối nhà trai đến hỏi với lý do họ đưa ra

là cô gái còn nhỏ, cháu còn vụng về và để gia đình nhà gái xem ý kiến của cháu thế nào đã lần thứ 3 nhà trai đến thì bố mẹ cô gái sẽ bảo cô trực tiếp ra chào hỏi đồng thời hỏi ý kiến cô gái, nếu cô gái đồng ý lấy chàng trai làm chồng (thường thì bố mẹ cô gái đã tác động trước) Nếu nhà gái đồng ý sễ nhận lễ vật dạm hỏi nhà trai mang đến gồm một chai rượu, một gói thịt gà rang nhạt hoặc một gói cá chép nướng hoặc rán gói lại cẩn thận, một ít trầu

Trang 40

cau chưa têm và 6 quả trứng vịt luộc là đại diện cho 6 điều may mắn mà người Mường thường quan niệm gồm 6 chữ “kiên là đức tính kiên trì nhẫn nại; trừ là trừ được tà ma, bệnh tật; mãn là sự sung túc, no đủ; bình là bình an; sinh là sinh nhiều con cái, con cái hiền lành ngoan ngoãn; lão là khỏe mạnh, sống lâu Với cách tính chữ này người Mường mong muốn tất cả mọi điều may mắn sẽ đến với đôi trẻ sắp tiến tới hôn nhân Trong lễ óong rạo ông mối đến nhà gái đặt vấn đề thường là hai ông trưởng họ thuộc hai bên nội, ngoại của nhà chàng trai và có cả chàng trai đi cùng Sau khi nhận lễ vật nhà gái sẽ dùng chính những lễ vật đó của nhà trai để tiếp đón nhà trai, mâm cỗ sẽ có bố

mẹ đẻ của cô gái và cô gái, hai ông mối nhà trai và chàng trai, 6 quả trứng sẽ được chia đều cho mỗi người, trong bữa cơm họ sẽ bàn tính chuyện ăn hỏi tiếp theo

Lễ ăn hỏi (còn gọi là lễ bỏ trầu hay đi trù)

Đến ngày định sẵn do hai gia đình đã thỏa thuận từ trước nhà trai sẽ đến nhà gái để tiến hành lễ ăn hỏi Đoàn nhà trai đến nhà gái thường là 10 người không được đi 7 hoặc 8 vì đó là hai con số không may mắn, số 7 tương ứng với chữ bệnh còn số 8 tương ứng với chữ tử Đoàn nhà trai gồm 8 người với hai người khiêng lễ vật là 10 người, ít nhất là 6 người, 4 người đi và hai người khiêng lễ vật, đoàn nhà trai chỉ gồm 10 nam giới không có nữ giới, đi cùng gồm hai người trưởng họ, bố đẻ chàng trai, chàng trai và những người trong họ Lễ vật đem đến nhà gái gồm 62 quả cau, 62 lá trầu đẹp đối với người con gái còn trinh, 42 quả cau và 42 lá trầu đối với cô gái khi không còn trinh Lễ vật này nhà gái nhận xong sẽ chia đều cho anh em trong họ nhà gái với ý nghĩa con gái, cháu gái họ đã có nơi có chốn Người Mường có câu

“một miếng trầu làm dâu nhà người”, việc nhà gái nhận lễ vật của nhà trai đã chính thức tác hợp cho đôi trai gái dưới sự chứng kiến của hai bên gia đình

Vì vậy, việc đưa trầu câu đến nhà gái đã trở thành tục lệ không thể thiếu trong

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1988), Việt Nam Văn hóa sử cương. Nxb Tổng hợp Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Đồng Tháp
Năm: 1988
2. F. Ăngghen (1961), Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước. Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước
Tác giả: F. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1961
3. Báo dân tộc và thời đại (2005), Bài trích dân tộc Mường. Nxb Kim Đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài trích dân tộc Mường
Tác giả: Báo dân tộc và thời đại
Nhà XB: Nxb Kim Đồng
Năm: 2005
4. Lã Đăng Bật và Nguyễn Thị Kim Khánh (2010), Nho Quan miền đất cổ. Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho Quan miền đất cổ
Tác giả: Lã Đăng Bật và Nguyễn Thị Kim Khánh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2010
5. Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn (2002), Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong thời kỳ CNH- HĐH. Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong thời kỳ CNH- HĐH
Tác giả: Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2002
6. Đỗ Thúy Bình (1994), Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
7. Nguyễn Dương Bình (1973), Góp phần tìm hiểu mối quan hệ Việt- Mường trong lịch sử, Tạp chí Dân tộc học số1, trang 25- 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu mối quan hệ Việt- Mường trong lịch sử
Tác giả: Nguyễn Dương Bình
Năm: 1973
8. Nguyễn Dương Bình (1977), Về tình hình ruộng đất của dân tộc Mường trước Cách mạng tháng Tám, Tạp chí Dân tộc học số 2, trang 12- 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tình hình ruộng đất của dân tộc Mường trước Cách mạng tháng Tám
Tác giả: Nguyễn Dương Bình
Năm: 1977
9. Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam (1959). Nxb Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Tác giả: Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa Hà Nội
Năm: 1959
10. Nguyễn Từ Chi (1988), Người Mường với văn hóa cổ truyền Mường Bi, Sở Văn hóa Thông tin Hà Sơn Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Mường với văn hóa cổ truyền Mường Bi
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Năm: 1988
11. Hồ Ngọc Đại (1990), Tam giác gia đình, Tạp chí Xã hội học số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: (1990), Tam giác gia đình
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Năm: 1990
12. Cao Sơn Hải (2002), Tục ngữ Mường Thanh Hóa. Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ Mường Thanh Hóa
Tác giả: Cao Sơn Hải
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2002
13. Phạm Quang Hoan (19880, Gia đình, bản chất, cấu trúc, loại hình, Tạp chí Dân tộc học số 4, trang19- 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình, bản chất, cấu trúc, loại hình
14. Ngô Thị Hường (2005), Giáotrình luật hôn nhân gia đình. Nxb Tư Pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáotrình luật hôn nhân gia đình
Tác giả: Ngô Thị Hường
Nhà XB: Nxb Tư Pháp
Năm: 2005
15. Trần đình Hượu (19840, Tìm hiểu gia đình truyền thống Việt Nam dưới ảnh hưởng của Nho giáo. Tạp chí Xã hội học số 2, trang 8- 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu gia đình truyền thống Việt Nam dưới ảnh hưởng của Nho giáo
16. Ma Văn Kháng (1995), Một tổ hợp xinh xắn, cân đối và mạnh mẽ. Tạp chí Xã hội học số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một tổ hợp xinh xắn, cân đối và mạnh mẽ
Tác giả: Ma Văn Kháng
Năm: 1995
17. Vũ Khánh (2008), Người Mường ở Việt Nam - The Muong in Vietnam, Hà Nội, Thông tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Mường ở Việt Nam - The Muong in Vietnam
Tác giả: Vũ Khánh
Năm: 2008
18. Vũ Ngọc Khánh (2007), Văn hóa gia đình Việt Nam. Nxb Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa gia đình Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2007
19. Trần Quốc Miên (1987), Tìm hiểu luật hôn nhân gia đình ban hành năm 1986. Nxb Sở tư pháp Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu luật hôn nhân gia đình ban hành năm 1986
Tác giả: Trần Quốc Miên
Nhà XB: Nxb Sở tư pháp Thái Bình
Năm: 1987
20. Lê Minh (1994), Văn hóa gia đình Việt Nam và sự phát triển. Nxb Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa gia đình Việt Nam và sự phát triển
Tác giả: Lê Minh
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 1994

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 Quan hệ hụn nhõn khỏc tộc của người Mường ở xó Kỳ Phỳ  - Hôn nhân và gia đình truyền thống của người mường ở kỳ phú nho quan ninh bình và sự biến đổi của nó trong giai đoạn hiện nay
Bảng 3.1 Quan hệ hụn nhõn khỏc tộc của người Mường ở xó Kỳ Phỳ (Trang 62)
Từ bảng thống kờ cho thấy độ tuổi kết hụn của cả nam và nữ hiện nay - Hôn nhân và gia đình truyền thống của người mường ở kỳ phú nho quan ninh bình và sự biến đổi của nó trong giai đoạn hiện nay
b ảng thống kờ cho thấy độ tuổi kết hụn của cả nam và nữ hiện nay (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w