Theo quan điểm của các nhà kinh doanh, TGHD là sự so sánh mối tương quan giá trị giữa hai đồng tiền phát sinh trong các hoạt động liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư, giao dịc
Trang 1Đoàn trường Đại học Ngoại thương Cõu lạc bộ Sinh viờn nghiờn cứu khoa học NT-302, trường Đại học Ngoại thương
91 Chựa Lỏng – Đống Đa – Hà Nội Email: svnckh@gmail.com
Tên công trình: QUAN Hệ TáC ĐộNG GIữA
Tỷ GIá HốI ĐOáI USD/VND Và KIM NGạCH XUấT KHẩU DầU THÔ
CủA VIệT NAM GIAI ĐOạN 1990 - 2005
bộ giáo dục và đào tạo Tr-ờng đại học ngoại th-ơng
-Nhóm ngành: X 1a h
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
I Lý thuyết về tỷ giá hối đoái: 4
1 Khái niệm tỷ giá hối đoái: 4
2 Các loại tỷ giá: 5
2.1 Tỷ giá chính thức: 5
2.2 Tỷ giá kinh doanh: 5
2.3 Tỷ giá xuất khẩu – Tỷ giá nhập khẩu: 7
3 Cơ sở hình thành và một số chế độ tỷ giá hối đoái hiện hành: 7
3.1 Cơ sở hình thành: Cơ sở hình thành tỷ giá hối đoái là dựa trên lịch sử phát triển của các chế độ tiền tệ trên thế giới và được chia thành các giai đoạn sau 7
3.1.1 Tỷ giá hối đoái dưới chế độ bản vị vàng (trước chiến tranh Thế giới lần thứ 1 – năm 1914) 7
3.1.2 Tỷ giá hối đoái trong chế độ tiền tệ Bretton Woods 7
3.1.3 Tỷ giá hối đoái sau khi chế độ tiền tệ Bretton Woods sụp đổ (1973) cho đến nay 8
3.2 Một số chế độ tỷ giá hiện hành: 10
3.2.1 Chế độ tỷ giá cố định: 10
3.2.2 Chế độ tỷ giá thả nổi tự do: 11
3.2.3 Chế độ tỷ giá hỗn hợp (thả nổi kết hợp với điều tiết của Chính phủ): 13
4 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá: 14
4.1 Lượng cung tiền: 14
4.2 Thu nhập thực tế: 15
4.3 Dự đoán lạm phát tương lai: 15
Trang 34.4 Chênh lệch lãi suất: 15
4.5 Cán cân thương mại hay tài khoản vãng lai: 16
II Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến hoạt động xuất khẩu 17
1 Tổng quan về hoạt động xuất khẩu: 17
1.1 Khái niệm: 17
1.2 Tầm quan trọng của hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế: 17
1.3 Các tiền đề thúc đẩy hoạt động xuất khẩu trên bình diện quốc gia: 17 1.3.1 Sử dụng khả năng dư thừa: 17
1.3.2 Giảm chi phí sản xuất trên một đơn vị hàng hóa đầu ra: 18
1.3.3 Tối ưu hoá lợi ích: 18
1.3.4 Phân tán rủi ro: 18
1.3.5 Cơ hội nhập khẩu: 18
2 Mối quan hệ tác động giữa tỷ giá hối đoái và xuất khẩu: 19
2.1 Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến hoạt động xuất khẩu: 19
2.2 Quan hệ đối hợp giữa kim ngạch xuất khẩu và tỷ giá hối đoái: 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DIỄN BIẾN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU DẦU THÔ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1991-2008 23
I Tổng quan tình hình điều hành tỷ giá 23
1 Giai đoạn 1: Trước năm 1989 23
2 Giai đoạn 2: 1989 – 1992: Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi 24
3 Giai đoạn 3: 1992 – 1997: Chế độ tỷ giá cố định 25
4 Giai đoạn 4: 1997 – 1999: Chế độ tỷ giá cố định với biên độ dao động 26 5 Giai đoạn 5: 1999 – nay: Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết 28
II Tổng quan hoạt động xuất khẩu dầu thô của Việt Nam giai đoạn 1991-2009 30
1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngành Dầu khi 30
2 Thực trạng ngành Dầu khí hiện nay 31
Trang 42.1 Tổng quan về hoạt động khai thác thương mại ngành dầu khí Việt
Nam 31
2.2 Hoạt động khai thác và xuất khẩu ngành dầu khí những năm gần đây: 33
CHƯƠNG III KIỂM ĐỊNH SỰ TÁC ĐỘNG LẪN NHAU CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI USD/VND VÀ KIM NGẠCH XUẤT KHẨU DẦU THÔ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1991-2005 BẰNG MÔ HÌNH 38
I Xây dựng mô hình tỷ giá tác động lên kim ngạch xuất khẩu dầu 38
1 Hồi quy mô hình 1: 39
0.000000 39
1.1 Kiểm định Hệ số với mức ý nghĩa 5%: 40
1.2 Độ phù hợp của mô hình: 41
2 Hồi quy mô hình 2: 42
2.1 Kiểm định Hệ số với mức ý nghĩa 5%: 42
2.2 Độ phù hợp của mô hình với mức ý nghĩa 5%: 43
2.3 Cộng đa tuyến: 44
2.4 Tương tự quan: 44
2.5 Ramsey Test về bỏ sót biến với mức ý nghĩa 5%: 45
II Xây dựng mô hình tác động của kim ngạch xuất khẩu lên tỷ giá 48
1 Kiểm định Hệ số với mức ý nghĩa 5%: 49
2 Độ phù hợp của mô hình với mức ý nghĩa 5%: 50
3 Tự tương quan với mức ý nghĩa 5%: 51
4 Ramsey Test về bỏ sót biến với mức ý nghĩa 5%: 51
LỜI KẾT 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 5Đoàn trường Đại học Ngoại thương Câu lạc bộ Sinh viên nghiên cứu khoa học NT-302, trường Đại học Ngoại thương
91 Chùa Láng – Đống Đa – Hà Nội Email: svnckh@gmail.com
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6Đoàn trường Đại học Ngoại thương Câu lạc bộ Sinh viên nghiên cứu khoa học NT-302, trường Đại học Ngoại thương
91 Chùa Láng – Đống Đa – Hà Nội Email: svnckh@gmail.com
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1 Tỷ giá các ngoại tệ của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam ngày 10/7/2009 5 Bảng 1.2 Tỷ giá ngoại tệ tiền mặt và chuyển khoản của Ngân hàng
Techcombank ngày 6/7/2009 (Nguồn: www.techcombank.com.vn) 6
Bảng 1.3 Tỷ giá USD kì hạn ngày 6/7/2009 của Ngân hàng Techcombank 6 Bảng 1.4: Tương quan giữa tỷ giá danh nghĩa với tỷ giá thực tế tính theo ngang giá sức mua 26 Bảng 1.5 : Những lần điều chỉnh tỷ giá và biên độ giao dịch 27 Bảng 2.1 Lượng và Kim Ngạch xuất khẩu dầu thô qua các năm 34
Biểu đồ 2.1: Sản xuất dầu lửa và khí đốt Việt Nam giai đoạn 1986- 2025
32
Biểu đồ 2.2: Các nước sản xuất dầu mỏ chính trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương 33 Biểu đồ 2.3 Lượng và kim ngạch xuất khẩu dầu thô qua các năm 35
Trang 7Đoàn trường Đại học Ngoại thương Câu lạc bộ Sinh viên nghiên cứu khoa học NT-302, trường Đại học Ngoại thương
91 Chùa Láng – Đống Đa – Hà Nội Email: svnckh@gmail.com
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong những nền kinh tế mở, tỷ giá hối đoái là vấn đề nhạy cảm và có tác động lớn nhất đến thị trường tiền tệ nói riêng và sự vận hành của một nền kinh tế nói chung Việc điều hành cơ chế tỷ giá là rất khó khăn đối với những nhà hoạch định chính sách (policy maker) Việc điều chỉnh tỷ giá có ảnh hưởng lớn đến cán cân thương mại và tình hình xuất nhập khẩu của quốc gia, đặc biệt là xuất nhập khẩu dầu thô
Xăng dầu luôn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của mỗi nền kinh tế Đối với những nước phát triển như Mỹ, Nhật,… dầu thô là nhiên liệu không thể thay thế đối với nhiều ngành công nghiệp sản xuất và các hoạt động khác Đối với những nước khác như các nước Châu Mỹ Latin hay các nước Trung Đông, đây lại là mặt hàng xuất khẩu chính, mang lại phần lớn thu nhập quốc dân của các quốc gia đó Có thể khẳng định dầu thô là nhân tố duy trì, thúc đẩy sự phát triển của mỗi quốc gia
Từ đầu năm 2008 đến nay, giá dầu trên thế giới biến động không ngừng
và rất khó lường Tháng 07/2008, giá dầu thô thế giới đã từng đạt mức kỷ lục
162 USD/thùng, tuy nhiên hiện nay giá chỉ còn xấp xỉ 60 USD/thùng Điều này đã tác động không nhỏ đến nền kinh tế thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như VIệt Nam
Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nền kinh tế tăng trưởng khá “nóng” và nhu cầu về dầu thô là rất lớn Hàng năm, kim ngạch nhập khẩu dầu thô của nước ta là rất lớn Chính vì thế, nền kinh tế Việt Nam khá dễ bị tổn thương trước những biến động của giá dầu trên thế giới và điều này sẽ gây nhiều tiêu cực cho nền kinh tế
Trang 8Thêm vào đó, biến động tỷ giá trên thị trường tiền tệ Việt Nam trong 2 năm gần đây là rất khó lường, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro lớn Tỷ giá USD/VNĐ trên thị trường tự do đã có lúc lên gần 19.000đ vào giữa tháng 05/2008 Có thể thấy những bất cập của chính sách tỷ giá cố định của Việt Nam mà việc chênh lệch tỷ giá ngân hàng và tỷ giá trên thị trường tự do quá lớn là một điển hình
Hai mối nguy cơ này diễn ra đồng thời trong bối cảnh cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vẫn chưa chấm dứt hẳn đe dọa nghiêm trọng đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam
Để tạo thế chủ động, duy trì sự ổn định của cán cân thanh toán, từ đó giúp nền kinh tế phòng vệ tốt hơn đối với những biến động của thế giới, Nhà nước cần có những biện pháp điều hành tỷ giá hợp lý, cùng với những biện pháp phòng vệ (hedging) giá dầu xuất nhập khẩu khả thi Với mục đích tìm hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và kim ngạch xuất khẩu dầu thô, vốn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực, để góp phần vào sự ổn định và phát triển của kinh tế Việt Nam, nhóm tác giả đã chọn đề tài:
“Quan hệ tác động giữa tỷ giá hối đoái USD/VND và kim ngạch xuất khẩu dầu thô của Việt Nam giai đoạn 1990-2005”
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung vào nghiên cứu quan hệ tác động tỷ giá hối đoái USD/VNĐ và giá dầu thô xuất nhập khẩu trong 15 năm gần đây
3 Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở phân tích định lượng mối liên quan giữa giá dầu thô xuất nhập khẩu và tỷ giá hối đoái, nhóm tác giả muốn chỉ ra những tồn tại trong cơ chế điều hành tỷ giá của Việt Nam, cũng như trong các phương thức giao dịch dầu thô của Việt Nam Từ đó, nhóm đề tài xác định mối quan hệ tác động giữa hai biến số kinh tế trên bằng phương pháp lượng hoá bằng mô hình
Trang 94 Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở của phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài
sử dụng những phương pháp nghiên cứu truyền thống như sau: diễn giải, quy nạp, phân tích, tổng hợp, so sánh,… để rút ra những những luận cứ logic nhất,
từ đó tổng hợp và luận giải những đối tượng nghiên cứu Ngoài ra, đề tài sử dụng các mô hình kinh tế lượng lượng hóa mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá hối đoái nhằm đưa các luận điểm trở nên thuyết phục hơn
5 Kết quả nghiên cứu dự kiến:
Hệ thống hóa, cơ sở hóa lý luận về chính sách tỷ giá hối đoái trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng;
Chỉ ra những bất cập trong cơ chế điều hành tỷ giá và cơ chế giao dịch dầu thô của Việt Nam
Luận giải một cách có logic mối liên hệ tương quan chặt chẽ của hai đối tượng nghiên cứu thông qua phương pháp lượng hoá bằng mô hình kinh tế lượng
6 Kết cấu đề tài:
Ngoài Lời mở đầu và Kết luân, đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận
Chương II: Thực trạng diễn biến tỷ giá hối đoái USD/VND và hoạt động xuất khẩu dầu thô của Việt Nam giai đoạn 1991-2008
Chương III: Kiểm chứng mối quan hệ tác động lẫn nhaugiữa tỷ giá hối đoái USD/VND và kim ngạch dầu thô Việt Nam giai đoạn 1989-2005 bằng mô hình
Trang 10CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN
I Lý thuyết về tỷ giá hối đoái:
1 Khái niệm tỷ giá hối đoái:
Ngày nay, với xu thế mở cửa nền kinh tế, việc trao đổi hàng hóa dịch vụ giữa các quốc gia đã trở nên thuận lợi hơn rất nhiều Một vấn đề nảy sinh trong thương mại quốc tế là mỗi quốc gia lại có đồng tiền riêng của mình nên việc thanh toán nhất thiết phải sử dụng tiền tệ của một trong hai nước, hoặc sử dụng một đồng tiền mạnh nào đó Vì vậy, các quốc gia phải dựa trên TGHD
để chuyển đổi đồng tiền của mình
Theo quan điểm kinh tế học, TGHD là một phạm trù kinh tế quan trọng,
là công cụ đo lường giá trị tương đối giữa các đồng tiền và là phương tiện cạnh tranh hữu hiệu giữa các quốc gia trong thương mại (ví dụ bán phá giá hối đoái) hay đầu tư quốc tế Tỷ giá ảnh hưởng đến giá cả và tác động tới các hoạt động kinh tế - xã hội trong và ngoài nước nên nó còn được coi là một công cụ của chính sách tài chính – tiền tệ của Chính phủ để Chính phủ điều tiết nền kinh tế Mức độ tác động của Chính phủ khác nhau tùy vào từng thời điểm, phụ thuộc vào sự biến động của môi trường kinh tế vĩ mô
Theo quan điểm của các nhà kinh doanh, TGHD là sự so sánh mối tương quan giá trị giữa hai đồng tiền phát sinh trong các hoạt động liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư, giao dịch tài chính quốc tế…Hay nói một cách khác, tỷ giá là giá của một loại tiền tệ được biểu hiện qua một loại tiền tệ khác Nó được coi như một loại giá quốc tế bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau trong không gian quốc tế
Trang 11Bảng 1.1 Tỷ giá các ngoại tệ của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại
thương Việt Nam ngày 10/7/2009
DOLLAR Đô la Canada 15,537.34 15,905.25
GBP BRITISH POUND Bảng Anh 29,448.59 30,085.18
Nguồn: Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Vietcombank
2 Các loại tỷ giá:
2.1 Tỷ giá chính thức:
Tỷ giá do Ngân hàng Nhà nước thông báo
2.2 Tỷ giá kinh doanh:
Tỷ giá kinh doanh bao gồm:
- Tỷ giá mua tiền mặt: áp dụng cho trường hợp mua-bán ngoại tệ bằng giấy bạc ngân hàng, tiền kim loại
- Tỷ giá chuyển khoản: áp dụng cho trường hợp mua-bán ngoại tệ dưới dạng số dư tài khoản tại ngân hàng
Trang 12Bảng 1.2 Tỷ giá ngoại tệ tiền mặt và chuyển khoản của Ngân hàng
Techcombank ngày 6/7/2009 (Nguồn: www.techcombank.com.vn)
Bảng 1.3 Tỷ giá USD kì hạn ngày 6/7/2009 của Ngân hàng Techcombank
Kỳ hạn (ngày) Tỷ giá mua Tỷ giá bán
Trang 132.3 Tỷ giá xuất khẩu – Tỷ giá nhập khẩu:
Trong kinh doanh hàng hóa quốc tế, các doanh nghiệp cần phải xem xét tới tỷ giá xuất khẩu và tỷ giá nhập khẩu
Tỷ giá xuất khẩu = Giá mua hàng hóa trong nước bằng nội tệ / Giá xuất khẩu hàng hóa đó bằng ngoại tệ
Tỷ giá nhập khẩu = Giá bán nhập khẩu tại thị trường trong nước bằng nội
tệ / Giá nhập khẩu hàng hóa đó bằng ngoại tệ
3 Cơ sở hình thành và một số chế độ tỷ giá hối đoái hiện hành:
3.1 Cơ sở hình thành: Cơ sở hình thành tỷ giá hối đoái là dựa trên lịch
sử phát triển của các chế độ tiền tệ trên thế giới và được chia thành các giai đoạn sau
3.1.1 Tỷ giá hối đoái dưới chế độ bản vị vàng (trước chiến tranh Thế giới lần thứ 1 – năm 1914)
Thời kì này tỷ giá được xác định trên cơ sở đồng giá vàng, nghĩa là so sánh hàm lượng vàng của hai đồng tiền để xác lập tỷ giá Biến động của tỷ giá luôn nằm trong một giới hạn nhất định, đó là chi phí vận chuyển vàng và không vượt quá điểm vàng Lợi thế của tỷ giá hối đoái trong chế độ bản vị vàng là biên độ biến thiên của tỷ giá nhỏ nên quan hệ mua bán trong thương mại quốc tế và hoạch định đầu tư diễn ra dễ dàng hơn giữa các nước
3.1.2 Tỷ giá hối đoái trong chế độ tiền tệ Bretton Woods
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), chế độ bản vị vàng sụp đổ hoàn toàn, các nước tư bản chủ nghĩa chủ trương khôi phục lại chế độ bản vị vàng không trọn vẹn, đó là chế độ bản vị hối đoái vàng thông qua một đồng tiền, ban đầu là đồng Bảng Anh (1924) và sau đó là đồng USD của Mỹ (1944) Đồng USD của Mỹ được các quốc gia xác nhận trong thanh toán quốc
tế và được Quỹ tiền tệ Thế giới IMF xác định tiêu chuẩn giá cả với 1USD =
Trang 140,888671 gam vàng Từ đó hình thành tỷ giá cố định giữa đồng USD với đồng tiền các nước trong IMF
Tiền tệ các nước khác muốn đạt tới vàng phải thông qua đồng USD của
Mỹ và để giữa vững tỷ giá cố định của đồng tiền nước mình với đồng USD, các quốc gia trong IMF chỉ được phép mua bán ngoại tệ theo tỷ giá trong phạm vi biên độ ± 1% so với tỷ giá chính thức
Để giữ vững tỷ giá vàng, IMF còn đưa ra quy định về giá vàng là 35 USD/ounce vàng Như vậy nếu giá vàng trên thị trường thế giới vượt quá 35USD/ounce thì Mỹ sẽ tung vàng ra bán với giá 35 USD/ounce và ngược lại nếu giá vàng xuống dưới 35USD/ounce thì Mỹ sẽ tung USD ra để mua vàng
về
Với chế độ tiền tệ này, các nước đã duy trì được tỷ giá cố định trong thời gian tương đối dài cho đến năm 1960 Đầu năm 1960, đồng USD đã bắt đầu lâm vào khủng hoảng và suy yếu, các nước dự trữ USD ngày càng nhiều
đã đồng loạt tấn công vào kho vàng của Mỹ, buộc Mỹ phải chuyển đổi USD
ra vàng Tình hình đó đã dẫn đến hệ quả kho dự trữ vàng của Mỹ tụt xuống mức thấp nhất trong lịch sử Ngày 13/02/1973, Mỹ buộc phải đơn phương tuyên bố chế độ tiền tệ Bretton Woods sụp đổ và các quốc gia tue bản đều thi hành chính sách tỷ giá hối đoái thả nổi của đồng tiền nước mình
3.1.3 Tỷ giá hối đoái sau khi chế độ tiền tệ Bretton Woods sụp đổ (1973) cho đến nay
Sau sự sụp đổ của chế độ tiền tệ Bretton Woods năm 1973, các nước chủ yếu lưu thông tiền giấy không chuyển đổi ra vàng được, hàm lượng vàng chỉ mang tính chất tượng trưng, giá trị tiền tệ luôn thay đổi, tỷ giá hối đoái biến đổi không ngừng nên việc xác định tỷ giá không dựa trên đồng giá vàng mà dựa trên cơ sở so sánh sức mua của hai đồng tiền, bao gồm sức mua trong nước và sức mua quốc tế gọi là ngang giá sức mua
Trang 15Để xác định ngang giá sức mua tuỳ theo quy định mỗi nước người ta sử dụng các chỉ tiêu sau đây:
Chỉ số giá cả hàng hoá: so sánh biến động về giá cả của một số mặt hàng nhất định theo 2 đồng tiền
Hệ thống giá vàng: lấy năm thị trường vàng lớn nhất hiện nay là: New York, London, Paris, Tokyo, Frankfurt
Hệ thống giá ngoại hối: Khảo sát một số ngoại tệ, so sánh biến động tỷ giá hối đoái theo loại tiền
Dựa trên các chỉ tiêu trên, người ta sử dụng phương pháp tính bình quân để xác định được ngang giá sức mua Tuy nhiên theo cách tính trên chỉ đơn thuần về mặt kĩ thuật Trên thực tế, tỷ giá hối đoái được xác định hoàn toàn trên quan hệ cung cầu ngoại hối trên thị trường vào mỗi thời điểm nhất định tại mỗi thị trường khác nhau trên thế giới, còn gọi là cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi
Tuỳ theo cách phân loại, tỷ giá có nhiều loại với tên gọi khác nhau Dưới đây là một số loại tỷ giá thường được sử dụng:
Tỷ giá hối đoái chính thức: là tỷ giá do Ngân hàng TW của mỗi nước công bố, tỷ giá này có tác dụng để hình thành các tỷ giá trên thị trường và là công cụ để đưa ra các chính sách điều tiết kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực ngoại thương
Tỷ giá thị trường: đây là tỷ giá hối đoái hình thành một cách tự phát do quan hệ cung cầu trên thị trường hối đoái hay thị trường liên ngân hàng
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa: là tỷ giá hối đoái được sử dụng hàng ngày trong giao dịch trên thị trường ngoại hối, nó chính là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua một đồng tiền khác
Trang 16mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hoá dịch vụ giữa chúng
Tỷ giá hối đoái thực tế: là tỷ giá hối đoái thực tế được điều chỉnh bởi tương quan giá cả trong và ngoài nước Có thể xác định tỷ giá hối đoái thực tế dựa trên công thức sau:
Tỷ giá hối đoái thực tế = Tỷ giá hối đoái danh nghĩa
SA
U
VN
CPI CPI
3.2 Một số chế độ tỷ giá hiện hành:
3.2.1 Chế độ tỷ giá cố định:
Tỷ giá cố định (hay còn gọi là tỷ giá neo) là một kiểu chế độ tỷ giá hối đoái trong đó giá trị của một đồng tiền được gắn với giá trị của một đồng tiền khác hay với một rổ các đồng tiền khác, hay với một thước đo giá trị khác, như vàng chẳng hạn Khi giá trị tham khảo tăng hoặc giảm, thì giá trị của đồng tiền neo vào cũng tăng hoặc giảm Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định gọi là đồng tiền cố định
Tỷ giá cố định tỷ giá biến động không thường xuyên, không phụ thuộc vào quy luật cung – cầu mà chỉ phụ thuộc vào ý chí chủ quan của chính phủ Trong một hệ thống TGHD cố định, TGHD được giữ không đổi hoặc được phép dao động trong một phạm vi rất hẹp Nếu tỷ giá bắt đầu dao động quá nhiều, các Chính phủ có thể can thiệp để duy trì tỷ giá hối đoái trong vòng giới hạn của phạm vi này
Trong hệ thống TGHD cố định, việc kinh doanh và thanh toán của các công ty không chịu ảnh hưởng từ sự biến động hằng ngày của tỷ giá bởi tỷ giá
đã được neo tại một mức nhất định Ngược lại, Chính phủ gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý và điều hành tỷ giá.Dù vậy,nhiều chính phủ vẫn thích chế
độ tỷ giá hối đoái cố định bởi nó tạo ra sự ổn định Chẳng hạn như trong trường hợp Việt Nam, để bảo vệ nền kinh tế khỏi lạm phát đã thúc đẩy các
Trang 17nhà hoạch định chính sách VN chuyển sang lựa chọn chính sách tỷ giá vì mục tiêu chống lạm phát, bằng cách duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái danh nghĩa (cố định tỷ giá) Mặt khác Chính phủ đã tăng cường công tác thông tin, cho công khi hóa một cách nhanh chóng và chính xác các chỉ số kinh tế quan trọng như tỷ giá chính thức, tỷ giá thị trường, chỉ số giá Đồng thời Chính phủ cũng cho thấy sự chú trọng tăng cường thực lực kinh tế cho hoạt động can thiệp vào tỷ giá bằng cách gia tăng mạnh quỹ dự trữ ngoại tệ, lập quỹ bình ổn giá
Trong lịch sử, từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai đã từng tồn tại hệ thống Bretton Woods cho phép Tây Âu và Nhật Bản có được tỷ giá cố định so với dollar Mỹ cho đến tận năm 1970
Chế độ tỷ giá cố định cũng bộc lộ những nhược điểm chết người của nó Nhiều quan điểm cho rằng duy trì chế độ quá cứng nhắc như thế sẽ che mất những thông tin cần thiết cho thị trường hoạt động đúng hướng bởi đồng tiền không còn thể hiện giá trị thị trường thực của chúng Sự che đậy thông tin nào tạo ra tính không chắc chắn, kích thích các kẻ đầu cơ "tấn công" các đồng tiền
cố định và nhiều nước sẽ mất sạch cả dự trữ ngoại hối khi cố gắng bảo vệ đồng tiền của mình chứ không chịu để nó mất giá Thái Lan trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á là một trường hợp như vậy Trong giai đoạn 1985 -
1997, đồng bạt luôn được neo vào đồng USD, chỉ dao động xung quanh 25 THB/ USD Cán cân thương mại của Thái Lan liên tục bị thâm hụt, từ 10% năm 1990 tăng lên 60-70% vào năm 1997 Nền kinh tế Thái Lan suy giảm nhanh chóng
3.2.2 Chế độ tỷ giá thả nổi tự do:
Chế độ tỷ giá thả nổi là một chế độ trong đó giá trị của một đồng tiền được phép dao động trên thị trường ngoại hối, tức là tỷ giá sẽ được ấn định bởi các lực thị trường mà không cần đến sự can thiệp của Chính phủ Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá thả nổi được gọi là một đồng tiền thả nổi
Trang 18Cơ sở căn bản để xác định tỷ giá hối đoái thả nổi là quan hệ cung – cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối Khi đó, tỷ giá được xác định gần với sức mua thực tế của đồng tiền các nước đó Nó phản ánh tương đối xác thực những biến đổi kinh tế của mỗi nước và sự thay đổi trong tương quan kinh tế giữa các nước với nhau
Những quan điểm đồng ý duy trì chế độ tỷ giá thả nổi cho rằng nó sẽ trở thành cơ sở để thực hiện mong muốn của các nước theo đuổi một chính sách tiền tệ độc lập, tách khỏi sự rằng buộc phải neo tỷ giá lại bất chấp những thay đổi của thị trường như trong chế độ tỷ giá Bretton Woods Chế độ tỷ giá thả nổi tốt hơn chế độ tỷ giá cố định ở chỗ tỷ giá thả nổi nhạy với thị trường ngoại hối Điều này cho phép làm dịu tác động của các cú sốc và chu kỳ kinh doanh nước ngoài Thêm vào đó, nó không bóp méo các hoạt động kinh tế Tuy nhiên, những người không đồng tình với việc duy trì chế độ tỷ giá này cho rằng tỷ giá hối đoái thả nổi lại gây ra những biến động hết sức thất thường, làm cho sự lên xuống của giá các đồng tiền không sao dự đoán trước
đó Những rủi ro của TGHD xảy ra thường xuyên Điều này làm tăng yếu tố gây mất ổn định của nền kinh tế, cản trở khả năng kiểm soát quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế của các chính phủ Lấy ví dụ khi Việt Nam duy trì chế độ tỷ giá thả nổi trong giai đoạn 1989 – 1992 Bên cạnh những thành công vượt bậc do chế độ này mang lại thì cũng có những điều khiến cho những nhà quản lý kinh tế VN phải suy nghĩ khi mà việc tỷ giá được quyết định theo thị trường với hoàn cảnh như nền kinh tế VN đã tạo ra những mặt hạn chế như: nền kinh tế hay xảy ra những cơn sốc định kỳ cuối quý hoặc cuối năm; lạm phát thường tăng vọt bất thình lình; hiện tượng đôla hóa trong
hệ thống lưu thông thanh toán ngày càng tăng nhanh; sự mất cân đối giữa các vùng, các lĩnh vực; sự quản lý lỏng lẻo đã dẫn đến hàng loạt vụ đổ bể tín dụng vào cuối năm 1991 và đầu năm 1992; nguồn thu ngoại tệ không được quản lý chặt chẽ mà còn bị buông lỏng làm cho dự trữ ngoại tệ tăng chậm trong 3 năm
Trang 191989, 1990 và 1991 mức dự trữ ngoại tệ tương ứng là 24 triệu USD, 24 triệu USD và 25 triệu USD
Có thể thấy, trong chế độ tỷ giá thả nổi này, Chính phủ giữ vai trò thụ động, để cho thị trường quyết định giá trị đồng tiền nước mình Tuy nhiên, trên thực tế, hiếm có Chính phủ nào lại để mặc cho thị trường tự điều tiết mà thường can thiệp bằng những công cụ tài chính – tiền tệ (nghiệp vụ thị trường
mở OMO, dự trữ bắt buộc, lãi suất), điều chỉnh dự trữ ngoại tệ, v.v…Vì vậy, Chính phủ thường duy trì chế độ tỷ giá linh hoạt kết hợp giữa thả nổi và điều tiết
3.2.3 Chế độ tỷ giá hỗn hợp (thả nổi kết hợp với điều tiết của Chính phủ):
Chế độ tỷ giá hỗn hợp giữa thả nổi và cố định (hay còn gọi là chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết) là một chế độ tỷ giá hối đoái nằm giữa chế độ thả nổi
và cố định Mặc dù lý thuyết nói chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi tốt hơn, nhưng trong thực tế không có một đồng tiền nào được thả nổi hoàn toàn, vì nó quá bất ổn định Tuy chế độ tỷ giá hối đoái cố định tạo ra sự ổn định, song việc thực hiện các biện pháp chính sách nhằm giữ cho tỷ giá hối đoái cố định tương đối khó khăn và tốn kém, và trên hết là chế độ này làm cho chính sách tiền tệ trở nên vô hiệu lực Chính vì thế, chỉ một số ít đồng tiền trên thế giới
sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định Hầu hết các đồng tiền trên thế giới sử dụng chế độ tỷ giá thả nổi, nhưng chính phủ sẽ can thiệp để tỷ giá không hoàn toàn phản ứng theo thị trường
Việc áp dụng chế độ tỷ giá hỗn hợp này hiện nay ở các nước có sự khác nhau về mức độ của vùng mục tiêu Bởi lẽ, mỗi nước đều theo đuổi những vùng mục tiêu nhất định và tỷ giá cần phải được điều chỉnh để duy trì sự ổn định xung quanh vùng mục tiêu đó Chẳng hạn như khi chính phủ muốn thực hiện một chính sách tiền tệ độc lập, họ sẽ nghiêng về thả nổi thị trường nhiều
Trang 20hơn, hay khi muốn ổn định thị trường, giảm lạm phát họ lại cần nghiêng về phía cố định tỷ giá
Từ tháng 2 năm 1999, Việt Nam cũng đã áp dụng chế độ tỷ giá hỗn hợp sau 2 năm duy trì chế độ tỷ giá cố định với một biên độ dao động nhất định (từ tháng 7/1997 đến 26/02/1999) Theo đó, nhiều lần biên độ giao dịch đã được nới rộng và thu hẹp, gần đây nhất biên độ đã được nới lên ± 5% (tháng 3/2009)
4 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá:
4.1 Lượng cung tiền:
Cung ứng tiền tệ ảnh hưởng đến tỷ giá Trên phạm vi quốc tế cũng như trong nước, một đồng tiền sẽ hạ giá trị nếu đưa quá nhiều tiền vào lưu hành Các trường hợp đặc biệt của lạm phát phi mã (mức lạm phát rất cao) chứng minh một cách hùng hồn sự đúng đắn của luận điểm này
Việc tăng mức cung tiền tệ hàng tỷ lần của Đức năm 1922-1923 được coi như là nguyên nhân chính gây ra sự tăng hàng tỷ lần giá ngoại tệ và các hàng hoá khác ở Đức trong thời gian đó
Tiền tệ được sử dụng như là trung gian của sự trao đổi , một lượng tiền mặt cần có trong tay đủ để chi trả cho giá trị hàng hoá trao đổi có thể làm xuất hiện yêu cầu đổi tiền để lấy hàng hoá dịch vụ.Nhu cầu trao đổi này làm thay đổi theo sự quay vòng hàng năm các giao dịch đòi hỏi tiền
Quan điểm tương tự như vậy không thay đổi đối với bất cứ một nước nào cho dù là mở cửa hay đóng cửa với thương mại thế giới Các đồng tiền
mà các nước chọn để cất giữ cho các giao dịch trong tương lai là các đồng tiền của các nước mà tại đó họ đoán biết là đồng tiền đó được sử dụng Bất
kỳ ai muốn mua một sản phẩm quốc gia của Mỹ sẽ cần phải có đồng Dollar
Mỹ trong tay để thanh toán cho các giao dịch, bất kể họ đang ở Mỹ hay ở một nước nào khác vì đơn giản là người bán các sản phẩm quốc gia của Mỹ
Trang 21thường muốn được thanh toán bằng đồng Dollar Mỹ hơn cả Vấn đề này đúng với mọi đồng tiền của các nước khác
4.2 Thu nhập thực tế:
Việc đánh giá “ảnh hưởng của thu nhập” lên tỷ giá tương tự như các vấn đề quen thuộc của việc đánh giá “ảnh hưởng của thu nhập” lên giá cả ở một nước Nó hoàn toàn phụ thuộc vào các yếu tố làm thu nhập tự chuyển dịch Nếu thu nhập tăng do tăng khả năng tự cung ứng thì giá trị chuyển đổi của đồng tiền của một nước (r) sẽ tăng chỉ do sức mua của đồng tiền sẽ tăng; ngược lại, nếu thu nhập tăng do tăng nhu cầu trong nước thì giá trị chuyển đổi của đồng tiền sẽ giảm do sức mua của đồng tiền giảm
4.3 Dự đoán lạm phát tương lai:
Một đồng tiền sẽ suy giảm sức mua nếu giá hàng hoá và dịch vụ ở nước
sử dụng đồng tiền đó tăng Các nhà đầu tư sẽ do dự khi nắm giữ một đồng tiền với bất kỳ tỷ giá nào nếu họ phán đoán sẽ có lạm phát giá cả tại nước sử dụng đồng tiền đó.Vai trò của dự báo tỷ giá dựa vào giá cả có thể được thể hiện trong các phương trình lạm phát khi cho hệ số k phụ thuộc vào (tỷ lệ lạm phát giá cả theo dự doán của chúng ta), và cho hệ số kf phụ thuộc vào f (tỷ lệ lạm phát ở nước ngoài)
4.4 Chênh lệch lãi suất:
Thị trường ngoại hối rất nhạy cảm với các thay đổi về lãi suất Các thay đổi đột biến về tỷ giá thường theo sau các thay đổi (i - if), sự chênh lệch giữa lãi suất trong nước (i) và nước ngoài (if) Sự phản ứng này thường là ngay tức thì.Nếu lãi suất của nội tệ (i) tăng vọt 1% trong khi lãi suất của nước ngoài không đổi, các nhà đầu tư nhận thấy thêm một lý do để mua nội tệ tại thị trường giao ngay.Một phần lợi nhuận thu được từ việc nắm giữ một đồng tiền trong chốc lát và việc đánh đổi với trị giá của đồng tiền đó trong tương lai bao gồm các thu nhập từ lãi tiền gửi, kỳ phiếu, hay trái phiếu phát hành bằng đồng tiền đó Cho nên tại bất kỳ một tỷ lệ thay đổi dự đoán của giá
Trang 22giao ngay của đồng nội tệ , tăng lãi suất bản địa kích thích mua và nắm giữ đồng nội tệ , qua đó làm tăng giá trị giao ngay của đồng tiên đó
Giống như vai trò của thu nhập thực sự, vai trò của lãi suất phụ thuộc vào các yếu tố làm nó thay đổi Khi chúng ta cho là lãi suất đang tăng tại một nước, chúng ta nghĩ ngay đến việc thắt chặt tiền tệ và lãi suất chúng ta xét đến là lãi suất thực i - vì vậy cần cẩn thận khi cho rằng “lãi suất” đang tăng ở một nước cao hơn các nước khác
4.5 Cán cân thương mại hay tài khoản vãng lai:
Các thị trường ngoại hối phản ứng nhạy cảm với các tin tức liên quan đến các số liệu chính thức của cán cân thương mại hay tài khoản vãng lai Một tiêu chuẩn đánh giá là cán cân thương mại, một khoản thặng dư thương mại quốc gia tính bằng hiệu số giữa kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá Tiêu chuẩn đánh giá còn lại là số dư tài khoản vãng lai, một khoản thặng dư thương mại quốc gia tính bằng hiệu số giữa kim ngạch xuất khẩu
và nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ cộng với số chênh lệch giữa trị giá quà biếu trao đổi qua lại giữa hai quốc gia
Có thể dễ dàng thấy một khoản thâm hụt trong cán cân thương mại hay
số dư tài khoản vãng lai đều là một dấu hiệu chỉ ra rằng quốc gia đó đang cho nhiều tiền hơn là nhận từ nước ngoài Sự mất cân đối của một quốc gia nói trên nhất định thể hiện sự chuyển tiền từ trong nước cho người nước ngoài, dẫn đến lượng ngoại tệ trong nước bị thiếu hụt và đẩy giá của nó lên Ngược lại, khi một quốc gia thừa ngoại tệ, đồng tiền trong nước sẽ lên giá
Trang 23II Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến hoạt động xuất khẩu
1 Tổng quan về hoạt động xuất khẩu:
1.1 Khái niệm:
Xuất khẩu là một trong hai hoạt động chính của Ngoại thương, trong đó một quốc gia thu doanh lợi từ việc bán hàng hóa hoặc dịch vụ sản xuất trong nước tại thị trường nước ngoài
Mục tiêu quan trọng nhất của xuất khẩu là tạo ra lợi nhuận để nhập khẩu những hàng hóa dịch vụ đáp ứng nhu cầu nền kinh tế Bởi vậy xuất khẩu là điều kiện cần thiết để có nhập khẩu
1.2 Tầm quan trọng của hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế:
Cùng với nhập khẩu, xuất khẩu là một trong hai hoạt động cơ bản của kinh tế đối ngoại, thúc đẩy nền kinh tế phát triển Hoạt động xuất khẩu đem lại hai lợi ích căn bản: tăng nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia và cung cấp nguồn thu phục vụ cho hoạt động nhập khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước
Như vậy, hoạt động xuất khẩu nói riêng và xuất nhập khẩu nói chung là cầu nối cho một nền kinh tế với thế giới bên ngoài Trên cơ sở lợi dụng lợi thế
so sánh của mình, mỗi quốc gia thông qua đó hoà nhập vào vòng quay chung của nền kinh tế thế giới Bởi vậy, đặc biệt trong thời đại hội nhập kinh tế quốc
tế ngày nay, xuất khẩu là hoạt động không thể thiếu cho một nền kinh tế muốn tối đa hoá lợi nhuận và chuyên môn hóa sản xuất
1.3 Các tiền đề thúc đẩy hoạt động xuất khẩu trên bình diện quốc gia:
1.3.1 Sử dụng khả năng dư thừa:
Khi năng lực sản xuất của doanh nghiệp vượt quá nhu cầu tiêu dùng của thị trường nội địa, đặc biệt là khi doanh nghiệp kinh doanh những hàng hóa dịch vụ bắt nguồn từ nguồn nguyên liệu dư thừa trong nước, các doanh nghiệp
đó sẽ nghĩ đến việc xuất khẩu hàng hóa dịch vụ ra nước ngoài Bởi việc di chuyển tài nguyên và quy trình sản xuất sang quy trình sản xuất khác là không
Trang 24dễ dàng do vậy xuất khẩu là một cách để tận dụng các khả năng sản xuất dư thừa
1.3.2 Giảm chi phí sản xuất trên một đơn vị hàng hóa đầu ra:
Theo tính toán, một doanh nghiệp có thể giảm được 20-30% chi phí khi tăng gấp đôi sản lượng
1.3.3 Tối ưu hoá lợi ích:
Đa số các doanh nghiệp quyết định xuất khẩu sang một thị trường khi thị trường đó đem lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với thị trường trong nước (do tận dụng các chính sách ưu đãi của Chính phủ nước nhập khẩu; được trợ cấp
từ Chính phủ nước xuất khẩu; do các chính sách thuế khoá hoặc do thị trường này chấp nhận được mức giá cao…) Đồng thời, lợi ích thứ hai đem lại đối với doanh nghiệp xuất khẩu đó là kéo dài vũng đời sản phẩm, bởi khi một sản phẩm đang ở vào giai đoạn “chín muồi” tại thị trường trong nước, việc tung sản phẩm ra thị trường ngoài nước là cách kéo dài vòng đời và tăng thêm lợi nhuận cho nhà xuất khẩu
1.3.4 Phân tán rủi ro:
Nhờ mở rộng thị trường, các doanh nghiệp có thể giảm thiểu những tác động do biến động về nhu cầu do chu kỳ kinh doanh thay đổi từ nước này qua nước khác Bên cạnh đó, do mở rộng thị trường, nhà sản xuất sẽ có thêm nhiều khách hàng, từ đó cũng giảm thiểu nguy cơ mất khác hàng hoặc nguy
cơ sụt giảm doanh thu do biến động chu kỳ kinh doanh tại một thị trường nhất định
1.3.5 Cơ hội nhập khẩu:
Đây là một trong những mục tiêu hàng đầu của một quốc gia khi xuất khẩu Với việc tăng cường xuất khẩu những mặt hàng tận dụng tài nguyên và khả năng sản xuất dư thừa trong nước, xuất khẩu giúp tăng dự trữ ngoại tệ và tạo nguồn thu cho hoạt động nhập khẩu những mặt hàng mà quốc gia này kém lợi thế so sánh hơn so với các nước khác
Trang 252 Mối quan hệ tác động giữa tỷ giá hối đoái và xuất khẩu:
2.1 Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến hoạt động xuất khẩu:
Khi xem xét đến vấn đề xuất khẩu của một quốc gia ta không thể tách rời việc xem xét chế độ điều hàng tỷ giá mà nước đó áp dụng Cơ chế điều hành
tỷ giá sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng hay giảm giá đồng nội tệ, từ đó tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu
Nếu đồng nội tệ được định giá quá cao (tức là tỷ giá giảm) sẽ làm cho
hàng hóa nhập khẩu trở nên rẻ một cách tương đối đối với người tiêu dùng và xuất khẩu trở nên đắt hơn đối với nhà sản xuất Cụ thể là, đối với người tiêu dùng trong nước, so với trước đây, nay khi mua một hàng hóa nhập khẩu họ
sẽ cần ít đồng nội tệ hơn, do vậy nhu cầu với hàng nhập khẩu tăng Còn về phía người tiêu dùng nước ngoài, hàng hóa nhập khẩu sang sẽ trở nên đắt hơn
do họ phải chi nhiều tiền hơn cho mỗi đơn vị hàng hóa
Từ đó sẽ làm giảm sản xuất nội địa, dẫn tới thâm hụt ngân sách và tăng thất nghiệp Đặc biệt, việc định giá đồng nội tệ quá cao so với thực tế trong một thời gian dài là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng tài chính tiền tệ làm giảm sức cạnh tranh của xuất khẩu, tăng mạnh dòng vốn vay bất chấp khả năng rủi ro thanh toán, kích thích nhập khẩu dẫn đến khuếch đại tiêu dùng, nền kinh tế phát triển quá núng cùng một loạt hệ quả tiêu cực kốm theo
Ngược lại, nếu đồng nội tệ được định giá thấp hơn (hay tỷ giá tăng), giá
hàng hóa nhập khẩu tính bằng nội tệ tăng, khiến cầu về hàng hóa nhập khẩu giảm Đối với những khoản vay, nợ ngoại tệ, hiện tượng này sẽ gây nên tình trạng khụng có khả năng trả nợ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động tài chính doanh nghiệp
Về phía nhà sản xuất xuất khẩu, tỷ giá tăng lên sẽ đem lại lợi cho xuất khẩu do nhà xuất khẩu hưởng lợi từ chênh lệch một đồng nội tệ đổi lấy một đồng ngoại tệ tăng lên
Trang 26Tuy nhiên, Tỷ giá hối đoái chính thức không phải yếu tố duy nhất ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các nhà sản xuất trong nước đối với hàng hóa nhập khẩu tại thị trường nội địa và với các nhà xuất khẩu khác tại thị trưêng nhập khẩu nước ngoài Điều quan trọng là cần xem xét tỷ giá hối đoái chính thức này với sự điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát tại nước xuất khẩu và tại các nước bạn hàng
Tỷ giá hối đoái chính thức điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát gọi là tỷ giá hối đoái thực tế, nú cho phép các nhà xuất khẩu cạnh tranh thành công hơn Nếu cố định tỷ giá chính thức và trong nước chỉ số giá cả tăng lên nhiều so với chỉ số giá cả ngoài nước thì tỷ giá hối đoái thực tế sẽ tăng lên hoặc lên giá Ví dụ: năm 1991, tỷ giá hối đoái chính thức 1USD = 9.274 VND Chỉ số giá quốc tế biến động không đáng kể trong khi đó chỉ số giá trong nước tăng 67,5% Như vậy tỷ giá hối đoái thực tế phải là 1USD = 15.534 VND Thực tế, đồng VND đó mất giá do lạm phát tuy nhiên tỷ giá hối đoái chính thức lại không điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát Hệ quả là đồng tiền Việt Nam được định giá cao tương đối so với thực tế, đó dẫn đến giảm xuất khẩu
Bên cạnh đó, doanh nghiệp xuất khẩu cũng cần xem xét sự biến động của tỷ giá hối đoái ở mức nào thì có lợi Bởi khi nhà xuất khẩu đồng thời là nhà sản xuất hàng hóa xuất khẩu phải nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài, khi tỷ giá tăng (đồng nội tệ mất giá) đương nhiên sẽ khiến giá nguyên liệu đầu vào tăng, ảnh hưởng đến lợi nhuận Do đó trong hoạt động xuất nhập khẩu nói chung cần xem xét đến cả tỷ giá nhập khẩu và tỷ giá xuất khẩu, công thức theo hướng có lợi cho xuất khẩu là:
Tỷ giá xuất khẩu Tỷ giá công bố trên thị trường tài chính Tỷ giá nhập
khẩu
Trang 272.2 Quan hệ đối hợp giữa kim ngạch xuất khẩu và tỷ giá hối đoái:
Kim ngạch xuất khẩu, gắn liền với nó là lợi nhuận xuất khẩu phụ thuộc vào 3 yếu tố: tỷ giá, giá hàng xuất khẩu và lượng hàng xuất khẩu theo công thức sau:
DT XK = p q r
Trong đó: - p : giá xuất khẩu
- q : lượng xuất khẩu
- r : tỷ giá Quan hệ bộ ba này có ảnh hưởng quan trọng đến kim ngạch xuất khẩu cũng như đến lợi nhuận thu được từ hoạt động xuất khẩu Trong hoạt động xuất khẩu, bộ ba: tỷ giá, giá xuất khẩu, lượng hàng xuất khẩu tạo thành cấu trúc cơ bản của quá trình hình thành và biến động của kim ngạch xuất khẩu và lợi nhuận xuất khẩu thu được
Với việc cố định một trong ba yếu tố trên, sự thay đổi của hai yếu tố còn lại sẽ dẫn đến biến động của kim ngạch xuất khẩu và lợi nhuận xuất khẩu Cụ thể là, nếu với một lượng hàng nhất định, giá xuất khẩu và tỷ giá thay đổi sẽ làm biến đổi kim ngạch xuất khẩu và lợi nhuận xuất khẩu Có thể nói trong ba yếu tố trên thì lượng hàng xuất khẩu là yếu tố mà doanh nghiệp dễ dàng thay đổi nhất Về giá, giá xuất khẩu thụng thường là giá quốc tế do vậy các doanh nghiệp Việt Nam buộc phải theo, không có quyền quyết định về giá Về tỷ giá, đây là yếu tố vĩ mô thuộc quan hệ cung cầu thị trường và sự điều tiết của Chính phủ do đó cũng nằm ngoài tầm kiểm soát của các doanh nghiệp Thêm nữa, nếu có sự thay đổi về tỷ giá thì sự thay đổi cũng không đáng kể, khiến cho doanh thu và lợi nhuận xuất khẩu không bị ảnh hưởng nhiều Vì thế nên đứng trên lập trường doanh nghiệp, yếu tố lượng hàng xuất khẩu là yếu tố có thể chủ động thay đổi Lượng hàng xuất càng lớn, doanh thu và lợi nhuận càng tăng Tất nhiên, để đạt được điều này doanh nghiệp cần chú trọng đến việc tăng năng lực cạnh tranh và năng lực nội tại của mình
Trang 28Trường hợp có sự biến động của cả ba yếu tố trên sẽ dẫn đến những thay
đổi về kim ngạch xuất khẩu và lợi nhuận xuất khẩu ở cả tầm vi mô và vĩ mô
Có thể tóm lược mối quan hệ bộ ba này qua sơ đồ sau:
Lượng hàng
Kim ngạch xuất khẩu
Lợi nhuận xuất khẩu
Lợi nhuận xuất khẩu
Tỷ giá hối đoái
Trang 29CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DIỄN BIẾN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU DẦU THÔ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1991-2008
I Tổng quan tình hình điều hành tỷ giá
1 Giai đoạn 1: Trước năm 1989
Trước năm 1989, Việt Nam áp dụng cơ chế đa tỷ giá Tỷ giá được chia làm 2 khu vực, bao gồm Khu vực 1: Tỷ giá trong phe XHCN và Khu vực 2:
Tỷ giá ngoài phe XHCN
* Khu vực I
- Tỷ giá mậu dịch: Là tỷ giá dùng trong thanh toán có liên quan đến mua, bán hàng hóa, dịch vụ vật chất giữa các nước trong phe XHCN Nó được xác định dựa trên cơ sở so sánh giá hàng hóa xuất khẩu tính bằng VND
và tính bằng ngoại tệ ở nước ngoài
- Tỷ giá phi mậu dịch: Là tỷ giá dùng trong thanh toán, chi trả hàng hóa hoặc dịch vụ vật chất không mang tính thương mại Nó được xác định trên cơ sở giá bán lẻ của một số mặt hàng tại 2 nước tính theo đồng tiền của 2 nước
- Tỷ giá kết toán nội bộ: Được xác định trên cơ sở tỷ giá chính thức cộng thêm hệ số phần trăm để bù lỗ cho các đơn vị xuất khẩu Tỷ giá này không công bố ra ngoài mà chỉ áp dụng trong thanh toán nội bộ (nên gọi là kết toán nội bộ) Tỷ giá chính thức (tỷ giá mậu dịch) do Nhà nước công bố và
cố định trong một thời gian dài Tại thời điểm công bố, tỷ giá chính thức thường thấp hơn tỷ giá thị trường (tức VND bị định giá cao), do đó hoạt động xuất khẩu tính theo tỷ giá chính thức bị lỗ Để bù lỗ cho xuất khẩu, Nhà nước dùng tỷ giá kết toán nội bộ bằng tỷ giá chính thức cộng thêm một tỷ lệ phần
Trang 30trăm quy định cho từng nhóm hàng Còn đối với nhập khẩu, Để hạn chế nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng hoặc hàng xa xỉ phẩm, Nhà nước áp dụng mức tỷ giá cao hơn rất nhiều so với tỷ giá chính thức
- Tỷ giá kiều hối: Nhằm thu hút nguồn ngoại tệ mạnh từ các nước tư bản do kiều bào chuyển về hoặc khuyến khích khách du lịch tại VN (nên còn gọi là tỷ giá du lịch), Nhà nước tính thêm 1 hệ số thu hút cộng vào tỷ giá chính thức Vì vậy, tỷ giá này thường cao hơn tỷ giá công bố chính thức và có thể lên tới 50%
* Khu vực II:
Thời kỳ này Ngân hàng VN dựa vào quan hệ tỷ giá giữa VND với đồng đô la Hongkong và tính chéo ra tỷ giá với các đồng ngoại tệ khác Chính sách xuyên suốt về tỷ giá đối với các nước ngoài phe XHCN là ngay từ đầu
VN chỉ áp dụng một loại tỷ giá chính thức, không phân biệt theo các loại quan
hệ mậu dịch hay phi mậu dịch
Tóm lại, sản phẩm của cơ chế xác định tỷ giá này là các nước XHCN duy trì chế độ tỷ giá cố định và đa tỷ giá Hậu quả của việc duy trì cơ chế này rất nghiêm trọng: Đồng tiền VN được định giá quá cao so với các đồng tiền tự do chuyển đổi; Tỷ giá chính thức ngày càng chênh lệch xa tỷ giá thị trường gây khó khăn cho xuất nhập khẩu v.v…
2 Giai đoạn 2: 1989 – 1992: Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi
Từ tháng 3 năm 1989, từ chế độ đa tỷ giá đã được thống nhất một mức tỷ giá chính thức là 4500 VND/USD Khi đó, các ngân hàng được phép giao dịch với biên độ +/- 0,5% tỷ giá chính thức do Ngân hàng Nhà nước quy định Trong giai đoạn 1989 – 1992, Việt Nam áp dụng chính sách tỷ giá thả nổi tự do Tỷ giá được quyết định bởi cung và cầu ngoại tệ trên thị trường Khi cung cầu thay đổi đến đâu, tỷ giá thay đổi tương ứng đến đó theo mức cân bằng trên thị trường Mặc dù tỷ giá chính thức đựơc NHTW công bố
Trang 31nhưng thực chất là thả nối theo tỷ giá thị trường Tỷ giá chính thức được điều chỉnh liên tục theo sự thay đổi tỷ giá trên thị trường tự do (dù ko được thừa nhận)
3 Giai đoạn 3: 1992 – 1997: Chế độ tỷ giá cố định
Chính sách tỷ giá thả nổi trong giai đoạn 1989 – 1992 tuy đã mang lại những thành công vượt bậc so với thời kì đa tỷ giá trước đó nhưng cũng gây
ra không ít những hậu quả trong hoàn cảnh nước ta đang đi theo con đường kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng Xã hội chủ nghĩa: nền kinh tế hay xảy ra những cơn sốc định kỳ cuối quý hoặc cuối năm; lạm phát thường tăng vọt bất thình lình; hiện tượng đôla hóa trong hệ thống lưu thông thanh toán ngày càng tăng nhanh; sự mất cân đối giữa các vùng, các lĩnh vực;
sự quản lý lỏng lẻo đã dẫn đến hàng loạt vụ đổ bể tín dụng vào cuối năm 1991
và đầu năm 1992; nguồn thu ngoại tệ không được quản lý chặt chẽ mà còn bị buông lỏng làm cho dự trữ ngoại tệ tăng chậm trong 3 năm 1989, 1990 và
1991 mức dự trữ ngoại tệ tương ứng là 24 triệu USD, 24 triệu USD và 25 triệu USD; và một vấn đề nổi cộm khác là vấn đề nợ nước ngoài và công tác quản lý nợ, một cái giá phải trả cho việc thả nổi tỷ giá là gánh nặng nợ nước ngoài khi tính bằng đồng VN trong ngân sách nhà nước đã tăng mạnh Trước những hạn chế nêu trên và để bảo vệ nền kinh tế khỏi lạm phát
đã thúc đẩy các nhà hoạch định chính sách VN chuyển sang lựa chọn chính sách tỷ giá vì mục tiêu chống lạm phát, bằng cách duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái danh nghĩa (cố định tỷ giá) Mặt khác Chính phủ đã tăng cường công tác thông tin, cho công khi hóa một cách nhanh chóng và chính xác các chỉ số kinh tế quan trọng như tỷ giá chính thức, tỷ giá thị trường, chỉ số giá Đồng thời Chính phủ cũng cho thấy sự chú trọng tăng cường thực lực kinh tế cho hoạt động can thiệp vào tỷ giá bằng cách gia tăng mạnh quỹ dự trữ ngoại
tệ, lập quỹ bình ổn giá
Trang 32Bảng 1.4: Tương quan giữa tỷ giá danh nghĩa với tỷ giá thực tế tính theo
ngang giá sức mua
1992 1993 1994 1995 1996 1997
Tỷ giá hối đoái danh
nghĩa (VND) 11.179 10.640 10.955 10.970 11.100 11.175 CPI VN 100 105,2 120,3 135,6 141,7 146,8 CPI Hoa Kỳ 100 103,0 105,6 108,6 111,8 114,3
Tỷ giá hối đoái tính theo
4 Giai đoạn 4: 1997 – 1999: Chế độ tỷ giá cố định với biên độ dao động
Đây là giai đoạn cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ diễn ra ở khu vực Đông Nam Á, bắt đầu từ Thái Lan, sau đó lan nhanh khắp khu vực và có tầm ảnh hưởng rộng khắp trên phạm vi thế giới Trong thời kì kinh tế hội nhập, Việt Nam cũng không thể tránh khỏi những ảnh hưởng của cuộc khủng