1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ các nhân tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu cà phê ở việt nam giai đoạn 2003 2013

89 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 869,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • BÌA

  • LỜI CAM ĐOAN

  • MỤC LỤC

  • DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

  • DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH

  • DANH MỤC BẢNG BIỂU

  • TÓM TẮT

  • CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

    • Vấn đề nghiên cứu

    • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu

    • 1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    • 1.4Dữ liệu và phương pháp

    • 1.5Cấu trúc luận văn

  • CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

    • 2.1Tổng quan lý thuyết

      • 2.1.1Khái niệm xuất khẩu

      • 2.1.2Lý thuyết thương mại quốc tế - trường phái trọng thương

      • 2.1.3Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith

      • 2.1.4 Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo

      • 2.1.5 Mô hình Hecksher-Ohin

      • 2.1.6 Mô hình hấp dẫn trong thương mại

    • 2.2 Các nghiên cứu liên quan

  • CHƯƠNG 3: MÔ TẢ DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

    • 3.1 Khung phân tích

    • 3.2Xây dựng mô hình nghiên cứu

    • 3.3Xác định và mô tả các biến số

      • 3.3.1Biến phụ thuộc

      • 3.3.2 Biến độc lập

      • 3.4. Xử lý số liệu

      • 3.4.1 Mô hình hồi quy dữ liệu bảng

      • 3.4.2Phương pháp chọn mẫu Heckman

  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    • 4.1Thực trạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong giai đoạn 2003-2013

      • 4.1.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng

      • 4.1.2 Chủng loại cà phê ở Việt Nam

      • 4.1.3 Cơ cấu thị trường xuất khẩu

    • 4.2 Vai trò của xuất khẩu cà phê đối với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam

    • 4.3 Khái quát các yếu tố ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam

      • 4.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến cung/cầu

      • 4.3.2 Các yếu tố hấp dẫn/cản trở

    • 4.4 Thống kê mô tả

    • 4.5 Giải thích kết quả hồi quy

    • Kết luận chương 4

  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

    • 5.1 Kết luận

    • 5.2 Hàm ý chính sách

    • 5.3 Hạn chế của nghiên cứu

    • Kết luận chương 5 :

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • PHỤ LỤC

Nội dung

GIỚI THIỆU

V ấn đề nghiên cứu

Việt Nam, với nền nông nghiệp lâu đời, sở hữu tiềm năng lớn trong sản xuất nông sản, đặc biệt là cà phê Cà phê không chỉ là mặt hàng xuất khẩu chủ lực mà còn đứng thứ hai về kim ngạch xuất khẩu, chỉ sau gạo Do đó, ngành cà phê đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, theo mô hình lý thuyết thương mại quốc tế của Heckscher-Ohlin.

Theo lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo (Mai Ngọc Cường, 2006), một quốc gia sẽ có lợi thế trong sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm mà nó có nguồn lực dồi dào Việt Nam, với các mặt hàng nông lâm thủy sản, vẫn giữ được sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, mỗi quốc gia đều sở hữu những lợi thế riêng, trong đó cà phê được xem là một thế mạnh nổi bật của Việt Nam.

Xuất khẩu cà phê của Việt Nam đã tăng trưởng mạnh mẽ từ năm 2009 đến 2012 với tốc độ trung bình khoảng 17,7%/năm, cho thấy sự ưa chuộng ngày càng cao từ các thị trường nhập khẩu Giá trị xuất khẩu cà phê đã tăng từ 1,9 tỷ USD năm 2007 lên 3,6 tỷ USD năm 2013, trở thành nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho đất nước Hoạt động sản xuất và xuất khẩu cà phê không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn tạo việc làm và nâng cao đời sống cho nông dân, đồng thời khai thác tối đa lợi thế về khí hậu và tài nguyên Cà phê được coi là mũi nhọn trong phát triển kinh tế Việt Nam, góp phần vào tổng kim ngạch xuất nhập khẩu và GDP Ngành cà phê cũng thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, liên kết với nhiều ngành khác như xây dựng, thuỷ lợi, giao thông và chế tạo máy móc, từ đó hỗ trợ quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu nông sản gần đây gặp khó khăn và không ổn định.

Việt Nam gia nhập WTO năm 2007 và đối mặt với khủng hoảng kinh tế năm 2008, ảnh hưởng lớn đến kim ngạch xuất khẩu hàng hóa Mặc dù có cơ hội phát huy lợi thế so sánh và mở rộng thị trường, Việt Nam vẫn gặp nhiều khó khăn do thiếu lợi thế về trình độ sản xuất, chủng loại hàng hóa và kinh nghiệm trong thương mại quốc tế Xuất khẩu cà phê, chủ yếu là cà phê Robusta, phụ thuộc nhiều vào thị trường thế giới và chất lượng chưa cao Do đó, vấn đề cấp thiết hiện nay là tìm cách thúc đẩy xuất khẩu, đặc biệt là cà phê, thông qua việc nắm bắt cơ hội và tận dụng thế mạnh để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.

Tác giả đã chọn nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong giai đoạn 2003-2013, nhằm đáp ứng yêu cầu về việc phân tích và đánh giá tình hình xuất khẩu cà phê trong khoảng thời gian này.

M ục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu cà phê tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả xuất khẩu cà phê theo mô hình đã lựa chọn.

Mục tiêu nghiên cứu là phân tích tác động của các yếu tố cung, cầu, và các yếu tố hấp dẫn hoặc cản trở đến kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam với 115 quốc gia có quan hệ thương mại trong giai đoạn 2003-2013, dựa trên mô hình hấp dẫn trong thương mại.

Câu hỏi nghiên cứu : Yếu tố nào tác động đến kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong giai đoạn 2003-2013?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam, tập trung vào các đối tác chính và những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động này trong thời gian nghiên cứu Mặt hàng cà phê được phân tích bao gồm các loại với mã HS 2 chữ số, cụ thể là cà phê chưa rang, chưa tách cafein; cà phê chưa rang, đã tách cafein; cà phê đã rang, chưa tách cafein; và cà phê đã rang, đã tách cafein.

Luận văn nghiên cứu 115 quốc gia là bạn hàng lớn nhất của Việt Nam trong lĩnh vực nhập khẩu cà phê, phân tích các yếu tố cung cầu và những yếu tố hấp dẫn hoặc cản trở hoạt động thương mại cà phê giữa Việt Nam và các quốc gia này.

+Về mặt thời gian : Nghiên cứu trong giai đoạn 11 năm, từ 2003 đến 2013.

D ữ liệu và phương pháp

Luận văn áp dụng các phương pháp thống kê mô tả và phân tích định lượng, sử dụng thông tin và số liệu thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau.

Trong luận văn, số liệu được tổng hợp từ nhiều nguồn đáng tin cậy như Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Thế giới và Tổ chức Tiền tệ Quốc tế.

- Phương pháp phân tích định lượng: Luận văn sử dụng kỹ thuật phân tích dữ liệu bảng từ năm 2003 đến năm 2013.

C ấu trúc luận văn

Cấu trúc luận văn gồm 5 chương:

Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan

Chương 3: Trình bày các phương pháp nghiên cứu được sử dụng

Chương 4: Tổng quan thực trạng hoạt động xuất khẩu cà phê trong th ời gian qua tại Việt Nam và kết quả nghiên cứu thực nghiệm

Chương 5 : Kết luận và hàm ý chính sách

Chương 1 đã trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu, bao gồm mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu được cấu trúc thành 5 chương.

TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

T ổng quan lý thuyết

2.1.1Khái ni ệm xuất khẩu

Theo Điều 28, Mục 1, Chương 2 của Luật Thương mại Việt Nam 2005, xuất khẩu hàng hóa được định nghĩa là việc đưa hàng hóa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc vào khu vực đặc biệt trên lãnh thổ Việt Nam, được công nhận là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.

Xuất khẩu là hoạt động quan trọng của ngoại thương, đã tồn tại từ lâu và ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và hình thức Ban đầu, xuất khẩu chỉ đơn thuần là trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia, nhưng hiện nay đã trở thành một quá trình phức tạp Xuất khẩu không chỉ nhằm mục đích thu ngoại tệ mà còn góp phần tăng tích lũy ngân sách nhà nước, phát triển sản xuất kinh doanh, khai thác tiềm năng đất nước và nâng cao đời sống của người dân.

Xuất khẩu là một khâu quan trọng trong quá trình tái sản xuất xã hội và có những chức năng chủ yếu như:

Việc tạo vốn cho đầu tư trong nước giúp chuyển hóa giá trị sử dụng và thay đổi cơ cấu giá trị của tổng sản phẩm xã hội, từ đó nâng cao hiệu quả nền kinh tế Xuất khẩu đóng vai trò là nguồn thu chính, tạo ra ngoại tệ và là tiền đề cho nhập khẩu, đồng thời cung cấp vốn và kỹ thuật để nâng cao khả năng sản xuất và năng lực cạnh tranh của quốc gia.

Xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc lưu thông hàng hóa từ trong nước ra nước ngoài, giúp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm Hoạt động này không chỉ tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu các vật phẩm tiêu dùng thiết yếu mà còn đáp ứng đa dạng nhu cầu tiêu dùng của người dân.

Nhờ vậy có thể nâng cao đời sống cho toàn xã hội

+Nâng cao hiệu quả kinh doanh, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

+Góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế-xã hội của đất nước: vốn, việc làm, sử dụng tài nguyên có hiệu quả

+Đảm bảo sự thống nhất giữa nền kinh tế và chính trị trong hoạt động xuất khẩu

2.1.2Lý thuy ết thương mại quốc tế - trường phái trọng thương

Trong giáo trình "Lịch sử các học thuyết kinh tế" của Trần Văn Hiếu (2006), lý thuyết trọng thương được phát triển mạnh mẽ ở châu Âu từ giữa thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, được coi là lý thuyết thương mại đầu tiên của thời kỳ tiền tư bản Lý thuyết này đã nhanh chóng trở thành nền tảng cho chính sách thương mại của nhiều nước châu Âu như Anh, Pháp, Đức, và Hà Lan trong hơn 300 năm Thomas Mun là một trong những nhà kinh tế tiêu biểu đại diện cho trường phái trọng thương này.

1641) người Anh, Antoine Montecheretien (1575-1629), Jean Bastiste Colbert

Từ thế kỷ 17 đến 18, các nhà kinh tế Pháp cho rằng sứ mệnh của quốc gia là làm giàu thông qua tích lũy tiền tệ, vì vậy họ xây dựng chính sách kinh tế nhằm tăng khối lượng tiền tệ Để đạt được mục tiêu này, ngoại thương được coi là yếu tố then chốt, yêu cầu nhà nước can thiệp sâu vào thương mại quốc tế để đạt xuất siêu Chính sách trọng thương khuyến khích hạn chế nhập khẩu qua thuế quan và hạn ngạch, đồng thời ưu đãi cho xuất khẩu Tuy nhiên, lý thuyết trọng thương sau này bị chỉ trích vì dẫn đến lạm phát và ảnh hưởng tiêu cực đến cạnh tranh quốc tế Năm 1752, nhà kinh tế học Hun chỉ ra rằng mục tiêu thặng dư thương mại không thể duy trì lâu dài khi tất cả các quốc gia cùng theo đuổi Adam Smith và David Ricardo đã phản bác quan điểm của trọng thương, khẳng định rằng thương mại mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia Đến giữa thế kỷ 18, chủ nghĩa trọng thương mất dần vị trí thống trị trong thương mại quốc tế, nhưng vẫn giữ giá trị lý thuyết nhất định.

2.1.3Lý thuy ết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith Đến giữa thế kỷ XVIII, Adam Smith đã đưa ra quan điểm mới về thương mại quốc tế tích cực hơn so với phái Trọng Thương trước đó(Trần Văn Hiếu,

Adam Smith khẳng định vai trò quan trọng của cá nhân và hệ thống kinh tế tư doanh, cho rằng chỉ có cá nhân mới có khả năng thẩm định hành vi của mình, và lợi ích cá nhân có thể hòa nhập vào một trật tự tự nhiên Ông cho rằng chính phủ không cần can thiệp vào hoạt động của cá nhân và doanh nghiệp, mà nên để họ tự do phát triển Smith lý luận rằng hoạt động ngoại thương mang lại lợi ích cho quốc gia có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất Ông khuyến nghị các quốc gia nên chuyên môn hóa vào sản xuất những hàng hóa mà họ có lợi thế so sánh và trao đổi hàng hóa với nhau Lập luận của ông cho rằng một quốc gia không nên tự sản xuất những hàng hóa có thể mua từ nước khác với chi phí thấp hơn Khi hai quốc gia tham gia thương mại quốc tế, cả hai sẽ thu được lợi ích lớn hơn so với việc tự sản xuất tất cả hàng hóa Mặc dù lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Smith được xem là nền tảng khoa học cho thương mại quốc tế, nhưng nó không giải thích được tình huống nếu một quốc gia có lợi thế tuyệt đối ở hầu hết sản phẩm, trong khi quốc gia khác không có lợi thế nào, liệu thương mại quốc tế có thể xảy ra hay không.

2.1.4 Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo

David Ricardo đã phát triển lý thuyết của Adam Smith bằng cách nghiên cứu tác động của lợi thế tuyệt đối trong sản xuất hàng hóa Trong khi Smith cho rằng quốc gia có lợi thế tuyệt đối sẽ không hưởng lợi từ thương mại quốc tế, Ricardo đã giới thiệu khái niệm lợi thế so sánh trong tác phẩm "Nguyên lý của Kinh tế chính trị và thuế khoá" vào năm 1817 Lợi thế so sánh đề cập đến khả năng sản xuất một sản phẩm với chi phí thấp hơn so với các sản phẩm khác, mở ra cơ hội cho các quốc gia tham gia vào thương mại quốc tế.

Quy luật lợi thế so sánh của Ricardo khẳng định rằng mỗi quốc gia nên chuyên môn hóa vào sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà họ có lợi thế so sánh, đồng thời nhập khẩu những sản phẩm mà họ không có lợi thế Dựa trên lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, Ricardo chỉ ra rằng ngay cả những quốc gia có lợi thế tuyệt đối kém hơn vẫn có thể tham gia vào thương mại quốc tế và thu được lợi ích Bằng cách chuyên môn hóa sản xuất, tổng sản lượng toàn cầu sẽ tăng lên, mang lại lợi ích cho tất cả các quốc gia Lợi thế so sánh là nền tảng cho sự phát triển thương mại và phân công lao động quốc tế, giúp mở rộng khả năng tiêu dùng của mỗi quốc gia thông qua việc trao đổi hàng hóa.

Lợi thế so sánh là yếu tố thiết yếu cho lợi ích thương mại quốc tế, cho thấy rằng sản lượng toàn cầu sẽ tăng lên đáng kể trong điều kiện thương mại tự do Lý thuyết của Ricardo chỉ ra rằng người tiêu dùng ở mọi quốc gia sẽ được hưởng lợi nhiều hơn khi không có rào cản thương mại, ngay cả khi không có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất So với lý thuyết về lợi thế tuyệt đối, lý thuyết lợi thế so sánh khẳng định rằng thương mại mang lại lợi ích kinh tế cho tất cả các quốc gia tham gia Điều này đã tạo cơ sở vững chắc cho việc khuyến khích tự do hóa thương mại, và lý thuyết của Ricardo vẫn là lập luận chủ yếu cho những người ủng hộ thương mại tự do.

2.1.5 Mô hình Hecksher-Ohin Để khắc phục những hạn chế trong mô hình Ricardo hai nhà kinh tế học người

Mô hình Heckcher-Ohlin của Thụy Điển giải thích nguồn gốc của thương mại dựa trên sự khác biệt về tỷ lệ các yếu tố sản xuất (Trần Văn Hiếu, 2006).

Theo Heckcher và Ohlin, thương mại quốc tế không chỉ dựa vào sự khác biệt về năng suất lao động mà còn phụ thuộc vào sự khác biệt về nguồn lực giữa các quốc gia Họ chỉ ra rằng, Canada xuất khẩu sản phẩm lâm nghiệp sang Mỹ không phải do năng suất lao động cao hơn của công nhân lâm nghiệp Canada, mà là vì Canada có mật độ dân số thấp, với nhiều đất rừng hơn trên mỗi đầu người.

Mô hình Heckcher-Ohlin, thay thế cho lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo, nhấn mạnh tầm quan trọng của các yếu tố sản xuất như lao động, đất đai, vốn và tài nguyên khoáng sản trong thương mại quốc tế Mô hình này cho rằng cơ cấu thương mại quốc tế phụ thuộc vào sự khác biệt giữa các yếu tố nguồn lực, dự đoán rằng một quốc gia sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa mà họ có lợi thế về yếu tố sản xuất.

2.1.6 Mô hình hấp dẫn trong thương mại

Mô hình hấp dẫn đã được áp dụng hiệu quả để giải thích các luồng thương mại song phương giữa hai quốc gia, điều mà các lý thuyết kinh tế khác không thể lý giải Theo định luật vạn vật hấp dẫn của Newton trong vật lý, lực hút giữa hai đối tượng tỷ lệ thuận với khối lượng của chúng và tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng.

Mô hình lực hấp dẫn được thể hiện như sau:

Fij : lực hút hấp dẫn

G là hằng số hấp dẫn

Mi, Mj là khối lượng của hai đối tượng

Dij là khoảng cách giữa hai đối tượng

Các nghiên c ứu liên quan

Nghiên cứu của Thai Tri Do (2006) đã phân tích mối quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam và 23 quốc gia châu Âu, sử dụng mô hình hấp dẫn trong thương mại và dữ liệu bảng từ năm 1993 đến 2004 Biến phụ thuộc trong nghiên cứu là tổng kim ngạch xuất khẩu, trong khi các biến độc lập bao gồm GDP (Y), dân số (N), tỷ giá hối đoái thực (Er), khoảng cách (D) và biến giả lịch sử (His) Mô hình này dựa trên lý thuyết hấp dẫn trong thương mại.

Theo Krugman và Maurice (2005), các yếu tố quyết định thương mại song phương giữa Việt Nam và các nước châu Âu bao gồm quy mô nền kinh tế (GDP), quy mô thị trường (dân số) và sự biến động tỷ giá hối đoái thực, trong khi khoảng cách địa lý và lịch sử không có ảnh hưởng đáng kể Tác giả cũng chỉ ra rằng Việt Nam chưa khai thác hết tiềm năng thương mại với một số quốc gia châu Âu như Áo, Phần Lan, và Luxembourg Ngoài ra, Bac Xuan Nguyen (2010) đã sử dụng mô hình lực hấp dẫn để phân tích hoạt động xuất khẩu của Việt Nam với 15 đối tác thương mại lớn nhất, bao gồm Úc, Canada và Trung Quốc.

Nghiên cứu này xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 1995-2006, tập trung vào các quốc gia như Châu Âu, Hồng Kông, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, New Zealand, Philippines, Singapore, Đài Loan, Thái Lan và Hoa Kỳ Biến phụ thuộc là giá trị xuất khẩu (EXPO), trong khi các biến độc lập bao gồm GDP, khoảng cách, tỷ giá hối đoái thực trung bình và biến giả ASEAN Kết quả cho thấy tầm quan trọng ngày càng tăng của ASEAN trong cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam, nhấn mạnh cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc hội nhập kinh tế khu vực, mặc dù các thị trường ngoài ASEAN vẫn giữ vai trò quan trọng trong xuất khẩu.

Nghiên cứu này phân tích nguyên nhân của sự thay đổi nhanh chóng trong cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam, đồng thời tìm hiểu lý do thương mại của Việt Nam tăng cường với một số quốc gia trong khi giảm sút với những nước khác Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng xem xét tác động tích cực của mối quan hệ giữa các thành viên ASEAN đối với thương mại quốc tế của Việt Nam Cuối cùng, tác giả xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam thông qua mô hình kinh tế lượng dựa trên mô hình trọng lực hấp dẫn của McCallum.

Nghiên cứu năm 1995, với điều chỉnh từ Harris và Mátyas (1998), cho thấy sự tương quan mạnh mẽ giữa dòng chảy thương mại của Việt Nam và các năm trước, trong đó các mô hình động phù hợp hơn mô hình tĩnh Kết quả hồi quy chỉ ra rằng giá trị xuất khẩu của Việt Nam tăng khi GDP, tỷ giá hối đoái và số lượng đối tác trong ASEAN tăng Ngược lại, chi phí vận chuyển và khoảng cách địa lý có ảnh hưởng tiêu cực đến kim ngạch xuất khẩu Các nghiên cứu của Ranajoy và Tathagata (2006) cùng Peter Egger (2002) cũng phân tích các yếu tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu dựa trên mô hình hấp dẫn trong thương mại.

Ranajoy và Tathagata (2006) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thương mại song phương của Ấn Độ với các đối tác chính, sử dụng các biến số như tổng giá trị thương mại (TV), GDP (Y), dân số (N) và khoảng cách (D) Nghiên cứu cũng xem xét các biến giả như văn hóa, ngôn ngữ và liên kết thuộc địa Kết luận cho thấy mô hình trọng lực cốt lõi có khả năng giải thích mối quan hệ thương mại giữa Ấn Độ và các quốc gia đối tác.

Trong nửa sau của thế kỷ XX, 43%-50% các biến động thương mại của Ấn Độ cho thấy sự phản ứng ít hơn đối với quy mô và nhiều hơn đối với khoảng cách Điều này cho thấy rằng yếu tố khoảng cách có ảnh hưởng lớn hơn đến thương mại của Ấn Độ so với quy mô thị trường.

Di sản thuộc địa vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc xác định hướng thương mại của Ấn Độ trong nửa sau của thế kỷ XX Ấn Độ chủ yếu giao dịch với các nước phát triển hơn là các nước kém phát triển, tuy nhiên, quy mô giao dịch ảnh hưởng nhiều hơn đến quyết định thương mại của Ấn Độ so với trình độ phát triển của các đối tác Các tác giả nhấn mạnh rằng hiệu quả của chính sách thương mại, mối quan hệ giữa các thành viên trong các khối thương mại và WTO, cũng như sự tự do hóa kinh tế trong những năm 1990, là những vấn đề cần được xem xét khẩn cấp Bên cạnh việc phân tích dữ liệu bảng, cần bổ sung thêm phân tích dữ liệu chéo và phân tích trong thời kỳ hội nhập để làm rõ các kết luận.

Trong nghiên cứu của Peter Egger (2002), tác giả đã ước lượng mô hình dữ liệu bảng giá trị xuất khẩu của các quốc gia OECD tới các nước OECD thành viên và các quốc gia Đông Âu trong giai đoạn 1986-1997 Ông chỉ ra ba vấn đề quan trọng khi ước lượng mô hình trọng lực hấp dẫn và tính toán tiềm năng thương mại Đầu tiên, việc ước lượng mô hình hấp dẫn truyền thống dựa trên dữ liệu chéo dường như không xác định được, vì nó bỏ qua hiệu ứng của nhà xuất khẩu và nhập khẩu mà không kiểm tra mối liên quan giữa chúng Khác với các nghiên cứu trước, tác giả không tìm ra cách để khai thác thông tin từ những quan sát bị bỏ qua trong mô hình.

Nghiên cứu của Martínez-Zarzoso, I và Nowak-Lehmann, D.F (2004) về tiềm năng thương mại của MERCOSUR xuất khẩu sang EU trong giai đoạn 1988-

Năm 1996, khi áp dụng mô hình lực hấp dẫn trong thương mại, tác giả chỉ ra rằng thu nhập của quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu, dân số của cả hai quốc gia, cơ sở hạ tầng, cùng với tỷ giá hối đoái thực, là những yếu tố quyết định quan trọng và có ý nghĩa thống kê trong tổng kim ngạch xuất khẩu song phương giữa EU và các nước MERCOSUR.

Mô hình lực hấp dẫn cũng được sử dụng trong nghiên cứu của Céline Carrere

Nghiên cứu năm 2003 đánh giá tác động của các hiệp định thương mại tự do khu vực (RTAs) như EU, NAFTA, MERCOSUR và ASEAN đến thương mại quốc tế Tác giả sử dụng giá trị CIF của tổng hàng hóa xuất khẩu (M) làm biến độc lập chính, cùng với GDP (Y) của cả nước nhập khẩu và xuất khẩu, dân số của nước nhập khẩu (N), khoảng cách địa lý giữa các quốc gia (D), và mức độ cơ sở hạ tầng của nước xuất khẩu.

Tính toán dựa trên mật độ đường bộ, đường sắt và số lượng điện thoại bình quân đầu người, cùng với tỷ giá hối đoái và hai biến giả, cho thấy mối quan hệ quan trọng giữa các yếu tố này trong việc phân tích kinh tế.

Nghiên cứu sử dụng mô hình Random effect để ước lượng dữ liệu bảng, cho thấy các kết quả thống kê hợp lý sau khi xử lý các vấn đề nội sinh liên quan đến thu nhập, quy mô và cơ sở hạ tầng Biến E nhận giá trị 1 nếu nước đó được bao quanh bởi đất liền, trong khi đó, biến biên giới đất liền cũng nhận giá trị 1 nếu có chung đường biên giới với nước khác.

Nghiên cứu này chỉ ra rằng hầu hết các Hiệp định Thương mại Tự do (RTAs) dẫn đến gia tăng thương mại nội vùng và giảm nhập khẩu từ các quốc gia khác Theo Tiiu Paas (2000), mô hình trọng lực hấp dẫn được sử dụng để phân tích thương mại quốc tế của Estonia cho thấy khu vực Biển Baltic đóng vai trò quan trọng trong phát triển quan hệ thương mại của nước này, đặc biệt trong việc thúc đẩy xuất khẩu Phát triển xuất khẩu và mở rộng thị trường mới là ưu tiên chính trong chiến lược thương mại của Estonia nhằm giảm thiểu chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu.

Nghiên cứu về dòng chảy thương mại giữa Việt Nam và các đối tác chính cho thấy mối liên hệ xã hội, như ngôn ngữ chung hoặc quan hệ thuộc địa, giúp các nhà nhập khẩu hiểu rõ hơn về chất lượng và danh tiếng của sản phẩm Các quốc gia có quan hệ thuộc địa thường có xu hướng thương mại cao hơn do sự quen thuộc với văn hóa và hình thức kinh doanh Mặc dù toàn cầu hóa đã cải thiện thông tin liên lạc và giảm bớt rào cản văn hóa, khoảng cách vật lý vẫn là một trở ngại lớn đối với thương mại Công nghệ mới đã giúp giảm chi phí vận chuyển, nhưng khoảng cách địa lý vẫn ảnh hưởng đến giao dịch Các nước nói ngôn ngữ phổ biến thường có lợi thế trong thương mại nhờ vào việc dễ dàng giao dịch và giảm chi phí kinh doanh.

MÔ TẢ DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

Khung phân tích

Hình 3.1 Khung phân tích của nghiên cứu

Xây d ựng mô hình nghiên cứu

Trong hầu hết các nghiên cứu đều sử dụng mô hình hấp dẫn trong thương mại được đưa ra bởi Tinbergen (1962) và Poyhonen (1963) như sau :

Các yếu tố ảnh hưởng đến lu ồng thương mại quốc tế

Kim ng ạch xu ất kh ẩu

Chính sách khuy ến khích, qu ản lý xuất khẩu

S ức mua của thị trường nước nh ập kh ẩu

Năng lực sản xu ất của nước xuất khẩu

Chính sách khuyến khích, qu ản lý nhập kh ẩu

Kho ảng cách gi ữa hai quốc gia

Nhóm y ếu tố h ấp dẫn/ cản tr ở

Nhóm y ếu tố ảnh hưởng đến cầu

Nhóm y ếu tố ảnh hưởng đến cung

Mô hình thương mại giữa hai quốc gia được đo lường dựa trên GDP và khoảng cách địa lý, với việc Frankel (1997) mở rộng mô hình bằng cách bổ sung các yếu tố như chung biên giới và ngôn ngữ Nghiên cứu này áp dụng mô hình hấp dẫn trong thương mại để phân tích thương mại của Việt Nam với các quốc gia trong giai đoạn 2003-2013, dựa trên lý thuyết của Krugman và Maurice (2005).

Mô hình kinh tế lượng đề xuất:

Trong đó 𝛽𝛽𝑜𝑜 = lnA,𝜇𝜇𝑖𝑖𝐷𝐷 là số hạng sai số, thể hiện tác động của các biến bị bỏ qua (uit thay đổi theo thời gian và không gian).

Xác định và mô tả các biến số

Biến phụ thuộc của mô hình là sản lượng cà phê Việt Nam xuất khẩu sang quốc gia i vào năm t (𝑄𝑄𝑄𝑄𝑇𝑇𝐷𝐷𝐷𝐷𝑖𝑖𝐷𝐷𝑄𝑄 𝑣𝑣𝑖𝑖𝐷𝐷 ) Đơn vị tính là nghìn tấn

3.3.2 Bi ến độc lập a Thu nhập ( 𝑮𝑮𝑮𝑮𝑮𝑮𝒊𝒊𝒊𝒊)

Nghiên cứu của Céline Carrere (2003), H.Mikael Sandberg (2004) và Tiiu Paas (2000) đã chỉ ra rằng thu nhập của nước xuất khẩu có tác động tích cực đến kim ngạch xuất khẩu Đặc biệt, trong trường hợp của Việt Nam, các nghiên cứu của Thai Tri cũng xác nhận mối liên hệ này.

Nghiên cứu của Đào Ngọc Tiến (2009) và Thai Tri Do (2006) chỉ ra rằng GDP có tác động tích cực đến kim ngạch xuất khẩu, với kỳ vọng rằng biến thu nhập cũng sẽ có mối quan hệ tương tự Bên cạnh đó, dân số của quốc gia nhập khẩu (𝑮𝑮𝑷𝑷𝑮𝑮 𝒊𝒊𝒊𝒊) ảnh hưởng đến lượng cầu nhập khẩu, vì quốc gia có đông dân số thường có nhu cầu hàng hóa lớn hơn Các nghiên cứu đã chứng minh rằng dân số của nước nhập khẩu có tác động tích cực đến xuất khẩu.

Carrere (2003) và Jacob A Bikker (2009) đã chỉ ra rằng có một mối quan hệ ngược chiều giữa dân số của nước nhập khẩu và giá trị xuất khẩu Nghiên cứu của Martínez cũng đã xác nhận những kết quả này, nhấn mạnh tác động của yếu tố dân số đến thương mại quốc tế.

Zarzoso và Felicitas Nowak -Lehmann D (2003) chỉ ra tác động ngược chiều của dân số đến xuất khẩu Tuy nhiên trong nghiên cứu của K Doanh Nguyen và Yoon

Heo(2009) , H.Mkael Sandberg(2004) thì dân số và xuất khẩu có mối quan hệ cùng chiều c Biến giả (WTO và FTA)

Khi các quốc gia tham gia vào khu vực mậu dịch tự do và ký kết hiệp định thương mại, điều này sẽ thúc đẩy luồng thương mại quốc tế và gia tăng kim ngạch xuất khẩu Nghiên cứu của Céline Carrer (2003) chỉ ra rằng giá trị trao đổi thương mại song phương có thể bị ảnh hưởng cả tích cực lẫn tiêu cực khi tham gia vào một khối kinh tế Đối với Việt Nam, nghiên cứu của K Doanh Nguyen và Yoon cũng đưa ra những phân tích liên quan đến vấn đề này.

Theo Heo (2009), việc tham gia AFTA trong ASEAN đã có tác động tích cực đến xuất khẩu của Việt Nam sang các nước trong khối Nghiên cứu sử dụng biến giả WTO với giá trị 1 khi cả Việt Nam và quốc gia đối tác là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới vào năm t, và giá trị 0 nếu không Biến giả FTA được áp dụng với giá trị 0 khi quốc gia j chưa ký kết hiệp định thương mại tự do với Việt Nam tính đến năm t, và giá trị 1 nếu có hiệp định thương mại tự do trước hoặc từ năm t.

- Biến tương tác giữa giá và khoảng cách địa lý (PriceDistance)

+ Cách đo lường giá cà phê xuất khẩu:

Trong đó : Trade value là trị giá xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang nước i trong năm t, và net weight là khối lượng cà phê được xuất khẩu

Trong rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả như Blomqvist (2004) ở

Nghiên cứu của Singapore và Montanari (2005) cùng với Céline Carrer (2003) và Đào Ngọc Tiến (2009) chỉ ra rằng khoảng cách địa lý có ảnh hưởng đáng kể đến luồng thương mại giữa các quốc gia, tác động đến cước phí vận chuyển, rủi ro và phương thức vận chuyển Nguyễn Thanh Thủy và Jean-Louis Arcand (2009) cũng khẳng định rằng khoảng cách có tác động tiêu cực đến xuất khẩu các mặt hàng đồng nhất Hơn nữa, mô hình lực hấp dẫn mở rộng của Jacob Bikker (2009) cho thấy giá cả có thể ảnh hưởng đến lượng cung, từ đó tác động đến kim ngạch xuất khẩu của quốc gia.

- Khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế (EDistance)

+Cách đo lường khoảng cách kinh tế trong nghiên cứu :

𝐸𝐸𝐷𝐷𝑖𝑖𝐷𝐷𝐷𝐷𝑇𝑇𝐷𝐷𝐷𝐷𝑇𝑇 = |𝐺𝐺𝐷𝐷𝐺𝐺𝐺𝐺𝐺𝐺 𝑖𝑖𝐷𝐷 − 𝐺𝐺𝐷𝐷𝐺𝐺𝐺𝐺𝐺𝐺𝑣𝑣𝐷𝐷| Trong đó : GDPPC là GDP bình quân đầu người của một quốc gia

Trong nghiên cứu của Egger (2000), Matínez-Zarzoso và Felicitas Nowak-Lehmann

Theo D (2003), khoảng cách kinh tế ảnh hưởng đến giá trị thương mại của các quốc gia theo cả hai chiều hướng Sự tương đồng về trình độ phát triển kinh tế có thể vừa cản trở, vừa thu hút luồng thương mại giữa các nước Độ mở của nền kinh tế, được tính bằng tỷ lệ tổng kim ngạch xuất nhập khẩu so với GDP, đóng vai trò quan trọng trong chính sách ngoại thương Mối quan hệ giữa độ mở của nền kinh tế và giá trị thương mại được lý giải qua lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith (1776) và lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo.

(1815), Lý thuyết Heckscher – Ohlin (1919), lý thuyết thương mại mới của Paul

Theo Krugman (1979), Lancaster (1980) và Helpman (1981), khi chính sách ngoại thương chuyển hướng sang tự do hóa, độ mở của nền kinh tế sẽ gia tăng Độ mở của nền kinh tế được xác định thông qua một công thức cụ thể trong nghiên cứu.

Bảng 3.1Tóm tắt biến và nguồn dữ liệu

Biến Mô tả biến Nguồn dữ liệu Kỳ vọng dấu

Kim ngạch xuất khẩu cà phê tới nước i nhập khẩu cà phê của Việt Nam trong năm t

GDP, POP GDP, dân số nước i tại năm t Số liệu thống kê của

Khoảng cách là yếu tố quan trọng trong chi phí vận chuyển trong thương mại quốc tế, được xác định bằng số kilomet từ Thủ đô Hà Nội đến thủ đô của quốc gia i.

Dữ liệu từ website: www.chemical- ecology.net

Price Giá cà phê xuất khẩu của Việt

Nam tới quốc gia i ở năm t

Tính toán từ trị giá xuất khẩu và khối lượng xuất khẩu

EDistance Khoảng cách kinh tế giữa Việt

Nam và nước i trong năm t

Số liệu thống kê của WorldBank

Ngược chiều (-) được đo bằng chênh lệch GDP bình quân đầu người

Biến giả (những quốc gia đã từng ký hiệp định thương mại tự do với Việt Nam)

Số liệu từ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

WTO Biến giả (thành viên của tổ chức Thương mại thế giới) Dữ liệu từ WTO Cùng chiều

Openi*Openvn Độ mở của nền kinh tế Số liệu thống kê của

X ử lý số liệu Error! Bookmark not defined

3.4.1 Mô hình h ồi quy dữ liệu bảng Ưu điểm của dữ liệu bảng

Dữ liệu bảng là sự kết hợp của dữ liệu chéo và dữ liệu chuỗi thời gian Sử dụng dữ liệu bảng có hai ưu điểm lớn như:

Dữ liệu bảng cho các kết quả ước lượng các của tham số trong mô hình tin cậy hơn;

Theo nghiên cứu của Theo Li và cộng sự (1998), hồi quy dữ liệu chéo yêu cầu giả thiết hạn chế liên quan đến mối quan hệ giữa những biến động riêng lẻ của từng quốc gia (hoặc tỉnh, thành phố) và các biến giải thích trong mô hình.

Dữ liệu bảng cho phép xác định và đo lường các tác động không thể quan sát được khi sử dụng dữ liệu chéo hoặc chuỗi thời gian Nó cung cấp khả năng phát hiện tốt hơn các tác động này, đồng thời mang lại một bộ dữ liệu phong phú hơn với tính biến thiên cao, ít hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến, nhiều bậc tự do hơn và hiệu quả cao hơn.

Các mô hình ước lượng hồi quy dữ liệu bảng

Theo Yaffee (2003), trong phân tích hồi quy dữ liệu bảng, có ba loại mô hình phổ biến: mô hình hồi quy thuần túy (pooled OLS), mô hình các hiệu ứng cố định (FEM) và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM).

Mô hình h ồi quy gộp (pooled OLS):

Mô hình hồi quy thuần túy là loại mô hình trong đó tất cả các hệ số không thay đổi theo thời gian và giữa các cá nhân Mô hình này không xem xét các hiệu ứng đặc thù theo không gian và thời gian của dữ liệu, và thường được ước lượng bằng phương pháp bình thường nhỏ nhất (OLS).

Ràng buộc các hệ số không thay đổi theo thời gian và giữa các cá nhân là điều khó thực hiện trong thực tế Một nhược điểm lớn của mô hình này là hệ số Durbin – Watson thường nhỏ (dưới 1), dẫn đến khả năng cao xảy ra hiện tượng tự tương quan trong dữ liệu.

Mô hình các hi ệu ứng cố định (FEM)

Mô hình các hiệu ứng cố định (FEM) khác với mô hình hồi quy gộp (pooled OLS) ở chỗ trong FEM, các hệ số độ dốc được giữ cố định trong khi tung độ gốc có sự thay đổi giữa các cá nhân.

Giả thiết có sự tương quan giữa phần dư với các biến giải thích

Hiệu ứng cố định chỉ ra rằng mặc dù tung độ gốc có thể khác nhau giữa các cá nhân, nhưng nó không thay đổi theo thời gian Để khắc phục vấn đề này, có thể sử dụng các biến giả tung độ gốc chênh lệch nhằm thay thế các biến bị bỏ qua, giúp nắm bắt các đặc điểm riêng biệt theo không gian của các quan sát Mô hình này, được gọi là mô hình hồi quy biến giả bình phương nhỏ nhất (FEM), có khả năng kiểm soát và tách biệt ảnh hưởng của các đặc điểm không đổi theo thời gian khỏi các biến giải thích, từ đó ước lượng chính xác ảnh hưởng của các biến giải thích lên biến phụ thuộc.

Việc đưa quá nhiều biến giả vào mô hình có thể dẫn đến giảm bậc tự do và tăng khả năng đa cộng tuyến, ảnh hưởng tiêu cực đến độ chính xác và hiệu quả của mô hình.

Trong một mối quan hệ kinh tế, ta xem xét biến phụ thuộc Y cùng với hai biến giải thích quan sát được là 𝑋𝑋1 và 𝑋𝑋2, bên cạnh một hoặc nhiều biến không quan sát được Dữ liệu bảng cho Y, 𝑋𝑋1 và 𝑋𝑋2 được cấu thành từ N đối tượng và T thời điểm, dẫn đến tổng cộng NxT quan sát Mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển không có hệ số cắt được xác định bởi các yếu tố này.

Mô hình hồi quy được biểu diễn bởi phương trình 𝑌𝑌 𝑖𝑖𝐷𝐷 = 𝛽𝛽 1 𝑋𝑋 𝑖𝑖𝐷𝐷1 + 𝛽𝛽 2 𝑋𝑋 𝑖𝑖𝐷𝐷2 + 𝜇𝜇 𝑖𝑖𝐷𝐷, trong đó 𝑌𝑌 𝑖𝑖𝐷𝐷 là giá trị của biến phụ thuộc Y cho đối tượng i tại thời điểm t Các biến độc lập 𝑋𝑋 𝑖𝑖𝐷𝐷1 và 𝑋𝑋 𝑖𝑖𝐷𝐷2 đại diện cho hai yếu tố ảnh hưởng đến Y, với i = 1, 2, …, N và t = 1, 2, …, T Sai số μit phản ánh các yếu tố không quan sát được ảnh hưởng đến đối tượng i tại thời điểm t.

Mô hình hồi quy tác động cố định, là một dạng mở rộng của mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển, được cho bởi:

Mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển được biểu diễn bởi phương trình 𝑌𝑌 𝑖𝑖𝐷𝐷 = 𝛽𝛽 1 𝑋𝑋 𝑖𝑖𝐷𝐷1 + 𝛽𝛽 2 𝑋𝑋 𝑖𝑖𝐷𝐷2 + 𝑣𝑣 𝑖𝑖 + 𝜀𝜀 𝑖𝑖𝐷𝐷, trong đó sai số được chia thành hai thành phần: 𝑣𝑣 𝑖 đại diện cho các yếu tố không quan sát được khác nhau giữa các đối tượng nhưng không thay đổi theo thời gian, và 𝜀𝜀 𝑖𝐷𝐷 đại diện cho những yếu tố không quan sát được khác nhau giữa các đối tượng và thay đổi theo thời gian.

Mô hình các hi ệu ứng ngẫu nhiên (REM)

Mô hình các hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) tương tự như mô hình các hiệu ứng cố định (FEM), nhưng điểm khác biệt chính là sự không tương quan giữa phần dư và các biến giải thích Trong REM, phần dư được coi là một biến giải thích mới, giúp cải thiện khả năng phân tích và dự đoán trong nghiên cứu.

Các giả định của REM có thể được khái quát như sau:

Việc lựa chọn giữa mô hình các hiệu ứng cố định (FEM) và mô hình các hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) phụ thuộc vào giả định về mối tương quan giữa phần dư và các biến giải thích Nếu giả định rằng phần dư không tương quan với các biến giải thích được xác định, thì mô hình REM sẽ là sự lựa chọn phù hợp.

Nếu giả định phần dư và các biến giải thích tương quan với nhau, FEM là thích hợp

Trong một mối quan hệ kinh tế, chúng ta xem xét một biến phụ thuộc Y cùng với hai biến giải thích quan sát được là X1 và X2 Dữ liệu được tổ chức theo dạng bảng, bao gồm N đối tượng và T thời điểm, dẫn đến tổng cộng có NxT quan sát.

Mô hình tác động ngẫu nhiên được viết dưới dạng:

Sai số cổ điển được phân thành hai thành phần chính: thành phần νi đại diện cho các yếu tố không quan sát được, thay đổi giữa các đối tượng nhưng không thay đổi theo thời gian, và thành phần 𝜀𝜀 𝑖𝑖𝐷𝐷 đại diện cho các yếu tố không quan sát được, thay đổi giữa các đối tượng và theo thời gian Giả sử rằng vi được xác định bởi:

𝑣𝑣 𝑖𝑖 = 𝛼𝛼 0 + 𝜔𝜔 𝑖𝑖 với i = 1, 2, …, N Trong đó, 𝑣𝑣 𝑖𝑖 lại được phân chia làm hai thành phần: i) thành phần bất định 𝛼𝛼 0 , ii) thành phần ngẫu nhiên 𝜔𝜔 𝑖𝑖

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined

Ngày đăng: 21/06/2021, 09:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w