1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển (FULL) các nhân tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu cà phê ở việt nam giai đoạn 2003 2013

89 31 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 788,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau đó mô hình hấp dẫn trong thương mại được Krugman vàMaurice đưa ra vào năm 2005 như sau: Tij là kim ngạch trao đổi thương mại giữa hai quốc gia i và j Yi là quy mô nền kinh tế của nư

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:

TS TRẦN TIẾN KHAI

Tp Hồ Chí Minh, 10/2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn “Các nhân tố ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu

cà phê ở Việt Nam giai đoạn 2003-2013” là công trình nghiên cứu độc lập của riêngtôi Các tài liệu tham khảo, số liệu thống kê trong Luận văn là trung thực, có nguồngốc rõ ràng Kết quả của Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trìnhnghiên cứu nào khác

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2015

LÊ HỒNG VÂN

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH

DANH MỤC BẢNG BIỂU

TÓM TẮT

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Vấn đề nghiên cứu 1 1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Dữ liệu và phương pháp 3

1.5 Cấu trúc luận văn 3

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 5 2.1 Tổng quan lý thuyết 5

2.1.1 Khái niệm xuất khẩu 5

2.1.2 Lý thuyết thương mại quốc tế - trường phái trọng thương 6

2.1.3 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith 7

2.1.4 Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo 8

2.1.5 Mô hình Hecksher-Ohlin 9

2.1.6 Mô hình hấp dẫn trong thương mại 10

2.2 Các nghiên cứu liên quan 13

CHƯƠNG 3: MÔ TẢ DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 25

3.1 Khung phân tích 25

3.2 Xây dựng mô hình nghiên cứu 25

Trang 5

3.3 Xác định và mô tả các biến số 26

3.3.1 Biến phụ thuộc 26

3.3.2 Biến độc lập 26

3.4 Xử lý số liệu Error! Bookmark not defined. 3.4.1 Mô hình hồi quy dữ liệu bảng Error! Bookmark not defined. 3.4.2 Phương pháp chọn mẫu Heckman 35

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined. 4.1 Thực trạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong giai đoạn 2003-2013

Error! Bookmark not defined. 4.1.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng Error! Bookmark not defined. 4.1.2 Chủng loại cà phê ở Việt Nam 43

4.1.3 Cơ cấu thị trường xuất khẩu Error! Bookmark not defined. 4.2 Vai trò của xuất khẩu cà phê đối vớisự phát triển kinh tế ởViệt Nam

Error! Bookmark not defined. 4.3 Khái quát yếu tố ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam Error! Bookmark not defined. 4.3.1 Cơ cấu thị trường xuất khẩu Error! Bookmark not defined. 4.3.2 Các yếu tố hấp dẫn/cản trở 51

4.4 Thống kê mô tả 52

4.5 Giải thích kết quả hồi quy 57

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 66

5.1 Kết luận 66

5.2 Hàm ý chính sách 67

5.3 Hạn chế của nghiên cứu 68

TÀI LIỆU THAM

KHẢO PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ASEAN

( Association of South East Asia Nations) Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

Bộ NN&PTNN Việt Nam Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông

thôn Việt Nam

Giá CIF (Cost, Insurance, Freight)

Giá tại cửa khẩu của bên Nhập khẩu (Giá đã bao gồm chi phí bảo hiểm, vậnchuyển hàng hoá tới cửa khẩu của bênNhập khẩu)

EGM (Extended Gravity Model) Mô hình hấp dẫn mở rộng

GDP(Gross Domestic Product) Tổng thu nhập nội địa

ICO (International Coffee Organization) Tổ chức cà phê quốc tế

MERCOSUR (Mercado Común del Sur)

Hiệp định thương mại tự do (được thành lập vào năm 1991 giữa các nướcBrasil, Argentina, Uruguay, Paraguay,Venezuela Bolivia, Chile, Colombia, Ecuador và Peru)

NAFTA

(North America Free Trade Agreement) Hiệp định mậu dịchTự do Bắc Mỹ

REM(Random Effect Model) Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên

RTAs (regional trade agreements) Hiệp định thương mại tự do cấp vùng

WTO(World Trade Organization) Tổ chức thương mại quốc tế

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH

Hình 3.1 Khung phân tích của nghiên cứu……… 25Hình 4.1 Sản lượng cà phê qua các năm ……….40Hình 4.2 Kim ngạch và sản lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2003-2013……… 42Hình 4.3 Các thị trường nhập khẩu cà phê của Việt Nam……… 44Hình 4.4 Sản lượng cà phê xuất khẩu trung bình của Việt Nam trong giai đoạn 2003-2013……….52Hình 4.5 Giá cả và sản lượng cà phê trung bình ở các khu vực……… 53Hình 4.6 Biểu đồ tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc………… 54

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm………

19 Bảng 3.1 Tóm tắt biến và nguồn dữ liệu………29

Bảng 4.1 Diện tích đất trồng cà phê qua các năm………39

Bảng 4.2 Sản lượng cà phê Việt Nam từ 2003-2013………

40 Bảng 4.3 Các mặt hàng nông sản xuất khẩu chia theo sản phẩm và năm……… 41 Bảng 4.4GDP Việt Nam chia theo khu vưc kinh tế giai đoạn 2003-2013…….… 48 Bảng 4.6 Kết quả thống kê mô tả của các biến chính trong mô hình phân tích….54 Bảng 4.6 Kết quả hồi quy theo OLS, FEM và REM……… 57 Bảng 4.7 Kết quả hồi quy theo mô hình Heckman 2 bước……….64

Trang 9

TÓM TẮT

Cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ đạo của Việt Nam, đóng vaitrò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội Theo số liệu của Hiệp hội cà phê cacao Việt Nam, xuất khẩu cà phê của Việt Nam năm 2007 đã đạt gần 2 tỷ USD/năm

và tới niên vụ 2012-2013 Việt Nam xuất khẩu được hơn 1,4 triệu tấn cà phê trị giáhơn 3 tỷ USD Tuy nhiên, sản lượng cà phê xuất khẩu mỗi năm lên xuống thấtthường Nghiên cứu nhằm mục đích chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến kim ngạchxuất khẩu cà phê của Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2013 Nghiêncứu được tiến hành dựa trên việc thu thập dữ liệu thứ cấp được công bố trên cácphương tiện thong tin đại chúng và sau đó được tổng hợp, phân tích và xử lý.Nghiên cứu áp dụng mô hình hấp dẫn trong thương mại được đưa ra bởi Krugman

và Maurice (2005) Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng GDP nước nhập khẩu, dân sốnước nhập khẩu, giá xuất khẩu, độ mở của nền kinh tế và việc gia nhập vào các hiệpđịnh thương mại tự do có một mối tương quan tích cực đến kim ngạch xuất khẩu càphê của Việt Nam, ngược lại, khoảng cách địa lý và khoảng cách kinh tế, việc gianhập vào WTO không mang lại ý nghĩa thống kê

Trang 10

sẽ xuất khẩu sản phẩm thâm dụng các yếu tố sản xuất mà nó dồi dào một cáchtương đối Với lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo (Mai Ngọc Cường, 2006), cácmặt hàng nông lâm thủy sản Việt Nam vẫn còn sức cạnh tranh cao trên thị trườngthế giới Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế đang được đẩy mạnh, mỗi nước đều

có những lợi thế so sánh của riêng mình thì cà phê đư ợc coi là một thế mạnh củaViệt Nam Theo Hiệp hội Cà phê Ca cao của Việt Nam xuất khẩu cà phê của ViệtNam ngày càng tăng trưởng trong 4 năm (từ năm 2009 đến năm 2012) với tốc độtăng trưởng bình quân khoảng 17,7%/năm Điều này cho thấy các thị trường chínhnhập khẩu mặt hàng này ngày càng ưa chuộng cà phê Việt Nam và số lượng thịtrường xuất khẩu của mặt hàng cà phê ngày càng được mở rộng Thực tế , trị giáxuất khẩu cà phê của Việt Nam trong năm 2007 là l,9 tỷ USD nhưng đến năm 2012tăng lên thành 2,7 tỷ USD và năm 2013 là 3,6 tỷ USD và xuất khẩu nông sản hiện

là nguồn thu ngoại tệ lớn của đất nước Hoạt động sản xuất và xuất khẩu cà phêkhông những đảm bảo được nhu cầu trong nước, giải quyết việc làm cho ngườilao động mà còn giúp nâng cao đời sống cho người nông dân, là động lực thúc đẩyquá trình sản xuất trong nước Hoạt động này sẽ giúp cho Việt Nam có thể khaithác tối đa lợi thế về điều kiện khí hậu, tài nguyên, nguồn nhân lực.Với vai trò tolớn như vậy, xuất khẩu cà phê được coi là một mũi nhọn chủ lực ở Việt Namtrong phát triển kinh tế Đặc biệt là ở các mặt hàng như gạo, cà phê, cao su đãđóng góp một phần không nhỏ vào tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nướcnói riêng và tổng sản

Trang 11

phẩm GDP nói chung Bên cạnh đó, ngành cà phê còn góp phần làm chuyển dịch cơcấu kinh tế: ngành cà phê gắn với cả một quá trình khép kín từ sản xuất đến tiêu dùng Điều này kéo theo theo một loạt các ngành kinh tế phát triển như ngành xây dựng các cơ sở để nghiên cứu giống, ngành thuỷ lợi, ngành giao thông, ngành chế tạo máy móc, Vì thế đẩy mạnh qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các vùng nơi có cây cà phê phát triển Điều này góp phần đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá trong nông nghiệp nông thôn.Tuy nhiên, trong những năm trở lại đây, hoạt động xuất khẩu hàng nông sản có tộc độ phát triển không ổn định Sau khiViệt Nam gia nhập vào WTO năm 2007 và khủng hoảng kinh tế vào năm 2008, đã

có những ảnh hưởng đáng kể đến kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam Tuy có nhiều cơ hội phát huy lợi thế so sánh, mở rộng thị trường, nhưng cũng đang gặp nhiều khó khăn và thách thức trước sự cạnh tranh quốc tế gay gắt do Việt Nam chưa có nhiề u lợi thế về trình độ sản xuất, về chủng loại hàng hoá, về kinh nghiệm trong thương mại quốc tế do giá cà phê xuất khẩu còn phụ thuộc khá nhiều vào thị trường thế giới, chủ yếu xuất khẩu cà phê Robusta và chất lượng cà phê chưa cao.Vậy vấn đề cấp thiết hiện nay là làm thế nào để thúc đẩy xuất khẩu tăng trong thời gian tới, đặc biệt là xuất khẩu nh ững mặt hàng chủ lực như cà phê Để có được những định hướng đúng đắn, nhanh chóng kịp thời nắm bắt cơ hội, tận dụng thế mạnh để thúc đẩy xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước thì cần phải nắm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu cà phê ở Việt Nam Trước yêu cầu đó, tác giả quyết định lựa

chọn đề tài : Các nhân tố ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt

Nam giai đoạn 2003-2013.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này xác định những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu càphê ở Việt Nam từ đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy hơn nữa hoạt động xuất khẩu

cà phê ở Việt Nam theo mô hình đã chọn

Mục tiêu nghiên cứu : Dựa vào cách tiếp cận theo mô hình hấp dẫn trong thương

mại xem xét sự tác động của các yếu tố cung, cầu, các yếu tố hấp dẫn/cản trở đến

Trang 12

kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam với 115 quốc gia có quan hệ thương mại trong giai đoạn 2003-2013.

Câu hỏi nghiên cứu : Yếu tố nào tác động đến kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt

Nam trong giai đoạn 2003-2013?

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu : Luận văn nghiên cứu hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt

Nam với các đối tác chính và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này trong thời gian nghiên cứu Mặt hàng cà phê được nghiên cứu trong luận văn là mặt hàngmang mã HS 2 chữ số bao gồm : cà phê chưa rang, chưa tách cafein; cà phê chưa rang, đã tách cafein; cà phê đã rang, chưa tách cafein; cà phê đã rang chưa tách cafein

Phạm vi nghiên cứu

+ Về mặt không gian : Luận văn nghiên cứu cho 115 nước bạn hàng lớn nhất nhậpkhẩu cà phê của Việt Nam , phân tích các yếu tố cung cầu, các yếu tố hấp dẫn hoặccản trở đến hoạt động thương mại cà phê giữa Việt Nam và 115 quốc gia này

+Về mặt thời gian : Nghiên cứu trong giai đoạn 11 năm, từ 2003 đến 2013

- Phương pháp phân tích định lượng: Luận văn sử dụng kỹ thuật phân tích dữliệu bảng từ năm 2003 đến năm 2013

1.5 Cấu trúc luận văn

Cấu trúc luận văn gồm 5 chương:

Trang 13

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan

Chương 3: Trình bày các phương pháp nghiên cứu được sử dụng

Chương 4: Tổng quan thực trạng hoạt động xuất khẩu cà phê trong th ời gian

qua tại Việt Nam và kết quả nghiên cứu thực nghiệm

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Kết

luận chương 1 : Chương 1 đã giới thiệu sơ lược về vấn đề nghiên cứu của đề

tài bao gồm mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của đềtài và phương pháp nghiên cứu được áp dụng Bố cục của nghiên cứu bao gồm 5chương

Trang 14

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

2.1 Tổng quan lý thuyết

2.1.1 Khái niệm xuất khẩu

Theo điều 28, mục 1, chương 2, Luật Thương mại Việt Nam 2005: “Xuất khẩuhàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khuvực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theoquy định của pháp luật”

Xuất khẩu là một hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương, xuất hiện từlâu đời, ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu Hình thức cơbản ban đầu của nó là hoạt động trao đổi hàng hóa của các quốc gia, cho đến nay đãphát triển và thể hiện thong qua nhiều hình thức Như vậy, có thể hiểu xuất khẩu làbán hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài nhằm mục đích thu ngoại tệ, tăng tích lũycho ngân sách nhà nước, phát triển sản xuất kinh doanh, khai thác ưu thế tiềm năngđất nước và nâng cao đời sống dân cư

Xuất khẩu là một khâu quan trọng trong quá trình tái sản xuất xã hội và cónhững chức năng chủ yếu như:

+ Tạo vốn cho quá trình đầu tư trong nước, chuyển hóa giá trị sử dụng, làm thay đổi

cơ cấu giá trị sử dụng của tổng sản phẩm xã hội Góp phần nâng cao hiệu quả củanền kinh tế Xuất khẩu là nguồn thu chính tạo ra nguồn vốn ngoại tệ tạo tiền đề chonhập khẩu thông qua yếu tố vốn và kỹ thuật nâng cao khả năng sản xuất, năng lựccạnh tranh của quốc gia

+Thực hiện chức năng lưu thông hàng hóa từ trong nước sang các nước khác Hoạtđộng xuất khẩu giúp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ra ngoài biên giới củamột quốc gia Xuất khẩu còn tạo nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dung thiếtyếu phục vụ trực tiếp và đáp ứng phong phú them nhu cầu tiêu dùng của dân cư.Nhờ vậy có thể nâng cao đời sống cho toàn xã hội

+Nâng cao hiệu quả kinh doanh, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước

Trang 15

+Góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế-xã hội của đất nước: vốn, việc làm, sử dụng tài nguyên có hiệu quả

+Đảm bảo sự thống nhất giữa nền kinh tế và chính trị trong hoạt động xuất khẩu

2.1.2 Lý thuyết thương mại quốc tế - trường phái trọng thương

Trong giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế (Trần Văn Hiếu, 2006), lýthuyết của trường phái trọng thương được quảng bá và vận dụng ở châu Âu từ giữathế kỉ XV, phát triển cực thịnh vào thế kỉ XVI-XVII Đây được coi là lý thuyếtthương mại đầu tiên của thời kỳ tiền tư bản và nhanh chóng trở thành cơ sở lý luậncho việc định hình cách chính sách thương mại nhiều nước châu Âu thời bấy giờnhư: Anh, Pháp, Đức, Hà Lan trong suốt hơn 3 thế kỷ Những nhà kinh tế tiêubiểu đại diện cho trường phái này khá đông đảo nổi bật nhất là Thomas Mun (1571-1641) người Anh, Antoine Montecheretien (1575-1629), Jean Bastiste Colbert(1618 – 1683) người Pháp đều cho rằng sứ mệnh của bất cứ quốc gia nào là phảilàm giàu, phải tích lũy tiền tệ vì vậy các nhà kinh tế này đều tập trung vào xây dựngcác chính sách kinh tế nhằm hướng tới mục tiêu làm tăng khối lượng tiền tệ tích lũyqua đó làm tăng mức độ giàu có cho quốc gia của mình Theo tư tưởng đó, để cónhiều vàng bạc, tiền tệ ngoài việc gia tăng khai thác mỏ cách tốt nhất là đẩy mạnhtối đa ngoại thương Chính vì vậy, nhà nước phải can thiệp sâu vào thương mạiquốc tế, vươn tới xuất siêu Phần giá trị thặng dư thương mại này được tính theovàng hay tiền tệ sẽ làm gia tăng mức độ giàu có cho quốc gia của họ Để làm đượcđiều đó, nhà nước cần hạn chế nhập khẩu bằng hàng rào thuế quan cao, áp dụng hạnngạch Ngược lại về phía xuất khẩu được hưởng những chính sách ưu đãi Chủnghĩa trọng thương ủng hộ sự can thiệp của chính phủ nhằm đạt được thặng dưtrong cán cân thương mại Các nhà trọng thương không cho rằng kim ngạch thươngmại lớn là một ưu điểm mà họ đề xuất các chính sách nhằm tối đa hóa xuất khẩu vàtổi thiểu hóa nhập khẩu Để đạt được điều này, nhập khẩu phải được hạn chế bởi cácbiện pháp như thuế quan và hạn ngạch, trong khi xuất khẩu sẽ được trợ cấp.Thuyếttrọng thương có ảnh hưởng sâu sắc đến dự phát triển kinh tế và quan hệ kinh tế

Trang 16

quốc tế giữa các nước trong nhiều thế kỷ, đặt nền móng ban đầu cho sự phát triểnthương mại quốc tế Tuy nhiên sau đó, lý thuyết trọng thương bị chỉ trích nặng nề.Năm 1752 nhà kinh tế học Hun (người Anh) đã chỉ ra rằng chính sách thương mạitheo lý thuyết trọng thương tất yếu sẽ dẫn tới lạm phát, làm xấu đi quan hệ cạnhtranh trên thị trường quốc tế và mục tiêu thặng dư thương mại không thể thực hiệnđược trong một thời kỳ dài và là ảo tưởng khi tất cả các nước đều theo đuổi mụctiêu này Nhược điểm của chủ nghĩa trọng thương là đã nhìn nhận thương mại nhưmột trò chơi có tổng bằng không (zero-sum game – nghĩa là lợi ích mà một nướcthu được chính bằng thiệt hại mà nước khác mất đi.) Hạn chế này đã được các lýthuyết của Adam Smith và David Ricardo ra đời sau đó chỉ rõ và khẳng định thươngmại là một trò chơi có tổng lợi ích là số dương (positive-sum game –tất cả các nướcđều thu được lợi ích) Năm 1776, Adam Smith lại tiếp tục chỉ ra sai lầm của chủnghĩa trọng thương một khi coi thương mại quốc tế theo quan hệ “được mất” Theochủ nghĩa trọng thương sự giàu có của một quốc gia từ thương mại thực hiện trên cơ

sở của sự mất mát của quốc gia khác, trong khi đó theo Adam Smith thương mại làmột kiểu quan hệ đặc biêt, có mang lại lợi ích cho cả hai bên Chính từ những hạnchế từ lý thuyết của chủ nghĩa trọng thương từ giữa thế kỷ VIII, chủ nghĩa nàykhông còn giữ được vị trí thống trị trong thực tiễn hoạt động thương mại thế giớinữa Tuy nhiên, về mặt lý thuyết, học thuyết này không bị mất hoàn toàn giá trị

2.1.3 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith

Đến giữa thế kỷ XVIII, Adam Smith đã đưa ra quan điểm mới về thươngmại quốc tế tích cực hơn so với phái Trọng Thương trước đó(Trần Văn Hiếu,2006) Khẳng định vai trò của cá nhân và hệ thống kinh tế tư doanh, ông chorằng chỉ có cá nhân mới thẩm định những hành vi của mình và tư lợi khôngtương tranh nhau mà hoà nhập vào nhau theo một trật tự tự nhiên Hệ quả của tưtưởng này là chính quyền mỗi quốc gia không cần can thiệp vào cá nhân và cácdoanh nghiệp, cứ để họ tự do hoạt động Dựa vào một số giả định, A.Smith chorằng hoạt động ngoại thương sẽ mang lại lợi ích cho quốc gia xuất khẩu sản phẩm

có lợi thế tuyệt đối A.Smith cho rằng khi sử dụng cùng một nguồn lực vật chất,

Trang 17

nước nào sản xuất được nhiều hơn thì nước đó có lợi thế tuyệt đối trong việc sảnxuất hàng hóa đó Theo Smith, các nước nên chuyên môn hóa vào sản xuất nhữngsản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh và sau đó trao đổi những hàng hóa đó lấynhững hàng hóa sản xuất bởi những nước khác.Lập luận cơ bản của Adam Smith làmột quốc gia không bao giờ nên tự sản xuất những hàng hóa mà thực tế có thể muađược từ các nước khác với chi phí thấp hơn Và bằng cách chuyên môn hóa sản xuấtnhững hàng hóa mà một nước có lợi thế tuyệt đối, cả hai nước sẽ thu được lợi íchkhi tham gia vào thương mại quốc tế.Trong trường hợp lợi thế tuyệt đối đổi chiều,

cả hai quốc gia tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế đều thu được lợi ích lớnhơn là khi họ tự sản xuất – cung ứng cho quốc gia mình tất cả các loại hàng hóa Lýthuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith được xem như là lý thuyết có cơ sở khoahọc đầu tiên về thương mại quốc tế, giải thích vì sao các nước lại quan hệ thươngmại với nhau, dựa trên cơ sở nào Tuy nhiên, lý thuyết này lại không trả lời đượccâu hỏi là nếu một quốc gia có lợi thế tuyệt đối ở hầu hết các sản phẩm, và quốc giakhác (hay phần còn lại của thế giới) thì lại không có lợi thế tuyệt đối ở bất kỳ sảnphẩm nào thì mậu dịch quốc tế có xảy ra không và dựa trên cơ sở nào?

2.1.4 Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo

David Ricardo đã đưa lý thuyết của Adam Smith tiến xa thêm một bước nữabằng cách khám phá ra xem điều gì sẽ xảy ra khi một quốc gia có lợi thế tuyệt đốitrong sản xuất tất cả các mặt hàng(Trần Văn Hiếu, 2006) Lý thuyết của AdamSmith về lợi thế tuyệt đối gợi ý rằng một nước như vậy sẽ không thu được lợi ích gì

từ thương mại quốc tế Năm 1817, Ricardo đã cho ra đời tác phẩm Nguyên lýcủa Kinh tế chính trị và thuế khoá, trong đó ông đã đề cập tới lợi thế so sánh(Comparative advantage) Khái niệm này chỉ khả năng sản xuất của một sản phẩmvới chi phí thấp hơn so với sản xuất các sản phẩm khác

Quy luật lợi thế so sánh mà Ricardo rút ra là: mỗi quốc gia nên chuyên môn hoávào sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà quốc gia đó có lợi thế so sánh và nhậpkhẩu sản phẩm mà quốc gia đó không có lợi thế so sánh Kế thừa và phát triển lýthuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, Ricardo đã nhấn mạnh: Những nước có lợi

Trang 18

thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so vớicác nước khác trong sản xuấtmọi sản phẩm, thì vẫn có thể và vẫn có lợi khi thamgia vào phân công lao động và thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước có một lợi thế

so sánh nhất định về sản xuất một số sản phẩm và kém lợi thế so sánh nhất định vềsản xuất các sản phẩm khác Bằng việc chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sảnphẩm mà nước đó có lợi thế so sánh, tổng sản lượng về sản phẩm trên thế giới sẽtăng lên, kết quả là mỗi nước đều có lợi ích từ thương mại Như vậy lợi thế so sánh

là cơ sở để các nước buôn bán với nhau và là cơ sở đểthực hiện phân công lao độngquốc tế.Mọi nước đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế; bởi vìphát triển ngoại thương cho phép mởrộng khảnăng tiêu dùng của một nước Nguyênnhân chính là do chuyên môn hóa sản xuất một sốsản phẩm nhất định của mình đểđổi lấy hàng nhập khẩu từcác nước khác thông qua con đường thương mại quốc tế.Lợi thế so sánh là điều kiện cần và đủ đối với lợi ích thương mại quốc tế Thôngđiệp cơ bản của lý thuyết về lợi thế so sánh là sản lượng tiềm năng của thế giới sẽlớn hơn nhiều trong điều kiện thương mại tự do không bị hạn chế (so với trong điềukiện hạn chế về thương mại) Lý thuyết của Ricardo gợi ý rằng người tiêu dùng ởtất cả các quốc gia sẽ được tiêu dùng nhiều hơn nếu như không có hạn chế trongthương mại giữa các nước Điều này diễn ra ngay cả khi các quốc gia không có lợithế tuyệt đối trong sản xuất bất kỳ hàng hóa nào Nói một cách khác, so với lýthuyết về lợi thế tuyệt đối lý thuyết về lợi thế so sánh khẳng định một cách chắcchắn hơn nhiều rằng thương mại là một trò chơi có tổng lợi ích là một số dươngtrong đó tất cả các nước tham gia đều thu được lợi ích kinh tế Như vậy, lý thuyếtnày đã cung cấp một cơ sở hợp lý cho việc khuyến khích tự do hóa thương mại vàcho đến nay, lý thuyết của Ricardo vẫn chứng tỏ sức thuyết phục khi thường đượcxem là vũ khí lập luận chủ yếu cho những ai ủng hộ cho thương mại tự do

2.1.5 Mô hình Hecksher-Ohin

Để khắc phục những hạn chế trong mô hình Ricardo hai nhà kinh tế học ngườiThụy Điển Heckcher-Ohlin đã đưa ra một mô hình giải thích nguồn gốc của thươngmại thông qua sự khác biệt về tỷ lệ các yếu tố(Trần Văn Hiếu, 2006)

Trang 19

𝐷𝐷

TheoHeckcher và Ohlin thì thương mại quốc tế không chỉ giải thích bằng sự khácbiệt về năng suất lao động mà còn được giải thích bằng sự khác biệt về nguồn lựcgiữa các quốc gia Các ông đã chỉ ra rằng, việc Canada xuất khẩu sản phẩm lâmnghiệp sang Mỹ không phải vì những người công nhân lâm nghiệp của họ có năngsuất lao động tương đối (so với đồng nghiệp Mỹ của họ) cao hơn những ngườiCanada khác mà vì đất nước Canada thưa dân có nhiều đất rừng theo đầu người hơn

Mỹ Môt cách nhìn hiện thực về thương mại quốc tế phải tính đến tầm quan trọngkhông chỉ của lao động mà cả các yếu tố sản xuất khác như đất đai, vốn và tàinguyên khoáng sản Mô hình Heckcher-Ohlin được xây dưng thay thế cho mô hình

cơ bản về lợi thế so sánh của David Ricardo Mô hình Heckcher-Ohlin lập luận rằng

cơ cấu thương mại quốc tế được quyết định bởi sự khác biệt giữa các yếu tố nguồnlực Nó dự đoán rằng một nước sẽ chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu hàng hoáthâm dụng yếu tố sản xuất mà quốc gia đó dồi dào một cách tương đối

2.1.6 Mô hình hấp dẫn trong thương mại

Mô hình hấp dẫn đã được sử dụng mạnh mẽ để giải thích các luồng thương mạisong phương giữa hai nước mà không thể được giải quyết bởi các lý thuyết kinh tếkhác Trong vật lý, theo định luật vạn vật hấp dẫn của Newton, lực hút hấp dẫn giữahai đối tượng là tỷ lệ thuận với khối lượng của chúng và tỉ lệ nghịch với bìnhphương khoảng cách

Mô hình lực hấp dẫn được thể hiện như sau:

Mi, Mj là khối lượng của hai đối tượng

Dij là khoảng cách giữa hai đối tượng

Trang 20

𝐷𝐷

Vận dụng mô hình hấp dẫn trong thương mại dựa trên cơ sở mô hình trọng lựchấp dẫn của Newton lần đầu tiên được đưa ra áp dụng trong phân tích kinh tế bởiTinbergen (1962).Trong mô hình này bi ến phụ thuộc là các dòng chảy thương mạigiữa các quốc gia A và B, GDP và khoảng cách địa lý là các biến độc lập Kết quảước lượng cuối cùng cho thấy rằng trái ngược với khoảng cách, biến GDP có tácđộng tích cực trên các dòng chảy thương mại giữa hai nước, có nghĩa là các quốcgia có quy mô kinh tế lớn hơn và khoảng cách gần hơn xu hướng thương mại vớinhau nhiều hơn Sau đó mô hình hấp dẫn trong thương mại được Krugman vàMaurice đưa ra vào năm 2005 như sau:

Tij là kim ngạch trao đổi thương mại giữa hai quốc gia i và j

Yi là quy mô nền kinh tế của nước i

Yj là quy mô nền kinh tế của nước j

Dij là khoảng cách kinh tế và một số khác biệt về kinh tế xã hội giữa hai nước i và j

Nghiên cứu của Linneman (1966) chứng minh cho mô hình trên cơ sở cân bằngtổng giá trị xuất nhập khẩu của toàn nền kinh tế Thương mại giữa hai nước chịu tác động của nhóm các yếu tố cung của nước xuất khẩu, các yếu tố cầu của nước nhập khẩu và một số yếu tố khác Sau đó nền kinh tế cân bằng tại điểm cung xuất khẩu bằng cầu nhập khẩu và thu được mô hình hấp dẫn trong thương mại Trong nghiên cứu của Bergstra nd (1985) lại sử dụng những lý thuyết kinh tế vi môcho từng ngành: cung hàng một ngành của một quốc gia được cho là tạo nên bởi hoạt động

tối đa hóa độ hữu dụng với giới hạn về ngân sách Khi nền kinh tế ở trạng thái câ nbằng thì cung bằng cầu Có những nghiên cứu khác dựa vào nền tảng là các lý

Trang 21

thuyết cơ bản về thương mại quốc tế như James E Anderson (1979), Markusen vàWigle (1990), Deardorff (1998) Tất cả những nghiên cứu này cho rằng mô hình hấp dẫn có thể giải thích các luồng thương mại dựa trên sự khác biệt về công nghệ trong mô hình của Ricardo , khác biệt về sự sẵn có của các yếu tố đầu vào sản xuất trong mô hình Heckscher -Ohlin, và dựa trên sự gia tăn g hiệu quả ở mức độ sản xuất doanh nghiệp trong mô hình tính kinh tế theo quy mô , cạnh tranh độc quyền

và sự khác biệt về sản phẩm của Helpman và Krugman (1985) Mô hình hấp dẫn được giải thích rõ ràng để có thể vận dụng vào phân tích các luồng thương mại quốc tế Deardorff đã cung cấp nền tảng lý thuyết cho phương trình hấp dẫn, một phương trình đơn giản giải thích khối lượng thương mại song phương như là một hàm của mức thu nhập của hai đối tác thương mại và khoảng cách giữa chúng Trong nghiên cứu này tác giả đã rút ra được phương trình cho các giá trị của thương mại song phương từ hai trường hợp đối lập của mô hình Heckcher-Ohlin Trường hợp đầu tiên là thương mại không rào cản, trong đó sự vắng mặt của tất cả các rào cản thương mại trong các sản phẩm đồng nhất khiến cho các nhà sản xuất và tiêu dùng trở nên bàng quan với tất cả các đối tác thương mại, bao gồm cả ở đất nước của họ Trường hợp thứ hai là những quốc gia sản xuất hàng hóa khác nhau Đây cũng là một trạng thái cân bằng có thể có của mô hình

HO, mặc dù các mô hình khác nhau sử dụng nó trong các tài liệu để rút ra được phương trình hấp dẫn, chẳng hạn như các mô hình với sở thích Armington và các

mô hình với sự cạnh tranh độc quyền

Sau khi nghiên cứu đầu tiên của Timbergen, đã có nhiều nhà kinh tế khác áp dụng mô hình hấp dẫn với mục đích tương tự Ví dụ, Martínez-Zarzoso và Nowak Lehmann (2004) sử dụng mô hình để đánh giá thương mại Liên minh châu Âu và Mercosur, và tiềm năng thương m ại sau các thỏa thuận đạt được gần đây giữa haikhối thương mại Kết quả ước lượng cho thấy một số biến, cụ thể là, cơ sở hạ tầng, chênh lệch thu nhập, tỷ giá hối đoái được thêm vào mô hình hấp dẫn , là những yếu

tố quyết định quan trọng của dòng chảy thương mại song phương

Rahman (2009) nghiên cứu tiềm năng thương mại của Úc bằng cách sử dụng

mô hình lực hấp dẫn và xử lý dữ liệu chéo cho 50 quốc gia Kết quả của nghiên cứu

Trang 22

là thương mại song phương của Úc bị ảnh hưởng tích cực của quy mô kinh tế, GDPbình quân đầu người, sự mở cửa , ngôn ngữ chung và ảnh hưởng tiêu c ực bởikhoảng cách giữa các đối tác thương mại Các kết quả ước lượng cũng cho thấyrằng Úc có tiềm năng thương mại to lớn với Singapore, Argentina, Liên bang Nga,

Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Chile, Philippines, Na Uy, Brazil và Bangladesh Hơn nữa,bằng cách áp dụng mô hình lực hấp dẫn, Chan-Hyun Sohn (2005) phân tích dòngchảy thương mại giữa Hàn Qu ốc và Ranajoy và Tathagata (2006) giải thích xuhướng của thương mại ở Ấn Độ, Alberto (2009) xem xét mô hình hấp dẫn có thểgiải thích các hoạt động xuất khẩu của các nước trong Châu Phi không

Có một số lượng lớn các nghiên cứu sử dụng mô hình lực hấp dẫn để chỉ rarằng tổng sản phẩm trong nước (GDP), số lượng dân số, khoảng cách địa lý và vă nhóa có ảnh hưởng quan trọng đến dòng thương m ại giữa các quốc gia như nghiêncứu của Blomqvist (2004) ở Singapore và Montanari (2005) ở Balkans

2.2 Các nghiên cứu liên quan

Nghiên cứu của Thai Tri Do (2006) phân tích và xem xét mối quan hệ thươngmại song phương giữa Việt Nam và 23 quốc gia châu Âu dựa trên mô hình hấp dẫn trong thương mại và dữ liệu bảng từ năm 1993 đến 2004 Biến phụ thuộc của tác giả

là tổng kim ngạch xuất khẩu và các biến độc lập là GDP (Y), dân số (N), tỷ giá hốiđoái thực (Er), khoảng cách (D), biến giả lịch sử (His) Mô hình đươc sử dụng trongnghiên cứu này dựa trên mô hình hấp dẫn trong thương mại được đưa ra bởi Krugman và Maurice (2005) Kết quả ước lượng cho thấy các y ếu tố quyết địnhthương mại song phương giữa Việt Nam và các nước châu Âu là quy mô nền kinh

tế (GDP), quy mô thị trường (dân số) và sự biến động tỷ giá hối đoái thực Tuy nhiên, khoảng cách và lịch sử dư ờng như không có ảnh hưởng đáng kể Tác giảcũng chỉ ra rằng Việt Nam không khai thác hết tiềm năng trong kinh doanh với một

số nước Châu Âu như Áo, Phần Lan, Luxembourg Ngoài ra, đối với trường hợp của Việt Nam còn có nghiên cứu của Bac Xuan Nguyen (2010), tác giả sử dụng mô hình lực hấp dẫn đ ể phân tích hoạt động xuất khẩu của Việt Nam với 15 đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam bao gồm Úc, Canada, Trung Quốc, công nghiệp

Trang 23

Châu Âu, Hồng Kông, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, New Zealand,Philippines, Singapore, Đài Loan, Thái Lan và Hoa Kỳ (Mỹ) Mục đích của nghiêncứu là xem xét các yếu tố tác động đến xuất khẩu của Việt Nam trong khung phântích dựa trên các mô hình trọng lực hấp dẫn tĩnh và động Biến phụ thuộc là giá trịxuất khẩu (EXPO) từ Việt Nam đến khác nước trong thời gian 20 năm từ năm 1995cho đến năm 2006; biến độc lập là GDP (INC, PINC), khoảng cách (REMOT), tỷgiá hối đoái thực trung bình (EXCH) và biến giả ASEAN (ASEAN) Tác giả chorằng cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam cho thấy tầm quan trọng ngày càngtăng của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), là những điểm đến chohàng xuất khẩu Việt Nam Sự thay đổi được mang về bởi các cam kết mạnh mẽ đểthúc đẩy hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế khu vực Ngoài ra, vẫn còn nhữngthị trường ngoài ASEAN là các điểm đến chính cho xuất khẩu của Việt Nam.Nghiên cứu này trả lời những câu hỏi : tại sao lại có một sự thay đổi nhanh chóngtrong cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam? Tại sao thương mại Việt Namnhiều hơn với một nước và ít hơn với những nước khác? Mối quan hệ giữa cácthành viên ASEAN có tác động tích cực đến thương mại quốc tế của Việt Namkhông? Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam là gì? Môhình kinh tế lượng của tác giả dựa trên mô hình trọng lực hấp dẫn của McCallum(1995) với một vài điều chỉnh dựa trên Harris và Mátyas (1998) để có được một vàiđặc điểm phù hợp hơn Sau khi thực hiện hồi quy 2 mô hình hấp dẫn tĩnh và động,các tác giả thấy rằng có một sự tương quan mạnh mẽ giữa dòng chảy thương mạicủa Việt Nam với các năm trước đó, và các mô hình động phù hợp với dữ liệu hơn

mô hình tĩnh Sau khi hồi quy, các kết quả cho thấy rằng giá trị xuất khẩu từ ViệtNam đến nước khác tăng cùng với sự tăng GDP, tỷ giá hối đoái và các đối tác trongASEAN Ngược lại, chi phí vận chuyển có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động xuấtkhẩu của Việt Nam, khoảng cách địa lý ảnh hưởng tiêu cực đến kim ngạch xu ấtkhẩu Việt Nam có xu Trong các nghiên cứu của Ranajoy và Tathagata (2006) vàPeter Egger (2002) các tác giả cũng phân tích các yếu tố tác động đến kim ngạchxuất khẩu dựa vào mô hình hấp dẫn trong thương mại Cụ thể, trong nghiên cứu của

Trang 24

Ranajoy và Tathagata (2006) các tác giả muốn xem xét những yếu tố tác động đếnthương mại song phương của Ấn Độ với các đối tác chính Nghiên cứu sử dụng cácbiến số là tổng giá trị thương mại giữa Ấn độ và các đối tác song phương khác(TV), GDP của Ấn Độ và đối tác (Y), dân số của Ấn Độ và các nước đối tác (N),khoảng cách (D) Các biến giả là văn hóa, ngôn ngữ, liên kết thuộc địa Các kếtluận trong nghiên cứu này là: (1) Mô hình trọng lực cốt lõi có thể giải thích khoảng43%-50% các biến động thương mại của Ấn Độ trong nửa sau của thế kỷ XX (2)Thương mại của Ấn Độ phản ứng ít hơn với quy mô và nhiều hơn với khoảng cách(3) di sản thuộc địa vẫn là một yếu tố quan trọng trong việc xác định hướng thươngmại của Ấn Độ trong nửa sau của thế kỷ XX (4) Ấn Độ giao dịch nhiều hơn với cácnước phát triển chứ không phải là các nước kém phát triển, tuy nhiên (5) quy mô cónhiều ảnh hưởng đến quyết định thương mại của Ấn Độ hơn so với trình độ pháttriển của các đối tác thương mại Các tác giả cũng cho rằng hiệu quả của chính sáchthương mại, mối quan hệ giữa các thành viên trong các khối thương mại và WTO,

tự do hóa kinh tế của những năm 1990 và việc phân tích các biến khoảng cách làmột số trong những vấn đề cần được quan tâm khẩn cấp Ngoài việc phân tích dữliệu bảng cần phải được bổ sung bằng một phân tích dữ liệu chéo, một phân tíchtrong thời kì hội nhập để làm sắc nét các kết luận

Trong nghiên cứu Peter Egger (2002), tác giả ước lượng một mô hình dữ liệubảng giá trị xuất khẩu của các quốc gia OECD tới những nước OECD thành vên vàcác quốc gia ở phía Đông Châu Âu trong khoảng thời gian từ 1986-1997 Tác giảlập luận có 3 vấn đề cần lưu ý khi ước lượng mô hình trọng lực hấp dẫn và tính toántiềm năng thương mại Đầu tiên đó là việc ước lượng truyền thống mô hình hấp dẫntheo dữ liệu chéo thì dường như không xác định được khi những mô hình này bỏqua sự xuất hiện của hiệu ứng nhà xuất khẩu và nhập khẩu khi không kiểm tra mốiliên quan giữa chúng Ngược lại với những nghiên cứu trước đó tác giả không tìm

ra cách để lấy được thong tin từ những quan sát bị bỏ qua trong mô hình

Nghiên cứu của Martínez-Zarzoso, I và Nowak-Lehmann, D.F (2004) vềtiềm năng thương mại của MERCOSUR xuất khẩu sang EU trong giai đoạn 1988-

Trang 25

1996 áp dụng mô hình lực hấp dẫn trong thương mại thì tác giả cho rằng thu nhậpcủa quốc gia xuất khẩu, thu nhập của quốc gia nhập khẩu, dân số của quốc gia xuấtkhẩu và quốc gia nhập khẩu, cơ sở hạ tầng và tỷ giá hối đoái thực cho thấy là nhữngyếu tố quyết định quan trọng và có ý nghĩa thống kê trong tổng kim ngạch xuấtkhẩu song phương ở mô hình trọng lực hấp dẫn trong dòng thương mại songphương giữa EU và các nước MERCOSUR.

Mô hình lực hấp dẫn cũng được sử dụng trong nghiên cứu của Céline Carrere(2003) để đánh giá hậu các hiệp định thương mại ở khu vực Vai trò của các thỏathuận thương mại tự do cấp vùng (RTAs - regional trade agreements) xem xét trongnghiên cứu là: EU, NAFTA, MERCOSUR, ASEAN Tác giả sử dụng biến độc lập

là giá trị CIF của tổng các hàng hóa xuất khẩu (M) Các biến độc lập được tác giả sửdụng là GDP (Y) của nước nhập khẩu và nước xuất khẩu, dân số của nước nhậpkhẩu(N), khoảng cách địa lý giữa các quốc gia (D), mức độ cơ sở hạ tầng của nước i(j), tính theo trung bình của mật độ đường bộ, đường sắt và số lượng các đường dâyđiện thoại bình quân đầu người (IN), tỷ giá hối đoái (RER), 2 biến giả là biến L(nhận giá trị 1 nếu có chung đường biên giới đất liền), biến E (nhận giá trị 1 nếunước đó được bao quanh bởi đất liền) Ước lượng dữ liệu bảng với mô hìnhRandom effect cho thấy điều hợp lý về mặt thống kê sau khi khắc phục các vấn đềnội sinh của thu nhập, quy mô, cơ sở hạ tầng…

Nói chung, những phát hiện của nghiên cứu này, bao gồm bảy RTAs, cho thấyrằng hầu hết các RTAs đều dẫn đến gia tăng thương mại nội vùng và giảm nhậpkhẩu từ các quốc gia khác Nghiên cứu của Tiiu Paas (2000) phân tích các trườnghợp sử dụng cách tiếp cận mô hình trọng lực hấp dẫn để mô hình hóa luồng thươngmại quốc tế và phân tích các mô hình thương mại quốc tế của Estonia Kết quả củaviệc sử dụng mô hình hấp dẫn để khám phá mô hình thương mại quốc tế củaEstonia cũng chỉ ra rằng khu vực Biển Baltic đóng một vai trò quan trọng trong việcphát triển quan hệ thương mại nước ngoài của Estonia, đặc biệt là cho phát triểnxuất khẩu của Estonia Phát triển xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu mới lànhững ưu tiên chính trong thương mại nước ngoài của Estonia nhằm ngăn chặn sự

Trang 26

tăng chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu.

Trường hợp của Việt Nam cũng có các nghiên cứu sử dụng mô hình lực hấpdẫn để phân tích dòng chảy thương mại giữa Việt Nam và các đối tác chính nhưnghiên cứu của Thanh Thuy Nguyen và Jean-Louis Arcand (2009) và Nguyen K.Doanh và Yoon Heo (2009) Hai nghiên cứu này chỉ ra các quốc gia có một mốiliên hệ xã hội như có chung một ngôn ngữ, hay có một mối quan hệ thuộc địa sẽgiúp những nhà nhập khẩu sản phẩm đồng nhất hiểu rõ về chất lượng và danh tiếngcủa các nhãn hiệu sản phẩm khác nhau Các nước cũng có xu hướng thương mạinhiều hơn với những nước có quan hệ thuộc địa vì quen thuộc hơn với các hình thức

và văn hóa kinh doanh Khoảng cách thương mại vẫn còn là một trở ngại đối vớithương mại và hội nhập và toàn cầu hóa đã tăng cường thông tin liên lạc, phá vỡnhững rào cản văn hóa, và tạo điều kiện giao dịch Tuy nhiên, chúng đã không làmgiảm tầm quan trọng của khoảng cách vật lý Khoảng cách vẫn còn là một rào cảnđối với thương mại mặc dù đổi mới công nghệ tiếp tục châm ngòi cho giảm chi phívận chuyển Các nước nói ngôn ngữ phổ biến có xu hướng giao dịch thương mạinhiều hơn vì tạo thuận lợi cho các giao dịch dễ dàng hơn và giảm chi phí kinhdoanh

Cuối cùng, sự khác biệt về thu nhập bình quân đầu người giữa các đối tác kinhdoanh tiếp tục có tác động tiêu cực đến thương mại song phương Tương tự nhưvậy, các nhà xuất khẩu cũng xuất khẩu nhiều hơn tới những quốc gia có mối liên kết

xã hội Các tác giả cũng kết luận rằng tổng giá trị xuất khẩu của các loại hàng hóa bịcản trở bởi khoảng cách địa lý giữa các quốc gia Trong nghiên cứu của JacobBikker (2009) cho rằng các mô hình lực hấp dẫn truyền thống đã được áp dụngnhiều lần để phân tích các luồng thương mại quốc tế Tuy nhiên, có nó thiếu mộtnền tảng lý thuyết có sức thuyết phục Một mô hình mới được phát triển, mô hìnhtrọng lực mở rộng (EGM) Mô hình này chia sẻ đặc điểm của các mô hình củaBergstrand (1985), Andersen và Van Wincoop (2003), Redding và Scott (2003).Nghiên cứu này trình bày một thay thế cho các mô hình lực hấp dẫn, hay đúng hơn

là một phần mở rộng của nó, với thay thế giữa các luồng thương mại Mô hình này

Trang 27

có thể được rút ra được từ phương trình cung cầu, trong đó cung cấp cho mô hình một cơ sở lý thuyết.

Mô hình hấp dẫn mở rộng (EGM) được chứng minh là một phần mở rộng hữuích của mô hình lực hấp dẫn truyền thống Một thử nghiệm năm 2005 trên nhữngcon số của luồng thương mại quốc tế khá thuyết phục Ngoài ra, EGM cung cấp cácgiá trị chỉ số của vị trí địa kinh tế-thương mại cho tất cả các nước có liên quan, cả

sự hấp dẫn của thị trường bán hàng của một quốc gia, khoảng cách đến các nướcnhập khẩu tương ứng, và sự hấp dẫn đến hàng hoá từng nước được cung cấp bởi cácnước xuất khẩu tương ứng

Nghiên cứu của H Mikael Sandberg (2004) ước lượng tác động của liên kếtkhu vực (ví dụ các thỏa thuận thương mại khu vực) và các mối liên kết lịch sử (tức

là quan hệ thuộc địa) trên mô hình thương mại ở phương Tây bằng cách sử dụng môhình trọng lực hấp dẫn của thương mại quốc tế Việc ước lượng được thực hiện ởcấp độ thương mại tổng hợp cũng như vào mức độ phân tách bằng cách sử dụng dữliệu thương mại tương ứng với sản phẩm thực phẩm và hàng hóa sản xuất Tác giả

sử dụng các biến số X (giá trị xuất khẩu được tính bằng đồng đô la Mỹ), Y( tổngsản phẩm quốc nội tại thời điểm t), N( dân số của một nước tại thời điểm t), D(khoảng cách được tính bằng số kilomet giữa thủ đô 2 nước), Remoteness là khoảngcách tương đối của một quốc gia với các đối tác kinh doanh của mình ( được đolường bằng trọng số tương ứng trong GDP của thế giới tại thời điểm t), Border(nhận giá trị 1 nếu 2 quốc gia có chung đường biên giới), Language (nhận giá trị 1nếu nói chung ngôn ngữ), UK Colony (nhận giá trị 1 nếu như nước đó là đối tácthương mại của Mỹ, những nước là thuộc địa của Anh), Spain Colony ( nhận giá trị

1 nếu một trong những đối ác thương mại là Tây Ban Nha và những nước là thuộcđịa của Tây Ban Nha), Portugal Colony ( nhận giá trị 1 nếu những một trong các đốitác thương mại là Bồ Đào Nha hoặc những quốc gia là thuộc địa của Bồ Đào Nha),NAFTA, Caricom, Mercosur, Andean Pact, và Cacm đo lường những ảnh hưởngcủa bất kỳ mối liên hệ do tham gia vào một hiệp định thương mại khu vực ( nhậngiá trị 1 nếu cả hai cùng là thành viên của một hiệp hội, EU Importer ( nhận giá trị 1

Trang 28

nếu nước nhập khẩu là thành viên của EU) Kết quả của nghiên cứu cho thấy cả mốiliên kết khu vực và lịch sử đều có ảnh hưởng đáng kể đến mô hình thương mại củacác nền kinh tế phương Tây Các bằng chứng cho thấy mô hình thương mại của cácnền kinh tế nhỏ thì bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi các mối liên kết so với các nền kinh

tế lơn hơn Liên kết khu vực có ý nghĩa giữa các nước trong cộng đồng NAFTA,Mercosur Các bằng chứng cho thấy những biến dạng đáng kể của mô hình thươngmại do liên kết khu vực và lịch sử là có tồn tại Dường như các nền kinh tế nhỏ dễtiếp nhận những ảnh hưởng của chủ nghĩa khu vực hơn những nước lớn hơn và cáclĩnh vực thực phẩm bị ảnh hưởng nhiều bởi biến dạng hơn so với các ngành sảnxuất hàng hoá

Bảng 2.1 Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm

Dữ liệu bảng

từ năm 1993đến 2004 giữa Việt Nam và 23quốc gia châu Âu

Các yếu tố quyết định thương mạisong phương giữa Việt Nam và các nước châu Âu là quy mô nền kinh tế (GDP), quy mô thị trường (dân số) và sự biến động tỷ giá hối đoái thực Tuy nhiên, khoảng cách và lịch sử dường như không

Giá trị xuất khẩu từ ViệtNam đến khác nước trong thời gian 20 năm

từ năm 1995

Các kết quả cho thấy rằng giá trị xuất khẩu từ Việt Nam đến nước khác tăng cùng với sự tăng GDP,

tỷ giá hối đoái và các đối tác trong ASEAN Khoảng cách địa

lý ảnh hưởng tiêu cực đến kim ngạch xuất khẩu Việt Nam có xu

Trang 29

cho đến năm2006

hướng xuất khẩu nhiều hơn vớinước gần Việt Nam hơn về mặtđịa lý

Độ có quan

hệ thương mại ít nhất 1lần từ 1950-2000

Tổng số 177 nước mà Ấn

Độ đã có quan hệ thương mại ítnhất một lần

từ năm 1950 đến năm

2000 Tổng

số quan sát được sử dụngtrong hồi quy

là 3990

(1) Mô hình trọng lực cốt lõi có thể giải thích khoảng 43%-50% các biến động thương mại của Ấn

Độ (2) Thương mại của Ấn Độ phản ứng ít hơn với quy mô và nhiều hơn với khoảng cách (3) di sản thuộc địa vẫn là một yếu tố quan trọng trong việc xác định hướng thương mại của Ấn Độ trong nửa sau của thế kỷ XX (4)

Ấn Độ giao dịch nhiều hơn với các nước phát triển (5) quy mô cónhiều ảnh hưởng đến quyết định thương mại của Ấn Độ hơn so vớitrình độ phát triển của các đối tác thương mại

Egger

(2002)

Hồi quy dữ liệu bảng củacác nước OECD từ 1986-1997

Dữ liệu bảnggiá trị xuất khẩu của cácquốc gia OECD tới những nước OECD thànhviên và các quốc gia ở

Việc ước lượng truyền thống mô hình hấp dẫn theo dữ liệu chéo thìdường như không xác định được khi những mô hình này bỏ qua sựxuất hiện của hiệu ứng nhà xuất khẩu và nhập khẩu khi không kiểm tra mối liên quan giữa chúng Ngược lại với những nghiên cứu trước đó tác giả

Trang 30

phía Đông Châu Âu trong khoảngthời gian từ 1986-1997

không nhận thấy có cách gì để lấyđược thông tin về những dòng chảy thương mại tiềm năng trong mẫu được tiếp cận

Xuất khẩu của

MERCOSURsang EU trong giai đoạn 1988-1996

Thu nhập của quốc gia xuất khẩu,thu nhập của quốc gia nhập khẩu,dân số của quốc gia xuất khẩu và quốc gia nhập khẩu, cơ sở hạ tầng

và tỷ giá hối đoái thực cho thấy lànhững yếu tố quyết định quan trọng và có ý nghĩa thống kê trong tổng kim ngạch xuất khẩu song phương Bảo hộ của EU đã

có những ảnh hưởng tiêu cực trong tăng trưởng kim ngạch xuấtkhẩu của MERCOSUR

Carrere

(2003)

Ước lượng GLS cùng với sử dụngFEM

Dữ liệu gồm

130 quốc giatrong giai đoạn 1962-1996

Những phát hiện của nghiên cứu này, bao gồm bảy RTAs, cho thấyrằng hầu hết các RTAs đều dẫn đến gia tăng thương mại nội vùngvượt quá mức dự đoán của mô hình lực hấp dẫn, thường đi kèm với việc giảm nhập khẩu từ các phần còn lại của thế giới cùng vớiviệc giảm xuất khẩu sang các phần còn lại của thế giới, cho

Trang 31

thấy bằng chứng về sự chệchhướng thương mại.

7 Tiiu Paas

(2000)

Hồi quy dữliệu bảng cho 46 đối tác thương mại của Estonia

Dữ liệu của

46 đối tác thương mạichính của Estonia

Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng khu vực Biển Baltic đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển quan hệ thương mại nước ngoài của Estonia, đặc biệt

là cho phát triển xuất khẩu của Estonia Phát triển xuất khẩu và

mở rộng thị trường xuất khẩu mới

là những ưu tiên chính trong thương mại nước ngoài của Estonia nhằm ngăn chặn sự tăng chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu

Dữ liệu bao gồm 66 quốcgia giao dịchtrong năm 2000

Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc

có một mối liên hệ xã hội như có chung một ngôn ngữ, hay có một mối quan hệ thuộc địa sẽ giúp những nhà nhập khẩu sản phẩm đồng nhất hiểu rõ về chất lượng

và danh tiếng của các nhãn hiệu sản phẩm khác nhau Vì vậy, nhà nhập khẩu có khuynh hướng nhậpkhẩu nhiều hơn từ những quốc gia

mà họ hiểu rõ Tương tự như vậy, các nhà xuất khẩu cũng xuất khẩu nhiều hơn tới những quốc

Trang 32

gia có mối liên kết xã hội.

và mở rộng (EGM)

Nghiên cứu

sử dụng kim ngạch xuất khẩu của 178quốc gia trong năm 2005

Mô hình hấp dẫn mở rộng (EGM)cung cấp các giá trị chỉ số của vị trí địa kinh tế-thương mại cho tất

cả các nước có liên quan, cả sự hấp dẫn của thị trường bán hàng của một quốc gia, khoảng cách đến các nước nhập khẩu tương ứng, và sự hấp dẫn đến hàng hoá từng nước được cung cấp bởi các nước xuất khẩu tương ứng

Dữ liệu hàng năm bao gồm

22 quốc gia Việt Nam và Singapore có quan hệ thương mại

từ 1990-2005

Thương mại đã không tăng lên ngay lập tức vì sự khác biệt về mức thu nhập, cơ sở hạ tầng và chính sách thương mại (ví dụ nhưthuế quan) Khoảng cách thương mại vẫn còn là một trở ngại đối với thương mại dòng Khoảng cách vẫn còn là một rào cản đối với thương mại mặc dù đổi mới công nghệ tiếp tục châm ngòi chogiảm chi phí vận chuyển Các nước nói ngôn ngữ phổ biến có

xu hướng giao dịch thương mại nhiều hơn Các nước cũng có xu hướng thương mại nhiều hơn với những nước có quan hệ thuộc địa

vì quen thuộc hơn với các hình

Trang 33

thức và văn hóa kinh doanh Sự khác biệt về thu nhập bình quân đầu người giữa các đối tác kinh doanh tiếp tục có tác động tiêu cực đến thương mại song phương.

11 H Mikael

Sandberg

(2004)

Hồi quy dữliệu của 64quốc gia từ1992-2000

Dữ liệu bao gồm khoảngthời gian chín năm 1992-2000

Có tổng cộng

64 quốc gia trong mẫu

Kết quả của nghiên cứu cho thấy

cả mối liên kết khu vực và lịch sửđều có ảnh hưởng đáng kể đến

mô hình thương mại của các nền kinh tế phương Tây Các bằng chứng cho thấy mô hình thương mại của các nền kinh tế nhỏ thì bịảnh hưởng nhiều hơn bởi các mốiliên kết so với các nền kinh tế lơnhơn Liên kết khu vực có ý nghĩa giữa các nước trong cộng đồng Caribbean, NAFTA, Mercosur.Các bằng chứng cho thấy nhữngbiến dạng đáng kể của mô hình thương mại do liên kết khu vực

và lịch sử là có tồn tại

Kết

luận chương 2 : Dựa vào lý thuyết của các trường phái kinh tế học trong phân

tích luồng thương mại quốc tế và các nghiên cứu thực nghiệm sử dụng mô hình hấpdẫn trong thương mại, hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm đều sử dụng các yếu tốcung, cầu lựa chọn các biến đại diện như dân số, GDP…, các yếu tố hấp dẫn/cản trở

sử dụng các biến đại diện như độ mở của nền kinh tế, khoảng cách địa lý, khoảngcách kinh tế, các biến giả của hoạt động cùng là thành viên của các hiệp hội, cáckhu vực mậu dịch tự do Nghiên cứu này cũng sẽ dựa trên nền tảng lý thuyết và cácnghiên cứu trên để làm tiền đề cho mô hình kinh tế lượng được sử dụng

Trang 34

Nhóm yếu tố ảnh hưởng đến cung

Năng lực sản xuất của nước xuất khẩu

Chính sách khuyến khích, quản lý xuất

khẩu

Các yếu tố ảnh

hưởng đến luồng thương

Khoảng cách giữa hai quốc gia

Kim ngạch xuất khẩu

Chính sách khuyến khích, quản lý nhập khẩu

Nhóm yếu tố ảnh

CHƯƠNG 3: MÔ TẢ DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 3.1 Khung phân tích

Hình 3.1 Khung phân tích của nghiên cứu 3.2Xây dựng mô hình nghiên cứu

Trong hầu hết các nghiên cứu đều sử dụng mô hình hấp dẫn trong thương mại đượcđưa ra bởi Tinbergen (1962) và Poyhonen (1963) như sau :

Trang 35

𝑇𝑇𝑇𝑇𝑇𝑇𝑇𝑇𝑇𝑇𝑖𝑖𝑖𝑖 =

𝛼𝛼 ∗ 𝐺𝐺𝐷𝐷𝐺𝐺𝑖𝑖 ∗𝐺𝐺𝐷𝐷𝐺𝐺𝑖𝑖

𝐷𝐷𝑖𝑖𝐷𝐷𝐷𝐷𝑇𝑇𝐷𝐷𝐷𝐷𝑇𝑇𝑖𝑖𝑖𝑖Trong mô hình này, mối quan hệ thương mại giữa 2 quốc gia được đo lường bằngGDP của mỗi quốc gia và khoảng cách giữa chúng Sau đó Frankel (1997) đã pháttriển mô hình này bằng cách thêm các biến giả như có chung đường biên giới, haybiến có chung ngôn ngữ Do đó, dựa vào những lý thuyết ở chương II, nghiên cứunày lựa chọn mô hình hấp dẫn trong thương mại để định lượng thương mại của ViệtNam với các quốc gia trong giai đoạn 2003-2013 Mô hình áp dụng trong nghiêncứu này dựa trên mô hình hấp dẫn trong thương mại được đưa ra bởi Krugman vàMaurice (2005)

Mô hình kinh tế lượng đề xuất:

𝑙𝑙𝐷𝐷𝑄𝑄𝑄𝑄𝑇𝑇𝐷𝐷𝐷𝐷𝑖𝑖𝐷𝐷𝑄𝑄𝑣𝑣𝑖𝑖𝐷𝐷

= 𝛽𝛽𝑜𝑜 + 𝛽𝛽1𝑙𝑙𝐷𝐷𝐺𝐺𝑇𝑇𝑖𝑖𝐷𝐷𝑇𝑇𝑖𝑖𝐷𝐷 + 𝛽𝛽2 𝐺𝐺𝑇𝑇𝑖𝑖𝐷𝐷𝑇𝑇 ∗ 𝐷𝐷𝑖𝑖𝐷𝐷𝐷𝐷𝑇𝑇𝐷𝐷𝐷𝐷𝑇𝑇 + 𝛽𝛽3 ln (𝐺𝐺𝐷𝐷𝐺𝐺𝑖𝑖𝐷𝐷 )+ 𝛽𝛽4𝑙𝑙𝐷𝐷𝐺𝐺𝑙𝑙𝐺𝐺𝑖𝑖𝐷𝐷 + 𝛽𝛽5 ln (𝐸𝐸𝐷𝐷𝑖𝑖𝐷𝐷𝐷𝐷𝑇𝑇𝐷𝐷𝐷𝐷𝑇𝑇) + 𝛽𝛽6 𝑙𝑙𝑂𝑂𝑇𝑇𝐷𝐷𝑖𝑖𝐷𝐷 ∗ 𝑙𝑙𝑂𝑂𝑇𝑇𝐷𝐷𝑣𝑣𝐷𝐷 +

𝛽𝛽7𝑊𝑊𝑇𝑇𝑙𝑙+ 𝛽𝛽8𝐹𝐹𝑇𝑇𝐴𝐴 + 𝜇𝜇𝑖𝑖𝐷𝐷

Trong đó 𝛽𝛽𝑜𝑜 = lnA,𝜇𝜇𝑖𝑖𝐷𝐷 là số hạng sai số, thể hiện tác động của các biến bị bỏ qua

(uit thay đổi theo thời gian và không gian)

3.3Xác định và mô tả các biến số

3.3.1 Biến phụ thuộc

Biến phụ thuộc của mô hình là sản lượng cà phê Việt Nam xuất khẩu sang quốc gia

i vào năm t (𝑄𝑄𝑄𝑄𝑇𝑇𝐷𝐷𝐷𝐷𝑖𝑖𝐷𝐷𝑄𝑄𝑣𝑣𝑖𝑖𝐷𝐷 ) Đơn vị tính là nghìn tấn

Trang 36

Do (2006), Đào Ngọc Tiến (2009) cũng chỉ ra tác động cùng chiều của GDP đến kim ngạch xuất khẩu Nghiên cứu kỳ vọng dấu cho biến thu nhập là cùng chiều.

b Dân số của nước nhập khẩu (𝑮𝑮𝑷𝑷𝑮𝑮𝒊𝒊𝒊𝒊): ảnh hưởng đến lư ợng cầu nhập khẩu củaquốc gia Quốc gia có đông dân số thì lượng cầu hàng hóa tương đối lớn Cácnghiên cứu của Đào Ngọc Tiến (2009), Thai Tri Do (2006) chỉ ra rằng dân số nước nhập khẩu có tác động tích cực lên xuất khẩu Trong nghiên cứu của Céline Carrere(2003) và Jacob A Bikker(2009) khi kết quả cho thấy tác động ngược chiều của dân số nước nhập khẩu lên giá trị xuất khẩu Trong nghiên cứu của Martínez

- Zarzoso và Felicitas Nowak -Lehmann D (2003) chỉ ra tác động ngược chiều của dân số đến xuất khẩu Tuy nhiên trong nghiên cứu của K Doanh Nguyen và Yoon Heo(2009) , H.Mkael Sandberg(2004) thì dân số và xuất khẩu có mối quan hệcùng chiều

c Biến giả (WTO và FTA)

Khi các quốc gia tham g ia vào khu vực mậu dịch tự do , ký kết các hiệp định thương mại sẽ tạo điều kiện cho luồng thương mại quốc tế , tăng kim ngạch xuất khẩu Các nghiên cứu của Céline Carrer (2003) cho rằng giá trị trao đổi thương mại song phương sẽ chịu tác động có cả tích cực và tiêu cực khi tham gia vào một khối kinh tế Trường hợp Việt Nam thì nghiên cứu của K Doanh Nguyen và Yoon Heo(2009) chỉ ra tác động của việc tham gia AFTA trong ASEAN tới xuất khẩu củaViệt Nam tới các nước trong khối là tích cực Trong nghiên cứu biến giả WTO nhậngiá trị 1 nếu Việt Nam và quốc gia i đề là thành viên của Tổ chức thương mại thếgiới vào năm t, nhận giá trị 0 nếu Việt Nam hoặc quốc gia đó không phải là thành viên của WTO trong năm t, biến giả FTA nhận giá trị 0 nếu nước j chưa tham gia hiệp định thương mại tự do với Việt Nam tính đến năm t, nhận giá trị 1 nếu có hiệp định thương mại tự do trước hoặc từ năm t

d Khoảng cách giữa các quốc gia

- Biến tương tác giữa giá và khoảng cách địa lý (PriceDistance)

+ Cách đo lường giá cà phê xuất khẩu:

Trang 37

𝐺𝐺𝑇𝑇𝑖𝑖𝐷𝐷𝑇𝑇𝑣𝑣𝑖𝑖𝐷𝐷 =

𝑇𝑇𝑇𝑇𝑇𝑇𝑇𝑇𝑇𝑇 𝑣𝑣𝑇𝑇𝑙𝑙𝑄𝑄𝑇𝑇𝑣𝑣𝑖𝑖𝐷𝐷

𝑁𝑁𝑇𝑇𝐷𝐷 𝑤𝑤𝑇𝑇𝑖𝑖𝑤𝑤ℎ𝐷𝐷𝑣𝑣𝑖𝑖𝐷𝐷Trong đó : Trade value là trị giá xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang nước i trongnăm t, và net weight là khối lượng cà phê được xuất khẩu

Trong rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả như Blomqvist (2004) ởSingapore và Montanari (2005) ở Balkans , Céline Carrer (2003), Đào Ngọc Tiến(2009) cho rằng yếu tố khoảng cách địa lý thự c sự có ảnh hưởng đáng kể đến luồng thương mại giữa các quốc gia Yếu tố này ảnh hưởng đến cước phí vận chuyển, rủi ro trong quá trình vận chuyển , phương thức vận chuyển Trong nghiêncứu của Nguyễn Thanh Thủy và Jean-Louis Arcand(2009) chỉ ra yếu tố khoảng cách có tác động tiêu cực đến xuất khẩu nhóm hàng đồng nhất Trong

mô hình lực hấp dẫn mở rộng được đưa ra bởi Jacob Bikker (2009), mô hình này

có thể được rút ra được từ phương trình cung cầu, từ đó, giá cả có thể ảnh hưởng đến lượng cung từ đó ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu của nước xuất khẩu

- Khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế (EDistance)

+Cách đo lường khoảng cách kinh tế trong nghiên cứu :

𝐸𝐸𝐷𝐷𝑖𝑖𝐷𝐷𝐷𝐷𝑇𝑇𝐷𝐷𝐷𝐷𝑇𝑇 = |𝐺𝐺𝐷𝐷𝐺𝐺𝐺𝐺𝐺𝐺𝑖𝑖𝐷𝐷 − 𝐺𝐺𝐷𝐷𝐺𝐺𝐺𝐺𝐺𝐺𝑣𝑣𝐷𝐷 |Trong đó : GDPPC là GDP bình quân đầu người của một quốc gia

Trong nghiên cứu của Egger (2000), Matínez-Zarzoso và Felicitas Nowak-Lehmann

D ( 2003) chỉ ra rằng yếu tố khoảng cách kinh tế có cả tác động cùng chiều và ngược chiều đến giá trị thương mại của các quốc gia Sự tương đồng về trình độ phát triển kinh tế có thể gây cản trở hoặc hấp dẫn đối với luồng thương mại giữa hai nước

Trang 38

tuyệt đối của Adam Smith (1776), lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo(1815), Lý thuyết Heckscher – Ohlin (1919), lý thuyết thương mại mới của PaulKrugman (1979), Lancaster (1980), Helpman (1981) Chính sách ngoại thương càngtheo hướng tự do hóa, thì độ mở của nền kinh tế càng lớn Trong nghiên cứu, độ mởcủa nền kinh tế được tính bằng công thức:

∑𝑖𝑖 𝑇𝑇𝑇𝑇𝑇𝑇𝑇𝑇𝑇𝑇𝑇𝑇𝑇𝑇𝑙𝑙𝑄𝑄𝑇𝑇

𝑙𝑙𝑂𝑂𝑇𝑇𝐷𝐷𝑇𝑇𝐷𝐷𝐷𝐷𝑖𝑖𝐷𝐷 = 𝐺𝐺𝐷𝐷𝐺𝐺𝑖𝑖𝐷𝐷

Bảng 3.1Tóm tắt biến và nguồn dữ liệu

Quantity

Kim ngạch xuất khẩu cà phêtới nước i nhập khẩu cà phêcủa Việt Nam trong năm t

UN COMTRADE

GDP, POP GDP, dân số nước i tại năm t Số liệu thống kê của

WorldBank

Cùng chiều(+)

Price*Distance

Khoảng cách đại diện cho chi phí vận chuyển khi tham gia vào thương mại quốc tế Trong đó khoảng cách địa lý được tính bằng số kilomet từ Thủ đô Hà Nội đến thủ đô củaquốc gia i

Dữ liệu từ website:

www.chemical- ecology.net

Ngược chiều(-)

Price Giá cà phê xuất khẩu của Việt

Nam tới quốc gia i ở năm t

Tính toán từ trị giá xuấtkhẩu và khối lượng xuấtkhẩu

Ngược chiều(-)

EDistance Khoảng cách kinh tế giữa Việt

Nam và nước i trong năm t

Số liệu thống kê củaWorldBank

Ngược chiều(-)

Trang 39

Cùng chiều(+)

WTO Biến giả (thành viên của tổ

chức Thương mại thế giới) Dữ liệu từ WTO

Cùng chiều(+)

Openi*Openvn Độ mở của nền kinh tế Số liệu thống kê của

WorldBank

Ngược chiều(-)

3.4 Xử lý số liệu

3.4.1 Mô hình hồi quy dữ liệu bảng

Ưu điểm của dữ liệu bảng

Dữ liệu bảng là sự kết hợp của dữ liệu chéo và dữ liệu chuỗi thời gian Sử dụng dữliệu bảng có hai ưu điểm lớn như:

Dữ liệu bảng cho các kết quả ước lượng các của tham số trong mô hình tin cậy hơn;Theo Li và cộng sự (1998), hồi quy dữ liệu chéo đòi hỏi một giả thiết rất hạn chếliên quan đến mối quan hệ giữa những thay đổi riêng của từng quốc gia (từng tỉnh,thành phố) với các biến giải thích trong mô hình

Dữ liệu bảng cho phép xác định và đo lường tác động mà những tác động nàykhông thể được xác định và đo lường khi sử dụng sử dụng chéo hoặc dữ liệu thờigian Dữ liệu bảng có thể phát hiện và đo lường tốt hơn các tác động không thểquan sát được trong dữ liệu chuỗi thời gian hay dữ liệu chéo thuần túy Đồng thời

dữ liệu bảng cũng cung cấp một bộ dữ liệu chứa nhiều thông tin hữu ích hơn, tínhbiến thiên nhiều hơn, ít hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến hơn, nhiều bậc tự dohơn và hiệu quả cao hơn

Các mô hình ước lượng hồi quy dữ liệu bảng

Trang 40

Theo Yaffee (2003), có ba loại mô hình phổ biến trong các phân tích hồi quy dữliệu bảng là: (1) Mô hình hồi quy thuần túy (pooled OLS), (2) Mô hình các hiệu ứng

cố định (FEM) và (3) Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM)

Mô hình hồi quy gộp (pooled OLS):

Mô hình hồi quy thuần túy là mô hình hồi quy trong đó tất cả các hệ số đềukhông thay đổi theo thời gian và giữa các cá nhân, không xét đến sự tồn tại củanhững hiệu ứng đặc thù theo không gian và thời gian của dữ liệu và chạy mô hìnhhồi quy theo phương pháp bình thường nhỏ nhất thông thường (OLS)

𝑌𝑌𝑖𝑖𝐷𝐷 = 𝛽𝛽1 + 𝛽𝛽2 𝑋𝑋1𝑖𝑖𝐷𝐷 + 𝛽𝛽3 𝑋𝑋2𝑖𝑖𝐷𝐷 + 𝑄𝑄𝑖𝑖𝐷𝐷Tuy nhiên, ràng buộc các hệ số không thay đổi theo thời gian và giữa các cá nhânrất khó xảy ra trong thực tế Đồng thời nhược điểm lớn nhất của mô hình này là hệ

số Durbin – Watson thường khá nhỏ (bé hơn 1) nên rất dễ xảy ra hiện tượng tựtương quan trong dữ liệu

Mô hình các hiệu ứng cố định (FEM)

Mô hình các hiệu ứng cố định (FEM) khác mô hình hồi quy gộp (pooled OLS) ởchỗ các hệ số độ dốc không đổi nhưng tung độ gốc thay đổi giữa các cá nhân:

𝑌𝑌𝑖𝑖𝐷𝐷 = 𝛽𝛽1𝑖𝑖 + 𝛽𝛽2 𝑋𝑋1𝑖𝑖𝐷𝐷 + 𝛽𝛽3 𝑋𝑋2𝑖𝑖𝐷𝐷 + 𝑄𝑄𝑖𝑖𝐷𝐷Giả thiết có sự tương quan giữa phần dư với các biến giải thích

Hiệu ứng cố định ở đây có nghĩa là mặc dù tung độ gốc có thể khác nhau giữacác cá nhân, nhưng mỗi tung độ gốc của các cá nhân không thay đổi theo thời gian.Điều này có thể được khắc phục bằng cách sử dụng các biến giả tung độ gốc chênhlệch để thay thế các biến bị bỏ qua, nhằm nắm bắt được những đặc điểm riêng biệttheo không gian của các quan sát Mô hình này còn được gọi là mô hình hồi quybiến giả bình phương nhỏ nhất FEM có thể kiểm soát và tách ảnh hưởng của cácđặc điểm riêng biệt (không đổi theo thời gian) này ra khỏi các biến giải thích để cóthể ước lượng những ảnh hưởng thực của các biến giải thích lên biến phụ thuộc

Ngày đăng: 11/05/2021, 11:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w