Trung Tâm Dân số - KHHGĐ huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang TÓM TẮT Nghiên cứu được tiến hành bằng cách phỏng vấn trực tiếp 880 phụ nữ 15-49 tuổi có chồng tại huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang, bằng
Trang 1TÌNH HÌNH SINH CON THỨ BA TRỞ LÊN Ở PHỤ NỮ TRONG ĐỘ TUỔI SINH
ĐẺ TẠI HUYỆN XÍN MẦN NĂM 2017 Lèng Thúy Nhịp, Vương Minh Hiệu, Ly Văn Tiếp Trung Tâm Dân số - KHHGĐ huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang
TÓM TẮT
Nghiên cứu được tiến hành bằng cách phỏng vấn trực tiếp 880 phụ nữ 15-49 tuổi có chồng tại huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang, bằng phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp định tính với mục tiêu tìm hiểu thực trạng sinh con thứ ba và các yếu tố liên quan đến việc sinh con thứ ba trở lên Qua đó kiến nghị các giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu giảm sinh và giảm con thứ ba trở lên
Điều tra tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên tại huyện Xín Mần năm 2017 là 25.5% Lý do sinh con thứ ba trở lên có liên quan đến yếu tố tâm lý xã hội, muốn có con trai chiếm tỷ lệ cao nhất 41,1% Có nhiều yếu tố liên quan đến việc sinh con thứ 3 trở lên của các cặp vợ chồng như nhóm tuổi phụ nữ, độ tuổi kết hôn, trình độ học vấn, nghệ nghiệp, tỷ lệ áp dụng các Biện pháp tránh thai
Kết quả nghiên cứu cho thấy cần tiếp tục đẩy mạnh hoạt động truyền thông chuyển đổi hành vi về Dân số-KHHGĐ, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ KHHGĐ, đồng thời cần làm cho mọi công dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình trong việc thực hiện Pháp lệnh Dân số
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghị quyết 04-NQ/HNTW ngày 14 tháng 10 năm 1993 của Hội nghị lần thứ tư Ban
chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VII đã chỉ rõ: “Công tác Dân số
-Kế hoạch hoá gia đình là một bộ phận của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội”
Trong những năm qua cùng với thực hiện tốt công tác chăm sóc sinh sản, huyện Xín Mần đã có nhiều nỗ lực để đạt được mục tiêu của chiến lược Dân số chung của cả nước, quy mô dân số huyện hiện 116.226 người, tổng tỷ suất sinh là 15,6%o, tỷ lệ tăng dân số 1,2%, tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại Nhìn chung tốc độ gia tăng dân số của huyện đã từng bước được khống chế, sự điều chỉnh quy mô dân số này đã góp phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế và đã tiết kiệm được một khối lượng lớn các nguồn lực mà lẽ ra phải chi cho ăn ở, đi lại, giáo dục, y tế, việc làm
Tuy nhiên, công tác thực hiện chính sách Dân số - Kế hoạch hoá gia đình trên địa bàn huyện Hương Trà trong những năm qua vẫn có những khó khăn, thách thức: mức sinh giảm chậm, tỷ lệ sinh con thứ ba tuy có giảm nhưng còn ở mức cao chiếm 25,6% và có xu hướng gia tăng ở một số địa phương, còn khoảng 30% cặp vợ chồng trong độ tuổi 15-49 chưa thực hiện biện pháp tránh thai Tình hình này đã gây khó khăn khi thực hiện chính sách về Dân số
-Kế hoạch hoá gia đình, ảnh hưởng đến mục tiêu đạt mức sinh thay thế, làm cản trở phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân
Xuất phát từ tình hình trên, chúng tôi thực hiện đề tài "Tình hình sinh con thứ ba trở lên ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tại huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang” nhằm để đạt
được mục tiêu như sau:
a Xác định tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tại huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên-Huế
b Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến việc sinh con thứ ba trở lên
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
1
Trang 2Đối tượng nghiên cứu là tất cả phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ từ 15 - 49 tuổi có chồng tại các xã được chọn mẫu tính đến ngày 31 tháng 10 năm 2017 (tức là phụ nữ sinh từ 1968 đến 2002) tại huyện Hương Trà
2 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 4 năm 2017 đến tháng 10 năm 2017
3 Phương Pháp nghiên cứu
3.1.Thiết kế nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang
3.2 Chọn cỡ mẫu nghiên cứu
Dùng công thức tính cỡ mẫu để tính tỷ lệ điều tra ngang
Ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với một mức độ chính xác tương đối:
n = Z2 α/2 x (12 )
d
p p
Với độ tin cậy 95% => Z2 α/2 = 1,96
d: Sai số chọn mẫu chấp nhận = 0,03
p: Tỷ lệ ước lượng p = 0,2560 làm giá trị ước đoán
n: Cỡ mẫu cần tìm
2
2
03 , 0
) 256 , 0 1 ( 256 , 0 96 ,
n
Từ đó tính được n = 813
Để dự phòng trong quá trình điều tra phỏng vấn, mẫu điều tra sẽ được tăng thêm 10% và cho tròn số Như vậy, dự phòng khoảng 87 người nên cỡ mẫu nghiên cứu là 900 người Thực tế trong quá trình điều tra, chúng tôi tiếp cận được 880 đối tượng
3.3 Xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được xử lý trên phần mềm EPI INFNO 6.04b của Tổ chức Y tế Thế giới và sử dụng thuật toán thống kê để phân tích kết quả
III KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Qua phỏng vấn điều tra 880 phụ nữ 15-49 tuổi có chồng về tình hình thực hiện kế hoạch hóa gia đình và các yếu tố liên quan đến việc sinh con thứ ba trở lên ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế chúng tôi có nhận xét và bàn luận như sau:
1 Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên
Bảng 1 Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên
Trong 880 phụ nữ được điều tra có 224 đối tượng sinh con thứ ba trở lên chiếm 25,5% Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên là một chỉ tiêu quan trọng, thể hiện kết quả của công tác Dân số-KHHGĐ trong việc vận động thực hiện quy mô gia đình ít con, mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có 1 hoặc 2 con
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn báo cáo Chi cục Dân số-KHHGĐ Thừa Thiên Huế, tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên của cả tỉnh năm 2016 là 18,1%
Điều này cho thấy Xín Mần là địa bàn có tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên cao so với toàn tỉnh
2 Lý do sinh con thứ ba trở lên
Bảng 2 Lý do sinh con thứ ba trở lên
Lý do chính sinh con thứ ba trở lên Số lượng Tỷ lệ
2
Trang 3Muốn có con trai nối dõi 92 41,1
Biểu đồ: Lý do sinh con thứ ba trở lên
Qua bảng 2 lý do muốn có con trai chiếm tỷ lệ cao nhất 41,1%, tiếp theo là lý do cần chăm sóc khi về già 41 người (18,3%); muốn đông con hơn đông của cải 31 người (13,8%); do vỡ kế hoạch 22 người (9,8%) Điều này có lẽ phù hợp với tâm lý của vùng nông thôn của Hà Giang muốn có con trai để “nối dõi tông đường” Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hải, Lê Cự Linh (2006) tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh lý do muốn sinh con trai chiếm 59,6 %
Điều tra về nhân khẩu học và sức khoẻ 2007 đã khẳng định mong muốn có con trai
để “nối dõi tông đường” là động cơ thúc đẩy các cặp vợ chồng tiếp tục sinh đẻ Số liệu điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam khu vực phía Bắc cho thấy 49,1% số gia đình được hỏi khẳng định nguyện vọng nhất thiết phải có con trai Những chỉ báo cho thấy, thời gian qua mặc dù chúng ta đã tuyên truyền quyết liệt vấn đề này nhưng sự chuyển đổi hành vi của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ vẫn còn hạn chế dẫn đến tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên giảm chậm và có xu hướng tăng ở một số địa phương Tình hình này đã làm chậm thời gian đạt mức sinh thay thế (trung bình mỗi cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ có hai con)
3 Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên theo trình độ học vấn
Bảng 3 Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên theo trình độ học vấn
2 =65,37
p < 0,05
Học vấn của phụ nữ có tác động đến hành vi tránh thai của họ Qua bảng 3 cho thấy các phụ nữ trong nghiên cứu chúng tôi có tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên giảm dần theo trình độ học vấn Các phụ nữ có ba con trở lên ở nhóm trình độ tiểu học cao nhất (39,2%),
3
Trang 4và tỷ lệ này giảm dần xuống ở các bà mẹ có trình độ CĐ-ĐH (3,3%) Có sự liên quan giữa trình độ học vấn và tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên (p< 0,05)
4 Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên theo nghề nghiệp
Bảng 4 Tỷ lệ sinh thứ 3 con theo nghề nghiệp
2 =22,62
p < 0,05
Qua bảng 4 cho thấy các phụ nữ là cán bộ công chức có tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên thấp nhất (2,7%), phụ nữ là ngư nghiệp có tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên cao nhất 43,3%, nông nghiệp (29,1%), nội trợ (26,0%), buôn bán (23,1%) Như vậy cho thấy những phụ nữ
là nông ngư nghiệp hoặc buôn bán, nội trợ có tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên cao hơn những người làm nghề phi nông nghiệp Yếu tố nghề nghiệp có liên quan đối với tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên (p < 0,05) Kết quả này tương tự với một số tác giả khác trong nước như Võ Thị Kim Khánh có tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên với nghề nông, lâm, ngư khá cao (78,0%), cán bộ (11%), buôn bán (41%); cho thấy khá rõ sự khác biệt về số con giữa những phụ nữ làm nghề phi nông nghiệp và nhóm phụ nữ nông, ngư nghiệp Điều này có thể giải thích rằng đa số các nghề phi nông nghiệp (CBCNV) thường có trình độ học vấn cao hơn nhóm nông ngư nghiệp và nội trợ vì họ có nhận thức và tiếp thu tốt về chương trình Dân số-KHHGĐ hơn các nghề khác Do đó, tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên thấp hơn
5 Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên theo tôn giáo
Bảng 5 Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên theo tôn giáo
2 =5,28
p > 0,05
Bảng 5 cho thấy các phụ nữ không theo đạo nào có tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên cao nhất 28,6%, phụ nữ theo đạo Phật (25,2%), Công giáo (18,2%), Cao đài (17,6%) Không
có sự khác biệt giữa nhóm tôn giáo và vấn đề sinh con thứ ba trở lên ( p> 0,05)
6 Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên theo vùng địa dư
Bảng 6 Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên theo vùng địa dư
p < 0,05
Qua bảng 6 cho thấy phụ nữ sinh con thứ ba trở lên ở vùng đầm phá chiếm tỷ lệ cao nhất 41,1%, tiếp đến gò đồi chiếm 27,6% và thấp nhất là các phụ nữ đồng bằng chỉ chiếm 20,2% Có sự khác biệt giữa 3 vùng sinh thái và tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên (p <
4
Trang 50,05) Có lẽ sự khác biệt này là do quan niệm sinh con ở từng vùng có đặc điểm khác nhau Thường vùng đầm phá duyên hải có nhu cầu sinh con để đảm bảo lao động cho gia đình, có con trai để nối nghiệp nghề biển Do đó cần đẩy mạnh công tác Dân số-KHHGĐ tại các vùng đầm phá, ven biển nhiều hơn
7 Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên theo kinh tế
Bảng 7 Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên theo kinh tế
2 =0,41
p > 0,05
Qua bảng 7 cho thấy tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên ở các hộ gia đình phụ nữ nghèo
có tỷ lệ cao nhất (27,5%), hộ trung bình (25,2%) và hộ giàu, khá chiếm tỷ lệ thấp (23,9%) Tuy nhiên, không có sự liên quan giữa nhóm phụ nữ kinh tế và tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên (p>0,05) Kết quả cũng tương tự với một số tác giả khác như Võ Thị Kim Khánh (2004) khảo sát tình hình thực hiện KHHGĐ tại thành phố Huế từ 2001-2003 cho thấy tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên ở hộ phụ nữ nghèo chiếm 45%, hộ trung bình (39%) và hộ khá (24%)
8 Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên theo áp dụng BPTT
Bảng 8 Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên theo áp dụng BPTT
2 =70,96
p < 0,05
Qua bảng 8 cho thấy tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên ở nhóm đã áp dụng BPTT (26,6%) cao hơn rõ rệt so với nhóm chưa áp dụng BPTT (17,3%), có mối liên quan giữa tỷ
lệ sinh con thứ ba trở lên và KHHGĐ (p< 0,05)
9 Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên do vỡ kế hoạch
Bảng 9 Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên do vỡ kế hoạch
p < 0,05
Từ bảng 9 cho thấy tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên của nhóm bị vỡ kế hoạch (54,3%) cao gấp 2 lần với nhóm không bị vỡ kế hoạch (22,0%), có mối liên quan giữa tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên ở nhóm phụ nữ bị vỡ kế hoạch và nhóm không bị vỡ kế hoạch (p < 0,05) Điều này cho thấy sự hạn chế của chất lượng cung cấp dịch vụ KHHGĐ, phụ nữ chưa được tư vấn một cách đầy đủ khi sử dụng BPTT Mặt khác, ở những phụ nữ khi bị vỡ
kế hoạch, do không nhận biết, hoặc có nhận biết nhưng ngại đến cơ sở dịch vụ hoặc do điều kiện khó khăn không đến được, họ thường để đẻ con, do vậy mặc dầu đã có đủ số con theo ý muốn nhưng họ vẫn đẻ con thứ ba trở lên Do đó, cần đào tạo lại cho nhân viên y tế
5
Trang 6cung cấp các dịch vụ KHHGĐ về kiến thức, kỹ năng thực hành và tư vấn trước, trong, sau khi cung cấp dịch vụ KHHGĐ cho khách hàng để tăng hiệu quả sử dụng của các BPTT
IV KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu trên 880 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ 15-49 tuổi có chồng của 8 xã theo ba vùng đồng bằng, gò đồi và đầm phá ở huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang, chúng tôi đi đến kết luận như sau:
- Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên: Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên 25,5% Lý do sinh
con thứ ba trở lên có liên quan đến yếu tố tâm lý xã hội, muốn có con trai chiếm tỷ lệ cao nhất 41,1%
- Các yếu tố liên quan đến việc sinh con thứ ba trở lên:
+ Trình độ học vấn của phụ nữ: học vấn càng cao thì sinh con thứ ba
càng thấp
+ Nghề nghiệp của phụ nữ: nghề nông, ngư nghiệp có tỷ lệ sinh con thứ ba trở
lên chiếm tỷ lệ cao hơn các nhóm khác
+ Địa dư: nhóm phụ nữ ở vùng đầm phá có tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên 41,1% cao
hơn các nhóm ở vùng địa dư khác
+ Áp dụng các biện pháp tránh thai: nhóm phụ nữ áp dụng biện pháp tránh thai
có tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên 26,6% cao hơn nhóm không áp dụng
+ Bị vỡ kế hoạch: tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên của nhóm phụ nữ bị vỡ kế hoạch
cao hơn nhóm không bị vỡ kế hoạch
V KIẾN NGHỊ
Nhằm thực hiện tốt công tác Dân số và kế hoạch hoá gia đình trên địa bàn huyện Xín Mần, đạt mục tiêu giảm sinh và giảm tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên, xuất phát từ kết quả nghiên cứu trên chúng tôi đưa ra một số kiến nghị:
1 Tiếp tục tổ chức quán triệt sâu rộng chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật
của Nhà nước về công tác Dân số và kế hoạch hoá gia đình Có các chính sách khuyến khích phù hợp về Dân số và kế hoạch hoá gia đình
2 Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục trong toàn xã
hội về Dân số và kế hoạch hoá gia đình với những hình thức và nội dung phù hợp với từng nhóm đối tượng, tập trung ở vùng khó khăn miền núi, ven biển, đầm phá
3 Tăng cường khả năng tư vấn, cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
và kế hoạch hoá gia đình an toàn, đa dạng có chất lượng từ các cơ sở y tế đến tận người dân
4 Các cấp, các ngành, các đoàn thể và tổ chức xã hội đẩy mạnh tuyên truyền, vận
động thực hiện chính sách Dân số và kế hoạch hoá gia đình trực tiếp đến thành viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân
5 Tăng cường nâng cao nhận thức của xã hội về vấn đề bình đẳng giới, chú trọng
triển khai các chương trình ở ùng miền núi, nông thôn, đầm phá ven biển để nâng cao vai
trò vị trí của phụ nữ, xoá bỏ quan niệm lạc hậu “trọng nam khinh nữ”.
VI TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Thanh An (2008), Tổng quan về sự phát triển của chính sách kế hoạch hóa gia đình
tại Trung Quốc”, Tạp chí Dân số và phát triển, (7) tr 33-36.
2 Nguyễn Quốc Anh (2006), Một số vấn đề cấp bách về công tác dân số Việt Nam
bên thềm hội nhập tổ chức thương mại thế giới, Tạp chí dân số và phát triển, (10),
tr.12 - 19
3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), "Chính sách dân số
kế hoạch hoá gia đình", Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14/1/1993.
6
Trang 74 Bộ Y tế (2001), “Chiến lược lược quốc gia về chăm sóc sức khoẻ sinh sản”, NXB
Quân đội, Hà Nội 2001.
5 Trần Thị Trung Chiến, Trương Việt Dũng (2006), “Nghiên cứu tình hình sử dụng dịch vụ kế hoạch hoá gia đình và chăm sóc thai sản của phụ nữ tại
3 huyện ở Thừa Thiên Huế năm 2003”, Y học TP Hồ Chí Minh - Số 10,
tr 15-16
6 Nguyễn Hải, Lê Cự Linh (2006), Thực trạng sinh con thứ ba trở lên và một số lý
do ảnh hưởng tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, Tạp chí Y học dự phòng, số 16, tr.
38-41
7 Võ Thị Kim Khánh (2004), Nghiên cứu tình hình công tác quản lý và thực hiện kế
hoạch hoá gia đình tại thành phố Huế trong 3 năm 2001-2003, Luận văn Thạc sĩ Y
học, trường Đại học Y Dược Huế
8 Sở Y tế tỉnh Thừa Thiên Huế, Chi cục DS-KHHGĐ (2009), Các văn kiện liên quan
đến công tác DS-KHHGĐ.
9 Tổng cục Dân số-Kế hoạch hoá gia đình (2007), Kết quả điều tra biến động dân
số-kế hoạch hoá gia đình 2006, 2007, 2008.
10 Trường Đại học Y Dược Huế-Bộ Môn Phụ sản (2007), “Sản phụ khoa”, Nhà xuất
bản Y học 2007.
7