Bác Hồ đã từng nói: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” . Có thể thấy Bác rất coi trọng việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc bởi lẽ một quốc gia muốn tồn tại và phát triển vững mạnh thì phải có văn hóa của riêng mình, vì đặc trưng của văn hóa là thể hiện cốt cách của một dân tộc, một quốc gia. Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, các bạn trẻ có nhiều hơn những cơ hội được giao lưu, hội nhập với thế giới, được tiếp thu các nền văn hóa của các quốc gia trên thế giới thông qua các trang thông tin. Thuận lợi là thế, nhưng lại tồn tại một thực trạng đáng lo ngại hơn là các bạn trẻ đang dần quên đi những giá trị văn hóa ở chính nơi mình sinh ra.
Trang 1PHÂN HIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH
Tên đề tài ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA TỈNH ĐỒNG NAI
BÀI TẬP LỚN Học phần: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Trang 2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bác Hồ đã từng nói: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” 1 Có thể
thấy Bác rất coi trọng việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc bởi
lẽ một quốc gia muốn tồn tại và phát triển vững mạnh thì phải có văn hóa củariêng mình, vì đặc trưng của văn hóa là thể hiện cốt cách của một dân tộc, mộtquốc gia
Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, các bạn trẻ có nhiều hơn những
cơ hội được giao lưu, hội nhập với thế giới, được tiếp thu các nền văn hóa củacác quốc gia trên thế giới thông qua các trang thông tin Thuận lợi là thế, nhưnglại tồn tại một thực trạng đáng lo ngại hơn là các bạn trẻ đang dần quên đi nhữnggiá trị văn hóa ở chính nơi mình sinh ra
Là sinh viên đang học tập môn “Cơ sở văn hóa”, nhận thấy được tầm quantrọng của văn hóa đối với quốc gia và tình hình dịch bệnh gây khó khăn trongviệc di chuyển nên em chọn đề tài: “Đặc điểm văn hóa tỉnh Đồng Nai” làm đề tàicho bài tập lớn của mình
2 Mục đích nghiên cứu
1 Phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong diễn văn khai mạc tại Hội nghị văn hóa toàn quốc, tổ chức 24/11/1946
Trang 3Trên cơ sở khẳng định vai trò những giá trị văn hóa của tỉnh Đồng Nai và đưanhững giá trị ấy đến gần hơn với thầy/cô và các bạn đọc Với mong muốn nhữngvăn hóa của địa phương nơi em sinh ra và lớn lên sẽ không bị mai một mà ngàycàng phát triển.
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu mà em nhắm đến là những giá trị góp phần hình thànhnên văn hóa ở tỉnh Đồng Nai như lịch sử hình thành, dân cư, các di tích lịch sử,
tự nhiên và môi trường, vv
4 Phạm vi nghiên cứu
Bài tập lớn này tập trung nghiên cứu những vấn đề của văn hóa tỉnh ĐồngNai như lịch sử hình thành, địa lý, dân cư, môi trường tự nhiên, các di tích lịch
sử của tỉnh Đồng Nai và các thực trạng đáng lo ngại đối với các giá trị văn hóa,
từ đó đưa ra các phương pháp nhằm bảo tồn vào phát huy các giá trị ấy
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những điều trên, bài tập lớn sẽ giải quyết những vấn đề như: tìmhiểu cơ sở lý luận của văn hóa
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của bài tập lớn này thông qua các tài liệu nghiêncứu về các lĩnh vực văn hóa ở tỉnh Đồng Nai, các chuyến đi thực tế ở các di tích
mà bản thân em đã được tham gia
7 Bố cục của đề tài
Mở đầu
Nội dung, gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận; Chương 2: Đặc điểm vănhóa tỉnh Đồng Nai; Chương 3: Thực trạng và giải pháp phát huy các giá trị vănhóa tỉnh Đồng Nai)
Kêt luận
Trang 5Nằm ở khu vực cửa ngõ của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam kết nối bavùng Đông Nam Bộ, Duyên Hải Miền Trung, Tây Nguyên Đồng Nai có thể giaothương với trong nước và quốc tế bằng đường biển, đường bộ và đường hàngkhông (khi sân bay Long Thành được xây dựng hoàn thành) Đồng Nai có điềukiện vị trí địa lý thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội và mở rộng giao lưuthương mại.
Nằm trên trục đường giao thông quan trọng có các tuyến đường đi qua như:Tuyến đường sắt Bắc – Nam, quốc lộ 1A xuyên Bắc - Nam, quốc lộ 20 nối vùngĐông Nam Bộ với Tây Nguyên, quốc lộ 51 và 56 chạy từ đông sang tây nối cáctỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước với Bà Rịa – Vũng Tàu Đồng Nai cólợi thế về phát triển giao lưu thương mại với trong nước bằng đường bộ, trởthành đầu mối vận chuyển và trung tâm kho vận lưu hàng hóa giữa vùng kinh tếtrọng điểm phía Nam với cả nước
1.1.2 Đơn vị hành chính
Đồng Nai có 11 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 2 thành phố và 9 huyện:Thành phố Biên Hoà 23 phường và 7 xã; Thành phố Long Khánh 11 phường và
Trang 64 xã; huyện Định Quán 1 thị trấn và 13 xã; huyện Long Thành 1 thị trấn và 14xã; huyện Nhơn Trạch 12 xã; huyện Tân Phú 1 thị trấn và 17 xã; huyện ThốngNhất 10 xã; huyện Vĩnh Cửu 1 thị trấn và 11 xã; huyện Xuân Lộc 1 thị trấn và 14xã; huyện Cẩm Mỹ 1 thị trấn và 13 xã; huyện Trảng Bom 1 thị trấn và 16 xã.
vơ vét cùng kiệt của cải, vật chất của dân chúng, gây nên cảnh đói khổ lầm thanmọi nơi Khổ sở, điêu đứng vì chiến tranh, bóc lột cùng với thiên tai tàn phá ácliệt làm cho những người nông dân phải rời bỏ ruộng vườn, làng mạc, phiêu tán
đi khắp nơi để tìm cuộc sống mới, no đủ hơn Điều này tạo ra một làn sóng didân ồ ạt đầu tiên từ Bắc vào Nam, trong đó có làn sóng di dân của miền ThuậnQuảng vào Đồng Nai tìm đất sinh sống và tái lập nghiệp
Tiến trình nhập cư của lưu dân Việt vào vùng Đồng Nai – Gia Định từ lẻ tẻrời rạc, dần dần có quy mô lớn hơn Những lưu dân Việt từ việc lập những làngxóm nhỏ trên vùng đất Đồng Nai đã thôi thúc các chúa Nguyễn đặt những bướctiến lớn hơn trên vùng đất này
Vào năm 1620, cuộc hôn nhân ngoại giao giữa vua Chân Lạp là Chettha IIvới công chúa Ngọc Vạn, là sự kiện quan trọng có ý nghĩa mở đầu cho mối quan
hệ chính thức giữa Chân Lạp và Đàng Trong cũng như đối với quá trình mở đất
Trang 7của các chúa Nguyễn( Nguyễn Phúc Nguyên) Những xúc tiến cho công cuộc mởđất của các chúa Nguyễn vào Gia Định, Mô Xoài, Đồng Nai được đẩy mạnh thựchiện ngay sau cuộc hôn nhân này Công chúa Ngọc Vạn chính là cầu nối của mốiquan hệ giữa Chân Lạp và Đàng Trong, đồng thời là nhân tố quan trọng trongnhững ngày đầu mở đất về phía Nam Bình Thuận của chúa Nguyễn Đây chính
là cơ sở thuận lợi từng bước hợp pháp hóa sự kiểm soát của mình đối với vùngđất đã được khẩn hoang
Năm 1628, vua Chettha II mất, vùng đất từ Prey Nokor (Sài Gòn) trở ra phíaBắc, bao gồm vùng thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa, Bà Rịa – Vũng Tàu ngàynay, đã có nhiều người Việt đến sinh sống Với những đóng góp của mình, có thểkhẳng định chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã có vai trò như là người đặt những viên
đá đầu tiên trên con đường Nam tiến vào đất Nam Bộ, tạo tiền đề cho sự thúcđẩy quá trình này ở các đời chúa sau Sự ra đi của vua Chettha II vô hình tạo nênnhiều thay đổi trong mối quan hệ giữa Chân Lạp và Đàng Trong, cũng như tiếntrình khẩn hoang ở Đồng Nai của các chúa Nguyễn Kể từ đây, cuộc khai hoang
mở đất của các chúa Nguyễn vào Nam Bộ luôn gắn với sự xung đột trong chínhquyền Chân Lạp
Tiếp nối con đường mà chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã khai mở, chúa NguyễnPhúc Tần có vai trò thúc đẩy hơn nữa công cuộc mở đất vào Nam Bộ
Năm 1658, theo sự cầu cứu của một trong số các phe phái trong triều đìnhChân Lạp, chúa Nguyễn Phúc Tần đã sai phó tướng dinh Trấn Biên là NguyễnPhúc Yến, Cai đội Xuân Thắng, Tham mưu Minh Lộc đem 3000 quân sang canthiệp, thiết lập lại trật tự cho Chân Lạp Như vậy, mối quan hệ giữa Chân Lạp vàĐàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần có sự thay đổi quan trọng – từ
Trang 8bang giao bình đẳng chuyển sang mối quan hệ thần phục Điều này đã tạo điềukiện rất lớn cho quá trình di dân của người Việt vào đất Đồng Nai để tiếp tụckhai khẩn đất hoang
Năm 1674, chúa Nguyễn Phước Tần sai cơ đạo dinh Thái Khang là NguyễnDương Lâm đưa quân sang Chân Lạp để hỗ trợ cho Nặc Nộn với lí do: “Nặc Nộn
là phiên thần, có việc nguy cấp, không thể không cứu” Chúa Nguyễn đã dần trởthành lực lượng thiết lập lại trật tự ở Chân Lạp khi có nội biến xảy ra Chân Lạp
có nghĩa vụ triều cống hàng năm cho chúa Nguyễn và tạo điều kiện cho lưu dânngười Việt vào làm ăn, sinh sống
Năm 1679, nhà Minh ở Trung Quốc sụp đổ, Tổng binh Trần Thượng Xuyêntrấn thủ các châu Cao, Lôi, Liêm không khuất phục nhà Thanh đã đem 50 chiếnthuyền, 3.000 binh lính thân tín và gia quyến đến xin thuần phục chúaNguyễn ở Thuận Hóa Lúc bấy giờ, đứng đầu nhà Nguyễn là Chúa Nguyễn PhúcTần đã thu nhận họ và cho vào khai khẩn, mở mang vùng đất Đông Phố (Cù laoPhố ngày nay) Họ biến Cù Lao Phố trên sông Đồng Nai trở thành một thươngcảng sầm uất và phát triển
Như vậy, tiến trình nhập cư của cư dân người Việt vào đất Đồng Nai – GiaĐịnh đã diễn ra liên tục trong suốt gần một thế kỷ
1.2.2 Công cuộc kinh dinh của Chúa Nguyễn trên đất Đồng Nai – Gia Định
Năm 1698, Chúa Nguyễn Phúc Chu đã cử Nguyễn Hữu Cảnh – một tướng tàigiỏi vào kinh lược vùng đất Đồng Nai (lúc này, từ Đồng Nai hay vùng đất ĐồngNai là ám chỉ cả một vùng Nam Bộ rộng lớn của bây giờ), đặt vùng đất mới
Trang 9thành phủ Gia Định Chuyến kinh lược này, Nguyễn Hữu Cảnh đã thực thi mộtviệc vô cùng quan trọng: Ông lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựngdinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình dựng dinh Phiên Trấn, mỗidinh đặt chức Lưu thủ, Cai bộ và Ký lục để quản trị, nha thuộc có hai ty xá – lại
để làm việc; quân binh thì có cơ, đội, thuyền, thuỷ bộ binh và thuộc binh để hộ
vệ
Qua cuộc kinh lược của Nguyễn Hữu Cảnh vào năm 1698 đã biến vùng đấtĐồng Nai – Gia Định thực sự thuộc chủ quyền và đặt dưới sự quản lý của chúaNguyễn Nó đẩy nhanh quá trình khai khẩn đất hoang và phát triển kinh tế ởvùng đất này Những việc làm này đã đặt nền tảng xã hội cơ bản Từ đây ĐồngNai – Gia Định trở thành lãnh thổ chính thức của nước Việt Nam
Năm 1836, trấn Biên Hòa được vua Minh Mạng đổi thành tỉnh Biên Hoà
Năm 1837, lập thêm hai phủ Phước Tuy và các huyện Nghĩa An, LongKhánh, Phước Bình
Năm 1840, đặt thêm bốn phủ là Tân Định, Tân Bình, Tân Lợi và Tân Thuận Năm 1851, Vua Tự Đức nhập hai huyện Phước Bình và Long Khánh vào cácphủ Phước Long và Phước Tuy
Trang 10Năm 1882, sau khi Hòa ước Nhâm Tuất được ký, lúc này triều đình NhàNguyễn cắt đất giao 3 tỉnh Gia Định, Định Tường và Biên Hoà cho Pháp Sau
đó, Pháp chia Biên Hòa thành ba tỉnh là Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Bà Rịa Đếnthời Việt Nam Cộng hòa, đất Đồng Nai được chia làm 3 tỉnh là Biên Hòa, LongKhánh, Phước Tuy
Đầu năm 1975, hợp nhất 3 tỉnh này thành lập tỉnh Đồng Nai, tỉnh lỵ đặt tạithị xã Biên Hòa
1.3 Đặc điểm dân cư tỉnh Đồng Nai
1.3.1 Tín ngưỡng
Tỉnh Đồng Nai là tỉnh có sự đa dạng về các đặc trưng tôn giáo, tín ngưỡng.Phần lớn dân cư theo sau Công cuộc Mở mang bờ cõi của Chúa Nguyễn và đánhdấu là sự khai hoang lập ấp của Nguyễn Hữu Cảnh Cư dân ban đầu mang theotín ngưỡng thờ cúng ông bà mà phần lớn người dân Việt Nam hiện nay đều có.Song song đó là sự có mặt của Phật giáo, Đạo giáo, Khổng giáo, dần dần đếncác cuộc chiến tranh Việt Nam chống ngoại ban xâm lược thì sự du nhập các tôngiáo, tín ngưỡng theo sự di dân bắt đầu xuất hiện
1.3.2 Dân số
Dân số Đồng Nai tại thời điểm ngày 1/4/2019 có gần 3,1 triệu người với hơn
871 ngàn hộ, là tỉnh có dân số đứng thứ 5 cả nước, sau TP.Hồ Chí Minh, Hà Nội,Thanh Hóa và Nghệ An Trong đó, nam giới chiếm 50,45%
Tính đến năm 2019, dân số toàn tỉnh Đồng Nai đạt 3.097.107 người, mật độdân số đạt 516,3 người/km², dân số thành thị chiếm 48.4%, dân số nông thônchiếm 51.6% Đây cũng là tỉnh đông dân nhất vùng Đông Nam Bộ với hơn 3
Trang 11triệu dân (nếu không tính Thành phố Hồ Chí Minh) Đây là tỉnh có dân số đôngthứ nhì ở miền Nam (sau Thành phố Hồ Chí Minh), đông thứ 5 cả nước(sau Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Thanh Hóa, Nghệ An) và có dân số đô thịđứng thứ 4 cả nước (sau Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Bình Dương)
1.4 Môi trường tự nhiên và xã hội
1.4.1 Môi trường tự nhiên
1.4.1.1 Thổ nhưỡng
Tỉnh Đồng Nai có địa hình vùng đồng bằng và trung du với những núi sót rảirác, có xu hướng thấp dần theo hướng bắc nam, với địa hình tương đối bằngphẳng Địa hình có thể chia làm các dạng là địa hình đồng bằng, địa hình trũngtrên trầm tích đầm lầy biển, địa đồi lượn sóng, dạng địa hình núi thấp, đất phù sa,đất gley và đất cát có địa hình bằng phẳng, nhiều nơi trũng ngập nước quanhnăm Đất đen, nâu, xám hầu hết có độ dốc nhỏ hơn 8o, đất đỏ hầu hết nhỏ hơn
15o Riêng đất tầng mỏng và đá bọt có độ dốc cao
Đồng Nai có quỹ đất phong phú và phì nhiêu, gồm 3 nhóm chính:
Các loại đất hình thành trên đá bazan
Các loại đất hình thành trên phù sa cổ và trên đá phiến sét
Các loại đất hình thành trên phù sa mới
1.4.1.2 Khí hậu
Khí hậu Đồng Nai là khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa tương phản nhau
là mùa khô và mùa mưa Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 nămsau, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 Khoảng kết thúc mùa mưa dao
Trang 12động từ đầu tháng 10 đến tháng 12 Nhiệt độ trung bình năm 25 – 27 °C, nhiệt độcao cực trị khoảng 40 °C và thấp cực trị 12,5 °C và số giờ nắng trong năm 2.500– 2.700 giờ, độ ẩm trung bình luôn cao 80 – 82%.
1.4.2 Xã hội
1.4.2.1 Giáo dục
Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2018 trên địa bàn toàn tỉnh Đồng Nai có 745 trường học, trong đó có Trung học phổ thông có 84 trường, Trung học cơ sở có 273 trường, Tiểu học có 362 trường, trung học có 23 trường, có 4 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 327 trường mẫu giáo Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn tỉnh Đồng Nai cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh
1.4.2.2 Kinh tế
Đồng Nai là một tỉnh cửa ngõ đi vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ – vùng kinh
tế phát triển và năng động nhất cả nước Trong đó, Đồng Nai là một trong ba gócnhọn của tam giác phát triển Thành phố Hồ Chí Minh – Bình Dương – ĐồngNai
Đồng Nai là thủ phủ sản xuất chè, cà phê, ca cao, cam, bưởi, quýt, sầu riêng,chôm chôm, măng cụt, Đồng Nai là tỉnh có đàn lợn lớn nhất cả nước với gần 1triệu con, và có đàn trâu bò lớn thứ 2 với 185.000 con Đồng Nai là tỉnh đầu tiêncủa cả nước mà 100% xã, huyện, thành phố đều đạt chuẩn nông thôn mới Vì vậynông nghiệp Đồng Nai phát triển mạnh mẽ, là nguồn cung hàng hoá cho các khuvực lân cận và xuất khẩu Đây là tỉnh có sản lượng nông nghiệp lớn nhất Đông
Trang 13Nam Bộ và là một trong những tỉnh sản xuất ra khối lượng nông sản lớn nhấtViệt Nam.
Tiểu kết chương 2:
Đồng Nai được xem là một trong các tỉnh thuộc khu vực kinh tế trọng điểmphía Nam vì có những thuận lời như nằm liền kề TP HCM và ngay cửa ngõ củatoàn miền Nam, Đồng Nai đủ điều kiện để hình thành các vùng đô thị kết nối vớitrung tâm kinh tế lớn nhất cả nước; Đồng Nai là địa phương có nhiều khu côngnghiệp nhất cả nước và được mệnh danh là thủ phủ công nghiệp Cùng với sựthuận lợi về khí hậu, tỉnh Đồng Nai thu hút nhiều người dân từ khắp mọi miền
Tổ quốc, chính vì lẽ ấy mà văn hóa ở tỉnh Đồng Nai vốn lâu đời nay lại thêm đadạng
Chương 2
ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA ĐỒNG NAI
2.1 Đặc điểm xã hội tỉnh Đồng Nai
Tại Đồng Nai theo thống kê trong những năm qua, có 31 dân tộc anh emcùng sinh sống Ngoài dân tộc Kinh (chiếm 92% dân số), còn lại đồng bào cácdân tộc thiểu số chiếm khoảng 8% dân số toàn tỉnh Hiện nay đồng bào DTTS cólượng đông dân nhất ở Đồng Nai là dân tộc Hoa, tiếp đến là các dân tộc Nùng,Chơ Ro, Tày, Khmer, Mường, Dao, Mạ, Chăm, STiêng, Sán Dìu, Cơ Ho, Thái,Thổ, Ê Đê, Sán Chay, Ngái, Raglay, Gia Rai, Lào, Cơ Tu, Xơ Đăng, Ba Na Trong đó, 4 dân tộc bản địa là: Chơ Ro, Mạ, STiêng và Cơ Ho; 3 dân tộc đãsinh sống lâu đời ở Đồng Nai là: Hoa, Chăm và Khmer
Trang 14Trong lịch sử phát triển, dân tộc Chơro là lớp cư dân cư trú từ xa xưa ở vùngđồi núi thấp phía Nam, chủ yếu sinh sống tập trung ở khu vực miền Đông Nam
bộ Theo số liệu điều tra, người Chơro ở Đồng Nai hiện chiếm 56,5% tổng sốngười Chơro trong cả nước, cao nhất so với các tỉnh, thành trong khu vực (BàRịa - Vũng Tàu, Bình Thuận, TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương) Còn người Mạ chủyếu sinh sống tại tỉnh Lâm Đồng - trước đây gọi là vùng Đồng Nai Thượng(chiếm tỷ lệ gần 80%), số còn lại ở Đắk Nông (14,4%) và Đồng Nai, sinh sốngtập trung ở 2 huyện Định Quán và Tân Phú Cả 2 dân tộc đều thuộc ngữ hệ Nam
Á, nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer
2.2 Đặc điểm văn hóa tỉnh Đồng Nai
2.2.1 Văn hóa vật chất
2.2.1.1 Ẩm thực
Với đặc thù là tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Đồng Naiđược xem là mảnh đất lành thu hút người nhập cư đến sinh sống và làm việc củavùng Đông Nam bộ Cùng với dòng người này, nhiều phong tục, tập quán vàphong cách ẩm thực đặc trưng của từng vùng miền cũng được mang đến ĐồngNai, tạo nên bức tranh về văn hóa, ẩm thực đa dạng, độc đáo
Theo thời gian, những nơi tập trung đông dân nhập cư từ vùng nào thì sẽ cócác phong tục, văn hóa sinh hoạt cũng như các món ăn mang phong vị đặc trưngvùng miền đó Chẳng hạn như khi nói đến những món ăn miền Bắc tại Đồng Nai,người ta sẽ nhớ ngay tới TP.Biên Hòa với khu vực Hố Nai, Tân Mai, hay nhưH.Thống Nhất có các xã Gia Tân, Gia Kiệm và vùng Phương Lâm của H.TânPhú Những món ăn miền Trung tập trung nhiều tại các vùng H.Xuân Lộc,H.Định Quán Còn muốn thưởng thức các món ăn mang đậm hương vị miền
Trang 15Nam thì tìm đến các huyện Long Thành, Nhơn Trạch, Vĩnh Cửu và các phườngphía Tây của TP.Biên Hòa như Tân Vạn, Hiệp Hòa, Tân Hạnh
Đến chợ Bắc, ăn món Bắc: Trong dòng người nhập cư vào đất Đồng Nai,người miền Bắc chiếm số lượng khá lớn Một số nơi người miền Bắc sinh sốngtập trung từ nhiều năm nay đã hình thành nên vùng dân cư mang đậm nét vănhóa, phong tục cũng như phong vị ẩm thực của miền Bắc Chỉ cần đến đây, bất
kỳ ai cũng có cảm giác như đang sống giữa miền Bắc, bởi từ những mối quan hệláng giềng, những sinh hoạt còn giữ nguyên phong cách Bắc Thú vị nhất là khiđến những ngôi chợ sẽ được nghe những tiếng chào hỏi, những mặc cả mua bán
từ mớ cá, bó rau, cân thịt hoặc dễ dàng mua được những món đặc trưng miềnBắc như trà Bắc, nón lá Bắc, chổi rễ, nhang Bắc, thúng, mủng, dần, sàng… Đốivới ẩm thực miền Bắc thì Đồng Nai không chỉ có các món ăn ngon mà còn cónhững làng nghề truyền thống được du nhập từ miền Bắc như: làm miến, bánh đa
và các món bánh tại khu vực các phường Hố Nai, Tân Biên, Tân Mai củaTP.Biên Hòa Ngược dòng lên vùng trung du khu vực H.Thống Nhất sẽ được
“lạc” hẳn vào xứ sở người Bắc với các món ăn truyền thống dân dã như mónbánh dày dẻo mịn trắng phau làm từ bột nếp, hay món bánh giò bột gạo bêntrong có nhân làm từ thịt, mộc nhĩ (nấm mèo) Để tìm những món ăn này khôngkhó bởi bất kỳ một ngôi chợ nào tại khu vực xã Gia Tân, Gia Kiệm cũng cóngười bán Đặc biệt, đây cũng là vùng có nhiều hộ gia đình sản xuất các loạibánh từ nếp, chả lụa theo phương thức thủ công truyền thống với số lượng lớn đểcung cấp cho thị trường TP.HCM và các vùng lân cận
Phong phú ẩm thực miền Trung: Mì quảng được nhiều người biết đến là đặcsản nổi danh của người dân miền Trung rất được ưa chuộng Tai Đồng Nai, nếu
có dịp đi các tuyến quốc lộ 1 khu vực H.Xuân Lộc, Thống Nhất và quốc lộ 20
Trang 16khu vực H.Định Quán, quan sát hai bên đường sẽ gặp khá nhiều quán mì quảnglớn nhỏ nằm lẫn trong khu dân cư Theo ghi nhận, những địa bàn nói trên cũng
có số lượng lớn người dân miền Trung sinh sống từ hàng chục năm nay Tuy cácmón ăn miền Trung không đa dạng bằng các vùng miền khác tại Đồng Nainhưng với món mì quảng nổi tiếng cũng góp phần làm phong phú cho ẩm thựcĐồng Nai Mì quảng thường có hai vị là mì quảng gà và mì heo Khác vớinhững món ăn có nước khác, một tô mì quảng không cho quá nhiều nước lèo khi
ăn giống như bún hay hủ tiếu Nhưng ngược lại, những miếng thịt phải có độmặn vừa phải Mì quảng ăn kèm với rau sống gồm nhiều loại như: lá cải non, xàlách, húng lủi, quế xanh, giá… Đặc biệt, đậu phộng rang và bánh tráng nướnggiòn sẽ làm tăng thêm hương vị độc đáo cho tô mì quảng Tô mì quảng sẽ khôngtròn vị nếu thiếu một chén nước mắm chanh, tỏi, ớt để nêm cho vừa ăn
Đa dạng các món ẩm thực miền Nam: Nếu món Bắc - Trung được du nhậpvào Đồng Nai thì tại vùng Long Thành, Nhơn Trạch, Vĩnh Cửu… sẽ đại diện chomón miền Nam chính thống với những người dân địa phương sinh sống từ baođời nay Trong danh sách các món đặc sản Đồng Nai, nổi bật là những món nhưgỏi bưởi, chè bưởi và các món đặc sản vùng sông nước Nhơn Trạch là một trongnhững địa danh nổi tiếng với các món ngon từ vùng nước lợ Vùng nước lợ NhơnTrạch được ví như miền Tây thu nhỏ bởi sự ưu ái từ thiên nhiên với các sản vậttrù phú trải dài ở các xã ven sông Thị Vải, Lòng Tàu… gồm Phước An, PhướcKhánh và Long Thọ Đặc sản vùng này nức tiếng thơm ngon bởi nó có sự hòaquyện giữa vị ngọt của nước ngọt và vị mặn mòi của biển cả Những con tômchì, tôm sú, tôm càng xanh, cá nâu, cá đối… được chế biến thành các món hấp,nướng hoặc dùng nấu lẩu, chưng tương… sẽ khiến người ta ăn một lần nhớ mãi.Hay như các món có thể mua về làm quà cho bạn bè, gia đình như tôm chì ngâmchua Long Thọ, các loại cá, tôm, mực khô, trà Phú Hội Để thưởng thức trực tiếp