Từ khi triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII 1998 về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hoạt động bảo tồn và phát huy các giá
Trang 1UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
NGUYỄN TRẦN KIỆT
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA TỈNH ĐỒNG NAI
Trang 2UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
NGUYỄN TRẦN KIỆT
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA TỈNH ĐỒNG NAI
(1998 – 2018)
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ : 8229013
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN VĂN THỦY
BÌNH DƯƠNG - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả của quá trình nghiên cứu tổng hợp thật sự nghiêm túc của bản thân Các luận cứ nghiên cứu, dữ liệu, hình ảnh trong luận văn là chính xác và trung thực
Bình Dương, ngày tháng 10 năm 2020
Người viết luận văn
Nguyễn Trần Kiệt
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Thủ Dầu Một, Viện đào tạo Sau Đại học, quý thầy cô Chương trình đào tạo sau đại học ngành Lịch sử Việt Nam, Khoa Khoa học Xã hội & Nhân văn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tại trường
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Văn Thủy - người thầy đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Tôi xin kính gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô trong Hội đồng chấm luận văn đã dành thời gian, đóng góp ý kiến quý báu để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý lãnh đạo cơ quan Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch Đồng Nai, Bảo tàng Đồng Nai tạo điều kiện để tôi hoàn thành khóa học này./
Trang 5Chương 2: Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tỉnh Đồng Nai từ năm 1998 đến năm 2018
Trình bày một cách hệ thống về hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của tỉnh Đồng Nai qua hai mươi năm (1998 – 2018)
Chương 3 Những đánh giá và một số kinh nghiệm rút từ hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa tỉnh Đồng Nai từ năm 1998 đến năm
2018
Trên cơ sở đánh giá về những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, sẽ tổng kết kinh nghiệm góp phần cung cấp thêm những căn cứ giúp cho chính quyền và các cơ quan quản lý văn hóa có những kinh nghiệm, giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Đồng Nai trong giai đoạn tiếp theo Luận văn còn có phần tài liệu tham khảo với 64 danh mục; có 06 phần phụ lục, gồm: Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Nai; Danh mục một số văn bản
quản lý nhà nước của tỉnh Đồng Nai về di sản văn hóa; Danh sách các loại hình
di tích đã xếp hạng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai tình (đến tháng 12/2019); Danh mục và lộ trình xếp hạng di tích trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn (2011 – 2020); Tổng hợp nguồn kinh phí trùng tu, tôn tạo di tích tỉnh Đồng Nai giai đoạn (1998 – 2018); Một số hình ảnh về di sản văn hóa và hoạt động bảo tồn, phát huy
giá trị di sản văn hóa ở Đồng Nai
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nội dung
GRDP Tổng giá trị sản phẩm địa phương
Tr.CN Trước Công nguyên
USD United States dollar
DWT Deadweight tonnage (đơn vị đo năng lực vận tải an toàn của
tàu tính bằng tấn UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural
Organization (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc )
ICOMMOS International Council on Monuments and Sites (Trung tâm
Quốc tế về Nghiên cứu Bảo tồn và Trùng tu di sản văn hóa) ICCROM International Council On Monuments and Sites (Hội đồng
quốc tế về Di tích và Di chỉ) SPSS Statistical Package for the Social Sciences
XHCN Xã hội chủ nghĩa
CNXH Chủ nghĩa xã hội
UBND Ủy ban nhân dân
AHLLVTND Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
THPT Trung học phổ thông
DSVH Di sản văn hóa
Trang 7
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Tổng giá trị sản phẩm địa phương (GRDP) tỉnh Đồng Nai theo giá so
sánh năm 2010……… 12
Bảng 1.2 Tổng hợp đình làng ở Đồng Nai……… 27
Bảng 2.1 Các di tích được xếp hạng trong giai đoạn (1976 - 1998) 35
Bảng 2.2 Các di tích được xếp hạng cấp quốc gia giai đoạn (1998 - 2018) 48
Bảng 2.3 Kết quả khảo sát về loại hình địa điểm tổ chức lễ hội 61
Bảng 2.4 Mức độ lưu giữ các giá trị văn hóa phi vật thể trong lễ hội cổ truyền 61
Bảng 2.5 Mức độ thực hành các nghi lễ rước trong lễ hội ở Đồng Nai 62
Bảng 2.6 Đối tượng thờ cúng trong lễ hội 62
Bảng 2.7 Loại hình diễn xướng dân gian trong lễ hội ở Đồng Nai 63
Bảng 2.8 Bảng thống kê các địa phương có nghề truyền thống 63
Bảng 2.9 Bảng thống kê phân loại mức độ bảo lưu loại hình nghệ thuật truyền thống của các địa phương (ấp, khu phố) 65
Bảng 2.10 Bảng thống kê tỷ lệ bảo lưu phong tục tập quán trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 65
Trang 8DANH MỤC ĐỒ THỊ
Biểu đồ 1 Tổng giá trị sản phẩm địa phương(GRDP) tỉnh Đồng Nai các năm
2010, 2015 và 2018……… 15
Trang 9Mục lục LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II TÓM TẮT III DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT IV DANH MỤC BẢNG V DANH MỤC ĐỒ THỊ VI MỤC LỤC VII
MỞ ĐẦU 1
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ 1
2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3
3.LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 3
4.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7
5.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN SỬ LIỆU 7
6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 8
7.BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 8
TỔNG QUAN VỀ DI SẢN VĂN HÓA ĐỒNG NAI 9
1.1.VÀINÉTVỀTỈNHĐỒNGNAI 9
1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 9
1.1.2 Cư dân và lao động 10
1.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 11
1.1.4 Đặc điểm lịch sử - văn hóa 14
1.2.DI SẢN VĂN HÓA ĐỒNG NAI 18
1.2.1 Các khái niệm liên quan về di sản văn hóa 18
1.2.2.1 Các quan điểm trên thế giới 19
1.2.2.2 Quan điểm của Việt Nam 21
1.2.2.3 Quan điểm của tỉnh Đồng Nai 23
1.2.3 Các loại hình di sản văn hóa của Đồng Nai 25
1.2.3.1 Di sản văn hóa vật thể 25
1.2.3.2 Di sản văn hóa phi vật thể 31
Tiểu kết chương 1 33
CHƯƠNG 2 34
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA ĐỒNG NAI TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2018 34
Trang 102.1.BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA Ở ĐỒNG NAI GIAI ĐOẠN
TRƯỚC NĂM 1998 34
2.1.1 Hoạt động bảo tồn di sản văn hóa 34
2.1.2 Hoạt động phát huy giá trị di sản văn hóa 41
2.2.BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA ĐỒNG NAI TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2018 43
2.2.1 Bảo tồn di sản văn hóa 43
2.2.1.1 Bảo tồn di sản văn hóa vật thể 43
2.2.1.2 Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể 59
2.1.2 Phát huy các giá trị di sản văn hóa 69
2.1.2.1 Truyền truyền, quảng bá giới thiệu các loại hình di sản văn hóa 69 2.1.2.2 Phát huy các giá trị di sản qua hoạt động bảo tàng và nhà truyền thống 71
2.3.2.3 Phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch 73
Tiểu kết chương 2 77
CHƯƠNG 3 78
NHỮNG ĐÁNH GIÁ VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 78
TỪ HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA TỈNH ĐỒNG NAI TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2018 78
3.1.NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ TRONG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA TỈNH ĐỒNG NAI TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2018 78
3.1.1 Thành tựu và nguyên nhân 78
3.1.1.1 Thành tựu 78
3.1.1.2 Nguyên nhân thành tựu 83
3.1.2 Hạn chế và nguyên nhân 85
3.1.2.1 Hạn chế 85
3.1.2.2 Nguyên nhân của những hạn chế 88
3.2.MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA TỈNH ĐỒNG NAI TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2018 91
3.2.1 Vận dụng quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa, chủ động, kịp thời triển khai thực hiện hiệu quả trên địa bàn tỉnh 91
3.2.2 Phát huy sức được mạnh của cả hệ thống chính trị và nâng cao nhận thức của cộng đồng trong bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa ở Đồng Nai 92
3.2.3 Bảo tồn để tạo nguồn phát huy giá trị di sản văn hóa 93
3.2.4 Giải quyết tốt mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển 94
Trang 113.2.5 Phát huy các giá trị di sản văn hóa gắn với du lịch bền vững 96
Tiểu kết chương 3 97
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHỤ LỤC 1
PHỤLỤC1 1
PHỤLỤC2 1
PHỤLỤC3 E RROR ! B OOKMARK NOT DEFINED PHỤLỤC4: 1
PHỤLỤC5: 1
PHỤLỤC6 1
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xu thế giao lưu hội nhập thế giới, tranh thủ mọi nguồn lực thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc xem đây là một vấn đề cấp thiết nhằm gìn giữ và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc, để thực hiện hội nhập mà không bị hòa tan Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa không chỉ dừng lại ở việc tôn vinh bản sắc văn hóa của dân tộc mình mà phải hướng tới mục tiêu di sản văn hóa là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội,
là động lực nội sinh, điểm tựa quan trọng của sự phát triển bền vững đất nước
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc đã xác định: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng
đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới
và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể” [14:54]
Tỉnh Đồng Nai với lịch sử hơn 300 năm hình thành và phát triển, theo dòng thời gian, cộng đồng các dân tộc trong tỉnh đã kiến tạo một kho tàng di sản văn hóa vô cùng phong phú, đa dạng và mang nhiều giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học Di sản văn hóa biểu hiện ở dạng vật thể thông qua các di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật; biểu hiện ở dạng phi vật thể thông phong tục tập quán, tín ngưỡng lễ hội, ẩm thực, những kinh nghiệm, tri thức dân gian, làng nghề truyền thống, bí quyết nghề Tất cả các giá trị di sản văn hóa truyền thống, hiện đại tồn tại đan xen tạo nên đặc trưng văn hóa riêng của vùng đất này và là minh chứng cho sự sáng tạo, phát triển văn hóa của biết bao thế hệ người Đồng Nai
Từ khi triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Đồng
Trang 13Nai luôn được các cấp Đảng, chính quyền và nhân dân quan tâm tạo điều kiện thực hiện nhằm khơi dậy mọi tiềm năng văn hóa xem như là một nguồn lực nội sinh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Đến nay toàn tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu trong hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở những quy mô khác nhau Nhiều di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng đã được công nhận xếp hạng, trùng tu, tôn tạo; hàng ngàn cổ vật, di vật có giá trị đã được bảo vệ Các lễ hội truyền thống, diễn xướng, trò chơi dân gian, phong tục tập quán tốt đẹp đã được phục hồi và phát triển Các giá trị di sản văn hóa được phát huy dần trở thành nguồn tài nguyên hữu ích, có vị trí quan trọng trong quy hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Đồng Nai Những thành tựu đạt được trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa ở Đồng Nai đã khẳng định tính đúng đắn trong đường lối phát triển văn hóa của Đảng và sự quyết tâm của các cấp chính quyền và nhân dân trong công cuộc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Tuy đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, nhưng trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Đồng Nai còn những hạn chế: Tình trạng di tích xuống cấp, bị xâm hại, mất cắp cổ vật, di vật, hạn chế về diện tích nên việc
tổ chức các hoạt động văn hóa tại di tích gặp khó khăn Công tác quản lý và tổ chức lễ hội ở các địa phương còn mang tính tự phát, chưa thực hiện tốt nếp sống văn minh; hoạt động của các làng nghề gặp nhiều khó khăn; nhiều yếu tố di sản văn hóa phi vật thể ngày càng mai một Công tác phát huy các giá trị di sản văn hóa hướng đến phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và giáo dục truyền thống chưa thực sự hiệu quả Nguồn lực đầu tư cho công tác bảo tồn và phát huy các giá trị
di sản văn hóa còn hạn chế so với nhu cầu thực tế Một số địa phương còn chưa thực sự quan tâm đúng mức công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa; đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về lĩnh vực di sản văn hóa còn chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn Hiện trạng này khiến cho môi trường văn hóa xã hội nói chung và công bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa nói riêng kém lành mạnh, bền vững, chưa tương xứng với giá trị, tầm vóc của hệ thống di sản văn
Trang 14hóa trong tỉnh Đó là những thách thức đặt ra trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa của tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn tiếp theo
Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một công trình nào mang tính hệ thống, nghiên cứu toàn diện về vấn đề bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa Đồng Nai, từ đó đưa ra những đánh giá, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn phục vụ cho công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa Đồng Nai trong giai đoạn
tiếp theo Với những lý do trên tôi chọn đề tài: “Bảo tồn và phát huy các giá trị
di sản văn hóa tỉnh Đồng Nai (1998 - 2018)” làm đề tài cho luận văn tốt
nghiệp Thạc sỹ chuyên ngành lịch sử Việt Nam
• Tổng kết kinh nghiệm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa Đồng Nai trong giai đoạn tiếp theo
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa phục vụ cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước hay của từng địa phương không phải là một vấn đề mới Trong tiến trình lịch sử nghiên cứu vấn đề liên quan đến bảo tồn
và phát huy các giá trị di sản văn hóa đã nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu triển khai thực hiện
3.1 Tình hình nghiên cứu chung
Tác giả Hoàng Vinh trong cuốn sách “Một số vấn đề bảo tồn phát triển di
sản văn hóa dân tộc”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội xuất bản năm
1997 đã nêu ra tính cấp thiết của việc bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc trước sự tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 15Tác giả Ngô Đức Thịnh (cb),(2010) trong cuốn sách “Bảo tồn, làm giàu
và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập” NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội đã đề cập phân tích về các giá trị văn hóa
truyền thống tiêu biểu của Việt Nam qua đó đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn
và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Tác giả Nguyễn Chí Bền (2010) có công trình “Bảo tồn và phát huy giá
trị di sản văn hoá phi vật thể ở Thăng Long”, nghiên cứu về công tác bảo tồn,
phát huy giá trị di sản vật thể và phi vật thể ở Hà Nội dựa trên các kinh nghiệm, quan điểm, lý thuyết bảo tồn của nước ngoài Đây là nguồn tư liệu quý cho Việt Nam trong vấn đề quản lý, bảo vệ di sản Các quan điểm này có thể vận dụng để giải quyết vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Đồng Nai
Tác giả Nguyễn Thịnh trong cuốn sách “Di sản văn hóa Việt Nam bản sắc
và những vấn đề về quản lý, bảo tồn” xuất bản năm 2012 đã đưa ra góc nhìn toàn
diện về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam; giúp nhận diện, phân loại, quản lý di sản văn hóa một cách hiệu quả góp phần gìn giữ, phát triển các giá trị di sản văn hóa trong xu thế hội nhập quốc tế
Tác giả Nguyễn Kim Loan chủ biên trong cuốn sách “Bảo tồn và phát huy
di sản văn hóa Việt Nam” xuất bản năm 2014 đã nêu ra những khái niệm, đặc
trưng, tiêu chí phân loại di sản văn hóa, đánh giá về vai trò di sản văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời tác giả đi sâu phân tích những quan điểm của Đảng và Nhà nước về nhiệm vụ bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa
Luận án Tiến sĩ của tác giả Trần Thị Kim Ninh (2018) “Đảng bộ thành
phố Hồ Chí Minh lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa từ năm 1998 đến năm 2014” đã nêu khá rõ những yếu tố tác động đến công
tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa ở thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời nêu lên vấn đề nhằm giải quyết hài hòa các mối quan hệ: Bảo tồn và phát triển; phát triển kinh tế gắn với bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa, tạo
Trang 16động lực cho sự phát triển bền vững của thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn tiếp theo
Trong bài “Thực trạng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở Việt Nam”,
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 4(89) - 2015 Tác giả Đặng Thị Tuyết đã
phân tích thực trạng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở Việt Nam; đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở Việt Nam hiện nay
3.2 Tình hình nghiên cứu tại Đồng Nai
Nghiên cứu về lịch sử, văn hóa của vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai đến nay đã có nhiều cuốn sách, bài viết của các tác giả đề cập đến vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa
Trước năm 1975, nhà nghiên cứu Lương Văn Lựu đã biên soạn bộ “Biên
Hòa sử lược toàn biên” nội dung giới thiệu về vùng đất, con người Biên Hòa –
Đồng Nai sau gần ba thế kỷ hình thành và phát triển Luận án Phó Tiến sĩ của tác
giả Huỳnh Văn Tới năm (1996) với đề tài “Những sinh hoạt văn hóa – tín
ngưỡng dân gian của cư dân Việt ở Đồng Nai”, tác giả đã nêu lên nguồn gốc và
nhân tố hợp thành tín ngưỡng dân gian của cư dân Việt Trong cuốn sách “Bản
sắc dân tộc và văn hóa Đồng Nai” xuất bản năm 1999, tác giả Huỳnh Văn Tới
cũng đề cập tới những giá trị văn hóa làm nên bản sắc văn hóa Đồng Nai, đồng thời phác thảo khá rõ nét về phong tục, tập quán, lễ hội… của cộng đồng các tộc người tỉnh Đồng Nai, qua đó tác giả cũng đánh giá được thực trạng và giải pháp bảo tồn phát huy giá trị các di sản trong bối cảnh hội nhập
Ban Chỉ đạo Địa chí tỉnh Đồng Nai xuất bản bộ “Địa chí Đồng Nai” năm
2001, gồm 5 tập (tổng quan, địa lý, lịch sử, kinh tế, văn hóa), trong đó tập 5 nghiên cứu khá đầy đủ về diện mạo văn hóa – xã hội tỉnh Đồng Nai qua các thời
kỳ
Tác giả Trần Quang Toại (cb),(2004) trong cuốn sách “Đồng Nai di tích
lịch sử văn hóa”, đã giới thiệu một cách khái quát về giá trị văn hóa, lịch sử
của các di tích được xếp hạng cấp Quốc gia trong tỉnh Đồng Nai; các bài viết đã
Trang 17đặt ra vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị các di tích tỉnh Đồng Nai trong thời kỳ mới
Ban Quản lý Di tích – danh thắng Đồng Nai (2007) thực hiện đề tài “Di
tích – Danh thắng Đồng Nai với việc phát triển văn hóa du lịch”, đã nghiên cứu
những giá trị lịch sử, văn hóa của di tích – danh thắng tiêu biểu ở Đồng Nai để phục vụ cho phát triển văn hóa du lịch
Tác giả Nguyễn Thị Nguyệt (2010) thực hiện cuốn sách “Văn hóa – văn vật Đồng Nai” đã giới thiệu một cách tổng quan văn hóa, văn vật Đồng Nai trên các lĩnh vực văn hóa khảo cổ, văn hóa qua hiện vật, di vật, sinh hoạt truyền thống, trang phục, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội của các tộc người ở Đồng Nai
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Lê Xuân Hậu (2013) “Di sản văn hóa với
phát triển du lịch tại Đồng Nai” Trong nội dung luận văn tác giả đã phân tích
mối quan hệ giữa di sản văn hóa và du lịch, đánh giá vai trò của những giá trị di sản văn hóa đặc thù có thể khai thác góp phần phát triển du lịch tại Đồng Nai, thông qua đó nêu lên một số giải pháp định hướng phát triển du lịch trong giai đoạn tới trong mối gắn kết chặt chẽ giữa văn hóa và du lịch, lấy di sản văn hóa làm nguồn lực trọng tâm, nền tảng để phát triển du lịch tại địa phương
Ngoài ra còn một số bài viết đăng trên các tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, tạp chí Du lịch Việt Nam, tạp chí Di sản văn hóa, báo Đồng Nai, báo Sài Gòn Giải Phóng, tập san Xúc tiến du lịch Đồng Nai, sổ tay du lịch Đồng Nai, internet giới thiệu về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh, lễ hội, hoạt động du lịch ở Đồng Nai Nội dung các bài báo cũng đặt ra các vấn đề Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa ở Đồng Nai
Nhìn chung các công trình nghiên cứu khoa học, tài liệu bước đầu đã cung cấp những thông tin hữu ích về bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa là những tài liệu quý giá, gợi mở nhiều vấn đề quan trọng giúp cho quá trình thực hiện luận văn của chúng tôi được thuận lợi hơn
Trang 184 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa ở Đồng Nai giai đoạn (1998 - 2018)
* Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Từ năm 1998 đến năm 2018, với mốc phân chia là giai đoạn trước năm 1998 và giai đoạn (1998 – 2018); năm 1998 là thời điểm Đảng Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc", cũng là năm Tỉnh ủy Đồng Nai ra chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII; năm 2018 là thời điểm cả nước tiến hành tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, trong đó có tỉnh Đồng Nai
Về không gian: Hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa trên toàn địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn (1998 – 2018)
Về nội dung: tổng hợp khái quát các giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Đồng Nai cùng hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa (bao gồm: bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể; bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể); nhận xét, đánh giá và đúc kết kinh nghiệm từ hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Đồng Nai từ năm 1998 đến năm
2018
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn sử liệu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng hai phương pháp chủ yếu là lịch sử và logic nhằm phục dựng bức tranh chân thực về hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Đồng Nai (1998 - 2018) Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp điền dã, khảo sát đánh giá các loại hình di sản văn hóa, thống
kê số liệu từ các ban ngành chức năng của tỉnh: Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch, Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm Xúc tiến Du lịch Đồng Nai, Phòng Văn hóa và Thông tin, Ban Quản lý di tích cấp huyện…) để trình bày luận văn
Nguồn tư liệu được sử dụng trong đề tài này là: các sách, tạp chí, báo, viết
về lĩnh vực du lịch, văn hóa; báo cáo của ngành Văn hóa, Thể thao & Du lịch
Trang 19Đồng Nai… Ngoài ra, còn nguồn tư liệu do chính tác giả điền dã khảo sát trực tiếp tại các địa điểm có di sản văn hóa ở Đồng Nai
6 Đóng góp của luận văn
Đánh giá công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa; đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, đúc kết bài học kinh ngiệm từ thực tiễn có thể gợi mở cho các cấp chính quyền, các ban ngành chức năng liên quan những cơ sở định hướng các chính sách nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới
Kết quả của luận văn hy vọng cung cấp được lượng thông tin hữu ích về vốn di sản văn hóa tại Đồng Nai đến đông đảo mọi người; luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập và quản lý văn hóa của giảng viên, sinh viên và cán bộ ngành văn hóa, du lịch
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục; luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1 Tổng quan về di sản văn hóa Đồng Nai
Chương 2: Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tỉnh Đồng Nai từ năm 1998 đến năm 2018
Chương 3 Những đánh giá và một số kinh nghiệm rút ra từ hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa tỉnh Đồng Nai từ năm 1998 đến năm
2018
Trang 20Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DI SẢN VĂN HÓA ĐỒNG NAI 1.1 Vài nét về tỉnh Đồng Nai
1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Tỉnh Đồng Nai có diện tích tự nhiên là 5.862,37 km2 Địa giới hành chính Đồng Nai tiếp giáp các tỉnh: Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng; phía Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước; phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; phía Tây giáp Thành Phố Hồ Chí Minh Toàn tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm thành phố Biên Hòa, thành phố Long Khánh và 9 huyện: Long Thành, Nhơn Trạch, Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Tân Phú, Định Quán, Trảng Bom, Xuân Lộc và Cẩm Mỹ [38:6] Ngày nay, tỉnh Đồng Nai có vị trí hết sức quan trọng, ở trung tâm Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam – vùng kinh tế năng động nhất cả nước, giữ vai trò trọng yếu trong vùng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng
Đồng Nai nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, cận xích đạo, gió mùa Thời tiết trong năm chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa kéo dài từ tháng tháng 5 đến tháng 11 hàng năm và mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau; chế độ nắng, gió, mưa, nhiệt, ẩm ở tỉ lệ cao, ổn định và phân bổ khá đồng đều giữa các vùng là điều kiện tốt cho sản xuất nông nghiệp, phát triển công nghiệp và sinh hoạt văn hóa, du lịch của nhân dân
Về tài nguyên đất, Đồng Nai có 10 loại đất chính được chia thành 3 nhóm chủ yếu theo nguồn gốc hình thành: Nhóm đất hình thành trên đá bazan gồm đá bọt, đất đen, đất đỏ; nhóm đất hình thành trên nền phù sa cổ và đá phiến sét bao gồm đất xám, nâu xám ; nhóm đất thủy thành bao gồm đất phù sa, đất gley, đất cát Nhìn chung, Đồng Nai có nhiều loại đất có chất lượng tốt, thích hợp với
nhiều loại cây trồng như: cao su, cà phê, điều, đậu nành
Đồng Nai có mạng lưới sông, suối dày đặc (trên 40 sông suối lớn nhỏ) với diện tích mặt nước khoảng 16.666 ha, chiếm tỷ lệ 2,8% diện tích tự nhiên Hệ thống sông, hồ, suối, thác không những là nguồn cung cấp nước cho tỉnh mà còn
Trang 21có giá trị khai thác thủy điện như Thủy điện Trị An và đặc biệt là tiềm năng phát
triển du lịch sông nước của tỉnh [38:7]
Tài nguyên rừng Đồng Nai còn tương đối phong phú, năm 2018 diện tích rừng của tỉnh là 177.939 hecta, độ che phủ 30,1%; trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 119.950 hecta và diện tích rừng trồng là 57.989 hecta Thảm thực vật rừng ở Đồng Nai thuộc hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới gió mùa mưa nhiều với hệ thực vật, động vật đa dạng về chủng loài Các kiểu rừng tự nhiên cơ bản có kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và kiểu rừng kín nửa rụng lá nhiệt đới
ẩm [38:7,8]
Các loại khoáng sản của tỉnh Đồng Nai không nhiều, trữ lượng không lớn
để phát triển ngành công nghiệp khai khoáng có qui mô Riêng nguồn khoáng sản làm vật liệu xây dựng (đá, cát, sét, laterit, puzolan, kermzit) là thế mạnh của tỉnh, không những cung cấp đủ phục vụ công nghiệp vật liệu xây dựng trong tỉnh mà còn cung cấp cho các tỉnh lân cận, trong đó các mỏ đá của Đồng Nai có trữ lượng lớn gần nửa tỷ m3 phân bố đều khắp các huyện Sét gạch ngói phân bố ở nhiều vùng trong tỉnh, có thể khai thác hàng triệu m3/năm Cát xây dựng tập trung chủ yếu ở lòng sông Đồng Nai với trữ lượng khá lớn và hàng năm lại được bổ sung từ thượng nguồn[58]
Nhìn chung so với các tỉnh phía Nam, Đồng Nai là một tỉnh được tận hưởng ưu đãi của thiên nhiên miền nhiệt đới, có cơ cấu quỹ đất phong phú thích hợp với các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao; khí hậu ôn hòa, hai mùa mưa nắng rõ rệt, ít có lốc và bão; có hệ thống rừng tự nhiên dồi dào giá trị sinh thái, sinh cảnh; có hệ thống sông ngòi giàu tiềm lực thủy năng, tiện lợi cho giao thông cũng như cung cấp nước sinh hoạt nước và cho các loại hình kinh tế công - nông
- lâm - ngư nghiệp và phát triển dịch vụ du lịch Vì vậy, trong tiến trình lịch sử Đồng Nai luôn là địa bàn hấp dẫn cho lưu dân tứ xứ, là vùng đất giao lưu, dung hợp, tiếp biến nhiều luồng văn hóa
1.1.2 Cư dân và lao động
Trang 22Cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, vùng đất Đồng Nai trở nên sôi động với
sự xuất hiện của lớp cư dân di cư người Việt từ miền Thuận Quảng và nhóm người Hoa theo Trần Thượng Xuyên vào hợp cùng các cư dân bản địa cùng nhau khai khẩn mở mang cương vực Trải qua thời gian vùng đất Đồng Nai trở thành nơi sinh sống đông đúc, với nhiều làng, ấp trù phú Đến nay, ở Đồng Nai còn tồn tại nhiều làng, xã có tuổi đời gần 300 năm như làng Phú Hội, làng Hiệp Phước huyện Nhơn Trạch), Làng Bến Gỗ (huyện Long Thành); làng Bến Cá - Tân Triều (huyện Vĩnh Cửu); xã Hiệp Hòa (thành phố Biên Hòa)
Tính đến năm 2018, dân số của tỉnh Đồng Nai có 3.086,07 nghìn người, bao gồm dân số thành thị 1.098,74 người, chiếm 35,6%; dân số nông thôn 1.987,33 nghìn người, chiếm 64,4%; mật độ dân số đạt 528 người/km2 Tháp tuổi dân số của tỉnh Đồng Nai khá trẻ cộng với quá trình phát triển nhanh chóng của các khu công nghiệp trên địa bàn tạo sức hút tăng dân số cơ học, làm dân số của tỉnh tăng nhanh [13:55]
1.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
Tỉnh Đồng Nai đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao Từ năm 2000 đến năm 2015, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Đồng Nai bình quân đạt trên 12%/năm Tổng sản phẩm quốc nội (GRDP) trên địa bàn tỉnh năm 2018 đạt 222.226,5 tỷ đồng (tăng 8,1% so với năm 2017 và 12,5% so với năm 2015) [14:552] GDP bình quân đầu người đạt 102,32 triệu đồng, tương đương 4.491 USD (tăng 857 USD so với năm 2015 và
299 USD so với năm 2017) [14:7]
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông - lâm - thủy sản trong tổng giá trị sản phẩm địa phương Năm 2005 tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng là 52,2%, ngành dịch vụ chiếm 25,6%, ngành nông - lâm - thủy sản chiếm 22,2% thì đến năm 2018, công nghiệp - xây dựng là 57,9%, ngành dịch vụ chiếm 37,1%
và ngành nông - lâm - thủy sản giảm chỉ còn 5,0% [57]
Trang 23Bảng 1.1: Tổng giá trị sản phẩm địa phương (GRDP) tỉnh Đồng Nai theo giá so sánh năm 2010
Năm Tổng số
Chia ra Nông, lâm
nghiêp - thủy sản
Công nghiệp
- xây dựng Dịch vụ
Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Đồng Nai năm 2018
Biểu đồ 1.1 Tổng giá trị sản phẩm địa phương(GRDP) tỉnh Đồng Nai các năm 2010, 2015 và 2018
Đơn vị tính: nghìn tỷ
Trang 24Đầu tư công nghiệp của tỉnh Đồng Nai vào bậc nhất cả nước, trên địa bàn tỉnh có nhiều khu công nghiệp tập trung ở hầu hết các huyện, thành phố Tính đến năm 2018, Đồng Nai có 31 KCN đã đi vào hoạt động, thu hút hơn 1.200 dự
án đầu tư nước ngoài và gần 500 dự án đầu tư trong nước [59] Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2018 theo giá hiện hành đạt 79.903,60 tỷ đồng (bằng 25,3% GRDP), trong đó vốn đầu tư ngành công nghiệp - xây dựng là 46.969,75
tỷ đồng chiếm 58,78% tổng vốn đầu tư Về thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) chỉ tính riêng năm 2018 có 131 dự án cấp phép mới với số vồn đăng
ký đạt 1.045 triệu USD, số vốn đầu tư được thực hiện trong năm 2018 là 381 triệu USD [14:119]
Trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ, tỉnh Đồng Nai có hệ thống chợ truyền thống, siêu thị khá phong phú, phân bố rộng khắp trên các địa bàn đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu của người dân Kim ngạch xuất - nhập khẩu của tỉnh chiếm
tỷ trọng khá lớn trong tổng kim ngạch cả nước: Năm 2018, kim ngạch xuất khẩu đạt 18.610 triệu USD; kim ngạch nhập khẩu đạt 16.015 triệu USD [46] Các ngành dịch vụ góp phần quan trọng vào tổng sản phẩm trong tỉnh và tạo tiền đề cho các ngành và lĩnh vực khác phát triển
Lĩnh vực sản xuất nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản của tỉnh trong nhiều năm phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao hiệu quả kinh tế và tăng thu nhập của người dân Cơ cấu cây trồng tiếp tục chuyển đổi theo hướng tăng nhanh diện tích một số cây công nghiệp, cây ăn trái có giá trị kinh tế cao, sử dụng các loại giống mới trong trồng trọt nhằm tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp Hoạt động chăn nuôi phát triển theo hướng tập trung và từng bước hiện đại, các trang trại và doanh nghiệp không ngừng mở rộng quy mô chăn nuôi, tăng số lượng đàn gia súc và gia cầm như trâu, bò, heo, gà, vịt và tăng sản lượng thịt cung cấp cho thị trường tiêu thụ
Cơ sở hạ tầng trong tỉnh từng bước được đầu tư xây dựng phục vụ đắc lực các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và dân sinh Đến cuối năm 2018, hệ thống giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh được phát triển có tổng chiều dài
khoảng 6.876,5 km, bao gồm đường quốc lộ, tỉnh lộ, đường huyện (đường đô
Trang 25thị), đường xã (phường, thị trấn), đường chuyên dùng Tuyến đường sắt thống
nhất Bắc – Nam đi qua tỉnh có chiều dài 87,5 km, toàn tỉnh có 24 tuyến đường sông đang hoạt động, tổng chiều dài 431 km [38:16] Đến nay, hệ thống lưới điện
đã được kéo phủ khắp toàn tỉnh đến 100% số xã, phường, thị trấn, đến năm 2018,
tỷ lệ hộ sử dụng điện sinh hoạt đạt 99,84%, trong đó thành thị đạt 100% và nông thôn đạt 99,67% [13:374] Toàn tỉnh có 19 nhà máy nước đang hoạt động, tổng công suất các nhà máy nước đạt khoảng 310.000 m3/ngày, cơ bản đáp ứng được khoảng 80% nhu cầu nước máy phục vụ nhu cầu sinh hoạt của dân cư đô thị, các khu công nghiệp và một số điểm dân cư nông thôn
Lĩnh vực văn hóa - y tế - giáo dục của tỉnh được tập trung đầu tư cơ sở vật chất và từng bước nâng chất lượng Đến năm 2018, tỷ lệ xã, phường có trường tiểu học, trường mầm non đạt 100%, có trường trung học cơ sở đạt 95% [14:475] Mạng lưới các cơ sở y tế phát triển mạnh, số cơ sở khám chữa bệnh do nhà nước quản lý là 588 cơ sở (20 bệnh viện, 67 phòng khám đa khoa khu vực,
171 trạm y tế cấp xã, 329 cơ sở y tế khác) với 10.520 giường bệnh; nhân lực y tế
là 10.597 người; số bác sĩ bình quân 1 vạn dân là 8 người Bên cạnh đó, tỉnh còn
có gần 3.000 phòng khám, cơ sở hành nghề y, dược tư nhân ở các đô thị và vùng nông thôn [14:525] Hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cấp tỉnh, huyện, thị xã, thành phố và cơ sở xã, phường, thị trấn được đầu tư xây dựng mới, khang trang, sạch đẹp, tổ chức hoạt động hiệu quả, phục vụ tốt yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương và nhu cầu hưởng thụ về đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ở
cơ sở
1.1.4 Đặc điểm lịch sử - văn hóa
Sự kiện năm Mậu Dần (1698), Nguyễn Hữu Cảnh thừa lệnh chúa Nguyễn
Phúc Chu kinh lược phương Nam đã chính thức ghi tên vùng đất này vào lãnh thổ của triều Nguyễn Nguyễn Hữu Cảnh đặt tên miền đất mới này thành Phủ Gia Định gồm 2 huyện: Tân Bình ở phía Tây sông Sài Gòn (lập dinh Phiên Trấn) và huyện Phước Long ở phía Đông sông Sài Gòn (lập dinh Trấn Biên) bao gồm các tỉnh: Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu, một phần của tỉnh
Trang 26Bình Thuận và các quận 2, quận 9; quận Thủ Đức của thành phố Hồ Chí Minh bây giờ
Thời kỳ thực dân pháp xâm lược, sau Hòa ước Nhâm Tuất (1862) giữa triều đình Nhà Nguyễn ký với thực dân Pháp, Biên Hòa cùng với Gia Định, Định Tường trở thành nhượng địa của Pháp Từ đây, thực dân Pháp nhiều lần thay đổi đơn vị hành chính vì mục tiêu quân sự và khai thác thuộc địa, đến cuối năm 1899 mới tạm ổn định với các tỉnh: Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một và Đồng Nai thượng được thành lập từ địa bàn tỉnh Biên Hòa cũ Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ địa giới hành chính Đồng Nai tiếp tục bị thay đổi nhiều lần theo ý đồ quân sự của cả hai bên Đến năm 1976 đất nước thồng nhất, Chính phủ Cách mạng quyết định thành lập tỉnh Đồng Nai trên cơ sở hợp nhất ba tỉnh: Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy Đến giai đoạn (1978 - 1994), đơn vị hành chính Đồng Nai tiếp tục được điều chỉnh và tới năm 1995 tỉnh Đồng Nai mới được ổn định như ngày nay
Trong lịch sử, vùng đất Đồng Nai đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh dai dẳng khiến cho dân chúng lầm than, điêu đứng Đầu tiên là cuộc giao tranh giữa nghĩa quân Tây Sơn với Nhà Nguyễn, kéo dài từ năm 1775 cho đến năm 1792 Nguyễn Ánh mới hoàn toàn làm chủ được đất Trấn Biên, Gia Định Tiếp đến là cuộc binh biến của Lê Văn Khôi - con nuôi của Lê Văn Duyệt kéo dài từ năm
1832 đến năm 1835 Nhà Nguyễn mới dập tắt được Năm 1858, Biên Hòa - Đồng Nai lại một lần nửa gánh vai trò địa đầu của lục tỉnh Nam kỳ trong cuộc đụng đầu với cuộc xâm lược của thực dân Pháp Trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp, triều đình Nhà Nguyễn nhu nhược ký hiệp ước Nhâm Tuất (1862) nhường 3 tỉnh Miền Đông: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường cho Pháp và ra lệnh bãi binh song nhân dân Biên Hòa - Đồng Nai đã đoàn kết đứng lên xây hào đắp cản ngăn bước tiến của quân thù Ngọn cờ kháng Pháp của nhân dân Biên Hòa - Đồng Nai vẫn giương cao với tinh thần quật khởi bằng nhiều hình thức khác nhau, chiến đấu không khoan nhượng với kẻ thù
Những năm đầu thế kỷ XX, người dân Biên Hòa lại tham gia vào các hội kín yêu nước (hội kín Long Thành, hội kín Đoàn Văn Cự, Trại Lâm Trung…)
Trang 27cùng nhiều hoạt động đấu tranh khác nhau nhằm mục tiêu dân tộc và dân chủ Mặc dù thất bại song tinh thần quật khởi của người dân Biên Hòa - Đồng Nai đã
tô thắm lòng yêu nước, góp phần làm nên một “hào khí Đồng Nai” trong những trang sử vàng của dân tộc Ý chí bất khuất chống Pháp cứu nước của người dân Đồng Nai lại bùng lên mạnh mẽ khi Đảng Cộng sản ra đời khơi dậy truyền thống yêu nước, tập hợp lực lượng phát huy được sức mạnh toàn dân Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhiều cuộc đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân liên tục diễn
ra đòi dân sinh, dân chủ Hết Pháp lại đến phát xít Nhật vào xâm lược, nhân dân Đồng Nai thêm một tròng áp bức Ngày 09/03/1945, Nhật đảo chính Pháp lập chính quyền và các tổ chức thân Nhật, địa phương Biên Hòa đã cùng nhân dân cả nước thực hiện lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân
Chính quyền cách mạng vừa mới thành lập chưa đầy một tháng thực dân Pháp núp bóng quân đội Anh dưới danh nghĩa đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật, tái chiếm Sài Gòn và Biên Hòa Quân dân Biên Hòa cùng Nam Bộ bước vào giai đoạn trường kỳ kháng chiến, lập nhiều chiến công vang dội như: Trận đánh Núi Thị - Xuân Lộc (30/10/1945); Cầu Lò Rèn - Long Thành (09/03/1946), phục kích cầu Phước Cang - Long Thành (01/1948); trận đánh La Ngà (01/03/1948) làm chấn động thế giới; trận đánh Cầu Bà Kiên (19/03/1948) khai binh cách đánh đặc công ở chiến trường Miền Đông; trận tập kích đồng loạt phá
50 tháp canh của giặc ngày 22/03/1950, đánh bại nhiều cuộc càn quét qui mô của địch vào Chiến khu Đ; đốt kho xăng dầu ở Phước Lư (Biên Hòa); tấn công trại giam Thủ Đức giải thoát 120 tù chính trị (tháng 08/1950); tập kích yếu khu Trảng Bom (20/07/1951), cài mìn diệt máy bay giặc ở sân bay Biên Hòa (tháng 04/1952) Kết quả kháng chiến chống Pháp của quân dân Biên Hòa - Đồng Nai
đã góp phần quan trọng trong thắng lợi chung của chiến trường Nam Bộ buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Gienève năm 1954 rút quân về nước
Từ sau Hiệp định Genève, đế quốc Mỹ thay chân thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến xâm lược Việt Nam; quân và dân Đồng Nai lại cùng quân dân Nam
Bộ tiếp tục cuộc kháng chiến chống xâm lược trường kỳ gian khổ, khốc liệt với một đế quốc có tiềm lực quân sự mạnh, thủ đoạn tinh vi Mặc dù trong những
Trang 28năm 1955 – 1959, lực lượng cách mạng bị đàn áp khốc liệt do chiến dịch tố cộng của Mỹ - Diệm gây ra, nhưng lòng dân kiên trung và kinh nghiệm chống Pháp dày dạn đã được vận dụng khéo léo trong tình hình mới để duy trì và phát triển phong trào cách mạng trong máu lửa, kiên cường bám trụ vừa chiến đấu vừa trưởng thành về mọi mặt, lập nền nhiều chiến công lẫy lừng như: Trận chống càn, diệt Mỹ ở Đất Cuốc (ngày 08/11/1965); Đặc công Biên Hòa đánh vào Tổng kho Long Bình phá huỷ hàng trăm ngàn tấn bom đạn; Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác đánh chìm nhiều tàu vạn tấn của Mỹ trên sông Lòng Tàu và các bến cảng, đốt cháy kho xăng Nhà Bè 1972, làm nổ tung kho bom Thành Tuy Hạ vào năm 1973 Trong chiến dịch mùa xuân năm 1975, Đồng Nai là chiến trường nóng bỏng, trong 21 ngày đêm quyết chiến, quân cách mạng đã mở tung cánh cửa thép hướng Đông Bắc Sài Gòn vào ngày 21/04/1975 để đại quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn kết thúc chiến tranh, thống nhất đất nước
Sau ngày giải phóng miền Nam, đất nước thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân dân Đồng Nai đoàn kết vượt qua mọi khó khăn, khắc phục hậu quả chiến tranh, từng bước xây dựng Đồng Nai trở thành một trong những tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; nhịp sống công nghiệp hóa, hiện đại hóa với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao ngày càng chuyển biến đi lên cùng với sự chuyển mình mạnh mẽ của đất nước
Văn hóa Đồng Nai là sự hòa nhập, đan xen, kết tinh từ nhiều nền văn hóa khác nhau Đó là văn hóa bản địa (người Chơro, Mạ, X’tiêng, K’ho), văn hóa của người Việt ở Trung bộ, Bắc bộ mang theo vào khai hoang lập ấp, văn hóa người Hoa gốc Phước Kiến, Quảng Châu du nhập vào theo đoàn người lánh nạn của nhóm Trần Thượng Xuyên và văn hóa của các tộc người thiểu số khác di cư đến Đồng Nai vào các thời kỳ khác nhau của lịch sử Sự giao lưu văn hóa của nhiều tộc người trên địa bàn tỉnh Đồng Nai qua các thời kỳ đã hình thành một văn hóa Đồng Nai mang những đặc trưng riêng đồng thời vẫn thể hiện được bản sắc văn hóa của các tộc người Sự đa dạng, phong phú này là cơ sở cho việc hình thành
và phát triển một nền văn hóa Đồng Nai hiện đại mang bản sắc riêng có Đồng
Trang 29thời các giá trị di sản văn hóa ấy là nguồn lực hữu ích cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
1.2 Di sản văn hóa Đồng Nai
1.2.1 Các khái niệm liên quan về di sản văn hóa
Theo Điều 1 của Luật Di sản văn hóa năm 2001: “Di sản văn hóa bao gồm
di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế
hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [26:12] Theo định nghĩa này, di sản văn hóa được khái quát là những tài sản văn hóa truyền thống trong
hệ thống giá trị của nó, được chủ thể nhận biết đưa vào nhằm đáp ứng những nhu cầu và đòi hỏi của hiện tại Đây là định nghĩa mang tính tổng quát, có thể áp dụng để xác định phạm vi, tính chất, giá trị, loại hình, không gian, thời gian của
di sản văn hóa
Tại Điều 4, Luật Di sản văn hóa năm 2001 nêu rõ: “Di sản văn hóa vật thể
là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [25:1] Định nghĩa này giúp chúng ta nhận diện được chính xác về hình thức tồn tại, các giá trị của di sản văn hóa vật thể
Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009: “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc
cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn
và các hình thức khác” [27:1] Như vậy, di sản văn hóa phi vật thể là những truyền thống văn hóa nó chứa đựng những phong tục tập quán, những kinh nghiệm, tri thức, bí quyết nghề… trong cuộc sống được đúc kết, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác của một tộc người, một dân tộc được xác lập trong một điều kiện tự nhiên, xã hội nơi sản sinh ra di sản đó
Khái niệm “bảo tồn” được hiểu như những nỗ lực nhằm gìn giữ các giá trị, bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việc bảo tồn không chỉ nhằm mục đích lưu
Trang 30giữ, bảo vệ những giá trị vốn có từ xa xưa, mà còn có nghĩa là làm phong phú, đa dạng hơn lên
Khái niệm “phát huy” là những hoạt động nhằm đưa văn hóa vào thực tiễn
xã hội, xem đó như là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển
xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với phát triển xã hội Phát huy còn bao hàm ý nghĩa là môi trường tốt nhất để bảo tồn và làm giàu chính bản thân văn hóa [6:254] Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa là một lĩnh vực hoạt động có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa
1.2.2 Một số quan điểm về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
1.2.2.1 Các quan điểm trên thế giới
Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá trên thế giới cho đến nay đang có nhiều quan điểm khác nhau, tiêu biểu nhất có hai quan điểm:
- Quan điểm “bảo tồn nguyên vẹn” theo tác Gregory J.Ashworth thì quan
điểm này được phát triển từ những năm 50 của thế kỷ XIX, được khá nhiều học giả nghiên cứu về bảo tồn, bảo tàng trong lĩnh vực di sản văn hóa ủng hộ Các
học giả theo quan điểm này cho rằng, những sản phẩm của quá khứ, nên được
bảo vệ một cách nguyên vẹn như nó vốn có, cố gắng phục hồi nguyên gốc các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cũng như cố gắng cách ly di sản khỏi môi trường xã hội đương đại [53:21]; mỗi di sản chứa đựng những giá trị văn hóa - xã hội nhất định mà không phải lúc nào thế hệ hiện tại có hiểu biết một cách cụ thể
để có thể phát huy những giá trị ấy một cách thích hợp Hơn nữa, những giá trị văn hóa ấy luôn biến đổi theo thời gian do những tác động của xã hội hiện tại và
sẽ tạo nên những lớp văn hóa mới khác với lớp văn hóa mà thế hệ trước đã chuyển giao lại, vì thế, có thể làm cho các thế hệ tiếp sau nữa không thể truy nguyên được những giá trị di sản đang tồn tại Vì vậy, khi chúng ta chưa có đủ thông tin, trình độ hiểu biết để có thể lý giải giá trị của các di sản văn hóa, chúng
ta nên giữ nguyên trạng những di sản này để khi có điều kiện, các thế hệ tiếp nối
có thể xử lý, giải thích và tìm cách kế thừa, phát huy di sản một cách tốt hơn
Trang 31- Quan điểm “bảo tồn trên cơ sở kế thừa” cũng được nhiều các học giả
trên thế giới quan tâm và đang dần phổ biến khi bàn đến vấn đề bảo tồn di sản văn hóa Tiêu biểu về quan điểm này có các học giả như Alfrey, Putnam, Ashworth và P.J Larkham họ xem di sản như một ngành công nghiệp và cần phải có cách thức quản lý di sản tương tự với cách thức quản lý của một ngành công nghiệp văn hóa với những logic quản lý đặc biệt, phù hợp với tính đặc thù của các di sản Một số nhà nghiên cứu như Boniface, Fowler, Prentice, họ cho rằng không thể không đề cập đến phát triển du lịch trong vấn đề bảo tồn và phát huy di sản [53:21] Nhìn chung, cách tiếp cận của các nhà khoa học theo quan điểm này sống động hơn, khẳng định được tính đa dạng trong sự sáng tạo của con người Ngoài ra, họ còn cho rằng việc quản lý di sản cần đặt dưới một cách tiếp cận toàn cầu hóa và cần quan tâm làm thế nào lưu giữ được các di sản văn hóa thông qua cách tiếp cận mới và phương tiện kỹ thuật mới
Quan điểm chung hiện nay trên thế giới là bảo tồn nguyên vẹn trên cơ sở
kế thừa, phát huy di sản, cách tiếp cận mang tính toàn diện hơn, quan tâm đến di sản văn hóa để phát triển kinh tế, xã hội Xem văn hóa là nền tảng, là nguồn tài nguyên nhân văn quan trọng để phát triển xã hội
Trên cơ sở các quan điểm nghiên cứu, lý luận của các chuyên gia, nhà khoa học về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, các tổ chức quốc tế như
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO), Trung tâm Quốc tế về Nghiên cứu Bảo tồn và Trùng tu di sản văn hóa (ICOMMOS), Hội đồng quốc tế về Di tích và Di chỉ (ICCROM) đã thông qua nhiều Hiến chương
về bảo vệ di sản, cụ thể: Hiến chương Athen về trùng tu di tích (1931), Hiến chương Venice về bảo vệ và trùng tu di tích và di chỉ (1964), Hiến chương Burra
về bảo vệ và quản lý di sản (1981, sửa đổi vào 1988 và 1999), Công ước di sản thế giới (1972)… Hiến chương về bảo vệ và quản lý di sản khảo cổ học (1990), Công ước quốc tế về du lịch và văn hóa (1999)…
Thực tế cho thấy qua các công trình nghiên cứu rất nhiều bài học kinh nghiệm được đúc kết, những mô hình về bảo tồn phát huy giá trị di sản được nhân rộng mang tính quốc tế rất bổ ích và phù hợp nhiều quốc gia trong đó có
Trang 32Việt Nam Đó là việc xem các di sản văn hóa cần được bảo vệ toàn vẹn, như nó vốn có, cố gắng phục hồi nguyên gốc các giá trị di sản văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể và “di sản cần được tiếp cận dưới góc độ toàn cầu hóa, ở đó các giá trị độc đáo của mỗi nền văn hóa cần được lưu giữ, hỗ trợ bởi nhà nước” [7 : 26]
1.2.2.2 Quan điểm của Việt Nam
Quan điểm xuyên suốt của Đảng ta là trân trọng, bảo vệ, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc, vì tiến bộ của nhân dân Vì vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, đề cao giá trị của di sản văn hóa trong sự phát triển văn hóa của dân tộc qua nhiều thời kỳ
Ngay sau khi đất nước giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65 SL/CP ngày 23/11/1945 về Bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam, trong đó xác định: “Bảo tồn cổ tích là việc rất cần cho công cuộc kiến thiết nước Việt Nam” Tại Điều 4 của Sắc lệnh nêu rõ: “Cấm phá hủy đình chùa, đền miếu, hoặc những nơi thờ tự khác như cung điện, thành quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn Cấm phá hủy những bia ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính cách tôn giáo nhưng có ích cho lịch sử” [60] Nội dung Sắc lệnh phản ánh được tầm nhìn chiến lược và định hướng đúng đắn của Đảng, Nhà nước trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc Tại Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ II năm 1951, Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định “xây dựng nền văn hóa Việt Nam có tính dân tộc, khoa học và đại chúng” [31:40] Ngày 29/10/1957, Thủ tướng Chính phủ công bố Quyết định số 519-TTg
về Bảo vệ di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Tiếp đến, ngày 31/3/1984, Hội đồng Nhà nước công bố Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Đây là cơ sở pháp lý để thực hiện công tác bảo tồn, phát huy giá trị
di sản văn hóa
Từ năm 1986, khi Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước đã đổi mới
tư duy nhận thức đúng đắn và sâu sắc hơn về vai trò của văn hóa trong sự phát triển kinh tế - xã hội khi Đảng chủ trương việc phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa, gắn chặt với phát triển văn hóa Trên cơ sở đó, các di sản văn
Trang 33hóa của dân tộc được coi trọng, bảo tồn và phát huy, góp phần làm cho đời sống tinh thần của xã hội ngày càng phong phú
Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, tại Điều
30 nêu rõ: “Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hóa Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam ” Trong đó, nhà nước ưu tiên cho việc chăm lo công tác bảo tồn, bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát huy tác dụng của các di tích Tháng 1/1993, Hội nghị lần thứ IV, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII ban hành Nghị quyết với định hướng là phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Hội nghị lần thứ V, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII ban hành Nghị quyết về chiến lược về văn hóa của Đảng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nghị quyết nêu rõ “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng báo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” Nghị quyết Trung ương
V cũng nhấn mạnh việc bảo tồn, phát huy DSVH dân tộc không chỉ bó hẹp trong phạm vi trong nước mà còn phải “làm tốt việc giới thiệu văn hóa, đất nước và con người Việt Nam với thế giới” [15:56]
Tai Điều 9, Luật Di sản văn hóa 2001 đã khẳng định: “Nhà nước có chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đóng góp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá” Ngày 24/02/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết
định số 36/QĐ-TTg lấy ngày 23 tháng 11 hàng năm là “Ngày Di sản văn hoá
Việt Nam” nhằm phát huy truyền thống và ý thức trách nhiệm của tổ chức, cá
nhân hoạt động trên lĩnh vực di sản văn hoá, động viên và thu hút mọi tầng lớp
xã hội tham gia tích cực vào sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá dân tộc
Trang 34Trên cơ sở tiếp thu các quan điểm, lý thuyết của các chuyên gia, các nhà khoa học, các tổ chức quốc tế như: UNESCO, ICOMMOS, ICCROM, Công ước
về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (2003) Việt Nam đã vận dụng vào tình hình cụ thể của đất nước trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa, việc ban hành các văn bản là những tiền đề giúp cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản được thuận lợi hơn:
- Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật
Di sản văn hóa năm 2009;
- Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Di sản văn hóa;
- Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18/9/2012 quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh;
- Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT ngày 24/7/2001 của Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020;
- Thông tư 04/BVHTTDL ngày 30 tháng 6 năm 2010 của BộVăn hóa Thể thao và Du lịch về kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể;
- Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 28/12/2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích
1.2.2.3 Quan điểm của tỉnh Đồng Nai
Từ những ngày đầu tiên sau giải phóng, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai đã xác định rõ công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa
có ý nghĩa hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển của tỉnh Vì vậy, dù trong bộn bề công việc, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã giao cho Ty Văn hóa Thông tin thành lập Phòng Bảo tồn - Bảo tàng (tháng 1/1976) trực thuộc Ty để thực hiện nhiệm vụ chính là gìn giữ, phát huy các giá trị di sản văn hóa Đồng Nai góp phần vào việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương Những năm
Trang 35sau giải phóng mặc dù tình hình kinh tế - xã hội của địa phương còn nhiều khó khăn, song Đảng bộ và chính quyền Đồng Nai vẫn luôn thể hiện được vai trò định hướng, chỉ đạo trong công tác giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở Đồng Nai Thời kỳ đổi mới từ sau năm 1986, đời sống vật chất của nhân dân trong tỉnh được cải thiện, công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa được tỉnh quan tâm chỉ đạo thực hiện đồng bộ đạt được nhiều kết quả đáng đáng ghi nhận Trong các nhiệm kỳ Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ Đồng Nai đều có đánh giá cụ thể những thành tựu đạt được, đồng thời chỉ rõ hạn chế và nguyên nhân trong công tác giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở Đồng Nai
Tháng 7 năm 1998, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ V
đã thông qua Nghị quyết về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Đây được xem là văn kiện quan trọng thể hiện rõ
nhất đường lối văn hóa của Đảng Quan điểm của Đảng về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc luôn nhất quán, thể hiện tư tưởng và ý kiến chỉ đạo chung nhất Tỉnh Đồng Nai đã vận dụng quan điểm của Đảng về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và cụ thể hóa trong các Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh với quyết tâm đưa các quan điểm nêu trên của Đảng vào cuộc sống Ban chấp hành Tỉnh ủy
đã quán triệt trong Nghị quyết số 39-NQ/TU ngày 4/11/1998 về chương trình
hành động thực hiện Nghị quyết hội nghị Trung ương V (khóa VIII) “Xây dựng
và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Trong đó
chỉ rõ: “Xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh trên cơ sở kế thừa và phát huy giá trị truyền thống mấy ngìn năm của dân tộc và tâm hồn, bản lĩnh con người Việt Nam trên vùng đất Đồng Nai trong 300 năm qua, nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu về đời sống tinh thần của nhân dân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [46:314]
Với vị trí và tầm vóc của một tỉnh công nghiệp đang trên đà phát triển, lấy mục tiêu phát triển bền vững (phát triển kinh tế song song với bảo tồn, gìn giữ, phát triển văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường) là trọng tâm, tỉnh Đồng Nai xem đây là những thách thức rất lớn Để thực hiện được mục tiêu đề ra trong những năm qua, sau khi Luật Di sản văn hoá năm 2001 được ban hành, tỉnh Đồng Nai
Trang 36đã ban hành hàng loạt các kế hoạch, quy hoạch, quy định, chỉ thị, quyết định về bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa điển hình như: Chỉ thị số 22/CT-UBND ngày 01/9/2002 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai về việc
“bảo vệ di sản văn hoá dân tộc trên địa bàn tỉnh”; Quyết định số UBND, ngày 16/9/2009 của UBND tỉnh về việc phân cấp Quản lý di tích - danh thắng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ X (nhiệm kỳ 2015 - 2020); Quy hoạch phát triển ngành Văn hóa tỉnh Đồng Nai đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (ban hành kèm theo Quyết định số 2366/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh); Quyết định số 39/2018/QĐ-UBND, ngày 27/9/2018 của UBND tỉnh về việc phân cấp Quản lý
64/2009/QĐ-di tích - danh thắng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
1.2.3 Các loại hình di sản văn hóa của Đồng Nai
1.2.3.1 Di sản văn hóa vật thể
Theo hồ sơ kiểm kê di tích phổ thông của Bảo tàng Đồng Nai, trên toàn tỉnh Đồng Nai hiện có hơn 1.500 cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, địa điểm lịch sử; 50 ngôi mộ cổ và hàng trăm địa điểm danh lam thắng cảnh, trong đó đã xếp hạng 57
di tích (02 di tích xếp hạng Quốc gia đặc biệt, 29 di tích xếp hạng cấp Quốc gia
và 25 di tích xếp hạng cấp tỉnh)[4] Đối chiếu với các tiêu chí quy định trong Điều 28 Luật Di sản văn hóa và Khoản 9 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa; đồng thời trong 57 di tích của tỉnh Đồng Nai đã được xếp hạng, có thể phân chia di tích thành những loại hình: Loại hình khảo
cổ, loại hình di tích lịch sử, loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật
- Di tích khảo cổ:
Là một trong những loại hình di sản đặc sắc và tiêu biểu cho di sản văn hóa vật thể của tỉnh Đồng Nai, có thể cung cấp nhiều cứ liệu khoa học cho việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa Đồng Nai trong diễn trình phát triển của đất nước
Trải qua hơn một thế kỷ nghiên cứu với hàng trăm cuộc điều tra, thám sát, khai quật hàng trăm di chỉ khảo cổ học với nhiều loại hình khác nhau: cư trú, công xưởng, mộ táng, đền tháp của cư dân cổ với hàng vạn hiện vật về công cụ sản xuất, sinh hoạt, đồ trang sức, đồ thờ, nhạc cụ, vũ khí cùng với những cấu
Trang 37trúc các tầng văn hoá đã cung cấp một nguồn cứ liệu, thông tin quan trọng về niên đại, trình độ văn minh, hình thái xã hội của những lớp cư dân cổ Đồng Nai Những cứ liệu khảo cổ học tìm thấy có thể giúp phục dựng lại một bức tranh đa dạng, phong phú về văn hóa Đồng Nai phát triển rực rỡ trên nhiều mặt qua các thời kỳ: đá cũ, đá mới và kim khí Đến nay, những kết quả nghiên cứu cho thấy loại hình di chỉ, di tích khảo cổ học là một trong những đối tượng quan trọng cần được quan tâm bảo tồn, phát huy hợp lý và hiệu quả Thực tế trên địa bàn Đồng Nai đến nay mới chỉ có di tích Mộ Cự thạch Hàng Gòn (vừa là di tích khảo cổ, vừa là di tích kiến trúc) được xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt năm 2015, ngoài
ra hơn một trăm địa điểm di chỉ đã được phát hiện có vết tích của các nền văn hoá cổ hầu như đều ở dạng phế tích hoặc nằm trong các vùng rừng không bảo vệ được Vì vậy, việc áp dụng các giải pháp cho việc bảo tồn, phát huy đối với các
di tích, di chỉ khảo cổ học còn lại là rất quan trọng và cần thiết
- Di tích kiến trúc - nghệ thuật
Đây là loại hình chiếm số lượng nhiều hơn các loại hình khác ở Đồng Nai gồm: kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng (đình, miễu, chùa); kiến trúc lăng mộ (mộ cổ); kiến trúc dân dụng (nhà cổ, làng cổ), kiến trúc quân sự (thành cổ)… Mỗi một loại hình đều mang nhiều giá trị và nét đặc sắc của di tích ở Đồng Nai
* Đình làng: Đình làng của người Việt ở Đồng Nai được hình thành gắn với quá trình khai khẩn mở mang vùng đất của các bậc tiền nhân từ thế kỷ XVII
So với đình miền Bắc và miền trung thì đình làng ở Đồng Nai ra đời muộn, tuổi đời ngắn, không có lai lịch và giàu thần tích như đình ở miền Bắc và miền Trung, nhưng so với vùng Nam bộ thì đình ở Đồng Nai thuộc định dạng sớm Do đặc điểm hình thành cộng đồng cư dân ở Đồng Nai, nhiều vùng đất có lịch sử hình thành lâu đời, lại vừa có những vùng đất mới, vì vậy mà các ngôi đình ở Đồng Nai cũng có lịch sử hình thành và phát triển khác nhau, có quá trình trùng tu, tôn tạo khác nhau, có những đặc điểm văn hóa khác nhau Toàn tỉnh Đồng Nai hiện nay có 123 ngôi đình phân bố ở 9 huyện, thành phố (xem bảng 1.2) và có sự phân
bố không đồng đều giữa thành thị và nông thôn Riêng thành phố Biên Hòa có 41 đình ở 30 phường, xã; các huyện như Xuân Lộc chỉ 01 đình, Định Quán 02 đình,
Trang 38Trảng Bom 01 đình; trong mỗi huyện, thành phố sự phân bố cũng không đều có làng, xã thì đình, miễu dày đặc như xã Hiệp Hòa (thành phố Biên Hòa) có 11 đình, có nơi hai đến ba xã chỉ có chung 01 đình
(Nguồn: tư liệu Bảo tàng Đồng Nai năm 2018)
Tựu chung, đình làng Đồng Nai có lịch sử hàng trăm năm, mang những giá trị văn hóa, lịch sử, khoa học, nhân văn vô cùng phong phú, đa dạng, là chứng nhân chứng kiến bao nhiêu những đổi thay của thời cuộc Qua hàng trăm năm tồn tại, đình làng đã gắn liền với đời sống văn hóa, tâm linh người Đồng Nai, có vai trò cố kết cộng đồng, lưu giữ các giá trị văn hóa truyền thống, các giá trị lịch sử, kiến trúc nghệ thuật
* Chùa: Đồng Nai được xem là cái nôi phát triển về văn hóa, chính trị, kinh tế ở phương Nam trong buổi ban đầu các cư dân người Việt vào khai phá Cùng với những người Việt đầu tiên khai phá miền đất trù phú này là các vị tổ sư tiền bối Phật Giáo đã mở đạo hoằng dương chánh pháp làm chỗ nương tựa tinh thần cho dân chúng Với bề dày lịch sử, Đồng Nai đã từng là một trong những cái nôi của Phật giáo Đàng Trong thời các chúa, các vua nhà Nguyễn, có ảnh hưởng không những đối với Phật giáo Nam Bộ mà còn có ảnh hưởng cả đến Phật giáo ở
Trang 39Miền Trung [19:84] Vùng đất Đồng Nai - Gia Định đã sản sinh nhiều bậc cao tăng danh đức làm trụ cột cho Phật Giáo miền Nam Việt Nam phát triển rực rỡ ở thời kỳ đầu Nam tiến đến thời cận đại và gần đây Toàn tỉnh Đồng Nai hiện có
376 ngôi chùa là không gian sinh hoạt tâm linh, nơi thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của con người Trong đó có ba ngôi chùa cổ đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia là chùa Long Thiền, chùa Đại Giác, chùa Bửu Phong và một ngôi được xếp hạng di tích cấp tỉnh là chùa Cô Hồn (Bửu Hưng tự) Ngoài ra, còn nhiều ngôi chùa cổ rất nổi tiếng như chùa Kim Cang, chùa Hội Phước, chùa Long Hương, chùa Phước Viên, chùa Bạch Liên, chùa Phật Tích Tòng Lâm, Thiền viện Thường Chiếu Đây không chỉ là nơi đào tạo các nhà sư tu hành, nơi các tín đồ Phật giáo hành lễ, mà còn là các trung tâm sinh hoạt văn hóa Phật giáo của nhân dân qua nhiều đời
* Làng cổ: Trong dòng chảy của lịch sử, Đồng Nai là vùng đất được khai phá sớm ở Nam Bộ Quá trình lao động khai phá của những lớp cư dân Việt, Hoa hơn 300 năm trước đã tạo nên những ngôi làng trù phú dọc theo sông Đồng Nai như: Bến Gỗ, Cù lao Phố, Bến cá - Tân Triều, Những làng cổ vừa mang mẫu số chung của các làng người Việt cổ truyền vừa có những đổi thay theo biến thiên theo lịch sử và tự nhiên của vùng đất Nam bộ, song hiện nay trong các làng cổ vẫn còn lưu giữ được nhiều nét văn hóa xưa với những kiến trúc nhà cổ, đình, miếu, chùa, đường làng quê, những bờ ao, ruộng lúa… cùng phong cách của người dân cần cù, chất phác, thoải mái, hòa đồng đậm chất vùng Nam Bộ
* Nhà cổ: Tỉnh Đồng Nai hiện tồn hơn 400 ngôi nhà cổ, phổ biến là nhà rường (xuyên trính) và nhà rọi (nọc ngựa - nhà cột giữa) Được ưa chuộng, mang tính truyền thống là dạng nhà chữ đinh (một ngang – một dọc) và sắp đọi (nhà trên nhà dưới nối tiếp nhau) Tiêu biểu nhất trong số hơn 400 ngôi nhà có nhà ông Đào Mỹ Trí Nhân (ở Phú Hội, Nhơn Trạch), nhà cổ Trần Ngọc Du (phường Tân Vạn, Biên Hòa), nhà ông Nguyễn Văn Hảo (xã Thạnh Phú, Vĩnh Cửu) đây thực sự là những tác phẩm nghệ thuật của loại hình kiến trúc nhà ở người Việt truyền thống ở Đồng Nai
Trang 40* Mộ cổ: Mộ Cự thạch Hàng Gòn thuộc ấp Hàng Gòn, xã Hàng Gòn, thành Phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai Ngôi mộ được phát hiện và khai quật vào những năm 1927, 1975, 1981, 2007 Từ kết quả khai quật cho thấy đây là một ngôi mộ cổ, được xây dựng bằng những tấm đan và trụ đá mới chỉ phát hiện duy nhất ở Đồng Nai, nhân dân thường gọi là mộ Ông Đá Ngôi mộ có hình chữ nhật dài 4,2m, ngang 2,7 mét, cao 1,6 mét được ghép bởi sáu tấm đá hoa cương được bào khá nhẵn ở mặt ngoài; 4 tấm đá thẳng đứng dùng làm vách, hai tấm nằm ngang dùng làm mặt đáy và nắp đậy Xung quanh mộ có nhiều trụ đá hoa cương cao 7,5 mét, tiết diện mặt cắt ngang hình chữ nhật dài 1,10m x 0,3m, phần lớn các đầu trụ được khoét lõm hình yên Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng mộ cự thạch Hàng Gòn được xây dựng vào giai đoạn đồng phát triển, chuyển sang sơ kỳ
đồ sắt, cách nay khoảng 2000 năm Đây là một công trình độc đáo cả về nghệ thuật và kỹ thuật, là công trình kến trúc liên quan đến hình thức tín ngưỡng của
cư dân cổ Đồng Nai, phản ánh một dấu mốc trong nấc thang phát triển của xã hội con người cổ Đồng Nai trước ngưỡng cửa hình thành tổ chức nhà nước sơ khai thời tiền - sơ sử, khởi đầu cho một bước phát triển chung trong lịch sử nhân loại
* Thành cổ: Thành cổ Biên Hòa tọa lạc tại Phường Quang Vinh, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai là thành trì duy nhất được xây dựng từ thời nhà Nguyễn còn sót lại ở miền Nam Việt Nam Những hạng mục còn lại của thành trì phần nào đã phản ánh được trình độ kỹ thuật kiến trúc quân sự, tư tưởng chiến thuật của cha ông xưa khi nghiên cứu kỹ lưỡng địa hình, địa mạo và phong thủy thiên nhiên nơi đây nhằm xây dựng một thành trì đáp ứng nhu cầu phòng thủ, tiến công đạt hiệu quả cao nhất Thành Biên Hoà được đắp bằng đất vào năm Minh Mạng thứ 15 (1834) có tổng diện tích 10.816 m2 Sau khi thực dân Pháp chiếm Biên Hòa (16/12/1861) đã sửa chữa thu hẹp diện tích của thành còn một phần tám so với trước, đồng thời bỏ đi hệ thống hào bao quanh; xây dựng thêm biệt thự, doanh trại, nhà thương…[50:562] Mỗi thời đoạn lịch sử Thành Biên Hòa có một danh xưng khác nhau như: Thành Cựu, thành Kèn, thành Xăng Đá,
từ khi được xây dựng Thành Biên Hòa trở thành minh chứng cho sự sáng tạo, sự đấu tranh bền bỉ kiên trung của con người vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai, nơi ghi