BẠCH ĐẰNG GIANG PHÚ Trương Hán Siêu I. MỞ BÀI Nhớ xưa Trương Thiếu Bảo Bia khắc dấu rêu hoen (Dục Thúy Sơn Nguyễn Trãi) Hai câu thơ của Nguyễn Trãi cho người ta thấy những người có tài, kể cả có sự cách biệt về thời đại vẫn thường có sự đồng cảm, tương liên. Nguyễn Trãi năm trăm năm trước đến núi Dục Thúy nay là núi Non Nước thuộc tỉnh Ninh Bình, đọc bài thơ nổi tiếng được khắc trên bia đá của Trương Hán Siêu bồi hồi nhớ người xưa mà cảm tác thành thơ. Ngày nay, bài thơ của danh sĩ họ Trương vẫn còn đó cùng tuế nguyệt, như bằng chứng về tài văn chương của ông. Nhưng Trương Hán Siêu không chỉ được biết đến với bài thơ khắc trên bia đá. Trương Hán Siêu là trọng thần làm quan dưới bốn đời vua Trần, là người cương trực, thẳng thắn, học vấn uyên bác, tri thức sâu rộng, có tài về cả chính trị lẫn văn chương. Ông từng là môn khách của Trần Hưng Đạo, có nhiều đóng góp trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Ông được các vua Trần tin cậy và nhân dân kính trọng, khi mất được truy tặng tước Thái bảo, Thái phó và được thờ tại Văn Miếu. Sáng tác của ông hiện còn 4 bài thơ và 3 bài văn, trong đó xuất sắc nhất phải kể đến bài “Phú Sông Bạch Đằng”. II. THÂN BÀI 1. Khái quát Giới thiệu về sông Bạch Đằng: Sông Bạch Đằng là một danh thắng lịch sử, đã đi vào lịch sử với những chiến công chói lọi. Nhà thơ Chế Lan Viên trong bài thơ ca ngợi Tổ Quốc đã nhắc đến Bạch Đằng như một dòng sông đẹp nhất: Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt, Mỗi con sông đều muốn hóa Bạch Đằng… (Tổ quốc có bao giờ đẹp thế này chăng) Dòng sông ấy đã trở nguồn cảm hứng sáng tác cho nhiều văn nhân, thi sĩ. Trong thơ văn Trung đại, ta có thể kể đến “Bạch Đằng Giang” của Trần Minh Tông, Bạch Đằng Giang của Nguyễn Sưởng, “Hậu Bạch Đằng Giang Phú” của Nguyễn Mộng Tuân, hay “Bạch Đằng hải khẩu” của Nguyễn Trãi… Trong “Bạch Đằng giang phú” Trương Hán Siêu cũng dồn nén những tình cảm sâu nặng vào dòng chảy bất diệt của con sông để viết nên bài phú vô tiền khoáng hậu trong lịch sử văn học Việt Nam. Hoàn cảnh ra đời: Phú sông Bạch Đằng (tên chữ Hán Bạch Đằng giang phú) ra đời vào khoảng 50 năm sau cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông thắng lợi. Nhiều ghi chép cho rằng, đây là thời điểm nhà Trần có dấu hiệu suy thoái. Có lẽ, Trương Hán Siêu đã đến sông Bạch Đằng để hoài niệm về một thời vàng son của dân tộc nên trong bài phú bên cạnh hình ảnh một khách hải hồ, một kẻ sĩ tha thiết với đất nước và lịch sử dân tộc là một tâm tư với những nỗi niềm thầm kín. Thể phú: Bài phú mang đặc trưng cơ bản của thể phú cổ thể, gồm 4 đoạn mở, giải thích, bình luận, kết; có hình thức đối đáp quen thuộc giữa nhân vật khách với nhân vật các vị bô lão và kết thúc bằng thơ. Tuy nhiên, điểm tựa của toàn bộ bài phú là cảm xúc, tâm trạng của nhân vật khách được bộc lộ xuyên suốt từ lúc đặt chân tới sông Bạch Đằng cho đến khi lắng nghe được những lời kể đầy hào hùng về những chiến công trên dòng sông ấy của các vị bô lão. Vì vậy mà nhiều đánh giá cho rằng cấu tứ của bài phú giống như một bài thơ hơn là một bài văn tả cảnh, kể việc thông thường. 2. Đoạn 1: Cảm nhận của khách về cảnh vật sông Bạch Đằng Khách có kẻ: … Tiếc thay dấu vết luống còn lưu 2.1. Nhân vật khách và tâm thế, cảm hứng của khách Khách là nhân vật quen thuộc trong các bài phú cổ thể. Trong bài “Ngọc tỉnh liên phú” (bài phú sen giếng ngọc) của Mạc Đĩnh Chi ở thế kỉ XIV cũng có nhân vật “khách”. Khách chính là tác giả, giúp ông biểu lộ tấm lòng thanh cao, chí khí, tài năng và hoài bão của kẻ sĩ ở đời: “Khách có kẻ: nơi nhà cao tựa ghế, trưa mùa hạ nắng nồng. Ao trong ngắm làn nước biếc Nhạc phủ vịnh khúc Phù Dung”. Trong bài phú của Trương Hán Siêu khách là một nhân vật trữ tình xuất hiện ngay từ đầu tác phẩm. Khách có thể do tác giả tự xưng, cũng có thể là sự phân thân của chính tác giả, do tác giả hư cấu để tạo tính khách quan cho câu chuyện sẽ kể. Tâm thế và cảm hứng của khách được thể hiện: “Khách có kẻ: Giương buồm giong gió chơi vơi Lướt bể trăng mải miết” Khách xuất hiện trong một không gian khoáng đạt với gió, trăng và bể cả. Nhịp điệu tự do linh hoạt, câu ngắn câu dài đan xen thể hiện hình ảnh con thuyền đi trên sông, lúc chầm chậm nương theo chiều gió để thưởng ngoạn, lúc thì lướt băng băng trên sóng đuổi theo ánh trăng mải miết. Khách như một tao nhân mặc khách với bầu rượu túi thơ, có tâm hồn phóng khoáng, yêu thiên nhiên, thích đi đây đi đó để làm bạn với gió trăng, thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên, bồi bổ tri thức. Bằng thủ pháp nghệ thuật liệt kê, tác giả đã nhắc đến một loạt những địa danh, những phong cảnh đẹp của Trung Hoa vốn chỉ biết trong sách vở, trở thành các điển tích, điển cố: “Sớm gõ thuyền chừ Nguyên, Tương Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt, Nơi có người đi, đâu mà chẳng biết...” Nào là sông Nguyên, sông Tương, Vũ Huyệt, nào là Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt… đều là những cảnh đẹp mà bao người mơ ước được đặt chân đến. Sớm thì ở sông Nguyên Tương, chiều đến thăm Vũ Huyệt, đêm thì lướt bể chơi trăng, khách đã đi nhiều nơi, biết nhiều chỗ, đã đặt chân đến không biết bao nhiêu
Trang 11
BẠCH ĐẰNG GIANG PHÚ Trương Hán Siêu
I MỞ BÀI
Nhớ xưa Trương Thiếu Bảo Bia khắc dấu rêu hoen
(Dục ThúySơn - Nguyễn Trãi)
Hai câu thơ của Nguyễn Trãi cho người ta thấy những người có tài, kể cả có sự cách biệt về thời đại vẫn thường có sự đồng cảm, tương liên Nguyễn Trãi năm trăm năm trước đến núi Dục Thúy nay là núi Non Nước thuộc tỉnh Ninh Bình, đọc bài thơ nổi tiếng được khắc trên bia đá của Trương Hán Siêu bồi hồi nhớ người xưa mà cảm tác thành thơ Ngày nay, bài thơ của danh sĩ họ Trương vẫn còn đó cùng tuế nguyệt, như bằng chứng về tài văn chương của ông Nhưng Trương Hán Siêu không chỉ được biết đến với bài thơ khắc trên bia đá
Trương Hán Siêu là trọng thần làm quan dưới bốn đời vua Trần, là người cương trực, thẳng thắn, học vấn uyên bác, tri thức sâu rộng, có tài về cả chính trị lẫn văn chương Ông từng là môn khách của Trần Hưng Đạo, có nhiều đóng góp trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông Ông được các vua Trần tin cậy và nhân dân kính trọng, khi mất được truy tặng tước Thái bảo, Thái phó và được thờ tại Văn Miếu Sáng tác của ông hiện còn 4 bài thơ và 3 bài văn, trong đó xuất sắc nhất phải
kể đến bài “Phú Sông Bạch Đằng”
II THÂN BÀI
1 Khái quát
- Giới thiệu về sông Bạch Đằng: Sông Bạch Đằng là một danh thắng lịch sử,
đã đi vào lịch sử với những chiến công chói lọi Nhà thơ Chế Lan Viên trong bài thơ
ca ngợi Tổ Quốc đã nhắc đến Bạch Đằng như một dòng sông đẹp nhất:
Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt, Mỗi con sông đều muốn hóa Bạch Đằng…
(Tổ quốc có bao giờ đẹp thế này chăng) Dòng sông ấy đã trở nguồn cảm hứng sáng tác cho nhiều văn nhân, thi sĩ Trong thơ văn Trung đại, ta có thể kể đến “Bạch Đằng Giang” của Trần Minh Tông,
"Bạch Đằng Giang" của Nguyễn Sưởng, “Hậu Bạch Đằng Giang Phú” của Nguyễn Mộng Tuân, hay “Bạch Đằng hải khẩu” của Nguyễn Trãi… Trong “Bạch Đằng giang phú” Trương Hán Siêu cũng dồn nén những tình cảm sâu nặng vào dòng chảy bất diệt của con sông để viết nên bài phú vô tiền khoáng hậu trong lịch sử văn học Việt Nam
- Hoàn cảnh ra đời: Phú sông Bạch Đằng (tên chữ Hán "Bạch Đằng giang
phú") ra đời vào khoảng 50 năm sau cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông thắng lợi Nhiều ghi chép cho rằng, đây là thời điểm nhà Trần có dấu hiệu suy thoái
Có lẽ, Trương Hán Siêu đã đến sông Bạch Đằng để hoài niệm về một thời vàng son của dân tộc nên trong bài phú bên cạnh hình ảnh một khách hải hồ, một kẻ sĩ tha thiết với đất nước và lịch sử dân tộc là một tâm tư với những nỗi niềm thầm kín
- Thể phú: Bài phú mang đặc trưng cơ bản của thể phú cổ thể, gồm 4 đoạn mở,
giải thích, bình luận, kết; có hình thức đối đáp quen thuộc giữa nhân vật "khách" với
Trang 22
nhân vật "các vị bô lão" và kết thúc bằng thơ Tuy nhiên, điểm tựa của toàn bộ bài phú là cảm xúc, tâm trạng của nhân vật "khách" được bộc lộ xuyên suốt từ lúc đặt chân tới sông Bạch Đằng cho đến khi lắng nghe được những lời kể đầy hào hùng về những chiến công trên dòng sông ấy của các vị bô lão Vì vậy mà nhiều đánh giá cho rằng cấu tứ của bài phú giống như một bài thơ hơn là một bài văn tả cảnh, kể việc thông thường
2 Đoạn 1: Cảm nhận của khách về cảnh vật sông Bạch Đằng
"Khách có kẻ:
… Tiếc thay dấu vết luống còn lưu"
2.1 Nhân vật khách và tâm thế, cảm hứng của khách
- Khách là nhân vật quen thuộc trong các bài phú cổ thể Trong bài “Ngọc tỉnh liên phú” (bài phú sen giếng ngọc) của Mạc Đĩnh Chi ở thế kỉ XIV cũng có nhân vật
“khách” Khách chính là tác giả, giúp ông biểu lộ tấm lòng thanh cao, chí khí, tài năng và hoài bão của kẻ sĩ ở đời:
“Khách có kẻ: nơi nhà cao tựa ghế, trưa mùa hạ nắng nồng
Ao trong ngắm làn nước biếc Nhạc phủ vịnh khúc Phù Dung”
Trong bài phú của Trương Hán Siêu khách là một nhân vật trữ tình xuất hiện ngay từ đầu tác phẩm Khách có thể do tác giả tự xưng, cũng có thể là sự phân thân của chính tác giả, do tác giả hư cấu để tạo tính khách quan cho câu chuyện sẽ kể
- Tâm thế và cảm hứng của khách được thể hiện:
Khách xuất hiện trong một không gian khoáng đạt với gió, trăng và bể cả Nhịp điệu tự do linh hoạt, câu ngắn câu dài đan xen thể hiện hình ảnh con thuyền đi trên sông, lúc chầm chậm nương theo chiều gió để thưởng ngoạn, lúc thì lướt băng băng trên sóng đuổi theo ánh trăng mải miết Khách như một tao nhân mặc khách với bầu rượu túi thơ, có tâm hồn phóng khoáng, yêu thiên nhiên, thích đi đây đi đó để làm bạn với gió trăng, thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên, bồi bổ tri thức
- Bằng thủ pháp nghệ thuật liệt kê, tác giả đã nhắc đến một loạt những địa danh, những phong cảnh đẹp của Trung Hoa vốn chỉ biết trong sách vở, trở thành các điển tích, điển cố:
“Sớm gõ thuyền chừ Nguyên, Tương
Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt
Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt,
Nơi có người đi, đâu mà chẳng biết ”
Nào là sông Nguyên, sông Tương, Vũ Huyệt, nào là Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt… đều là những cảnh đẹp mà bao người mơ ước được đặt chân đến Sớm thì ở sông Nguyên Tương, chiều đến thăm Vũ Huyệt, đêm thì lướt bể chơi trăng, khách đã đi nhiều nơi, biết nhiều chỗ, đã đặt chân đến không biết bao nhiêu
Trang 33
danh lam thắng cảnh cho thỏa chí tang bồng hồ thỉ, thỏa chí làm trai như Nguyễn Công Trứ từng viết:
Chí làm trai nam bắc tây đông
Cho phỉ sức vẫy vùng bốn bể
Các địa danh, các điển tích, điển cố nêu trên còn cho thấy khách đã đi du ngoạn
khắp nơi, bằng cả tri thức sách vở, trí tưởng tượng Việc đi nhiều, biết nhiều có thể là một cách để tác giả gián tiếp thể hiện sự coi thường danh lợi, lấy lẽ sống nhàn lên trên
Khách đã đi nhiều đến mức:
Nơi có người đi, đâu mà chẳng biết
Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều
Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết
Nơi nào có bước chân người đi khách đều đã đến, cảnh đẹp trong thiên hạ trong dạ đã chứa vài trăm nhưng tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết nên khách học theo thú tiêu dao của Tử Trường (Tư Mã Thiên) Trước đây, nhà sử học lừng danh Trung Quốc đã đi khắp đất nước để thăm thú cảnh đẹp, nghiên cứu để viết sử và cho ra đời bộ sử kí bất hủ Nên học Tử Trường là khách không chỉ muốn thăm thú cảnh đẹp mà muốn tìm đến các di tích lịch sử để tìm hiểu và thể hiện niềm tự hào về lịch sử dân tộc Như vậy, khách đến với sông Bạch Đằng không đơn thuần là một cuộc dạo chơi thể hiện lòng yêu thiên nhiên mà đến còn để hiểu, để nhớ và tự hào về lịch sử dân tộc, thể hiện tâm hồn phong phú, thanh cao và tình yêu quê hương, đất
nước tha thiết
2.2 Cảnh vật sông Bạch Đằng
- Với tâm thế và cảm hứng ấy, khách buông chèo nương theo dòng thủy lưu, qua các địa danh của nước Việt như cửa Đại Than, bến Đông Triều, giương buồm qua những vùng sông nước rộng lớn để đến Bạch Đằng Để rồi sau đó, hiện ra trước mắt người tao nhân mặc khách là bức tranh cảnh vật Bạch Đằng Chính bức tranh cảnh vật ấy khiến bài phú trở nên gần với thơ, giúp ta hiểu rõ quan niệm về thơ của người xưa "Thi trung hữu họa"
- Đó là một bức tranh thiên nhiên tuyệt sắc, vừa hùng vĩ vừa rất thơ mộng:
Bát ngát sóng kình muôn dặm, Thướt tha đuôi trĩ một màu
Nước trời: một sắc, phong cảnh: ba thu
Cảnh vật Bạch Đằng hiện lên tráng lệ, mênh mông, bát ngát với những con sóng lớn (sóng kình) nhấp nhô, lớp lớp cuộn chảy, thuyền bè nối đuôi nhau đi trên sông Cảnh sắc thiên nhiên vào tháng thứ ba của mùa thu, tức là vào độ cuối thu Không gian nên thơ, bồng bềnh, thướt tha như đuôi chim trĩ với cảnh trời nước một màu xanh biếc, nối liền một dải (như đuôi con chim trĩ) Ý thơ này, có lẽ đã được Trương Hán Siêu mượn lại ở câu thơ "Thu thủy cộng thiên trường nhất sắc" (Sông thu cùng với trời xa một màu) trong bài "Đằng Vương các" của Vương Bột, một nhà thơ nổi tiếng thời Đường
- Nhưng cảnh vật không chỉ hùng vĩ, thơ mộng mà còn mang vẻ ảm đạm, hiu hắt, tang thương:
Trang 44
"Bờ lau san sát, bến lách đìu hiu
Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô"
Các từ láy san sát, đìu hiu và các hình ảnh bờ lau, bến lách, giáo gươm chìm
gãy, gò đầy xương khô đã miêu tả khung cảnh hoang vu, lạnh lẽo, núi gò ngổn ngang, tái hiện khung cảnh chiến trường xưa là chốn tử nạn của quân thù Khung cảnh ấy cũng được vua Trần Minh Tông (1288-1356) miêu tả:
Thuồng luồng nuốt thuỷ triều, cuộn làn sóng bạc Trông thấy nước dòng sông rọi bóng mặt trời buổi chiều đỏ ối
Lầm tưởng rằng máu người chết vẫn chưa khô"
( Bạch Đằng giang)
Hàng trăm năm sau, khi Ức Trai đến Bạch Đằng cảnh vật vẫn chẳng mấy khác xưa:
Ngạc chặt kình băm non lởm chởm Giáo chìm gươm gãy bãi dăng dăng (Bạch Đằng hải khẩu)
2.3 Tâm trạng của khách
Đến Bạch Đằng sau chiến thắng mấy chục năm, chứng kiến cảnh vật tang thương, tâm trạng của khách chuyển từ hào hứng trước cảnh vật hùng vĩ, thơ mộng sang buồn, thương, nuối tiếc Buồn vì cảnh vật ảm đạm, thê lương Thương những người anh hùng lập chiến công vang lừng một thuở, thế mà giờ cảnh vẫn còn đây người đã đi vào quá khứ Nỗi thương ấy xuất phát từ lòng biết ơn, trân trọng với những người anh hùng có công lớn, dâng hiến đời mình cho non sông đất nước Tiếc nuối vì thời gian khắc nghiệt đã làm mờ đi dấu tích của chiến thắng oanh liệt Những tâm trạng
ấy đan xen và trào dâng trong lòng khiến khách đứng lặng giờ lâu, đắm chìm trong thế giới nội tâm ngổn ngang đầy xúc cảm Đứng lặng để tưởng nhớ, để hoài niệm, để tưởng tượng và để nhìn vào tâm tư thầm kín Sau này, cảnh trí tiêu sơ ấy cũng khiến Nguyễn Trãi không tránh được những ưu tư cảm khái, gợn lòng hoài cổ:
Việc trước quay đầu ôi đã vắng Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng
(Bạch Đằng Hải Khẩu)
Tiểu kết:
- "Phú sông Bạch Đằng" là đỉnh cao nghệ thuật của thể phú với bố cục chặt chẽ, lời văn linh hoạt, cấu tứ đơn giản mà hấp dẫn, hình tượng nghệ thuật sinh động, vừa gợi hình sắc trực tiếp vừa mang ý nghĩa khái quát, triết lí, ngôn ngữ vừa trang trọng, hào sảng vừa lắng đọng, gợi cảm
- Qua đoạn mở đầu của bài phú, tác giả Trương Hán Siêu đã đưa người đọc trải qua nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau, từ say sưa với cảnh vật Bạch Đằng hùng vĩ, thơ mộng, tự hào về chiến tích lịch sử vẻ vang của dân tộc đến nỗi buồn thương, tiếc nuối vì những giá trị lịch sử đã dần phai mờ, mai một Người đọc cũng qua đó ý thức
về vấn đề bảo vệ và gìn giữ những giá trị lịch sử, khắc ghi công ơn xương máu của thế hệ cha anh đã ngã xuống bồi đắp nên nền hòa bình độc lập của đất nước Việt Nam như ngày hôm nay
3 Đoạn 2: Lời kể của các bô lão về những chiến công trên sông Bạch Đằng
Trang 55
Bên sông các bô lão, hỏi ý ta sở cầu …Tái tạo công lao, nghìn xưa ca ngợi
3.1 Hình tượng các bô lão
- Giữa lúc khách rưng rưng bao xúc cảm, đứng lặng giờ lâu trước cảnh vật Bạch Đằng thì các bô lão xuất hiện Các bô lão là nhân vật thứ hai trong bài phú, chính là chủ trong cuộc đối đáp chủ - khách Cũng có thể các bô lão là nhân vật có tính chất hư cấu, được xây dựng nhằm giúp tác giả phân thân giãi bày, thỏa mãn nhu cầu bộc lộ cảm xúc, đẩy tình cảm đi đến tận cùng và trọn vẹn nhất Sự xuất hiện và câu chuyện của của các bô lão khiến bài phú chuyển từ miêu tả và trữ tình sang tự sự, ngôn ngữ trở nên sống động, biến hoá Thái độ của các bô lão với khách rất nhiệt tình, hiếu khách, tôn kính Các bô lão là bậc cao niên, vậy mà kẻ gậy lê chống trước, người thuyền nhẹ bơi sau đều "vái", "thưa", hỏi sở cầu của khách nên có thể nhận thấy khách là người đáng kính trọng, có nhân cách lớn
- Sau đó, bô lão kể cho khách về các chiến thắng trên sông Bạch Đằng Việc để cho các bô lão là người địa phương, hơn nữa có thể là những chứng nhân lịch sử kể lại chiến thắng làm cho lời kể trong bài phú trở nên khách quan, đáng tin cậy
3.2 Tái hiện chiến thắng lịch sử
- Sông Bạch Đằng là nơi ghi dấu những chiến công lẫy lừng trong lịch sử dân tộc Các bô lão đã nhắc lại những chiến thắng một cách đầy tự hào:
Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã, Cũng là bãi đất xưa, thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao
Những chiến tích lịch sử ấy luôn được khắc sâu trong tâm thức của bao nhiêu thế hệ người Việt Nam và cũng được tác giả Trinh Đường nhắc lại trong bài thơ
“Bạch Đằng tráng khúc” viết năm 1963:
“Bạch Đằng vô tận trang sức ngàn năm lịch sử quang vinh
Từ Ngô Quyền diệt quân Nam Hán đến Lê Hoàn diệt Tống, Hưng đạo bình Nguyên"
- Nếu như đoạn trước để thể hiện tâm trạng, sự hoài niệm, bài phú có những câu dài, nhịp chậm rãi thì đến đoạn này bằng cách sử dụng nhịp ngắn, nhanh, giọng điệu hào hùng, dứt khoát, tác giả đã tái hiện, phục chế lại sống động bức tranh chiến trận từ mấy chục năm trước:
+ Về lực lượng: Vào khi ấy, ta - địch trong thế "Chiến lũy Bắc Nam chống đối"
nhưng về quy mô lực lượng cả hai bên đều hùng hậu, ngang tài ngang sức, đều có khí thế dũng mãnh, quyết chiến quyết thắng:
Thuyền bè muôn đội, tinh kì phấp phới
Hùng hổ sáu quân,giáo gươm sáng chói
Trên sông Bạch Đằng là muôn đội thuyền bè của cả ta và địch, cờ chiến trận
bay phấp phới, gươm giáo sắc nhọn, sáng chói Đội quân nhà Trần đông đảo với khẩu hiệu "Sát Thát" xung trận rất hùng dũng, sức mạnh như hổ báo, lấn át cả trời đất vũ trụ Nhưng thế giặc cũng rất mạnh, trước khi sang xâm lược nước ta chúng đã xâm lược và chiếm cả một vùng rộng lớn khắp châu Á và châu Âu Đội quân thiện chiến của chúng
Trang 66
đi đến đâu thắng đến đấy, đến mức ở thời đó người ta thường nói "Vó ngựa quân Nguyên Mông đi đến đâu cỏ không mọc được đến đó"
+ Thái độ của giặc: Cậy thế mạnh, quân đông bọn giặc coi thường nước Nam
nhỏ bé Thái độ của chúng rất kiêu căng hống hách, ngạo mạn, khoác lác Chúng tưởng
sẽ đánh nhanh, thắng nhanh và bách chiến bách thắng:
Những tưởng gieo roi một lần
+ Thế trận ác liệt: Nhưng ngoài sự phán đoán của bọn giặc, chiến sự diễn ra
rất ác liệt, thế trận giằng co:
Trận đánh thư hùng chửa phân
Chiến lũy Bắc Nam chống đối
Trận đánh kinh thiên động địa được tái hiện bằng những nét vẽ, những chi tiết phóng đại, khoa trương rất thần tình Người đọc có thể tưởng tượng cảnh chiến trận với khói lửa mù trời Quân ta hò reo vang dậy đốt phá, tấn công bọn giặc từ nhiều phía khiến chúng không có đường lui Bọn giặc không thể đối đầu với quân ta bỏ chạy thì va vào cọc nhọn; thuyền bè, gươm giáo bị nhấn chìm; đầu rơi, máu chảy nhuộm đỏ dòng sông… Trận chiến ác liệt đến mức tưởng có thể làm lu mờ cả vầng nhật nguyệt, trời đất như sắp sụp đổ:
"Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ Bầu trời đất chừ sắp đổi"
+ Kết quả: Cuối cùng, với sức mạnh nhân nghĩa quân ta đã thắng lớn Hung đồ
phương Bắc thất bại thảm hại Sử sách chép lại trong trận chiến này, quân Nguyên Mông bị thiệt hại vô cùng nặng nề Khoảng hơn 4 vạn quân giặc bị tiêu diệt, nhiều tướng giặc trong đó có cả Ô Mã Nhi, Phạm Nhàn, Phàn Tiếp… bị bắt sống, khoảng
400 chiến thuyền của quân Nguyên bị quân ta thu lại Trận Bạch Đằng đã đập tan âm mưu bành trướng sang nước Nam của Hốt Tất Liệt và sách "Danh tướng Việt Nam" sau này còn ghi rằng: "Nếu dân Việt sinh ra ở phương Bắc, châu Âu không bị vó ngựa quân Mông - Nguyên chà đạp"
3.3 Đánh giá về chiến thắng:
- Tác giả đã so sánh trận Bạch Đằng với hai trận đánh trong lịch sử Trung Quốc đã trở thành điển tích trong văn học Trận thủy chiến sông Bạch Đằng mang tầm vóc và quy mô hoành tráng, kỳ vĩ không khác nào trận Xích Bích, trận Hợp Phì khiến "quân Tào Tháo tan tác tro bay", "giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi" Nhắc đến những trận đánh nổi tiếng của những nhân vật lỗi lạc ấy để nhấn mạnh chiến thắng oanh liệt của ta và sự thất bại nhục nhã của giặc Dòng sông Bạch Đằng trở thành một chứng nhân lịch sử:
"Đến nay sông nước tuy chảy hoài
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi Tái tạo công lao, nghìn xưa ca ngợi"
Bạch Đằng trở thành niềm kiêu hãnh của dân tộc, của mỗi người dân đất Việt nhưng cũng trở thành nỗi ô nhục muôn đời cho giặc phương Bắc Nên có câu chuyện lịch sử kể rằng: Khi đi sứ sang Trung Quốc, bị một đại thần nhà Minh khinh nước
Trang 77
Nam mà ra vế đối đầy thách thức: "Đồng trụ chí kim đài dĩ lục" (Cột đồng đến nay rêu đã xanh), sứ giả nước Việt là Giang Văn Minh (1573-1637) đã hiên ngang đáp lại
"Đằng giang tự cổ huyết do hồng" (Sông Bạch Đằng từ xưa máu còn đỏ) Nỗi nhục Bạch Đằng khiến giặc phương Bắc bao đời sau vẫn không chịu nổi nên đã giết chết
sứ giả nước Nam
- Trong tâm thế ngợi ca, tác giả còn khẳng định chiến thắng của vua tôi nhà Trần trên sông Bạch Đằng đến nghìn sau vẫn còn được ca ngợi Và quả đúng như vậy, từ chiến thắng của Ngô Quyền đến nay đã hơn một ngàn năm, thi sĩ Thi Sảnh vẫn viết:
Có lần tôi qua bến Bạch Đằng Thường ngâm nga đọc phú Bạch Đằng giang Nhưng hôm nghe em bé hát rong
Tôi nghĩ nhiều về người xưa đóng cọc gỗ Nếu họ sống lại thì làm sao trả lời họ Qua sông Bạch Đằng sao không hát những chiến công
(Đứa bé hát rong trên bến Bạch Đằng) Không chỉ ngàn năm mà có lẽ mãi sau này Bạch Đằng vẫn là niềm tự hào của mỗi người Việt Nam, là di tích lịch sử trường tồn cùng sông núi nước Việt
Tiểu kết: Với giọng điệu đầy nhiệt huyết, âm hưởng hào hùng, tác giả đã tái
hiện một cách chân thực, sinh động và đầy hào sảng chiến thắng nơi bãi sông Bạch Đằng Biện pháp phóng đại, so sánh kết hợp với việc sử dụng các điển cố, điển tích tài tình đã nâng cao thêm tầm vóc chiến thắng vĩ đại của dân tộc Qua những hoài niệm về quá khứ, “Phú sông Bạch Đằng” đã thể hiện lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc, đồng thời ca ngợi truyền thống anh hùng bất khuất, truyền thống đạo lý nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam Viết sau chiến thắng khoảng năm mươi năm nhưng "Bạch Đằng giang phú" của Trương Hán Siêu thực sự đã làm sống lại hào khí Đông A của cả một thời đại
4 Đoạn 3: Suy ngẫm, bình luận về chiến thắng
"Tuy nhiên: Từ có vũ trụ, đã có giang san
…Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao"
Học giả Nguyễn Đình Chú rất đúng đắn khi nhận xét "Giá trị của bài phú là ở chỗ không chỉ làm sống dậy hào khí chiến đấu của trận Bạch Đằng mà còn làm sáng chân lý muôn đời của dân tộc" Những suy ngẫm, bình luận về chiến thắng của các bô
lão và khách đã thể hiện những chân lí như thế
4.1 Suy ngẫm, bình luận của các bô lão về chiến thắng
* Bình luận về nguyên nhân chiến thắng:
Khách đến chơi sông và các bô lão hồi tưởng lại trận chiến là vào khoảng năm mươi năm sau chiến thắng Khoảng thời gian ấy đủ để nhìn lại, cắt nghĩa và lí giải vì sao ta có thể đánh bại được kẻ thù hung hãn nhất thế giới lúc ấy Phép dùng binh trong sách cổ phải dựa vào ba yếu tố "Thiên thời, địa lợi, nhân hòa" và theo các bô lão, ta chiến thắng cũng bởi có được ba yếu tố ấy Thời thế thuận lợi (có thiên thời) vì “trời cũng chiều người”; địa thế núi sông thuận lợi (có địa lợi) vì “trời đất cho nơi hiểm trở”
Trang 88
và con người (nhân hòa) là ta có tướng tài, có quân dân cùng một lòng, quyết chí đánh giặc:
Tuy nhiên: Từ có vũ trụ, đã có giang san
Quả là: Trời đất cho nơi hiểm trở, Cũng nhờ nhân tài giữ cuộc điện an
Hội nào bằng hội Mạnh Tân: như vương sư họ Lã, Trận nào bằng trận Duy Thủy: như quốc sĩ họ Hàn
Ta có sức mạnh chính nghĩa nên trời cho thế đất hiểm trở như Bạch Đằng, Chi Lăng…, có nhân tài biết dựa vào địa hình sông núi để đánh giặc Trong các yếu tố làm nên chiến thắng, các bô lão đề cao nhân tố con người, coi con người là nhân tố quyết định "Cuộc điện an" là sự nghiệp bảo vệ nền độc lập, hòa bình, yên vui cho đất nước Nhân tài là người có tài lớn, thu phục được lòng dân, biết tạo thời thế chứ không trông chờ vào thời thế Câu "Cũng nhờ nhân tài giữ cuộc điện an" khẳng định vai trò của người tài trong việc bảo vệ nền độc lập, hòa bình cho đất nước, làm cho nhân dân được yên vui Điều đó được thể hiện rõ thêm qua việc sử dụng các điển tích, nhắc đến hội Mạnh Tân phải có nhân tài là vương sư họ Lã, trận Duy Thủy người quyết định chiến thắng là quốc sĩ họ Hàn
* Cảm hứng ca ngợi
- Các bô lão hồi tưởng và bình luận về chiến thắng trong tâm thế ngợi ca Trước hết
là ca ngợi, khẳng định tầm vóc của chiến thắng Bạch Đằng:
Tái tạo công lao, nghìn xưa ca ngợi
Và đặc biệt ca ngợi công lao của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn:
Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng, Bởi đại vương coi thế giặc nhàn
Tiếng thơm đồn mãi, bia miệng không mòn
Trần Hưng Đạo chính là nhân tài giữ cuộc điện an, được so sánh như vương sư họ
Lã và quốc sĩ họ Hàn Với "Hịch tướng sĩ" Đại vương khơi dậy lòng căm thù giặc sâu sắc và ý chí quyết chiến quyết thắng với quân thù, đã thu phục được lòng người vì tinh thần đồng cam cộng khổ "Lâm trận mạc thì cùng nhau sống chết; được nhàn hạ thì cùng
nhau vui cười" Mặc dù giặc rất mạnh nhưng nhãn quan của vị tướng tài vẫn nhìn thấy
thế giặc nhàn dễ đánh Theo các bô lão, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn chính là người góp phần quan trọng làm nên chiến thắng, để lại tiếng thơm đến muôn đời
* Tâm trạng của các bô lão
Trận chiến năm mươi năm trước lẫy lừng là thế mà nay đã trở thành quá khứ,
người lập chiến công oanh liệt một thuở nay đã vắng bóng, chỉ còn lưu lại tiếng thơm Đến Bạch Đằng tâm trạng các bô lão không tránh khỏi những xúc cảm bùi ngùi, thương nhớ:
Đến bên sông hổ mặt, Nhớ người xưa lệ chan
* Đoạn ca của các bô lão
Trang 99
- Kết thúc bài phú mang đặc trưng của phú cổ thể đậm nét Từ đoạn ca của các
bô lão, bài phú kết lại bằng thơ và điều đáng chú ý là các nhà soạn dịch đã chuyển thể đoạn ca thành thể lục bát:
Sông Đằng một dải dài ghê, Luồng to, sóng lớn dồn về bể Đông
Những người bất nghĩa tiêu vong, Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh
Trong lời ca của các bô lão có hình ảnh sông Bạch Đằng mênh mông, rộng lớn, hùng vĩ, hiểm trở, nối liền một dải với luồng to sóng lớn cuộn chảy Đằng sau hình ảnh
ấy là tình yêu, niềm tự hào về cảnh sắc quê hương, về dòng sông lịch sử Nhưng ý nghĩa chủ yếu của lời ca là ở chỗ đã mượn quy luật của tự nhiên để khái quát quy luật của con người, thành chân lý của dân tộc Quy luật và chân lý ấy là những kẻ bất nghĩa
sẽ tiêu vong, những người anh hùng sẽ được lưu danh muôn đời giống như mọi dòng sông đều hướng về biển cả, như sông Bạch Đằng kia luồng to, sóng lớn vẫn mãi mãi chảy về biển Đông Ở đây, phép đối đã được vận dụng rất tài tình để nhấn mạnh quan niệm về lẽ vinh và nhục, cái tiêu vong và cái vĩnh hằng, phê phán mạnh mẽ kẻ thù xâm lược và ngợi ca những người anh hùng góp phần làm nên lịch sử dân tộc Những triết lí
và tư tưởng nhân văn ấy đã tạo nên vẻ đẹp văn chương của "Bạch Đằng giang phú"
4.2 Đoạn ca của khách (Bổ sung thêm cho bình luận của các bô lão)
- Lời ca của khách đã bổ sung thêm cho những suy ngẫm, bình luận của các bô lão về chiến thắng, bàn về lẽ tồn vong của đất nước và khẳng định bài học lịch sử trong giữ nước:
Anh minh hai vị thánh quân, Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh
Giặc tan muôn thuở thăng bình
Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao
- Cũng đề cao nhân tố con người trong lịch sử, khách ca ngợi cao công lao của các vua Trần Hai vị "thánh quân" được nhắc đến ở đây là hai vua Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông, hai ông vua anh minh, sáng suốt đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ 2 và lần thứ 3 Theo lời ca của khách thì ta chiến thắng không hẳn vì có địa thế hiểm trở mà chủ yếu bởi vì đức cao của các vị vua Trần:
Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao
Đức cao ấy là lòng yêu nước thương dân, là xây dựng tinh thần đại đoàn kết dân tộc, là tinh thần cảnh giác trước hiểm họa ngoại xâm Đức cao ấy đã tạo nên sức mạnh làm nên chiến thắng: "Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức"
- Ca ngợi chiến thắng, ca ngợi hai vị vua Trần, đoạn ca của khách còn là khúc ca khải hoàn ca ngợi cuộc sống thanh bình của dân tộc sau chiến thắng, thể hiện khát vọng có những ông vua anh minh, sáng suốt để đất nước được muôn thuở thanh bình Khát vọng ấy cũng là khát vọng chung của vua tôi nhà Trần đã được Trần Quang Khải thể hiện trong "Tụng giá hoàn kinh sư":
"Thái bình nên gắng sức Non nước ấy ngàn thu"
Trang 1010
Đó cũng là khát vọng của mọi thế hệ người Việt Nam, từng được Nguyễn Trãi nhắc đến trong Bình Ngô đại cáo:
"Kiền khôn bĩ mà lại thái, Nhật nguyệt hối mà lại minh
Muôn thuở nền thái bình vững chắc"
Sau này, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm khi viết về đất nước cũng thể hiện khát vọng ấy:
"Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất nước muôn đời"
III KẾT LUẬN
"Phú sông Bạch Đằng" là đỉnh cao nghệ thuật của thể phú trong văn học trung đại Việt Nam Với bố cục, kết cấu chặt chẽ, đặc trưng cho thể phú cổ thể; câu văn, giọng điệu linh hoạt, khi thì hào sảng, khi thì trĩu nặng tâm tư; bút pháp ước lệ, tượng trưng kết hợp với lối nói cường điệu, hình tượng nhân vật đặc sắc mang ý nghĩa triết lí; ngôn ngữ cô đọng, trong sáng, hào hùng; tài hoa trong miêu tả, hùng hồn trong tự sự, u hoài trong cảm xúc, sáng suốt lúc bình luận là những thành công của Trương Hán Siêu trong bài phú
Qua những hoài niệm về quá khứ, bài phú đã thể hiện lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc trước những chiến công trên sông Bạch Đằng, đồng thời ngợi ca truyền thống anh hùng bất khuất, truyền thống đạo lí nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam Hơn thế, bài phú còn chứa đựng tư tưởng nhân văn cao đẹp qua việc đề cao vai trò, vị trí của con người trong lịch sử Ra đời cách đây gần bảy trăm năm nhưng bài phú đến nay vẫn còn nguyên giá trị
LUYỆN ĐỀ
Đề bài 1: Phân tích nhân vật khách trong bài Phú sông Bạch Đằng
I Mở bài
- Giới thiệu tác giả Trương Hán Siêu và tác phẩm Bạch Đằng giang phú
- Khái quát chung về nhân vật “khách”: Là hình tượng quan trọng trong bài, là sáng tạo nghệ thuật của tác giả để gửi gắm tình cảm, cảm xúc, tư tưởng
II Thân bài
1 Hình tượng khách với những cuộc ngao du
- Khách là hình tượng quen thuộc trong thể phú bởi thể loại này thường có lối đáp chủ - khách Khách chính là sự phân thân của tác giả để thể hiện tâm hồn, tình cảm,
tư tưởng