1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH Trích “Thượng kinh kí sự” của Lê Hữu Trác

11 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 350,85 KB
File đính kèm 1. VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH.pdf.zip (330 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH Trích “Thượng kinh kí sự” của Lê Hữu Trác I. MỞ BÀI Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác không chỉ là một danh y nổi tiếng, mà còn là một tác giả có nhiều tác phẩm văn học có giá trị thời trung đại. Lê Hữu Trác để lại cho đời một sự nghiệp y học đồ sộ, nổi bật hơn cả là bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh được coi là bách khoa toàn thư về y học thế kỉ XVIII. Các tác phẩm của ông không chỉ có giá trị về y học mà còn mang nhiều giá trị văn học sâu sắc vì đã ghi lại cảm xúc chân thật cùng như bộc lộ tâm huyết, đức độ của người thầy thuốc. Thượng kinh kí sự là tập kí sự nổi tiếng trong cuộc đời Lê Hữu Trác. Tác phẩm kể về cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh và quyền uy thế lực nhà chúa cũng như những điều mắt thấy tai nghe nhân dịp được chúa Trịnh Sâm triệu vào chữa bệnh. Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh không chỉ miêu tả cuộc sống xa hoa ở phủ chúa, mà còn thể hiện rõ nét tâm hồn và nhân cách của vị lương y tài hoa đức độ này. II. THÂN BÀI 1. Khái quát 1.1. Thể loại: Kí là là tên gọi chung cho một nhóm thể loại có tính giao thoa giữa báo chí với văn học. Kí viết về cuộc đời thực tại, viết về người thật, việc thật. Người viết kí miêu tả thực tại theo tinh thần của sử học. Mẫu hình tác giả kí gần gũi với nhà sử học. Tác giả kí coi trọng việc thuật lại có ngọn ngành và không bao giờ quên miêu tả khung cảnh. Kí bao gồm nhiều thể văn như: Bút ký, phóng sự, du kí, hồi kí,nhật kí,… Trong số đó kí tự thiên về ghi chép chi tiết, tỉ mỉ sự việc câu chuyện có thật. Tất nhiên đan xen vào mạch tự sự còn có những đoạn thể hiện nhận xét chân thực, tinh tường của nhà văn trước sự việc. 1.2. Hoàn cảnh ra đời: Lê Hữu Trác xuất thân trong một gia đình quý tộc, giỏi binh thư, võ nghệ. Làm quan dưới thời chúa Trịnh được một thời gian, ông nhận thấy xã hội thối nát, cương thường lỏng lẻo, nhân khi người anh ở Hương Sơn mất (1746), ông liền viện cớ cáo quan về nuôi mẹ già. Từ đó ông chuyên nghiên cứu y học vừa chữa bệnh cứu đời, vừa soạn sách và mở trường dạy học truyền bá y đức, y lí, y thuật. Ngày 12 tháng giêng năm Cảnh Hưng 43(1782), Lê Hữu Trác nhận được lệnh chúa triệu về kinh xem mạch, kê đơn chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán. Sau đó một thời gian thì chữa bệnh cho chúa Trịnh Sâm. Những điều Lê Hữu Trác mắt thấy tai nghe trong nhiều chuyến đi từ Hương Sơn ra Thăng Long đã thôi thúc ông cầm bút. Vì thế tập “Thượng kinh kí sự” bằng chữ Hán được ông viết xong năm 1783. Tập kí sự này là một tác phẩm văn học đích thực, đặc sắc, có giá trị sử liệu cao. Đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh” thể hiện được đầy đủ những nét độc độc đáo trong bút pháp kí sự của Lê Hữu Trác. 1.3. Giới thiệu đoạn trích: Tính chất kí trong bút pháp của Lê Hữu Trác thể hiện rõ ở chỗ kể tỉ mỉ về một sự kiện cụ thể, chân thực với không gian, thời gian xác định. Chẳng hạn: “Mồng một tháng 2. Sáng tinh mơ, tôi nghe tiếng gõ cửa rất gấp. Tôi chạy ra mở cửa . Thì ra một người đầy tớ quan Chánh đường….” . Ở đây “trong việc có người”, người gắn chặt với cảnh, với môi trường hoạt động cụ thể. Lê Hữu Trác sử dụng người trần thuật ngôi thứ nhất. Nhân vật “tôi” không hiện ra qua hình dáng cụ thể nhưng có tư cách là một người trong cuộc, trực tiếp tham gia vào sự việc được miêu tả trần thuật, trực tiếp tiếp cận quan sát tỉ mỉ và ghi chép trung thực, tả cảnh sinh động, thuật việc khéo léo. Vì thế ngay từ đầu truyện người đọc đã có cảm giác đây không phải câu chuyện hư cấu, mà chính là bức tranh cuộc sống đang hiện hữu. Khi kể việc, tả người Lê Hữu Trác không vay mượn những khuôn mẫu, chất liệu có sẵn, tác giả hướng tới khai thác chất liệu đời thường, đời tư một cách tự nhiên, chân thật. Ông kể lại có ngọn ngành, sắp xếp sự việc cho đầy đủ mạch lạc có đầu có cuối, thể hiện thành công cái lôgíc nhân quả của sự kiện, hành động, suy nghĩ, tâm trạng. Ban đầu ta tưởng như nhân vật “tôi” chủ động, nhưng càng đọc càng thấy nhân vật “tôi” bị cuốn vào hết sự việc này đến sự việc khác. 2. Cảnh sống xa hoa, vương giả nơi phủ chúa Quang cảnh và cung cách sinh hoạt trong phủ chúa được ghi lại khá tỉ mỉ qua con mắt quan sát của một thầy thuốc lần đầu tiên bước chân vào thế giới mới lạ. Không gian nghệ thuật của tác phẩm ngày càng được mở rộng hơn theo bước chân, và cách nhìn của nhân vật xưng “tôi”. Bức tranh toàn cảnh về phủ chúa Trịnh không chỉ có bề rộng mà còn có chiều sâu, với một sức gợi mạnh mẽ. 2.1. Là chốn thâm nghiêm uy quyền tột bậc Bước chân vào phủ chúa mới biết đây là chốn thâm nghiêm, uy quyền tột bậc. Quyền uy của nhà chúa được tác giả thể hiện qua một số chi tiết: + Quyền uy: Muốn vào phủ chúa phải qua những dãy hành lang quanh co nối nhau liên tiếp, có người giữ cửa truyền báo rộn ràng, có vệ sĩ canh cửa cung, ai muốn ra vào phải có thẻ, người bên ngoài vào phải có người truyền lệnh, dẫn đường. Chúa quyền uy như thế nên có nhiều người hầu kẻ hạ: người có việc quan qua lại như mắc cửi có người hầu kẻ hạ ra vào tấp nập. Khi tác giả lên cáng vào phủ thì có tên đầy tớ chạy trước hét đường. + Khuôn phép, lễ nghi: Lời nói của mọi người khi nhắc đến thế chúa và thế tử đều rất cung kính, lễ độ như Thánh thượng đang ngự ở đấy, chưa thể yết kiến, hầu mạch, hầu trà … Chúa Trịnh có phi tần chầu chực xung quanh, giống như bậc thánh. Tác giả khám bệnh cho con chúa mà cũng không được nhìn mặt chúa, chỉ làm theo chỉ dẫn để vào cung thăm bệnh cho thế tử. Khi xem bệnh xong thì không được trao đổi với chúa mà phải viết tờ khải đưa lên. Còn phần thế tử thì khi bị bệnh lại có đến bảy, tám ngự y thúc tục vây quanh.

Trang 1

1

VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH

- Trích “Thượng kinh kí sự” của Lê Hữu Trác-

I MỞ BÀI

Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác không chỉ là một danh y nổi tiếng, mà còn là một tác giả có nhiều tác phẩm văn học có giá trị thời trung đại Lê Hữu Trác để lại cho đời

một sự nghiệp y học đồ sộ, nổi bật hơn cả là bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh được coi là

bách khoa toàn thư về y học thế kỉ XVIII Các tác phẩm của ông không chỉ có giá trị về y học mà còn mang nhiều giá trị văn học sâu sắc vì đã ghi lại cảm xúc chân thật cùng như

bộc lộ tâm huyết, đức độ của người thầy thuốc Thượng kinh kí sự là tập kí sự nổi tiếng

trong cuộc đời Lê Hữu Trác Tác phẩm kể về cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh và quyền uy thế lực nhà chúa cũng như những điều mắt thấy tai nghe nhân dịp được chúa

Trịnh Sâm triệu vào chữa bệnh Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh không chỉ miêu tả cuộc

sống xa hoa ở phủ chúa, mà còn thể hiện rõ nét tâm hồn và nhân cách của vị lương y tài hoa đức độ này

II THÂN BÀI

1 Khái quát

1.1 Thể loại: Kí là là tên gọi chung cho một nhóm thể loại có tính giao thoa giữa

báo chí với văn học Kí viết về cuộc đời thực tại, viết về người thật, việc thật Người viết kí miêu tả thực tại theo tinh thần của sử học Mẫu hình tác giả kí gần gũi với nhà sử học Tác giả kí coi trọng việc thuật lại có ngọn ngành và không bao giờ quên miêu tả khung cảnh

Kí bao gồm nhiều thể văn như: Bút ký, phóng sự, du kí, hồi kí,nhật kí,… Trong số đó kí tự thiên về ghi chép chi tiết, tỉ mỉ sự việc câu chuyện có thật Tất nhiên đan xen vào mạch tự

sự còn có những đoạn thể hiện nhận xét chân thực, tinh tường của nhà văn trước sự việc

1.2 Hoàn cảnh ra đời:

Lê Hữu Trác xuất thân trong một gia đình quý tộc, giỏi binh thư, võ nghệ Làm quan dưới thời chúa Trịnh được một thời gian, ông nhận thấy xã hội thối nát, cương thường lỏng lẻo, nhân khi người anh ở Hương Sơn mất (1746), ông liền viện cớ cáo quan về nuôi mẹ già Từ đó ông chuyên nghiên cứu y học vừa chữa bệnh cứu đời, vừa soạn sách và mở trường dạy học truyền bá y đức, y lí, y thuật

Ngày 12 tháng giêng năm Cảnh Hưng 43(1782), Lê Hữu Trác nhận được lệnh chúa triệu về kinh xem mạch, kê đơn chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán Sau đó một thời gian thì chữa bệnh cho chúa Trịnh Sâm Những điều Lê Hữu Trác mắt thấy tai nghe trong nhiều chuyến đi từ Hương Sơn ra Thăng Long đã thôi thúc ông cầm bút Vì thế tập “Thượng kinh

kí sự” bằng chữ Hán được ông viết xong năm 1783 Tập kí sự này là một tác phẩm văn học đích thực, đặc sắc, có giá trị sử liệu cao Đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh” thể hiện được đầy đủ những nét độc độc đáo trong bút pháp kí sự của Lê Hữu Trác

Trang 2

2

1.3 Giới thiệu đoạn trích:

- Tính chất kí trong bút pháp của Lê Hữu Trác thể hiện rõ ở chỗ kể tỉ mỉ về một sự kiện cụ thể, chân thực với không gian, thời gian xác định Chẳng hạn: “Mồng một tháng 2 Sáng tinh mơ, tôi nghe tiếng gõ cửa rất gấp Tôi chạy ra mở cửa Thì ra một người đầy tớ quan Chánh đường….” Ở đây “trong việc có người”, người gắn chặt với cảnh, với môi trường hoạt động cụ thể

- Lê Hữu Trác sử dụng người trần thuật ngôi thứ nhất Nhân vật “tôi” không hiện ra qua hình dáng cụ thể nhưng có tư cách là một người trong cuộc, trực tiếp tham gia vào sự việc được miêu tả trần thuật, trực tiếp tiếp cận quan sát tỉ mỉ và ghi chép trung thực, tả cảnh sinh động, thuật việc khéo léo Vì thế ngay từ đầu truyện người đọc đã có cảm giác đây không phải câu chuyện hư cấu, mà chính là bức tranh cuộc sống đang hiện hữu

- Khi kể việc, tả người Lê Hữu Trác không vay mượn những khuôn mẫu, chất liệu

có sẵn, tác giả hướng tới khai thác chất liệu đời thường, đời tư một cách tự nhiên, chân thật Ông kể lại có ngọn ngành, sắp xếp sự việc cho đầy đủ mạch lạc có đầu có cuối, thể hiện thành công cái lôgíc nhân quả của sự kiện, hành động, suy nghĩ, tâm trạng Ban đầu ta tưởng như nhân vật “tôi” chủ động, nhưng càng đọc càng thấy nhân vật “tôi” bị cuốn vào hết sự việc này đến sự việc khác

2 Cảnh sống xa hoa, vương giả nơi phủ chúa

Quang cảnh và cung cách sinh hoạt trong phủ chúa được ghi lại khá tỉ mỉ qua con mắt quan sát của một thầy thuốc lần đầu tiên bước chân vào thế giới mới lạ Không gian nghệ thuật của tác phẩm ngày càng được mở rộng hơn theo bước chân, và cách nhìn của nhân vật xưng “tôi” Bức tranh toàn cảnh về phủ chúa Trịnh không chỉ có bề rộng mà còn

có chiều sâu, với một sức gợi mạnh mẽ

2.1 Là chốn thâm nghiêm uy quyền tột bậc

Bước chân vào phủ chúa mới biết đây là chốn thâm nghiêm, uy quyền tột bậc Quyền uy của nhà chúa được tác giả thể hiện qua một số chi tiết:

+ Quyền uy: Muốn vào phủ chúa phải qua những dãy hành lang quanh co nối nhau

liên tiếp, có người giữ cửa truyền báo rộn ràng, có vệ sĩ canh cửa cung, ai muốn ra vào phải có thẻ, người bên ngoài vào phải có người truyền lệnh, dẫn đường Chúa quyền uy như thế nên có nhiều người hầu kẻ hạ: người có việc quan qua lại như mắc cửi "có người hầu kẻ hạ ra vào tấp nập Khi tác giả lên cáng vào phủ thì có tên đầy tớ chạy trước hét đường

+ Khuôn phép, lễ nghi: Lời nói của mọi người khi nhắc đến thế chúa và thế tử đều

rất cung kính, lễ độ như Thánh thượng đang ngự ở đấy, chưa thể yết kiến, hầu mạch, hầu trà … Chúa Trịnh có phi tần chầu chực xung quanh, giống như bậc thánh Tác giả khám

bệnh cho con chúa mà cũng không được nhìn mặt chúa, chỉ làm theo chỉ dẫn để vào cung thăm bệnh cho thế tử Khi xem bệnh xong thì không được trao đổi với chúa mà phải viết tờ khải đưa lên Còn phần thế tử thì khi bị bệnh lại có đến bảy, tám ngự y thúc tục vây quanh

Trang 3

3

Thế tử chỉ là đứa bé 5, 6 tuổi nhưng khi vào xem bệnh, Lê Hữu Trác là một cụ già, trước khi xem mạch và sau khi ra vẫn phải quỳ bốn lạy, muốn xem thân hình của thế tử phải có viên quan nội thần đến xin phép trước

2.2 Sự xa hoa của phủ chúa

Cuộc sống xa hoa, vương giả bậc nhất nơi phủ chúa được tác giả cảm nhận rõ nét ngay từ khi bước vào phủ chúa:

- ”Tôi ngẩng đầu lên, đâu đâu cũng là cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đung đưa thoang thoảng mùi hương” Cảnh vật ấy khiến cho ta có cảm giác, nơi đây là một khu vườn địa đàng nào đó trên tiên giới trong các truyện cổ tích dân gian, chứ không phải cảnh ở hiện thực mà tác giả nhìn thấy

- Khung cảnh càng trở nên choáng ngợp khi bước vào sâu trong phủ chúa Khuôn viên phủ chúa rộng, có trạm dừng chân được kiến trúc thật kiểu cách, cảnh trí độc đáo Điếm là bên cái hồ, có những cái cây lạ lùng và những hòn đá kì lạ Trong điếm cột và bao lơn lượn vòng, kiểu cách thật là xinh đẹp Bên trong là nhà Đại đường, gác tía với kiệu son, võng điều

- Đồ dùng của chúa được son son thiếp vàng, đồ dùng tiếp khách ăn uống cũng đều

là mâm vàng, chén bạc, đồ ăn đầy của ngon vật lạ mang phong vị nhà đại gia…

- Đến nội cung của thế tử phải trải qua 6 lần trướng gấm Nơi ở của thế tử rất sang trọng,có sập thếp vàng, ghế rồng bày nệm ấm, xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt…

=> Tô đậm sự cao sang, quyền uy tột đỉnh cùng với cuộc sống hưởng thụ xa hoa đến cực điểm và sự lộng quyền của nhà chúa

2.3 Cảm nghĩ của tác giả trước uy quyền, cuộc sống xa hoa nơi phủ Chúa

Đồng thời với việc miêu tả, tác giả cũng bộc lộ những suy nghĩ, cảm xúc của mình một cách chân thật: ”Tôi nghĩ bụng: mình vốn con quan Bước chân đến đây mới hay cái cảnh giàu sang của vua chúa thực khác hẳn người thường” Điều này chứng tó thái độ ngỡ ngàng đến bất ngờ của tác giả Khung cảnh giàu sang đó là ngoài sức tưởng tượng của ông Bản thân vốn là một con người không màng danh lợi, nhưng đứng trước khung cảnh hoành tráng này, Lê Hữu Trác cũng không tỏ ra miệt thị, phê phán Trái lại, trước cảnh đẹp đệ nhất trời Nam ấy ông vẫn ngợi ca, vẫn ngập tràn xúc cảm mà cảm tác thành thơ:

Lính nghìn cửa vác đòng nghiêm ngặt

Cả trời Nam sang nhất là đây

.Quê mùa cung cẩm chưa quen

Khác gì ngư phủ đào nguyên thủa nào

Ông còn thấy mình như kẻ quên mùa được lạc vào chốn Đào nguyên Điều này chứng tỏ Lê Hữu Trác là nhà thơ có tâm hồn giàu cảm xúc trước thiên nhiên, tạo vật, thế

sự Ông nhìn và cảm nhận bằng con mắt khách quan, đứng trước cảnh đẹp thì ông ngợi ca,

Trang 4

4

nhưng dường như đằng sau những dòng thơ này vẫn ẩn chứa một nỗi niềm u hoài, sự phê phán kín đáo của tác giả

3 Hình ảnh thế tử Trịnh Cán

3.1 Là con vua cháu chúa: Hình ảnh nhân vật Trịnh Cán được khắc họa bằng

những nét riêng, nhưng đồng thời mang ý nghĩa khái quát Thế tử bị bệnh có đến bảy tám thầy thuốc phục dịch và có nhiều cung nhân hầu hạ Dù thế tử chỉ là một đứa bé trẻ, nhưng khi vào xem bệnh, thầy thuốc phải quỳ lạy bốn lạy và khi xem mạch xong phải lạy bốn lạy nữa trước khi lui ra Việc thế tử ngồi chễm chệ trên sập vàng để một cụ già phải quỳ dưới đất lạy bốn lạy, rồi cười và ban một lời khen: “Ông này lạy khéo!” không chỉ gợi rõ bản chất thơ trẻ, hồn nhiên mà còn cho thấy rõ vị trí rất "bề trên" của thế tử Khi khám bệnh, muốn xem thân thể của thế tử như thế nào để đoán bệnh thì phải có một viên quan nội thần đến xin phép được cởi áo cho thế tử

3.2 Ngoại hình: Thế tử là một đứa trẻ khoảng 5 – 6 tuổi, mặc áo đỏ, ngồi trên sập

vàng Nhưng khi cởi áo khám bệnh tác giả nhận thấy thế tử mắc bệnh đã lâu nên tinh khí khô hết, da mặt khô, rốn lồi to, gân thời xanh, tay chân gầy gò… Thế tử Cán được miêu tả qua con mắt của một vị lang y tài giỏi thật đáng thương và cạn dần sự sống

3.3 Nơi ở: Muốn đến chỗ thế tử phải đi qua 5,6 lượt màn là chướng gấm, vào trong

tối om giữa ban ngày mà phải đền nến, đèn sáp Trong phòng đặt sập vàng, cắm nến to trên giá đồng, bày ghế đồng sơn son thếp vàng, nệm gấm, chục người đứng chầu chực…Xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt Chỉ có một ấu chúa mà vây quanh bao nhiêu là vật dụng gấm vóc lụa là vàng ngọc Người thì đông mà không khí vẫn lạnh lẽo Có thể thấy thế

tử là một cậu bé bị vây tròn, bọc kín trong cái tổ ấm vàng son

3.4 Hình ảnh thế tử Trịnh Cán tiêu biếu cho xã hội phong kiến Đàng ngoài: Thế

tử xuất hiện trong khung cảnh vây bọc thâm nghiêm, giữa vàng son vương giả nhưng thiếu sức sống Không chỉ thế tử Trịnh Cán mà ngay cả phủ chúa dù xa hoa, tráng lệ, quyền uy thâm nghiêm tột bậc vẫn rất thiếu sinh khí và ngột ngạt Khung cảnh khiến ta liên tưởng

đến Vũ Trung tùy bút của Phạm Đình Hổ với câu nhận xét: “Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng,

tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa gió táp, vỡ

tổ tan đàn, kẻ thức giả biết đó là triệu bất thường” Hình ảnh thế tử với những đường nét chết và khung cảnh phủ chúa xa hoa mà thiếu sinh khí đó chính là tín hiệu dự báo triều đại nhà Trịnh đã đi vào mạt vận và chẳng bao lâu nữa sẽ đến hồi diệt vong

4 Tài năng và vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách của Lê Hữu Trác

4.1 Giới thiệu: Tác phẩm được viết trong bối cảnh xã hội thối nát, những vị quan

thanh liêm đều tìm cách lui về ở ẩn với nhân dân, giúp đỡ nhân dân để giữ được tâm hồn, lối sống thanh cao Lê Hữu Trác cũng vậy, vốn bản thân không màng công danh, ông đã chọn nơi rừng núi yên tĩnh để sống cuộc sống ẩn dật, lấy chim muông làm bầu bạn, hoa cỏ làm niềm vui Bởi thế mà ông dường như xa lạ trước cuộc sống cung đình và người ta thường biết đến ông là một người lười làm quan, biếng danh lợi với cái tên là Hải Thượng

Trang 5

5

Lãn Ông Đoạn trích ”Vào phủ chúa Trịnh” là những trang kí sự giàu cảm xúc của Lê Hữu Trác về cảnh giàu sang nơi phủ chúa và bệnh tình của thế tử Bên cạnh những dòng hiện thực ấy, người đọc vẫn thấy toát lên trên tất cả là tài năng, tâm hồn, nhân cách cao đẹp của Ông già lười

4.2 Tài năng về Y học: Lê Hữu Trác nhanh chóng nhận ra khuyết tật của phủ chúa,

phán xét chính xác căn bệnh của thế tử, đồng thời cũng thấy được căn bệnh chung của nơi giàu sang này Trước cuộc sống xa hoa, nhưng yếm khí đó ngay lập tức tác giả đã chuẩn

đoán được căn nguyên căn bệnh mà Thế tử mắc phải: “Ở trong trốn màn che trướng phủ,

ăn quá no, mặc quá ấm nên tạng phủ yếu đi” Quả thật lời chuẩn đoán của ông vô cùng

chính xác, do cuộc sống thừa thãi về vật chất mà lại thiếu đi sự vận động, sống trong không gian tăm tối, ngột ngạt, thiếu khí trời khiến cho phủ tạng ngày càng yếu, người ngày một

gầy mòn

Chốn lầu son gác ngọc ấy đã làm cho con người trở nên hao mòn, mất hết nhuệ khí, lại chứa toàn bọn ngu dốt như quan chánh đường và các quan thái y chỉ lo dùng thuốc công phạt theo ý mình Những phương thuốc ấy tưởng là có bài bản nhưng hóa ra chỉ làm cho thế tử ngày càng yếu đi Bằng tài năng y học Lê Hữu Trác nhận thấy, thế tử chính là nạn nhân của sự ngu dốt, của sự thừa thãi quá mức nơi phủ chúa Đó cũng chính là những biểu hiện rõ nét nhất của một triều đại suy đồi đã đến lúc mạt vận, diệt vong, là sản phẩm của một chốn chỉ biết xu nịnh, ăn chơi phè phỡn không lo cho cuộc sống của nhân dân lao động

4.3 Vẻ đẹp tâm hồn và tài năng văn học: Là một lương y nhưng Lê Hữu Trác có

tâm hồn bay bổng, phong phú, đầy cảm xúc Bởi vậy, trước cảnh đẹp nơi phủ chúa ông có thể tức cảnh mà sáng tác thành bài thơ, chỉ một bài thơ vịnh cảnh mà tả hết cái sang trọng, vương giả trong phủ với gác vẽ, rèm châu, hiên ngọc, vườn ngọc có hoa thơm, vẹt nói… Hơn nữa, những ghi chép về quá trình vào chữa bệnh cho thế tử của ông trở thành bài kí chân thật và hấp dẫn

4.4 Vẻ đẹp nhân cách:

- Dù ca ngợi sự sang trọng, đẹp đẽ, cao quý nơi phủ chúa nhưng tác giả tỏ ra không đồng tình với cuộc sống no đủ, dư thừa, tiện nghi nhưng lại thiếu sinh khí và đồng thời ông cũng biểu hiện thái độ dửng dưng trước những quyến rũ vật chất

- Khi bắt bệnh xong Lê Hữu Trác rơi vào tình thế khó xử, tin vào khả năng chữa bệnh của mình nhưng sợ bị danh lợi ràng buộc, không tiếp tục cuộc sống tự do tự tại, ẩn dật mà ông yêu thích nữa Lúc này, ông đã phải trải qua một cuộc đấu tranh nội tâm quyết liệt giữa một bên là sự trói buộc của công danh và một bên là lương tâm của người thầy thuốc, cái đạo làm người, cái phận làm bề tôi Trong cuộc đấu tranh nội tâm ấy, đã có lúc ông do dự: Nếu mình làm, sao về núi được nữa, chi bằng ta dùng phương thuốc hòa hoãn, nếu không trúng thì cũng không sai bao nhiêu Từ xưa đến nay, con người chỉ sợ thất bại, khổ đau Còn với Lê Hữu Trác thì hoàn toàn ngược lại, ông sợ công danh, sợ uy quyền

Trang 6

6

ràng buộc Nhưng những suy nghĩ vì cá nhân nhanh chóng mất đi, nhường chỗ cho lương tâm, cho chữ trung, chữ đức để nối tiếp cái lòng trung của cha ông đời trước Là một nhà nho chân chính, dù lánh xa danh lợi, nhưng để giữ vững khí tiết của mình, ông vẫn đặt chữ trung lên hàng đầu, dù vị chúa mà ông thờ, triều đại mà ông sống là một xã hội thối nát, suy đồi Ông có thể làm như suy nghĩ trước đó, không hại ai, cũng không gây đau khổ cho

ai, nhưng cuối cùng ông đã quyết định khám và chữa bệnh cẩn thận cho thế tử Qua đó, ta

thấy Lê Hữu Trác không chỉ là một lương y có tay nghề cao mà còn có cái tâm sáng của người lương y luôn hết lòng vì người bệnh, một bề tôi giữ được chữ trung, một con người biết giữ đạo làm người Hơn nữa, tâm hồn và nhân cách cao đẹp của ông cũng được bộc

lộ rõ ở sự tự do, tự tại và coi thường danh lợi

III KẾT LUẬN

* Nghệ thuật:

Đoạn trích đã cho thấy tài năng nghệ thuật đặc sắc trong ngòi bút kí sự của Lê Hữu Trác Nghệ thuật miêu tả, ghi chép rõ nét, trung thực, tạo sự tin cậy nơi người đọc Lựa chọn chi tiết tiêu biểu, ấn tượng qua quang cảnh phủ chúa, hình ảnh thế tử,… tất cả đều ngầm lên án, phê phán cuộc sống xa hoa nơi phủ chúa Kết hợp hài hòa giữa tự sự, miêu tả và biểu cảm tạo nên sự cuốn hút và tăng giá trị hiện thực cho tác phẩm Câu văn của Lê Hữu Trác ngắn gọn, giàu thông tin, được viết ra một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, không một chi tiết thừa Lời văn giản dị, chắc mà bay bổng, vừa “truyền cảm” vừa truyền nhận thức Giọng văn kể chuyện khách quan, pha chút hài hước, tạo được sự thú vị cho người đọc: nín thở đứng chờ, bị sóc một mẻ, một chỗ tối om không có cửa ngõ gì cả…

Về nhân vật, ngoài những người mang họ Trịnh, các nhân vật khác, tuy quyền hành

và phận sự khác nhau, nhưng đều giống nhau ở chỗ cùng dựa dẫm, nịnh bợ nhà chúa nhằm củng cố địa vị cá nhân Các quan ngự y ngày đêm chầu chực để liệu phương thuốc chạy chữa cho Trịnh Cán, nhưng lại sợ trách nhiệm, chỉ theo ý của quan Chánh đường để ra toa Ngay cả quan Chánh đường cũng không khá hơn, ông hoàn toàn đặt mọi hi vọng vào thế tử

ốm yếu, bệnh hoạn Tất cả những nhân vật này đếu có một điểm chung là làm thân phận tôi đòi, chim lòng cá chậu

* Nội dung:

Vào phủ chúa Trịnh là một bức tranh hiện thực sắc nét về sinh hoạt của vua chúa thời xưa, cụ thể là uy quyền và cảnh sống xa hoa của chúa Trịnh Sâm Qua đoạn trích, với bút pháp kí sự tài hoa, người đọc còn thấy được bức chân dung tự họa của tác giả là một thầy thuốc giàu kinh nghiệm, có tài năng, lương tâm và đức độ Lê Hữu Trác xem nghề thuốc vô cùng thiêng liêng cao quí, người làm thuốc phải nối tiếp lòng trung của cha ông mình, phải luôn giữ đức cho trong, giữ lòng cho sạch Lê Hữu Trác yêu thích tự do, nếp sống thanh đạm Vượt lên trên những danh lợi tầm thường ông trở về hành đạo cứu đời với quan niệm: “Thiện tâm cốt ở cứu người Sơ tâm nào có mưu cầu chi đâu/Biết vui, nghèo

Trang 7

7

cũng hơn giàu/Làm ơn nào phải mong cầu trả ơn” Vì thế, tên tuổi của ông được người đời sau nhắc đến với sự thán phục và trân trọng

LUYỆN ĐỀ

Đề bài 1: Giá trị hiện thực của đoạn trích ”Vào phủ chúa Trịnh” trích ”Thượng Kinh

kí sự” của Lê Hữu Trác

I MỞ BÀI

- Giới thiệu về tác giả Lê Hữu Trác và đoạn trích tiêu biểu Vào phủ chúa Trịnh: Không chỉ là một danh y mà còn là một nhà văn, nhà thơ "Vào phủ chúa Trịnh" là một đoạn trích tiêu biểu trong Thượng kinh kí sự

- Khái quát giá trị hiện thực đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh: Đoạn trích mang giá trị hiện thực sâu sắc

II THÂN BÀI

1 Giá trị hiện thực là gì?

- Hiện thực: Sự thật đời sống

- Giá trị hiện thực trong tác phẩm văn học: sự phản ánh hiện thực đời sống một cách chân thực, rõ nét, tạo nên ý nghĩa cho tác phẩm

- Hoàn cảnh ra đời: TK

- Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh là đoạn trích mang giá trị hiện thực rõ nét bởi

Thượng kinh kí sự được viết theo thể kí với đặc điểm ghi chép câu chuyện, sự kiện có thật

tương đối hoàn chỉnh mà tác giả trực tiếp chứng kiến

Trang 8

8

2 Giá trị hiện thực được biểu hiện trong đoạn trích

2.1 Phản ánh bức tranh hiện thực về quang cảnh nơi phủ chúa

- Vào phủ phải trải qua nhiều cửa gác, những dãy hành lang quanh co nối tiếp nhau + Vườn hoa: “cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương”

+ Khuôn viên: có điếm “Hậu mã quân túc trực” để chúa sai phái đi truyền lệnh

- Trong phủ:

+ Những nhà: “Đại đường”, “Quyền bổng”, “Gác tía” với kiệu son võng điều, đồ nghi trượng sơn son thếp vàng và những đồ đạc nhân gian chưa từng thấy

+ Đồ dùng tiếp khách ăn uống toàn là mâm vàng, chén bạc

- Nội cung thế tử:

+ Phải qua năm sáu lần trướng gấm

+ Trong phòng thắp nến, có sập thếp vàng, ghế rồng sơn son thếp vàng, trên ghế bày nệm gấm, màn là che ngang sân, “xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt”

⇒ Quang cảnh nơi phủ chúa vô cùng sa hoa, giàu sang và thâm nghiêm, đây là quang cảnh thường thấy trong lịch sử bởi vua chúa là những người đứng đầu cai trị đất nước

2.2 Phản ánh hiện thực cuộc sống sinh hoạt nơi phủ chúa

Cuộc sống sinh hoạt nơi phủ chúa với rất nhiều những nhiều lễ nghi, khuôn phép, đầy quyền uy, xa hoa nhưng thiếu sinh khí cũng được tác giả phản ánh chân thực:

- Phủ chúa là nơi xa hoa, thâm nghiêm và cũng là nơi đầy uy quyền: Tiếng quát

tháo, truyền lệnh, quy tắc lễ nghi được thực hiện nghiêm ngặt:

+ Khi tác giả được cáng vào phủ: “tên đầy tớ chạy đàng trước hét đường và cáng chạy như ngựa lồng”, “người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc qua lại như mắc cửi”

+ Khi xem bệnh không được thấy mặt thế tử, chỉ làm theo mệnh lệnh do quan chánh đường truyền tới, trước khi vào xem bệnh cho thế tử phải lạy bốn lạy, muốn xem thân hình của thế tử phải có viên quan nội thần đến xin phép

+ Lắm kẻ hầu người hạ: Chúa Trịnh luôn có phi tần hầu chầu chực xung quanh, thế

tử bị bệnh có đến 7, 8 thầy thuốc phục dịch và lúc nào cũng có mấy người đứng hầu hai bên

- Phủ chúa là nơi thiếu sinh khí:

+ Sự thâm nghiêm kiểu mê cung làm tăng ám khí, lối sống cung cấm khiến con người: Tinh khí khô hết, da mặt khô, rốn lồi, gân thòi xanh, chân tay gầy gò…”, “Thế tử ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ấm nên tạng phủ yếu đi”

+ Phản ánh sự thật vị chúa nhỏ Trịnh Cán sống trong sự xa hoa nhưng điều cơ bản nhất lại thiếu, đó là sức sống

Trang 9

9

⇒ Cuộc sống sinh hoạt nơi phủ chúa được tác giả khắc họa chân thực phù hợp với cung cách sinh hoạt của vua chúa thời kì bấy giờ, đồng thời cho thấy được uy quyền và sự lộng hành của chúa Trịnh lấn át cả cung vua

⇒ Phản ánh sự lộng hành của chúa Trịnh

III KẾT LUẬN

1 Nét nghệ thuật thể hiện thành công giá trị hiện thực của đoạn trích

- Thể kí: ghi chép sự thật

- Ghi chép tỉ mỉ, chi tiết, chân thực sự việc

- Kết hợp ghi chép sự việc một cách chính xác với bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc

2 Nội dung

- Khẳng định giá trị hiện thực tiêu biểu của đoạn trích

- Nhận định vai trò và tầm quan trọng của giá trị hiện thực đối với thành công của đoạn trích và toàn bộ tác phẩm: Góp một phần không nhỏ làm nên thành công, đưa tác phẩm Thượng kinh kí sự trở thành tác phẩm kí nghệ thuật đích thực đầu tiên ở Việt Nam

Đề bài 2: Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách của Lê Hữu Trác trong đoạn trích

“Vào phủ chúa Trịnh”

I MỞ BÀI

- Giới thiệu những nét tiêu biểu nhất về tác giả Lê Hữu Trác và đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh: Một con người toàn tài với quan niệm: “ngoài việc luyện câu văn cho hay, mài lưỡi gươm cho sắc, còn phải đem hết tâm lực chữa bệnh cho người”, đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh là một trong những đoạn trích tiêu biểu trong tác phẩm Thượng kinh kí sự của ông

- Đoạn trích đã thể hiện rõ nét vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách của Lê Hữu Trác

II THÂN BÀI

1 Giới thiệu: Tác phẩm được viết trong bối cảnh xã hội thối nát, những vị quan

thanh liêm đều tìm cách lui về ở ẩn với nhân dân, giúp đỡ nhân dân để giữ được tâm hồn, lối sống thanh cao Lê Hữu Trác cũng vậy, vốn bản thân không màng công danh, ông đã chọn nơi rừng núi yên tĩnh để sống cuộc sống ẩn dật, lấy chim muông làm bầu bạn, hoa cỏ làm niềm vui Bởi thế mà ông dường như xa lạ trước cuộc sống cung đình và người ta thường biết đến ông là một người lười làm quan, biếng danh lợi với cái tên là Hải Thượng Lãn Ông Đoạn trích ”Vào phủ chúa Trịnh” là những trang kí sự giàu cảm xúc của Lê Hữu Trác về cảnh giàu sang nơi phủ chúa và bệnh tình của thế tử Bên cạnh những dòng hiện thực ấy, người đọc vẫn thấy toát lên trên tất cả là tài năng, tâm hồn, nhân cách cao đẹp của Ông già lười

2 Là con người coi thường danh lợi

- Ban đầu, khi đứng trước khung cảnh xa hoa, lộng lẫy của phủ chúa:

Trang 10

10

+ Cảm thán: “Bước chân đến đây mới hay cảnh giàu sang của vua chúa thực khác hẳn với người thường!”

+ Vịnh một bài thơ tả hết cái sang trọng vương giả trong phủ với “gác vẽ, rèm châu, hiên ngọc, vườn ngọc” có hoa thơm, chim biết nói…

- Tuy nhiên, đằng sau đó, tác giả cũng gián tiếp phê phán cuộc sống sa hoa nhưng thiếu sinh khí trong phủ chúa thông qua:

+ Sự miêu tả tỉ mỉ sự sa hoa giàu sang

+ Khi được mời dùng cơm: “Mâm vàng chén bạc, đồ ăn toàn là của ngon vật lạ, tôi bấy giờ mới biết cái phong vị của nhà đại gia” ⇒ giọng điệu mỉa mai

+ Cảm nhận về con đường vào nội cung của thế tử: Ở trong tối om, không thấy cửa ngõ gì cả, “Vì thế tử ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ấm nên tạng phủ yếu đi” ⇒ Không đồng tình với cuộc sống quá no đủ, tiện nghi nhưng thiếu khí trời và tự do

+ Ẩn chứa trong bài thơ là giọng điệu mỉa mai phê phán: “Cả trời Nam sáng nhất

là đây!” (phơi bày hiện thực về sự sa hoa của chúa Trịnh)

3 Là một thầy thuốc tài năng, có lương tâm và đức độ

- Tài năng: Y học + Văn học: Tk

- Tâm trạng của Lê Hữu Trác khi kê đơn cho thế tử có sự mâu thuẫn, giằng co:

+ Hiểu căn bệnh, biết cách chữa trị nhưng sợ chữa có hiệu quả ngay sẽ được chúa tin dùng, bị công danh trói buộc, không được về với núi rừng ẩn dật

+ Muốn chữa cầm chừng nhưng lại sợ trái với lương tâm, y đức, sợ phụ lòng cha ông

- Cuối cùng phẩm chất, lương tâm của người thầy thuốc đã chiến thắng Ông chữa bệnh tận tình bằng tài năng của mình, thẳng thắn đưa ra những cách chữa bệnh hợp lí

⇒ Cách lí giải và chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán cho thấy Lê Hữu Trác là một thầy thuốc có tài năng, lương tâm và đức độ

4 Là con người có tâm hồn, cốt cách thanh cao

- Tâm hồn bay bổng, phong phú

- Luôn coi việc nối tiếp cái lòng trung của cha ông mình làm tôn chỉ để hành động đúng đắn

- Xem thường danh lợi, yêu thích tự do, mong muốn được sống thanh đạm nơi quê mùa: Suy nghĩ của Lê Hữu Trác khi ông chữa bệnh cho thế tử

⇒Sự coi thường danh lợi của Lê Hữu Trác, mong muốn sống cuộc đời tự do, chữa bệnh cứu người của ông cho thấy một cốt cách thanh cao của một danh y

III KẾT LUẬN

- Khẳng định lại những nét đẹp tâm hồn và nhân cách của tác giả Lê Hữu Trác thể hiện qua đoạn trích và nêu những nét nghệ thuật thể hiện thành công điều đó

Ngày đăng: 24/03/2022, 11:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w