TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ Trích “Chinh Phụ Ngâm” của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm I. MỞ BÀI Ra đời vào nửa đầu thế kỉ XVIII, với nguyên tác bằng Hán văn của Đặng Trần Côn và bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm, Chinh phụ ngâm đã mau chóng đi vào lòng mọi tầng lớp quần chúng. Trải qua mấy thế kỉ tồn tại, tác phẩm vẫn luôn giữ nguyên giá trị của một viên ngọc văn chương sáng ngời. Khúc ngâm là tiếng lòng thiết tha, thổn thức của người phụ nữ có chồng phải ra chiến trận. Trong đó, đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đã góp phần cho thấy rõ tâm trạng cô đơn, buồn tủi của người chinh phụ và nghệ thuật miêu tả tâm trạng bậc thầy của hai tác giả Đặng – Đoàn. II. THÂN BÀI 1. Khái quát Thể loại: Ngâm khúc là thể loại văn học dân tộc, do cha ông ta sáng tạo nên. Đặc điểm của thể loại là thơ trữ tình trường thiên, có ít nhiều yếu tố tự sự diễn tả những tình cảm đau thương, buồn bã. Hoàn cảnh ra đời: Nửa đầu thế kỉ XVIII là thời kì vô cùng rối ren của xã hội phong kiến Việt Nam. Chiến tranh xảy ra liên miên hết Lê Mạc đánh nhau đến Trịnh Nguyễn phân tranh, đất nước chia làm hai nửa. Khởi nghĩa nông dân nổ ra, triều đình phải cất quân đi đánh dẹp. Dân chúng sống trong cảnh loạn li nồi da nấu thịt, cha mẹ xa con, vợ xa chồng… Trước hiện thực xã hội thối nát, văn học thời kì đã này tập trung phản ánh bản chất tàn bạo, phản động của giai cấp thống trị và nỗi đau khổ của nhân dân. Trong đó, tác giả Đặng Trần Côn đồng cảm với nỗi niềm của người phụ nữ có chồng ra trận để nói lên nỗi lòng của họ. Chinh phụ ngâm ra đời đã nhận được sự đồng cảm rộng rãi của tầng lớp Nho sĩ. Có nhiều người dịch tác phẩm này sang chữ Nôm, trong đó bản dịch của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm được đánh giá là hoàn hảo hơn cả bởi nó thể hiện gần như trọn vẹn giá trị nội dung và nghệ thuật của nguyên tác. Vị trí đoạn trích: Trích đoạn được trích từ câu 193 đến câu 216 của tác phẩm, diễn tả tâm trạng của người chinh phụ khi phải xa chồng. Nội dung: Đoạn trích thể hiện tâm trạng của người chinh phụ qua rất nhiều cung bậc cảm xúc, tình cảm khác nhau. Từ đó, phản ánh thái độ oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đề cao quyền sống cùng khát vọng tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của con người, đặc biệt là của người phụ nữ. Đó chính là một biểu hiện mới mẻ của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII. 2. Đoạn 1: Nỗi nhớ nhung sầu muộn của người chinh phụ Người chinh phụ vốn dòng dõi trâm anh và chồng nàng là một chàng trẻ tuổi thuộc dòng dõi hào kiệt. Nàng tiễn chồng ra trận với mong muốn chồng mình sẽ lập được công danh và trở về cùng với vinh hoa, phú quý. Nhưng ngay sau buổi tiễn đưa, nàng phải sống trong tình cảnh lẻ loi, ngày đêm xót xa lo lắng cho chồng. Thấm thía nỗi cô đơn, nàng nhận ra tuổi xuân của mình đang trôi qua vùn vụt và cảnh lứa đôi đoàn tụ hạnh phúc ngày càng trở nên xa vời. Vì vậy mà nàng rơi vào tâm trạng cô đơn, sầu khổ triền miên. 2.1. Hành động lặp đi lặp lại một cách nhàm chán, vô vị Trong suốt đoạn trích, người chinh phụ tưởng tượng ra cảnh chiến trường đầy hiểm nguy, chết chóc mà xót xa, lo lắng cho chồng. Tâm trạng băn khoăn, day dứt, buồn đau của người chinh phụ được tác giả thể hiện sinh động bằng nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh tế ngay từ những câu đầu: Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen. Ngoài rèm thước chẳng mách tin, Trong rèm dường đã có đèn biết chăng ? Đèn có biết dường bằng chẳng biết ? Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi. Buồn rầu nói chẳng nên lời, Hoa đèn kia với bóng người khá thương Không gian trong đoạn thơ là ở trong và ngoài rèm. Ngoài rèm là hiên vắng, trong rèm người chinh phụ đứng trước rèm thưa. Không gian căn phòng chật hẹp tù túng, bế tắc gợi nỗi bi thương trong lòng người chinh phụ. Các từ “vắng”, “thưa” thể hiện sự trống trải, thưa thớt cũng góp phần tô đậm thêm nỗi cô đơn, buồn tủi của người chinh phụ. Tâm trạng băn khoăn, day dứt, lo lắng, nhớ thương của người chinh phụ được thể hiện trong các hành động lặp đi lặp lại nhiều lần mà trước hết là qua hành động dạo hiên vắng: Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước. Giống như người cung nữ trong “Cung oán ngâm” của Nguyễn Gia Thiều “Ngán trăm chiều bước lại ngẩn ngơ”, nàng lặng lẽ gieo từng bước trên thềm vắng lặng, trong nỗi cô đơn đang tràn ngập tâm hồn. Nhịp thơ chậm gợi cảm giác như thời gian ngưng đọng. Nỗi nhớ nhung sầu muộn và khắc khoải mong chờ khiến bước chân người chinh phụ trở nên nặng trĩu. Bước chân này khác với bước chân vội vã của nàng Kiều khi tìm đến tình yêu: Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình. Người chinh phụ thấp thỏm, bất an bởi lo lắng cho sinh mệnh của chồng ở nơi chiến trường đầy nguy hiểm. Nàng bồn chồn đứng ngồi không yên, hết buông rèm xuống rồi lại cuốn rèm lên: Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen. Dường như đó là những hành động vô thức được nàng thực hiện trong lúc âu lo. 2.2. Thao thức ngóng tin chồng Người chinh phụ cứ ngóng đợi tin tức của chồng và hi vọng chồng sẽ quay trở về. Nàng mong con chim thước sẽ mang tin của người nơi chiến trận nhưng “thước chẳng mách tin”, người chồng vẫn biền biệt và bặt vô âm tín: Trải mấy thu đi tin nhạn lại Tới xuân này, tin hãy vắng không”. Bao nỗi băn khoăn, buồn đau, khắc khoải của nàng được đặt trong câu hỏi tu từ: “Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?”. Trong văn học, hình ảnh ngọn đèn
Trang 11
TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ -Trích “Chinh Phụ Ngâm” của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm-
I MỞ BÀI
Ra đời vào nửa đầu thế kỉ XVIII, với nguyên tác bằng Hán văn của Đặng Trần
Côn và bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm, Chinh phụ ngâm đã mau chóng đi vào
lòng mọi tầng lớp quần chúng Trải qua mấy thế kỉ tồn tại, tác phẩm vẫn luôn giữ nguyên giá trị của một viên ngọc văn chương sáng ngời Khúc ngâm là tiếng lòng thiết tha, thổn thức của người phụ nữ có chồng phải ra chiến trận Trong đó, đoạn
trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đã góp phần cho thấy rõ tâm trạng cô đơn,
buồn tủi của người chinh phụ và nghệ thuật miêu tả tâm trạng bậc thầy của hai tác giả Đặng – Đoàn
II THÂN BÀI
1 Khái quát
- Thể loại: Ngâm khúc là thể loại văn học dân tộc, do cha ông ta sáng tạo nên
Đặc điểm của thể loại là thơ trữ tình trường thiên, có ít nhiều yếu tố tự sự diễn tả những tình cảm đau thương, buồn bã
- Hoàn cảnh ra đời: Nửa đầu thế kỉ XVIII là thời kì vô cùng rối ren của xã hội
phong kiến Việt Nam Chiến tranh xảy ra liên miên hết Lê - Mạc đánh nhau đến Trịnh - Nguyễn phân tranh, đất nước chia làm hai nửa Khởi nghĩa nông dân nổ ra, triều đình phải cất quân đi đánh dẹp Dân chúng sống trong cảnh loạn li nồi da nấu thịt, cha mẹ xa con, vợ xa chồng… Trước hiện thực xã hội thối nát, văn học thời kì đã này tập trung phản ánh bản chất tàn bạo, phản động của giai cấp thống trị và nỗi đau khổ của nhân dân Trong đó, tác giả Đặng Trần Côn đồng cảm với nỗi niềm của
người phụ nữ có chồng ra trận để nói lên nỗi lòng của họ Chinh phụ ngâm ra đời đã
nhận được sự đồng cảm rộng rãi của tầng lớp Nho sĩ Có nhiều người dịch tác phẩm này sang chữ Nôm, trong đó bản dịch của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm được đánh giá là hoàn hảo hơn cả bởi nó thể hiện gần như trọn vẹn giá trị nội dung và nghệ thuật của nguyên tác
- Vị trí đoạn trích: Trích đoạn được trích từ câu 193 đến câu 216 của tác phẩm,
diễn tả tâm trạng của người chinh phụ khi phải xa chồng
- Nội dung: Đoạn trích thể hiện tâm trạng của người chinh phụ qua rất nhiều
cung bậc cảm xúc, tình cảm khác nhau Từ đó, phản ánh thái độ oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đề cao quyền sống cùng khát vọng tình yêu và hạnh phúc lứa
đôi của con người, đặc biệt là của người phụ nữ Đó chính là một biểu hiện mới mẻ
của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII
2 Đoạn 1: Nỗi nhớ nhung sầu muộn của người chinh phụ
Người chinh phụ vốn dòng dõi trâm anh và chồng nàng là một chàng trẻ tuổi thuộc dòng dõi hào kiệt Nàng tiễn chồng ra trận với mong muốn chồng mình sẽ lập được công danh và trở về cùng với vinh hoa, phú quý Nhưng ngay sau buổi tiễn đưa, nàng phải sống trong tình cảnh lẻ loi, ngày đêm xót xa lo lắng cho chồng Thấm thía nỗi cô đơn, nàng nhận ra tuổi xuân của mình đang trôi qua vùn vụt và cảnh lứa đôi
Trang 22
đoàn tụ hạnh phúc ngày càng trở nên xa vời Vì vậy mà nàng rơi vào tâm trạng cô đơn, sầu khổ triền miên
2.1 Hành động lặp đi lặp lại một cách nhàm chán, vô vị
- Trong suốt đoạn trích, người chinh phụ tưởng tượng ra cảnh chiến trường đầy hiểm nguy, chết chóc mà xót xa, lo lắng cho chồng Tâm trạng băn khoăn, day dứt, buồn đau của người chinh phụ được tác giả thể hiện sinh động bằng nghệ thuật miêu
tả tâm lí tinh tế ngay từ những câu đầu:
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen
Ngoài rèm thước chẳng mách tin, Trong rèm dường đã có đèn biết chăng ? Đèn có biết dường bằng chẳng biết ? Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi
Buồn rầu nói chẳng nên lời, Hoa đèn kia với bóng người khá thương!
- Không gian trong đoạn thơ là ở trong và ngoài rèm Ngoài rèm là hiên vắng, trong rèm người chinh phụ đứng trước rèm thưa Không gian căn phòng chật hẹp tù túng, bế tắc gợi nỗi bi thương trong lòng người chinh phụ Các từ “vắng”, “thưa” thể hiện sự trống trải, thưa thớt cũng góp phần tô đậm thêm nỗi cô đơn, buồn tủi của người chinh phụ
- Tâm trạng băn khoăn, day dứt, lo lắng, nhớ thương của người chinh phụ được thể hiện trong các hành động lặp đi lặp lại nhiều lần mà trước hết là qua hành động
dạo hiên vắng: Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước Giống như người cung nữ trong
“Cung oán ngâm” của Nguyễn Gia Thiều “Ngán trăm chiều bước lại ngẩn ngơ”, nàng lặng lẽ gieo từng bước trên thềm vắng lặng, trong nỗi cô đơn đang tràn ngập tâm hồn Nhịp thơ chậm gợi cảm giác như thời gian ngưng đọng Nỗi nhớ nhung sầu muộn và khắc khoải mong chờ khiến bước chân người chinh phụ trở nên nặng trĩu Bước chân này khác với bước chân vội vã của nàng Kiều khi tìm đến tình yêu:
Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình
Người chinh phụ thấp thỏm, bất an bởi lo lắng cho sinh mệnh của chồng ở nơi chiến trường đầy nguy hiểm Nàng bồn chồn đứng ngồi không yên, hết buông rèm
xuống rồi lại cuốn rèm lên: Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen Dường như đó là những
hành động vô thức được nàng thực hiện trong lúc âu lo
2.2 Thao thức ngóng tin chồng
- Người chinh phụ cứ ngóng đợi tin tức của chồng và hi vọng chồng sẽ quay trở về Nàng mong con chim thước sẽ mang tin của người nơi chiến trận nhưng
“thước chẳng mách tin”, người chồng vẫn biền biệt và bặt vô âm tín:
Trải mấy thu đi tin nhạn lại Tới xuân này, tin hãy vắng không”
- Bao nỗi băn khoăn, buồn đau, khắc khoải của nàng được đặt trong câu hỏi tu
từ: “Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?” Trong văn học, hình ảnh ngọn đèn
Trang 33
thường được sử dụng để diễn tả sự thao thức suốt đêm và giãi bày tình cảm Đã có những câu ca dao như:
Đèn thương nhớ ai
Trong “Truyện Kiều”, đại thi hào Nguyễn Du cũng mượn hình ảnh ngọn đèn
để miêu tả tâm trạng của nàng Kiều trong đêm trao duyên:
Áo dầm giọt lệ, tóc se mái sầu Người chinh phụ ở đây cũng lấy ngọn đèn để thể hiện nỗi thao thức, nhớ thương Nàng khát khao có người đồng cảm và chia sẻ tâm tình Trong căn phòng trống vắng, quạnh hiu, chỉ có cây đèn đối diện với nàng Nàng tưởng như ngọn đèn
có thể san sẻ tâm sự của mình, nhưng:“Đèn có biết dường bằng chẳng biết” Câu thơ
có hình thức đặc biệt khẳng định rồi lại phủ định Ngọn đèn có biết cũng như không
vì nó là vật vô tri, vô giác không thể san sẻ nỗi lòng cùng người chinh phụ nên chỉ
còn nàng tự đối diện với nỗi lòng đầy “bi thiết”, buồn rầu” của mình Trong đó, từ bi
thiết đã cực tả tâm trạng cô đơn, sầu muộn của người chinh phụ Bi thiết là bi thương,
thảm thiết, đau đớn không nói thành lời, nỗi đau thương ấy nàng chỉ còn biết kìm nén, chôn chặt vào cõi lòng
Người chinh phụ thức suốt đêm, ngọn đèn cũng chong suốt năm canh nên dầu
đã cạn, bấc đã tàn Hoa đèn là tàn kết lại đầu sợi bấc đèn cháy đỏ như hoa Hình ảnh hoa đèn ở đây vì thế gợi sự tàn lụi, héo hon Dấu hiệu dầu hao, bấc hỏng ấy còn chứng tỏ người chinh phụ đã thao thức rất nhiều đêm, triền miên, khắc khoải, mong nhớ về chồng Nhìn hoa đèn, nàng chợt liên tưởng đến tình cảnh của mình cũng héo hon vì khát vọng rồi vô vọng và trong lòng nàng rưng rưng nỗi thương thân tủi phận:
Hoa đèn kia với bóng người khá thương
Có thể nói, trong 8 câu thơ đầu, tác giả đặc tả cảm giác cô đơn của người chinh phụ Đó là cảm giác lúc nào và ở đâu cũng thấy lẻ loi, ban ngày hay ban đêm, ngoài hiên vắng hay trong căn phòng Nỗi cô đơn, khắc khoải ấy tưởng chừng tràn ngập không gian và kéo dài vô tận theo thời gian
2.3 Cảm nhận về ngoại cảnh và bước đi của thời gian
- Ngoại cảnh: Cảnh vật xung quanh không thể san sẻ mà ngược lại như cộng
hưởng với nỗi sầu miên man của người chinh phụ, khiến nàng càng đớn đau, sầu tủi:
Gà eo óc gáy sương năm trống, Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên
Khắc giờ đằng đẵng như niên, Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa
Tiếng gà gáy eo óc báo trời sáng làm tăng thêm vẻ tĩnh mịch, vắng lặng Những cây hòe phất phơ rủ bóng một cách buồn tẻ gợi cảm giác buồn bã, u sầu Giữa không gian ấy hẳn người chinh phụ đã cảm thấy mình nhỏ bé, cô độc biết chừng nào
- Bước đi của thời gian: Tiếng gà gáy và hình ảnh cây hòe phất phủ rủ bóng
hết bên này đến bên khác, đủ cả bốn bên còn thể hiện bước đi về thời gian Người
Trang 44
thiếu phụ thao thức suốt đêm với ngọn đèn cho tới khi gà gáy báo hiệu đêm đã tàn Trong suốt đêm ấy, người chinh phụ thấy thời gian trôi qua thực chậm, mỗi khắc giờ
như cả năm dài, nặng nề và vô vị Phép so sánh “Khắc giờ đằng đẵng như niên”,
“Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa” và các từ láy “đằng đẵng”, “dằng dặc” đã
nhấn mạnh độ dài như vô tận của thời gian cũng như mối sầu không dứt của người chinh phụ Tâm trạng buồn đau khiến thời gian trở nên dài dằng dặc cũng được Nguyễn Du diễn tả rất hay trong hai câu Kiều:
2.4 Gắng gượng để thoát khỏi tâm trạng cô đơn, u uất
- Không muốn bị nhấn chìm trong bi thương triền miên, người chinh phụ cố gắng tìm mọi cách để vượt ra khỏi vòng vây của cảm giác cô đơn đáng sợ nhưng vẫn không sao thoát nổi Nàng gắng gượng cho lòng khuây khoả nhưng càng lún sâu hơn vào sự tuyệt vọng Chạm đến đâu cũng là chạm vào nỗi đau, chạm vào tình cảnh lẻ loi đơn chiếc
- Nàng đốt hương để tìm lại sự thanh thản trong tâm hồn, nhưng hồn đà mê mải với những linh cảm xấu Nàng tưởng tượng ra bao cảnh chết chóc, cảnh chiến trận với âm hồn, tử khí:
Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo, Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi, Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
Vì thế, người chinh phụ càng chìm đắm hơn trong nỗi sợ hãi, phiền muộn
- Nàng lấy gương soi, để tìm vui thú trong việc điểm trang nhan sắc Nhưng khi soi gương lại phải đối mặt với sự cô đơn, lẻ loi vì trong gương chỉ có hình ảnh một người thiếu phụ đang trong tâm trạng ai oán, bi thương Soi gương, nàng lại nhận
ra nhan sắc tàn phai và tuổi thanh xuân đang trôi đi rất nhanh Nước mắt ngày càng chan chứa, nỗi đau khổ lại càng ngập đầy hơn
- Nàng gượng đánh đàn nhưng khi chạm đến cây đàn nàng lại thấy tủi thân trước những hình ảnh là biểu tượng của đôi lứa: Đàn sắt, đàn cầm gảy hòa âm với nhau được ví cảnh vợ chồng hòa thuận Dây đàn uyên ương và phím loan phượng cũng đều là biểu tượng cho lứa đôi gắn bó, hòa hợp Nàng gượng gảy khúc đàn loan phượng sum vầy thì lại chạnh lòng vì tình cảnh vợ chồng đang chia ra đôi ngả Nàng lại lo sợ dây uyên đứt, phím loan chùng sẽ báo hiệu những điều chẳng lành Rốt cuộc, người chinh phụ vẫn phải ngẩn ngơ trở về với nỗi lòng mình vậy
Như vậy, có thể nhận thấy chinh phụ đã cố gắng tìm quên bằng cách tìm đến các thú vui những càng tìm quên lại càng đối diện với bi kịch của mình, càng đau khổ hơn bao giờ hết
Tiểu kết: Bằng bút pháp nghệ thuật điêu luyện, tác giả đã diễn tả được những
diễn biến phong phú, tinh vi các cung bậc tình cảm của người chinh phụ Tác giả lựa chọn và dùng từ rất kĩ, rất đắt, đặc biệt là các tính từ là từ láy làm nổi bật tính chất của sự vật : eo óc, phất phơ, đằng đẵng, dằng dặc, mê mải, châu chan, thăm thẳm, đau
Trang 55
đáu Về nhạc điệu, tác giả đã khai thác và phát huy một cách tài tình âm hưởng trầm bổng, du dương của thể thơ song thất lục bát để diễn tả cảm xúc giống như những đợt sóng dạt dào trong tâm trạng người chinh phụ, hết nhớ lại thương, hết lo lắng lại trông mong, hết hi vọng lại tuyệt vọng trong tình cảnh lẻ loi đơn chiếc Cảnh cũng như tình được miêu tả rất phù hợp với diễn biến của tâm trạng nhân vật
Thông qua tâm trạng đau buồn của người chinh phụ có chồng phải tham gia vào những cuộc tranh giành quyền lực của vua chúa, tác giả có chủ ý đề cao hạnh phúc lứa đôi và thể hiện thái độ bất bình, phản kháng đối với chiến tranh phi nghĩa
Tác phẩm Chinh phụ ngâm đã toát lên tư tưởng chủ đạo trong văn chương một thời,
đó là giá trị nhân đạo, tư tưởng đòi quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc rất chính đáng của con người, nhất là quyền hạnh phúc của người phụ nữ
3 Nỗi nhớ nhung của người chinh phụ
- Không gian có sự thay đổi, chuyển từ căn buồng chật hẹp, tù túng sang không
gian với thiên nhiên rộng mở:
Lòng này gửi gió đông có tiện?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên
Gió đông là cơn gió từ hướng Đông thổi tới, là cơn gió của mùa xuân; non Yên vốn là một địa danh cách xa Thiểm Tây, Trung Quốc hơn hai ngàn dặm về phía bắc, ở đây có nghĩa chỉ vùng núi non nghìn trùng; trời thăm thẳm, xa vời Trong không gian rộng, tâm trạng người thiếu phụ cũng có sự chuyển biến từ bế tắc sang
nhẹ nhàng, hửng sáng hơn
- Trong tâm trạng có phần phấn chấn, người chinh phụ chợt nảy ra một ý nghĩ rất chân thành mà cũng rất lãng mạn, nên thơ là nhờ ngọn gió xuân gửi lòng mình là
nỗi nhớ thương, trân quý như vàng (nghìn vàng) đến người chồng ở chiến trường xa, đang đối đầu từng ngày từng giờ với cái chết để mong kiếm chút tước hầu Chắc chắn, chồng nàng cũng sống trong tâm trạng nhớ thương và khao khát trở về Nhờ gió đông gửi gắm bao nỗi nhớ thương nhưng đó chỉ là mong ước phi thực tế nên hi vọng loé lên rồi vụt tắt ngay Chỉ có nỗi nhớ là hiện thực:
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu, Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong
Nỗi nhớ được tác giả so sánh với hình ảnh của vũ trụ vô biên Thăm thẳm nỗi
nhớ như thăm thẳm con đường lên trời Câu thơ “Nhớ chàng đằng đẵng đường lên
bằng trời” là một câu thơ tuyệt bút, diễn tả nỗi nhớ thương đè nặng trong lòng, triền
miên theo thời gian đêm ngày năm tháng (đằng đẵng) và được cụ thể hóa bằng độ dài của không gian (đường lên bằng trời) Khi giải thích nghĩa câu thơ này, Nguyễn Thạch Giang đã viết: “Lòng nhớ chồng thăm thẳm dài dằng dặc vẫn có thể đến được
dù có như đường lên trời” Có thể nói tác giả đã diễn tả một cách sâu sắc, tài tình nỗi nhớ thương chồng của người chinh phụ Cả một trời thương nhớ mênh mông và nỗi
buồn đau triền miên, dằng dặc, vô tận được diễn tả qua các từ láy “thăm thẳm”, “đau
đáu”, ở âm điệu triền miên của vần thơ song thất lục bát và thủ pháp nghệ thuật điệp
Trang 66
cuối đầu liên hoàn “…non Yên/Non Yên…”, “…trời/Trời…” Cách bộc lộ tâm trạng
cá nhân trực tiếp như thế này cũng là điều mới mẻ, hiếm thấy trong văn chương nước
ta thời trung đại
- Không gian rộng mở với non Yên, gió đông, đường lên bằng trời làm cho
người chinh phụ thoát khỏi không gian bế tắc và tâm trạng trở nên nhẹ nhàng hơn Tuy nhiên, không gian rộng lớn ấy cũng có ý nghĩa nhấn mạnh thêm sự xa cách, nhớ nhung Không tin tức mà cũng không gửi gắm được nỗi nhớ thương, người chinh phụ lại phải đối mặt với thực tại, thấm thía với bi kịch của mình Cảnh vật xung quanh hiện hữu trước mắt, sương lạnh lẽo, tiếng côn trùng rả rích trong mưa Cảnh tượng thê lương, ảm đạm, đang bủa vây lấy người chinh phụ:
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun
Có thể nói hai câu thơ”Chinh phụ ngâm khúc” này rất gần gũi với hai câu
“Kiều” nổi tiếng:
“Cảnh nào cảnh chằng đeo sầu, Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ…”
Giữa con người và cảnh vật dường như có sự tương đồng khiến cho nỗi sầu thương trở nên da diết, bất tận Cảnh vật xung quanh người chinh phụ đã chuyển thành tâm cảnh bởi được nhìn qua đôi mắt đẫm lệ buồn thương Sự giá lạnh của tâm hồn làm tăng thêm sự giá lạnh của cảnh vật Cũng giọt sương ấy đọng trên cành cây, cũng tiếng trùng ấy rả rích trong đêm mưa gió, nhưng cảnh ấy tình này lại gợi nên bao sóng gió, bao nỗi đoạn trường trong lòng người chinh phụ Tình cảnh ấy, tâm trạng ấy tự nó đã nói lên bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa kia Ý thơ đi từ tình đến cảnh rồi lại từ cảnh trở về tình, cứ lặp đi lặp lại như vậy nhằm thể hiện rõ tình cảnh lẻ loi và tâm trạng cô đơn của người chinh phụ Dù ở đâu, lúc nào, làm gì nàng cũng chỉ lầm lũi, vò võ một mình một bóng mà thôi!
Bằng bút pháp nghệ thuật điêu luyện, tác giả đã diễn tả được những diễn biến phong phú, tinh vi các cung bậc tình cảm của người chinh phụ Cảnh cũng như tình được miêu tả rất phù hợp với diễn biến của tâm trạng nhân vật Thông qua tâm trạng đau buồn của người chinh phụ đang sống trong tình, cảnh lẻ loi vì chồng phải tham gia vào những cuộc tranh giành quyền lực của vua chúa, tác giả có chủ ý đề cao hạnh phúc lứa đôi và thể hiện thái độ bất bình, phản kháng đối với chiến tranh phi nghĩa Tác phẩm Chinh phụ ngâm đã toát lên tư tưởng chủ đạo trong văn chương một thời,
đó là tư tưởng đòi quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc rất chính đáng của con người.
III ĐÁNH GIÁ CHUNG
- Về nghệ thuật: Qua thể thơ song thất lục bát, cách dung từ, hình ảnh ước lệ, tác giả đã thể hiện một cách tinh tế các cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau của nỗi
cô đơn buồn khổ của người chinh phụ luôn khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phục lứa đôi Đoạn trích cũng thể hiện tấm lòng thương yêu và cảm thong sâu sắc của tác giả với khát khao hạnh phúc chính đáng của người chinh phụ Cất lên tiếng kêu nhân đạo, phản đối chiến tranh phong kiến phi nghĩa
Trang 77
- Về nội dung: “Chinh phụ ngâm khúc” đã nói lên tình cảm da diết của người
vợ dành cho người chồng, ca ngợi tình yêu chung thủy của hai người Nhưng cũng đồng thời lên án chiến tranh phi nghĩa đã làm bao gia đình phải tan nát, làm vợ phải
xa chồng, con phải xa cha, cha mẹ xa con, …Mặt khác, tác phẩm cũng đã phản ánh lên ý thức về cuộc sống, niềm khao khát bảo vệ hạnh phúc gia đình Đó cũng là các lí
do mà “chinh phụ ngâm khúc” đã tạo dấu ấn rất riêng biệt trong nên văn học của thế
kỉ 18 mà vẫn còn có giá trị to lớn cho tới tần bây giờ
Đoạn trích đã cho thấy nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tài tình Tâm lí người chinh phụ được miêu tả ở nhiều cung bậc khác nhau thông qua hành động và ngoại cảnh Thể thơ song thất lục bát cùng hệ thống từ láy giàu giá trị gợi hình, gợi cảm đã diễn tả thế giới nội tâm phong phú của nhân vật
Qua trích đoạn, Đặng Trần Côn đã diển tả thành công những cung bậc, sắc thái khác nhau của người chinh phụ, nỗi cô đơn, buồn thương Qua đó diễn tả khát khao hạnh phúc lứa đôi, đây là nét mới trong chủ nghĩa nhân đạo của ông Đồng thời cũng
là lời tố cáo mạnh mẽ, đanh thép chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã chia lìa hạnh
phúc lứa đôi