CHÙA THIÊN MỤ: - Kính chào Quý khách, hôm nay tôi rất vinh hạnh được hướng dẫn Quý khách thăm quan tạichùa Thiên Mụ, tôi xin tự giới thiệu tôi là:……… Hướng dẫn viên của Công ty Dulịch………
Trang 1CHÙA THIÊN MỤ:
- Kính chào Quý khách, hôm nay tôi rất vinh hạnh được hướng dẫn Quý khách thăm quan tạichùa Thiên Mụ, tôi xin tự giới thiệu tôi là:……… Hướng dẫn viên của Công ty Dulịch………,chuyến hành trình tham quan Chùa của quý khách được bắt đầu từ bếnsông Tòa Khâm bằng phương tiện thuyền rồng nhằm giúp Quý khách có thể cảm nhận sự đậm đà ấntượng về vẻ đẹp quyến rủ của mảnh đất sông Hương núi Ngự
- Kính thưa quý khách, đoàn chúng ta đang đi trên sông nước Hương Giang thơ mộng, quàtặng vô giá ngàn lần không sao nói hết mà tạo hóa ban tặng cho xứ Huế Sông Hương có hai nguồnchính và đều bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn đó là hai chi Tả Trạch và Hữu Trạch, vượt qua baothác ghềnh để tới ngã ba Bằng Lãng (còn gọi là ngã ba Tuần), nơi hai dòng này gặp nhau và tạo nênsông Hương Xưa, vua Minh Mạng ngự thuyền, nhìn cảnh trí non, nước, mây, trời tuyệt đẹp rungđộng cảm tác:
“ Một thước nước in trời
Đò ai chiếc lá rơi Non cao xem vòi vọi Dòng biếc thấy vơi vơi”
- Sông Hương không những mang lại cho đôi bờ phố thị một sức sống tiềm tàng mà còn
là biểu tượng con đường dẫn linh hồn nhà vua về chốn vĩnh hằng khi dòng Hương duyên dáng trôi
đi lặng lẽ ngang qua chốn yên giấc ngàn thu của các vua Nguyễn, như: Lăng Gia Long, Minh Mạng
và Tự Đức
- Sông Hương rất đẹp khi chiêm ngưỡng nó từ nguồn và khi nó chảy quanh các chân núi,xuyên qua các cánh rừng rậm và mang theo hương thơm của hệ thực vật nhiệt đới Con sông chảychậm qua những làng mạc xanh tươi và râm mát như Kim Long, Nguyệt Biều, Vỹ Dạ, Đông Ba,Gia Hội, chợ Dinh, Nam Phổ, Bao Vinh và hoà lẫn vào với hương thơm của hoa cỏ Huế Nó từng
là nguồn cảm xúc của bao thế hệ du khách khi họ đi thuyền dọc theo sông Hương để nhìn ngắmphong cảnh nên thơ và lắng nghe những điệu ca Huế truyền thống trong đêm tĩnh mịch (đi đò nghe
ca Huế là một dịch vụ đi thuyền phổ biến trên sông Hương)
- Có lẽ nên nói về sông Hương như một nhạc sĩ đã viết:
“Nếu như chẳng có dòng Hương Câu thơ xứ Huế giữa đường đáng rơi”
- Kính thưa quý khách! bên trái của quý khách nhìn từ xa nơi ấy là núi Ngự Bình (người xưacòn gọi: Bằng Sơn hay Bàn Sơn), cao 104m, dáng núi uy nghi, cân đối Hai bên Ngự Bình có haingọn núi nhỏ chầu vào là Tả Bật Sơn và Hữu Bật Sơn Và nó trở thành bức bình phong án ngữ trước mặt kinh thành, làm tiền án của hệ thống phòng thành kiên cố, đồ sộ Cùng với sông Hương,
Trang 2núi Ngự là một quà tặng vô giá thứ hai của tạo hóa ban tặng tạo nên vẻ sơn thủy hữu tình của Huế,
sứ sở của“sông Hương - núi Ngự”
- Quý khách đã đi cây cầu nổi tiếng: Trường Tiền
- Cầu Trường Tiền là cây cầu sắt đầu tiên bắc qua sông Hương nằm giữa lòng thành phốHuế Cầu được xây dựng từ năm 1897 và hoàn thành vào năm 1899 Khi chưa có cầu, tại đây cóbến đò có tên gọi là Bến đò Trường Tiền, và sông Hương chảy qua đoạn này cũng gọi là sôngTrường Tiền Cầu Trường Tiền ban đầu làm bằng gỗ, còn mặt cầu thì lát bằng ván gỗ lim Đến năm
1904, bão lớn làm hư mất hai vài Năm 1906 thì cầu được sửa chữa lại bằng sắt và xi măng kiên cố.Tên cầu thì cũng có nhiều thay đổi, ban đầu có tên gọi là cầu Thành Thái vì cầu được xây dựngdưới thời vua Thành Thái Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất thì cầu lại mang tên Clémenceau,tên vị Thủ tướng nước Pháp đương thời Năm 1945, cầu lại đổi tên là cầu Nguyễn Hoàng Nhưngrồi tên cầu Trường Tiền vẫn được thông dụng trong dân gian vì vị trí cầu nằm cạnh xưởng đúc tiền
- Cầu Bạch Hổ cũ được chuyên gia Pháp xây dựng trong quá trình làm tuyến đường sắt nốiliền hai đô thị lớn Hà Nội - Sài Gòn Màu sơn của cầu Bạch Hổ mới cũng đóng góp rất lớn cho sựhài hoà thiên nhiên Huế Ðặc biệt là màu nước của sông Hương Cầu sắt thì chủ yếu xà sắt nhưngkhông nặng nề Khác với màu sơn cũ là màu mận chín nhìn tối thành màu đen trở nên lạnh lẽo vềmùa mưa gió hoặc ban đêm
- Có thể nói, mỗi cây cầu ở Huế có dáng vóc, có tâm hồn mang nặng dấu ấn của con ngườinơi đây, cũng vui buồn với bao thăng trầm hay hưng thịnh với mảnh đất Huế xưa và nay
- Khá xa với cầu Bạch Hổ, một địa danh mà tôi không thể không giới thiệu đến quý khách đó
là làng Kim Long Làng Kim Long nằm ở bờ Bắc sông Hương (Thừa Thiên - Huế), được coi là sảnphẩm du lịch nhà vườn Huế độc đáo Người dân nơi đây giữ nếp văn hoá ứng xử thanh lịch, cởi mởvới du khách
- Năm 1636, một năm sau khi lên ngôi, vị chúa thứ ba xứ Đàng Trong Nguyễn Phúc Lan dờiphủ về làng Kim Long Theo nhà nghiên cứu văn hoá Huế Phan Thuận An, cố đạo Alexandre deRhodes đã mô tả Kim Long như là một thành phố lớn Ông cho rằng phủ chúa lúc ấy rất khangtrang, nhà cửa xinh xắn, phần lớn làm bằng gỗ với cột kèo chạm trổ tinh vi, nhà nào chung quanhcũng có vườn, những ngôi nhà rường Huế ken dày trong làng Kim Long Nhà vườn thôn Phú Mộng
Trang 3còn nguyên vẹn 60 cái mang những đặc trưng nhà cổ truyền thống của Huế Có nhà còn năm sáunghìn mét vuông đất hoa viên, trồng sapôchê, cam, quýt, thanh trà, nhiều loại hoa vạn thọ, hồng,cây cảnh
- Ở Tích Thiện viên, trong nhà có tủ thờ nguyên là đồ thờ trong đại nội, mặt ngoài tủ có conrồng chạm nổi, thếp vàng óng ánh còn nguyên năm móng, biểu tượng của đồ dùng dành riêng chovua
- Ngôi làng Kim Long từng nổi tiếng có nhiều cô gái đẹp của xứ Huế được các vua nhàNguyễn tuyển chọn vào cung
- Và quanh đó là những câu chuyện, giai thoại về ngôi làng “tuyệt mỹ giai nhân” này và đãtừng nổi tiếng từ thời vua Thành Thái với câu ca dao:
“ Kim Long có gái mỹ miều Trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều trẫm đi.”
- Câu ca dao trên xuất phát từ cảm xúc chân tình của vua Thành Thái khi lần đầu tiên nhàvua đến làng Kim Long, ghé nhà ông Nguyễn Hữu Độ Thời đó, Vĩnh Quốc Công Nguyễn Hữu Độ
có ba người con gái rất xinh đẹp, một gả cho vua Đồng Khánh, một gả cho em vua Hàm Nghi, cònlại người con gái út Nguyễn Hữu Thị Nga rất mỹ miều nên vua Thành Thái hay đi xe song mã đếnnhà chơi Sau này, bà Nga cũng được vua Thành Thái đưa vào cung, phong làm huyền phi, sinh hạđược hai người con
Quý khách đã từng nghe câu ca dao:
Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương Thuyền về xuôi mái sông Hương
Có nghe tâm sự đôi đường đắng cay
- Câu ca dao xưa tả cảnh đẹp thơ mộng xứ Huế nhất là đoạn sông trước chùa Thiên Mụ, đốidiện Thiên Mụ là làng Long Thọ (hay còn gọi làng Thọ Khương) bên kia sông Ở Huế không hề cóđịa danh Thọ Xương cho một vùng nào, vậy Thọ Xương là một địa danh ở Thanh Hóa
- Và theo như tìm hiểu: Ngày xưa Thọ Khương là một thành lũy của Chămpa vào thế kỷ V– VI, xây dựng trên vùng đồi của hai làng Nguyệt Biều và Dương Xuân : Lũy Nam 550m, LũyĐông 370m, Lũy Bắc sát giới hạn xâm thực của sông Hương 750m với đầy đủ hệ thống hào, hệthống thoát nước, giếng cổ Chămpa, bia đình Thọ Khương, kho Thọ Khương, miếu kho, Vạn ThọKhương, miếu thờ vua Chămpa và Huyền Trân(8) Đến đời Gia Long, vì kỵ húy đế hiệu vua cha làHiếu Khương Hoàng Đế, ông mới đổi Thọ Khương thành Thọ Xương và năm 1824 vua Minh Mạngmới đổi Thọ Xương là Long Thọ
- Vậy Thọ Xương, Thọ Khương, Long Thọ đều là một và đã tồn tại bên bờ sông Hương từ
xa xưa, với những hàng trúc soi bóng nước, đối diện bên kia là chùa Thiên Mụ, cảnh đẹp làm rung
Trang 4động lòng du khách, thi nhân Một chi tiết khá thú vị xin được chia sẻ cùng quý khách đó là: Nếumỗi khi tiếng chuông Thiên Mụ giống lên ngân nga 2 lần vào sáng sớm thì ở Làng Thọ Khương
cũng vang lên tiếng gà gáy sáng nên có câu “Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương”
- Đến đây dường như trước mắt quý khách Chùa Thiên Mụ hiện ra trên một ngọn đồi đẹpnhìn bao quát dòng sông Hương được rõ nét hơn
- Chùa Thiên Mụ là một ngôi chùa nằm trên đồi Hà Khê (ở địa phận làng An NinhThượng,huyện Hương Trà) ,tả ngạn sông Hương, đồi Hà Khê như một hòn đảo nằm trong cái vịnhlớn Trên đảo, đá núi, tàng cây ,mái đình, ngọc với màu sắc, đường nét vô cùng mỹ diệu Dưới chânđảo, mặt nước phẳng lặng, phản ánh mây trời Đây có thể nói là ngôi chùa cổ nhất của Huế
- Thuyền chúng ta đã đến chân đồi, chỉ vài bước chân quý khách sẽ lên đến nơi
- Trước khi vào Chùa, tôi xin phép được trình bày sơ lược về quá trình hình thành và pháttriển của Chùa:
- Trước thời điểm khởi lập chùa, trên đồi Hà Khê có ngôi chùa cũng mang tên Thiên
Mỗ hoặc Thiên Mẫu, là một ngôi chùa của người Chăm
- Chùa Thiên Mụ chính thức khởi lập năm Tân Sửu (1601), đời chúa Tiên Nguyễn Hoàng - vịchúa Nguyễn đầu tiên ở Đàng Trong Sau khi đã vào trấn thủ miền Nam, Chúa Nguyễn Hoàngthường hay đi dạo chơi, ngoạn cảnh khắp nơi trong những giờ nhàn rỗi Mục đích của Chúa còn là
để tìm hiểu địa thế đất đai, vì vậy không một ngọn núi, một dòng sông nào mà Chúa bỏ qua khôngthưởng lãm hay quan sát
- Một hôm, nhân đi qua huyện Hương Trà, Chúa thấy giữa cánh đồng rộng của làng Hà Khê
có nổi lên một ngọn đồi thanh lịch Hình thù ngọn đồi giống như một con rồng đang quay đầu nhìnlại dẫy núi đằng sau Nhưng thoáng một phút Chúa thấy trong lòng sót sa vô hạn , vì thấy dưới chânngọn đồi ấy, không hiểu tại sao lại có người đào nơi đó một cái rãnh dài Chúa cũng am tường ítnhiều địa lý, nên hết sức băn khoăn áy náy, bèn tìm hỏi thổ dân thì họ trả lời rằng :
- Dưới triều nhà Lý, thừa cơ hội sang đánh nước ta, tướng Cao Biền đi xem địa lý khắp ViệtNam , hễ gặp nơi nào có long mạch đế vương thì liền đào rãnh để cắt đứt long mạch ấy đi, với thâm
ý muốn xâm chiếm, làm chủ đời đời ở Việt Nam này Khi đến đây, thấy ngọn đồi này tụ nhiều linhkhí và thường có một nữ thần năng lui tới, tướng Cao Biền bèn đào khúc phía sau lên Vì thế, thầntính của ngọn đồi đã bị tiêu tan mất từ lâu
- Đến sau, tình cờ vào một đêm kia có một bà lão già, đầu tóc bạc phơ, song dáng người cònkhỏe mạnh , mặc áo đỏ, quần lục, đến ngồi dưới chân đồi mà than khóc não nùng Khóc than xong,
bà lão ấy phán rằng:
- Chỗ này có linh khí, có long mạch đế vương Về sau , nếu có ai đến đây dựng nghiệp Đế thìnên cất trên đồi một cái Chùa để cho ngọn đồi lại được tụ linh khí như xưa Làm vậy, thì dân chúngcũng sẽ được sung sướng ,ấm no, quốc gia thịnh vượng ”
Trang 5- Xong rồi bà lão biến mất Do đó dân chúng gọi đồi này là Thiên Mụ Sơn Chúa nghe xongcho là điềm hay ,lại thấy địa cuộc có linh khí , tư tưởng lớn của chúa Nguyễn Hoàng dường nhưcùng bắt nhịp được với ý nguyện của dân chúng Nguyễn Hoàng cả mừng, vào năm 1601 đã chodựng một ngôi chùa trên đồi, ngoảnh mặt ra sông Hương, đặt tên là "Thiên Mụ" Năm 1862, dướithời vua Tự Đức, để cầu mong có con nối dõi, nhà vua sợ chữ "Thiên" phạm đến Trời nên cho đổi
từ "Thiên Mụ" thành "Linh Mụ" (hay "Bà mụ linh thiêng") Vấn đề kiêng cữ như đã nêu chỉ diễntiến từ năm Nhâm Tuất (1862) cho tới năm Kỷ Tỵ (1869) Sau đó, người dân thoải mái gọi hai tên:chùa Thiên Mụ và chùa Linh Mụ
- Chùa Thiên Mụ tọa lạc trên vùng đất dài đến 250m và rộng 75m Ba mặt có xây thành cao2,30m như một la thành Chùa Thiên Mụ đã được kiến trúc theo hình chữ “ Nhất” và phối cảnhmang tính cách kỹ hà rất chặt chẽ, thống nhất
- Từ mặt đường nhựa lên 5 bậc cấp có chiều dài 12,26m, hai đầu tầng cấp có 2 trụ bằng đáthanh Lên hết năm bậc năm bậc này là hết tầng thứ nhất
- Tiếp đến, trên nền một tầng cấp bằng phẳng, rộng đến 2m27, không lát gạch, người ta xâydựng 4 trụ biểu rất cao nhưng so với toàn cảnh Thiên Mụ với hơn 20 bậc tầng cấp cao thì bốn trụbiểu này có vẻ nhỏ bé Những trụ biểu này được xây dựng vào 2 thời đại khác nhau Hai trụ 2 bên
có thể được xây dựng từ thời vua Thiệu Trị cùng với tháp Phước Duyên Còn 2 trụ giữa được xâyvào một thời đại sau Những yếu tố như : trước hết là màu vôi ở 2 trụ giữa khác với với vôi màu ở 2trụ hai bên; rồi đến chữ ở câu đối nhỏ hơn, xấu hơn và nét bút không sắc xảo, già dặn bằng nét chữ
2 trụ 2 bên Vẻ giản dị của đầu trụ là nét đặc trưng cho các kiến trúc thuộc đời Minh Mạng, ThiệuTrị Màu vôi quét ở 2 trụ biểu này cũng là màu đặc trưng của các kiến trúc dưới đời Thiệu Trị, đó làmàu khói hương, hình như màu này càng trải qua tiến trình thời gian thì càng ăn sâu vào chất vôi vàthách đố cả mưa nắng Ở các gờ trong viền xung quanh, câu đối lại còn dấu vết của sơn đỏ màuhuyết dụ để câu đối nổi bật lên trên tòan thân trụ có màu khói hương.Những màu này là “màu chín”
có đủ sức ứng phó với thời gian, mưa nắng Nước men và màu men cũng như hình vẽ trên các mảnh
sứ đều thuộc về loại men Ngoạn Ngọc, thuộc các hãng đồ sứ của Trung Quốc hoặc của ta ở thời đạitrước đời Gia Long cho đến cuối đời Tự Đức
- Bốn vế đối ở 2 trụ 2 bên là tác phẩm của vua Thiệu Trị, chính 2 mảnh đồng nhỏ bé khắc 2chữ “Ngự chế” ở trụ phía Đông và trụ phía tây là một tài liệu có tính cách lịch sử rất quý báu cộngthêm với màu men đã giúp người ta biết được vế đối là của vua Thiệu Trị , hoa văn trang trí lànhững đặc trưng văn hóa về thời Thiệu Trị
- Dường như nắng mưa miền nhiệt đới làm cho chất vôi ở các mặt trụ phía ngoài đường gầnnhư không đọc ra Hai vế đối như sau:
“Tỉnh thổ phạm cung, Phật nhật tăng huy vu tứ đại,
Ma không bửu tháp, Pháp luân thường chuyển vu tam thiên”
Trang 6- Nghĩa là: “Từ cõi trời tịnh Độ, ánh sáng của Phật chiếu sáng mãi khắp bốn cõi lớn; Thápquý vút lên không, bánh xe Pháp luôn luôn chuyển trong ba nghìn thế giới”.
- Hai vế đối ở mặt phía trong chùa thì chữ lớn và còn rõ hơn:
“Khai phát Bồ Đề tâm nhi hóa thông vạn loại;
Hoằng thi phương tiện lực dĩ giác ngộ quần sanh”
- Nghĩa là: Mở rộng tâm bồ đề mà vạn loại chúng sinh đều được giáo hóa thông minh; rộngđem sức mạnh của phương tiện để dạy dỗ cho muôn loài biết đạo”
- Ở hai trụ giữa, các câu đối đã mất nhiều chữ nên đọckhong rõ hết được Nét chữ ở haitrụ này rất xấu so với hai trụ ngoài Khổ chữ nhỏ, nét yếu thật kém xa so với trình độ viết đại tự vàothời Thiệu Trị Vậy hai trụ giữa được xây dựng vào các thời đại sau
- Qua bốn trụ biểu thì tiếp đến là 14 bậc tầng cấp nữa mới đến phần sân ngoài của chùa Hiađầu bậc tầng cấp có rồng chạy từ trên xuống dưới, hai bên mình rồng được đắp hoa văn theo từnghình xoáy ốc độ ba, bốn vành nổi Toàn bộ tầng cấp này là kiến trúc của thời vua Thiệu Trị Vào lúcdịu trời về buổi sáng, khi sân trên và các tầng cấp này được quét sạch, tự nhiên màu gạch cổ nổi bậtlên trên màu đất vàng sậm, màu cỏ non xanh, nom vừa cổ kính trang nhã lại vừa đĩnh đạc ung dung
- Lên hơn 20 bậc tầng cấp quý khách đã đặt chân trên nền Hương Nguyện Đình Xưa, đìnhHương Nguyện (nay chỉ còn lại nền) gồm ba gian, bộ sườn được chạm khắc công phu, tinh xảo, trênnóc đặt Pháp luân (bánh xe Phật pháp, biểu tượng Phật giáo) Trận bão năm 1904 đã tàn phá chùaThiên Mụ nặng nề Nhiều công trình bị hư hỏng, trong đó đình Hương Nguyện bị sụp đổ hoàn toàn(nay vẫn còn dấu tích) Hiện nay đình Hương Nguyện chỉ còn lại là một nền gạch vuông, cao hơnmặt đất một chút Quanh đường viền mép đá thanh, bên trong là nền cỏ xanh
- Hai bên tả hữu của nền Hương Nguyện đình là 2 lối đi vào chùa Cách 2 lối này và dịchvào phía trong có hai nhà vuông đó là hai bi đình của vua Thiệu Trị
- Binh đình hướng đông ghi lại việc xây tháp Phước Duyên, đình Hương Nguyên nên thường
gọi là bia “Ngự chế Thiên Mụ Phước Duyên bảo tháp bi”
- Bi đình hướng Tây chứa bia khắc 8 bài thơ của vua Thiệu Trị đề vịnh cảnh Thiên Mụ và bài
ký Đại Hồng Chung nên được gọi “ Thiệu Trị lục niên, tứ nguyệt cát nhật tạo”
- Cách kiến trúc hai bi đình này rất giống nhau: nền binh đình vuông, Phần chính giữa nềnngày xưa được lát gạch bát tràng nhưng nhưng trong được trùng tu năm 1958 nó được tráng thêmmột lớp ciment ở trên Từ nền nhà lên đến vách là cao hơn 2m Cửa cuốn tò vò ở bốn mặt đều cóchiều rộng giống nhau Vào bên trong nhìn lên, bi đình được cuốn thành vòm tròn tô vữa Từ đỉnhcủa vòm tròn xuống tận nền bi đình cao gần 4m Bên ngoài, mỗi bi đình có 8 mái giả lợp thành haitầng bằng ngói tráng men màu hoàng lưu ly, bốn góc mái có cù dao bằng vôi hồ uốn cong nhọn lên.Mái giả của hai binh đình này không quá xuôi như ở hai binh đình hình lục giác
Trang 7- Từ vách bi đình vào đến đế bia có khoảng cách rộng Đế này là một khối đá thanh toàn vẹnrộng được chạm trổ thành cái kỷ có 4 chân quỳ ở bốn góc theo mẫu chạm gỗ của thế kỷ 19 Phấndưới kỷ chạm hoa văn lá, rồi đến phần thắt eo cổ đẳng nhẹ nhàng Phần trên mặt kỷ để láng.
- Bia là tấm đá thanh duy nhất Đầu bia chạm rồng mây Mặt rồng ở chính giữa Đuôi rồngxòe ra theo một hình tròn ngay dưới mặt rồng Bên dưới có một đường chạm hình hoa sen cánhphượng Nét chữ của văn bia chạm lặn theo lối viết chân phương
- Xin mời quý khách đi vào phía trong, ngang với tháp, hai bên là hai nhà lục giác Được xâysớm hơn hai bi đình tứ giác 31 năm và thuộc mỹ thuật kiến trúc thời Gia Long, hai nhà này trông
bề thế, kín đáo và kiên cố hơn hai bi đình kia Có nền khá cao, nền có 6 cạnh; độ mở của các góc tùrất chính xác, tất cả đều 120 0 Mặt hai nhà lục giác đối nhau và đều quay ra tháp Trên nền là ngôinhà đúc cuốn bằng gạch và vôi keo hồ Ở sáu mặt có sáu cửa tò vò Hai nhà này cũng được xây máigiả theo kiểu trùng thiềm, và xuôi hơn hai bi đình ngoài Sáu đường giáp mái có chạy sáu nóc tàumái bằng vôi keo hồ Đây là môạy thứ vôi được chế tạo rất đặc biệt bằng cách đâm nghuyễn vôi,đường mía, bã mía, rơm, vỏ cây và lá cây bông cẩn, vỏ cây bời lời cho thành một chất vôi keo hỗnhợp có sức bền chịu đựng được sự phá mòn của thời gian và khí hậu nhiệt đới ẩm thấp của vùngThuận Hóa Trên mỗi chóp nhà lục giác có đắp một bình hồ lô Các nóc tàu mái trên chạy từ bình hồ
lô này xuống với ba đường chồng nhau cho đến chót mái Vào bên tronh nhìn lên , trần cuốn thànhvòm cao, có sáu mặt uốn cong rất đều đặn để hội tụ vào một đỉnh điểm
- Nhà lục giác ở phía đông chứa tấm bia rất lớn của Đại Việt Quốc, chúa Nguyễn Phúc Chunói về việc xây dựng Chùa Thiên Mụ vào năm Giáp Ngọ (1714) và ghi lại việc chấn hưng đạo Phậtđương thời, việc cho người sang Trung Quốc mua hơn 1000 bộ kinh Phật đưa về đặt tại lầu TàngKinh, ca tụng triết lý của đạo Phật, ghi rõ sự tích Hòa thượng Thạch Liêm - người có công lớn trongviệc giúp chúa Nguyễn chấn hưng Phật giáo ở Đàng Trong
- Bia đặt trên lưng rùa, gồm hai tảng cẩm thạch lớn ghép lại: đầu bia là tảng cẩm thạch màutrắng, chân bia là tảng cẩm thạch màu đen Bia cao 1,93m; rộng 1,14m Con rùa này là một côngtrình mỹ thuật độc đáo trong ngành đục chạm của ta vào thời vua Lê chúa Nguyễn Đầu rùa ngẩnglên bề thế, nhô ra ngoài đế bia Mũi, mắt, miệng rùa rất sống động Mình rùa tròn, khum; mai rùarộng có chạm đường vảy hình lục giác, hình ngũ giác Những vảy rùa xung quang mai rùa được đẽogọt và trình bày rất dịu dàng tưởng chừng như thực Bốn chân rùa rất sinh động như đang bơi Nếuquý khách đặt tay lên đầu, lưng rùa thì một cảm giác mát lạnh từ rùa đá truyền sang tay người
- Trên bia ở 2 bên có bốn con rồng, mỗi bên hai con: một con rồng chạy xuống và một conrồng chạy lên Rồng có 5 mống biểu tượng cho vương quyền Vảy rông được chạm trổ tinh vi.Ngoài hình 4 con rồng đã nói trên, nơi viền bia còn chạm hình mặt trời có ngọn lửa tỏa ra hai bên
và vương lên thật uyển chuyển Những mặt trời được chạm ở chính giữa viền trên và viền dưới đểcho mặt rồng chầu lại nhau, vơi ý nghĩa: “Rồng chầu mặt nguyệt”
Trang 8- Văn bia được khắc lõm sâu theo kiểu chân phương, nét rất sắc sảo.
- Nhà lục giác ở phía tây là gác treo chuông rất lớn thường được gọi là Đại Hông Chung
- Năm 1710, theo đà phát triển và hưng thịnh của Phật giáo xứ Đàng Trong, chùa được xâydựng lại quy mô hơn, chúa Quốc (Nguyễn Phúc Chu) cho đúc một chiếc chuông lớn,nặng tới trênhai tấn, gọi là Đại Hồng Chung, có khắc một bài minh trên đó Chuông cao 2,50m; nặng hơn 3 tấn.Chu vi của chuông rất lớn Chu vi miệng chuông đo được 4,36m Phía trên khắc 8 chữ Thọ viếttriện,quảng giữa chia làm 4 quảng ,khắc bài Minh của chúa Ngoài có những hình chạm nổi:rồng ,mặt trời , sao … Phía dưới có chạm hình bát quái và thuỷ ba Nét đặc trưng của chuông ĐạiHồng Chung là: đường chạm nổi hình bát cửu (tám vật: cây đèn lồng, ống sáo, đàn nguyệt, hai câybút lông tréo nhau, bầu rượu, quạt xếp, quạt bả Tất cả tám vật quý này, mỗi vật lại có một dải làquấn ngang ở giữa và hai đầu dải là uốn lượn như có gió thổi vào làm cho chúng bay lên
- Nói chung, cách trình bày các hoa văn ở chuông chúa Nguyễn tại chùa Thiên Mụ đều cótính cách nghệ thuật thuần nhã, mỹ diệu và linh động đặc biệt Chỉ có một điều là chuông nàykhông hề được “thỉnh” cho nên không biết âm thanh của chuông như thế nào
- Và đây là tháp Phước Duyên Tháp nằm ở vị trí trung tâm của phần ngoài kể từ Nghi Môntrở ra, tháp Phước Duyên là công trình cao nhất, đẹp nhất và là một biểu tượng nổi tiếng gắn liềnvới chùa Thiên Mụ Năm 1844, nhân dịp mừng lễ "bát thọ" của bà Thuận Thiên Cao Hoàng hậu (vợvua Gia Long, bà nội của vua Thiệu Trị), vua Thiệu Trị kiến trúc lại ngôi chùa một cách quy môhơn: xây thêm một ngôi tháp bát giác gọi là Từ Nhân (sau đổi là Phước Duyên)
- Tháp cao 21 m, gồm 7 tầng (con số bảy tầng cao để thờ bảy vị Phật quá khứ: Tì Bà Thi(Vispayi),Thi Khí (Sikhi),Tì Xá Phù (Visvabhou),Câu Lưu Tôn (Krakontehanda),Câu Na Hàm MâuNi(Kanacamouni),Ca Diếp(Kacyapa),Thích Ca (Cakya mouni) ) Mỗi tầng tháp đều có thờ tượngPhật nhưng riêng tầng thứ bảy trên cùng là thờ tượng Phật bằng vàng thật Bên trong có cầu thanghình xoắn ốc dẫn lên tầng trên cùng, nơi trước đây có thờ tượng Phật bằng vàng Tháp được kiếntrúc bằng gạch nung già để trần đã nổi bậc lên trên màu xanh của cỏ ở dưới thấp Tháp được xâytrên một nền bát giác, toàn thân tháp được kiến trúc theo hình này Mặt tháp nhìn về hướng nam.Tầng dưới cùng, hai cánh cửa đều làm bằng những lá đồng, thanh đồng ghép lại Ngày xưa những
vị phật thờ ở tầng chót đúc bằng vàng khối cho nên cửa tháp khoá đến hai lớp Chìa khoá tầng dưới
do chánh tổng sở tại giữ Chìa khoá tầng thứ 7 do bộ lễ giữ Hai cánh cửa này rất nặng thường khóabằng ổ khóa rất lớn và khi mở thì mở ra bên ngoài Mỗi tầng có một cửa, trên uốn tò vò Mỗi tầngtháp đều có hoành phi nằm ngang, hai vế đối đứng thẳng tạo thế đăng đối nghiệm nghị cho mặttháp Khi nhìn vào toàn bộ mặt tháp, quý khách tự nhiên có thái độ khiêm cung tôn kính Hoànhphi tầng dưới có 4 chữ “ Phứoc Duyên Bảo tháp” đây chính là tên của tòan ngôi tháp tại chùa Thiên
Mụ Tám mái của tháp đều được lợp với một màu ngói giống nhau
Trang 9- Có thể nói Bảo tháp Phước Duyên là một kiến trúc văn hóa dung hợp giữa Trung Quốc
- Ngay sau lưng tháp Phước Duyên và thẳng trước cửa chính cửa Nghi Môn nhìn ra, có mộtcái bia lộ thiên, đó là bia của vua Khải Định, dựng vào ngày 27/11/1919 Bia có 15 dòng chữ nới sơlựơc về chùa Thiên Mụ
- Theo tấm bia: “sau khi chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá đến đây gặp bà lãotặng cây nhang ,bảo chúa theo dòng song Hương đi xuống , đến chỗ nào nhang tắt thì đóng đô.Đóng đô xong chúa lập đền thờ phật tại nơi đã gặp bà lão Đặt tên đồi là Thiên Mụ Sơn , đặt tênchùa la Thiên Mụ Tự ‘’
- Chùa Thiên Mu được trùnh tu tái thiết nhiều lần dưới triều các vua nhà Nguyễn Vào năm
1714, chúa Quốc (Nguyễn Phúc Chu) lại cho đại trùng tu chùa với hàng chục công trình kiến trúchết sức quy mô như điện Thiên Vương, điện Đại Hùng, nhà Thuyết Pháp, lầu Tàng Kinh, phòngTăng, nhà Thiền mà nhiều công trình trong số đó ngày nay không còn nữa
- Với cảnh đẹp tự nhiên và quy mô được mở rộng ngay từ thời đó, chùa Thiên Mụ đã trởthành ngôi chùa đẹp nhất xứ Đàng Trong Trải qua bao biến cố lịch sử, chùa Thiên Mụ đã từng đượcdùng làm đàn Tế Đất dưới triều Tây Sơn (khoảng năm 1788)
PHẦN II:
- Đoàn của chúng ta tiếp tục đi vào phía trong để viếng cảnh chùa Đầu tiên chúng ta phải điqua cổng tam quan Và phía trước Điện Đại Hùng có hai điện thờ Thập Vương đứng đối diệnnhau ,giữa thập Vương Điện là lối đi rộng rãi ra cửa tam quan Tam Quan là một nghi môn cổ Lào,
ý nghĩa của cổng tam quan này là theo đạo phật mỗi người khi vào chùa để tu ,muốn được thànhcông trong việc tu hành thì phải bỏ tất cả bản ngã của con người trước khi qua cửa Tam Quan Cửatam quan là kiến trúc chung của tất cả các chùa ở Việt Nam và ba cửa này tượng trưng cho VôTướng ,Vô Pháp ,Vô Quyền Và đôi khi cổng tam quan này còn được giải thích theo triết lí âmdương.Hai bên cửa chùa là ông Thiện và ông Ác được đắp bằng vôi và vẻ xanh đỏ loè loẹt Phía saulưng tháp có dãy Nghi Môn chia cảnh chùa ra làm hai phần rõ rệt Tháp Định ở phía trước Điệu
Vũ ở phía trong Và đây là Nghi Môn Nghi Môn cũng là di tích cũ còn lại và gồm có Tam quan cổ
Trang 10lầu ở chính giữa và lầu chuông lầu trống hai bên Trứơc Nghi Môn có treo một tấm biển sơn sonthiếp vàng ,khắc 3 chữ lớn : Linh Mụ Tự
- Biển này làm từ đời Tự Đức vào khoảng năm 1862 ,lúc có chỉ đổi tên Thiên Mụ ra Linh
Mụ Nhưng sau khi qua chùa được lấy lại tên cũ ,hoặc tiếc vật cổ hoặc quên sót ,người ta vẫn để
y Và đây là Diện Đại Hùng , điện gồm 5 gian , 2 chái điệp ốc trùng thiên trông nguy nga đồ sộ Tuymới tu bổ những vật liệu tân thời ,huy hoàng tráng lệ nhưng vẫn giũ được cốt cách xưa ,không kémphần trang nghiêm cổ kính Trong điện nơi tiền đường thờ tượng Đức Di Lặc Tượng cao lớn ,bằngghỗ sơn thiếp , đường nét rất mĩ thuật ,ngồi trên một chiếc bệ choán gần hết gian giữa cao ngútđầu Nơi chinh điện ,gian giữa ở phía trong thờ phật Tam Thế Trước bàn Tam Thế thờ phật Thích
Ca Hai gian bên thờ Văn Thù Bồ Tát và Đức Phổ Hiền Bồ Tát Cách thờ phụng tuy rất đơn giảnnhưng rất tôn nghiêm Quang cảnh trong chùa trong sáng thanh cao nhưng đượm vẻ thâm u huyềndiệu.Sau điện Đại Hùng có đền Di Lặc ,và sau đền Di Lặc có đền Quan Âm Hai đền này đã cũ và
co nhiều chỗ hư dột Có lẽ sẽ được tu bổ trong thời gian gần đây
- Và nhân đây tôi cũng xin phép được giới thiệu đến Quý vị về đạo Phật ở Việt nam, Đạophật vào đất Việt rất sớm.Sau đó theo con đường thương mại và truyền đạo ,vào các thế kỹ đầucông nguyên đạo phật được truyền bá mạnh hơn vào đất Việt ,nổi lên có các nhà sư danh tiếng : Ma
ha kỳ vực Khang Tăng Hội, Chi Cương Lương… đến đất Việt tu hành và truyền đạo Đạo phậtđược dân Việt tin theo mạnh mẽ để dần trở thành một hệ tư tưỏng bao trùm góp phần tập hợp lựclượng chống lại sự xâm lược của người Hán Vào giữa thế kỹ VI ,một người họ Lý đã lấy danhnghĩa là con phật để danh chính quyền và làm vua nước Vạn Xuân
- Cùng thời gian này do đạo phật dung hội mạnh mẽ với tín ngưỡng bản địa đã làm cơ sở chophật phái initaruci hình thành (580).Phật phái này mang tính chất Thiền ,Mật và cả tín ngưỡng dân
dã Nó phù hợp lâu dài với người Việt Các cao tăng ở thế kỹ XI góp phần tạo dựng nhà Lý như LýVạn Hạnh là thế kỹ XII của phái này .Cùng thế hệ còn có Từ Đạo Hạnh và nhiều ngườikhác.Khoảng cuối Bắc Pháp thuộc đạo phật đã phát triển rất mạnh mẽ Đất Việt là đất lành ,nhiềucao tăng Trung Quốc đã sang tu luyện và truyền đạo Nổi lên vào năm 820 có Vô Ngôn Thông về tu
ở chùa Kiến Sơ(Gia Lâm –Hà Nội) ,phái này nhấn mạnh Đốn Ngộ ,chủ trương con người có thểtrong giây lát được giác ngộ ,coi tâm địa là bản nguyên của Vạn Pháp Phái này truyền thừa theo lốithoại đầu Và do quá cao siêu nên khó phổ cập trong nhân dân Việt Mặc dù phái này gần với đờisống xã hội hơn các phái Thiền của Trung Hoa rất nhiều đây cũng là giai đoạn Tịnh Độ Tông xâmnhập mạnh vào đất Việt và dần dần được người Việt tin theo mạnh mẽ Song tới thời Lý (thế kỹXI) , đạo phật do tính chất thoát tục và vtừ bi hỉ xả nên không thể tham gia vào chính trị trong xuthế phát triển mạnh mẽ của lịch sử Vì thế, phật phái đạo Đường ra đời nhằm dung hoà giữa phật vànho, đây là một Thiền phái của trí thức Phật phù hợp với thực tế tư tưởng của xã hội ,nho giáo đápứng nhu cầu trị quốc Nho giáo được đề cao thì đạo nho ngày một mạnh Điều trớ trêu của lịch sử là