1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu di tích chùa thiên niên (phường bưởi quận tây hồ tp hà nội)

134 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 3,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ chỗ dệt vải thô, rồi dệt được vải “cát bá” nhỏ, đến đời nhà Lý, người thợ thủ công ven thành Thăng Long đã vươn tới trình độ dệt được những mặt hàng đẹp như lụa, gấm vóc phục vụ dân c

Trang 1

*******

NguyÔn lan Anh

T×m hiÓu di tÝch chïa thiªn niªn

(PH¦êNG B¦ëI - QUËN T¢Y Hå - TP Hμ NéI)

Khãa luËn tèt nghiÖp

NGμNH B¶O TμNG

Ng−êi h−íng dÉn: Ths Ph¹m Thu H»ng

Hμ néi – 2010

Trang 2

Phần mở đầu

Chương 1 : Chùa Thiên Niên trong diễn trình lịch sử 1

1.1 Khái quát về vùng đất nơi di tích tồn tại 5

1.2 Diễn trình lịch sử chùa Thiên Niên 11

1.2.1 Vài nét về phái Tịnh Độ tông ở Việt Nam 11

1.2.2 Niên đại di tích 15

1.2.3 Quá trình tồn tại của di tích 19

Chương 2 : Giá trị kiến trúc – nghệ thuật chùa Thiên Niên 23

Trang 3

2.2.3 Những di vật tiêu biểu 57

Chương 3 : Bảo tồn và phát huy giá trị di tích chùa Thiên Niên 63

3.1 Hiện trạng di tích chùa Thiên Niên 63

3.3 Vấn đề tôn tạo di tích chùa Thiên Niên 75

3.4 Phát huy giá trị di tích chùa Thiên Niên 76

Phụ lục

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Một thiên niên kỷ đã qua từ khi Hà Nội mang tên gọi Thăng Long với khí thế “Rồng bay” hào hùng vươn lên cùng trời đất Tại thời điểm này, ngược dòng thời gian, tìm về quá khứ xa xưa, vượt qua những bước thăng trầm của lịch sử, chúng ta có quyền tự hào về thủ đô Hà Nội - trái tim của đất nước Việt Nam -

một mảnh đất có truyền thống anh hùng và phong phú về các giá trị văn hoá

Di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh là một nét đặc sắc trong diện mạo văn hoá của Thủ đô Không thể hình dung về Hà Nội mà lại thiếu vắng

các di tích và thắng cảnh “Chúng vừa là những tảng đá nền kê chân cột để tạo

dựng, vừa là những bằng sắc để chứng minh, vừa là nét vàng son của phẩm chất đặc trưng, vừa là linh hồn của những giá trị thiêng liêng trên mảnh đất ngàn năm văn vật.” 1

Bước đi của Phật giáo ở Việt Nam đã để lại dấu ấn vật chất chính là hệ thống chùa tháp trong cả nước Di sản kiến trúc - nghệ thuật chùa tháp là điểm danh thắng tạo nên vẻ đẹp cho mỗi vùng đất, đồng thời cũng là đối tượng số một của ngành nghiên cứu mỹ thuật cổ Với ngôi chùa, ít nhiều chúng ta có thể đọc lên được diễn biến của một số sự kiện lịch sử, qua đó góp phần nhìn nhận chân xác hơn về nhiều vấn đề của lịch sử văn hoá dân tộc

Trên địa bàn Hà Nội tập trung một số lượng lớn các ngôi chùa, trong đó có nhiều di tích nổi tiếng, minh chứng cho sức sống của đạo pháp và gắn bó mật thiết với quá trình phát triển của Thủ đô: chùa Trấn Quốc, chùa Một Cột, chùa Láng, chùa Hà, chùa Hoè Nhai, chùa Kim Liên Trong giai đoạn hiện nay, công

1 Di tích lịch sử - văn hoá Hà Nội (2000), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.11

Trang 5

tác bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử - văn hoá đã và đang trở thành một vấn đề mang tính thời sự, được các ngành chức năng coi trọng Riêng với Hà Nội, công tác này là một nội dung quan trọng trong chương trình hoạt động hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long

Sinh ra và lớn lên tại Thủ đô, lại là một sinh viên ngành Bảo tồn - Bảo tàng,

em mong muốn được áp dụng những kiến thức tích lũy sau bốn năm học vào việc nghiên cứu một di tích cụ thể tại Hà Nội Được sự đồng ý của cô giáo hướng dẫn -

cô Phạm Thu Hằng và Hội đồng khoa học Khoa Bảo tàng, em đã chọn đề tài “Tìm hiểu di tích chùa Thiên Niên” làm khoá luận tốt nghiệp Đại học

Chùa Thiên Niên thuộc phái Tịnh Độ tông, là một di tích cổ nằm ở khu vực phía tây của Hà Nội Ngôi chùa không nổi tiếng về cảnh quan hay qui mô, song tiềm ẩn giá trị kiến trúc - nghệ thuật và lịch sử nhất định Mục đích của khóa luận

là tìm hiểu và làm sáng rõ những giá trị của chùa Thiên Niên, đề xuất một số giải pháp để gìn giữ và phát huy giá trị của di tích, coi như một việc làm để góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp bảo vệ di tích lịch sử - văn hoá của thủ đô Hà Nội

Trang 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là di tích chùa Thiên Niên (thôn Trích Sài, phường Bưởi, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội)

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch

sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, kế thừa văn hóa truyền thống

- Phương pháp nghiên cứu

+ Phương pháp liên ngành: Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, Bảo tàng học, Khoa học Lịch sử, Mỹ thuật học, Xã hội học…

+ Phương pháp khảo sát điền dã tại địa phương, di tích để thu thập tài liệu liên quan, quan sát, đo vẽ, miêu tả, chụp ảnh…

5 Bố cục khóa luận

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phần phụ lục, bố cục khoá luận gồm 3 chương Cụ thể như sau:

Chương 1 : Chùa Thiên Niên trong diễn trình lịch sử

Giới thiệu khái quát về vùng đất nơi di tích tồn tại cùng những đặc điểm cơ bản của phái Tịnh Độ tông, đồng thời tập trung tư liệu xác định niên đại và làm sáng tỏ quá trình tồn tại của di tích từ khi khởi dựng đến nay

Chương 2 : Giá trị kiến trúc – nghệ thuật chùa Thiên Niên

Đây là phần chính của khóa luận Phần này chủ yếu tập trung vào khảo tả khẳng định giá trị kiến trúc, điêu khắc của di tích, chú trọng tới hệ thống tượng

và các di vật có giá trị lịch sử, mỹ thuật

Chương 3 : Bảo tồn và phát huy giá trị di tích chùa Thiên Niên

Đề xuất ý kiến để bảo tồn, tôn tạo và khai thác, phát huy giá trị của ngôi chùa trong đời sống văn hóa của Thủ đô

Trang 7

Để hoàn thành khóa luận, em đã nhận được sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của Ths Phạm Thu Hằng Em xin gửi tới cô giáo lời cảm ơn sâu sắc Em xin cảm ơn Cục Di sản Văn hóa, Thư viện Quốc gia, Phòng thực hành Khoa Bảo tàng

- Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, UBND phường Thụy Khuê - quận Tây Hồ -

Hà Nội, Ban quản lý Di tích và Danh thắng Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ em

về mặt tư liệu trong quá trình thực hiện khóa luận Em xin gửi lời cảm ơn các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè đã động viên em trong suốt quá trình thực hiện

khóa luận

Với sự nỗ lực của bản thân, em đã rất cố gắng giải quyết những vấn đề chính của khoá luận Do trình độ còn hạn chế, thời gian nghiên cứu không nhiều, bài viết chắc chắn không tránh khỏi khiếm khuyết Kính mong sự góp ý của thầy

cô, của các nhà nghiên cứu và sự trao đổi của các bạn đồng nghiệp để khoá luận

của em được hoàn thiện hơn

Em xin trân trọng cảm ơn !

Trang 8

Chương 1 CHÙA THIÊN NIÊN TRONG DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ

1.1 Khái quát về vùng đất nơi di tích tồn tại

Trong quá trình tồn tại, mỗi di tích đều gắn bó mật thiết với một địa danh

cụ thể Do vậy, để tìm hiểu di tích một cách toàn diện với những bước thăng trầm, biến đổi, chúng ta cần đề cập tới mảnh đất – con người, nơi di tích được sinh ra và được nuôi dưỡng trong suốt diễn trình lịch sử

Chùa Thiên Niên là ngôi chùa cổ, tọa lạc trên một mảnh đất bằng phẳng, nay thuộc thôn Trích Sài, cụm 10, phường Bưởi quận Tây Hồ, Hà Nội

Chùa có tên chữ là Thiên Niên cổ tự (chùa cổ Thiên Niên) Chùa còn có tên nôm là chùa Sài và tên địa phương thường gọi là chùa Trích Sài

Trích Sài có nghĩa là hái củi hoặc bày bán củi Nguồn gốc tên làng đó

được giải thích theo nhiều cách, và người ta suy luận rằng ngày xưa bờ Hồ Tây lắm “rừng rậm”, đầy “ác thú” Làng Trích Sài trải dài từ bắc xuống nam, kể từ chùa Thiên Niên đến Võng Thị, bị ép vào giữa một bên là con đường đê Nhật Tân - chợ Bưởi và một bên là Hồ Tây Ở đầu thời Lê, phường Trích Sài thuộc huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên Đến năm Gia Long thứ tư (1805), Trích Sài

là một trong sáu phường thuộc tổng Trung huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội Năm 1888 thực dân Pháp lấy Hà Nội làm nhượng địa gộp hai huyện Vĩnh Thuận và Thọ Xương thành huyện Hoàn Long và đổi tên tỉnh là Hà Đông Đầu thế kỷ XX, Trích Sài có ba xóm: Xóm Từ Đường (xóm chính ở sát đường cái), Xóm Cầu Hồ (ở phía đông sát hồ), Xóm Ngoài (chung quanh chùa Thiên Niên) Làng chia làm bốn giáp: giáp Thuận, giáp Thượng, giáp Hòa, giáp Chính Đất làng không rộng (801 mẫu) và dân thì đông (năm 1940 dân số Trích Sài có

Trang 9

1350 người, theo lời ông Bùi Văn Phúc là hộ lại cũ; sách của Ngô Vi Liễn, đã dẫn, năm 1928 có ghi là 929 nhân khẩu).2 Hiện nay Trích Sài ở phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội

Như đã nói, thôn Trích Sài là một trong 10 cụm cư dân thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ Đây là vùng đất có bề dày lịch sử và có rất nhiều sự kiện, những truyền thuyết trong một vùng đậm đặc những di tích, chùa chiền, đình đền

và miếu của vùng ven Hồ Tây, một vùng thắng cảnh đẹp của Thăng Long xưa và

Hà Nội ngày nay

Quận Tây Hồ nằm ở phía Tây của thủ đô Hà Nội, thuộc khu vực nội thành Quận Tây Hồ có danh giới địa lý như sau: phía Đông giáp huyện Gia Lâm và quận Ba Đình, phía Tây giáp huyện Từ Liêm, phía Nam giáp quận Ba Đình, phía Bắc giáp huyện Đông Anh Quận có tổng diện tích là 24 km2, trong đó mặt nước Tây Hồ là 526,1 ha, quận Tây Hồ có dân số là 109.200 người (theo thống kê của Cục Thống kê năm 2005), mật độ 3.821 người/km2.Quận Tây Hồ nổi tiếng với các nghề cổ truyền: nghề làm giấy dó ở các làng Yên Thái, An Thọ, Đông Xã, Hồ Khẩu thuộc phường Bưởi, và có nghề dệt lụa dệt lĩnh ở Trích Sài

Phường Bưởi thời gian trước là một phường lớn thuộc quận Ba Đình, thành phố Hà Nội Vị trí địa giới của phường hiện nay được phân định như sau: Phía đông giáp Hồ Tây, phía đông nam giáp với phường Thụy Khuê; phía nam giáp phường Cống Vị; phía tây giáp thị trấn Nghĩa Đô, phía bắc giáp xã Xuân La, hai vùng này thuộc huyện Từ Liêm ngoại thành Hà Nội

Cùng với nghề trồng hoa, cả một vùng đất Bưởi rợp bóng dâu gai Dâu, gai

là cây trồng làm nguyên liệu cho nghề dệt Nghề dệt lĩnh là nghề truyền thống nổi tiếng từ lâu đời của các làng Trích Sài, An Thái, Bái Ân, Hồ Khẩu

2 Nguyễn Văn Uẩn (1995), Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX, Nxb Hà Nội, Hà Nội, tr.22

Trang 10

Về nguồn gốc nghề dệt lĩnh, hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm, truyền

thuyết Truyện kể rằng: Vào đầu xuân năm 1011, vua Lý Thái Tổ ngự thuyền

rồng trên sông Tô Lịch đi thăm dân chúng ven thành Thăng Long Khi thuyền nhà vua đến bến Hồng Tân (nay thuộc phường Nghĩa Đô) thấy nhân dân trên bến

có căng một tấm lĩnh vẽ rồng vàng đón chào, nhà vua dừng thuyền lại hỏi, người làng thưa đó dệt tấm lĩnh này, còn con dân làng Nghè thì vẽ rồng Vua Lý khen

có nghĩa nên ban cho ba làng Dâu, Nghè, Tân tên gọi là Nghĩa Đô (dân kinh đô

có nghĩa) Còn xóm bãi được đổi là Bái Ân (ơn vua) Như thế chứng tỏ nghề dệt

ở các làng ven thành đã có từ trước khi vua Lý dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long

Theo gia phả họ Lý tại làng dệt Trích Sài, ba anh em Lý Khắc Quí làm quan dưới triều Minh, khi nhà Mãn Thanh đánh chiếm Trung Quốc lập nhà Thanh, các ông đã không chịu thần phục nhà Thanh, di cư sang Việt Nam đến ở phường Trích Sài và đem nghề dệt gấm dạy cho dân làng và dân làng Bái Ân, La Khê

Lại cũng có thuyết khác cho rằng, thời vua Lê Thánh Tông (1470 - 1497), nhà vua cho một cung nữ gốc Chàm tên là Phan Thị Ngọc Đô cùng 24 thị tỳ ra ở thôn Trích Sài lập trang Thiên Niên Người cung nữ ấy đem kỹ thuật dệt lĩnh cổ truyền của người Chàm truyền lại cho dân làng Căn cứ vào sự ghi chép và truyền thuyết này thì nghề dệt lĩnh của phường Bưởi đã du nhập kỹ thuật dệt của bên ngoài từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII

Mặc dù còn tồn tại nhiều ý kiến, song có thể khẳng định nghề dệt lĩnh đã tồn tại lâu đời ở vùng đất này, trên cơ sở nguồn nguyên liệu và sự tài khéo của người dân địa phương

Trang 11

Đời Lý Thái Tông, nhà vua còn vời thợ khéo từ các địa phương lên kinh thành dạy cho cung nữ kỹ thuật dệt, mở mang việc dệt gấm, vóc phục vụ triều đình

Từ chỗ dệt vải thô, rồi dệt được vải “cát bá” nhỏ, đến đời nhà Lý, người thợ thủ công ven thành Thăng Long đã vươn tới trình độ dệt được những mặt hàng đẹp như lụa, gấm vóc phục vụ dân chúng kinh thành và triều đình, không phải mua hàng của người Trung Hoa nữa Thậm chí, năm 1156, vua Lý Anh Tông còn tặng Tống Cao Tông 850 tấm đoạn mầu vàng thắm có hoa rồng cuốn3

Lịch sử nước ta còn ghi lại vào thời nhà Trần (thế kỷ XIII) mặc dù nhân dân cả nước và ở kinh thành phải ba lần chịu đựng sự tàn phá của quân xâm lược nhà Nguyên nhưng nghề dệt vẫn không tàn lụi mà còn phát triển thêm các mặt hàng như lụa sợi nhỏ, chiếu gấm dệt màu, lĩnh ngũ sắc Những mặt hàng này, chính Từ Minh Thiện - sứ thần nhà Nguyên sang nước ta bây giờ đã trông tận mắt, sờ tận tay năm 1289 và ghi lại trong “Thiên nam hành ký”

Đến cuối thế kỷ XVIII (triều vua Quang Trung) thành Thăng Long tuy không còn là kinh đô, song nghề dệt vẫn hoạt động sôi nổi Nhà thơ Nguyễn Huy Lượng đã ghi lại cảnh rộn rã của nghề dệt gấm, lĩnh ở hai phường dệt Trích Sài - Bái Ân trong Tụng Tây Hồ phú:

… Liễu bờ kia bay tơ liễu phất phơ Thoi oanh ghẹo hai phường dệt gấm…

Sang thời nhà Nguyễn, nhiều thợ dệt giỏi ở Thăng Long phải vào Huế (kinh đô triều Nguyễn) sản xuất các mặt hàng cao cấp để phục vụ nhà vua và quan lại Những mặt hàng đẹp và thông dụng trong dân chúng như lụa, lĩnh thì vẫn sản xuất ở Thăng Long cho đến tận đầu thế kỷ XX

3 Ngô Sĩ Liên (1984), Đại Việt sử ký toàn thư, T.4, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.105

Trang 12

Theo cụ Đặng Văn M người thợ cao tuổi của làng dệt xưa kể: Lĩnh hoa chanh là sản phẩm dệt bằng tơ quý, không thô, dày dặn, một mặt mờ, một mặt bóng, có điểm lấm tấm hoa mịn màng, kín đáo Ngoài lĩnh hoa còn có lĩnh trơn Muốn có lĩnh trơn phải dệt lĩnh mộc từ sợi tơ tằm Lĩnh mộc dệt xong đem chuội trắng, nhuộm chàm, sau đó suốt trong bảy ngày, mỗi ngày phải nhuộm năm lần trong nước lá bàng, rồi trát bùn phơi khô, hôm sau đem giặt, lại tiếp tục nhuộm nước lá bàng cho đến khi tấm lĩnh đạt “35 thâm bảy thổ” Sau đó đem hồ để tăng thêm sức bền của sợi Tấm lĩnh được cuốn lại, lấy chày gỗ “ghè” cho mềm Qua quá trình đó mới có một tấm lĩnh trơn đen nhánh, óng mượt Lĩnh trơn dệt 10 bàn

go, sản phẩm nổi tiếng nhất ở làng Trích Sài

Lĩnh những làng trên dệt ra được gọi là lĩnh Bưởi Lĩnh Bưởi mềm mại, bền đẹp, tôn thêm vẻ phong nhã, dịu dàng của người phụ nữ Trước những năm

1940, người ta còn mua lĩnh mộc ở Bưởi mang vào Sài Gòn, Huế để nhuộm tía rồi bán ra thị trường, gọi là lĩnh tía Lĩnh là mặt hàng quý, giá trị cao, nhưng người dệt lĩnh xưa vất vả và sản phẩm làm ra chỉ phục vụ cho những nhà quyền quý, giàu có, còn bản thân mình thì vẫn áo vải thô, có khi còn không đủ ăn đủ mặc

Kinh nghiệm dệt lĩnh của nhân dân phường Bưởi được đúc kết qua nhiều thế hệ và trở nên nổi tiếng :

The La, lĩnh Bưởi, chồi Phùng Lụa vân Vạn Phúc, nhiễu vùng Mỗ bên

Sản phẩm hàng dệt ngoài mục đích phục vụ cho đời sống của nhân dân trong kinh thành và vùng ven đô, còn được xuất khẩu ra nước ngoài có đến mấy vạn sấp mỗi năm

Trang 13

Trước đây công việc dệt vải được thực hiện vào ban đêm Mọi thành viên trong gia đình có thể làm được từng công đoạn trong quy trình dệt Khâu dệt thành vải thường do người phụ nữ đảm nhận Công việc này yêu cầu kỹ thuật khéo tay Sản phẩm dệt được các nơi trong và ngoài nước ưa thích, nhiều gia đình nhờ nghề dệt mà phát đạt, có người đã thuê lao động Lao động làm thuê thường

là người làm nông nghiệp ở nông thôn sau mỗi mùa thu hoạch ra các vùng thủ công làm công kiếm thêm tiền Ngoài ra còn có những người đến học nghề, thường là con gái 15, 16 tuổi, họ ở luôn với gia đình chủ theo kiểu người ở

“Nhắn ai trẩy hội kinh thành Mua em tấm lĩnh hoa chanh gửi về”

Dệt lĩnh đã khó, dệt lĩnh hoa càng khó hơn Khung dệt phải mắc thêm một thứ go hoa và phải thêm một người thợ bên khung dệt để sử dụng go hoa đó, phối hợp với người dệt lĩnh ngồi dưới

Đến đầu thế kỷ XX, cùng với sự xâm nhập của các hàng vải, tơ, lụa, dệt bằng máy, nghề dệt thủ công nói chung, dệt lĩnh nói riêng ngày càng tàn lụi dần, một vài cải tiến lẻ tẻ về máy móc và kỹ thuật dệt thủ công không thắng được hàng ngoại

Những năm 1940 - 1945, do ảnh hưởng của chiến tranh và nạn đói, nghề dệt lĩnh, lụa đã mai một dần

Sau ngày giải phóng Thủ đô 1945, người các làng dệt lĩnh Bưởi xưa chỉ còn dệt vải thường, thành lập các hợp tác xã như Thành Công, Quyết Tiến, Tân Thành…chuyên dệt khăn mặt gia công xuất khẩu Sau các hợp tác xã này cũng lần lượt giải thể

Con cháu những người thợ dệt nay làm nhiều nghề khác nhau, nghề của ông cha chỉ còn được nhắc đến trong kỷ niệm mỗi gia đình

Trang 14

Lĩnh Bưởi, mặt hàng dệt độc đáo ở kinh thành Thăng Long xưa bây giờ tuy không còn nữa, nhưng vẫn còn lưu mãi trong ca dao, tục ngữ trong lịch sử ngành

nghề thủ công nước ta

Tóm lại, Trích Sài là một vùng đất cổ nằm ven Hồ Tây, từ xưa đã nổi tiếng với nghề dệt lĩnh điêu luyện và sự tài hoa khéo léo của người dân nơi đây

1.2 DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ CHÙA THIÊN NIÊN

1.2.1 Vài nét về phái Tịnh Độ tông ở Việt Nam

Phật giáo là tôn giáo có ảnh hưởng lớn trong đời sống tinh thần của người Việt Phật giáo Việt Nam có cả 3 tông phái: Thiền tông,Tịnh Độ tông và Mật tông

Theo một số tài liệu Trung Hoa thì các nhà sư Samghavarman (Kha Tăng Khải) ở thế kỷ II, Kumarijiva (Cựu Ma La Thập) ở thế kỷ thứ IV và Kalyacan (Cửu Lương Đa Xá) ở thế kỷ V đã đặt nền móng cho Tịnh Độ tông ở Ấn Độ Tịnh Độ tông được truyền vào Việt Nam từ rất sớm vào thế kỷ V, được khẳng định qua câu chuyện viết vào thời Tống - Nam Triều (420 - 479) niên hiệu Vĩnh

Sơ (420 - 422)

“Sư Đàm Hoàng đi về phương nam, đến Phiên Ngung dừng lại ở chùa Đài, sau đến chùa Viên Sơn ở Giao Chỉ tụng Vô Lương Thọ kinh và Quán kinh, lòng nguyện vãng sinh Tịnh Độ…” 4

Khác với Thiền tông, Tịnh Độ tông với phương pháp tu hành đơn giản, chủ trương dựa vào sự giúp đỡ từ bên ngoài (tha lực) Các tín đồ Phật tử nhờ luôn niệm danh “Phật A Di Đà” nên được sự giúp đỡ của ngài sẽ đạt được chính quả

Sự giúp đỡ từ bên ngoài rất quan trọng, Phật Thích Ca đã có lần thuyết giảng

4 Nguyễn Thế Long, Phạm Mai Hùng (1997), Chùa Hà Nội, Nxb Văn hóa, Hà Nội, tr.39

Trang 15

rằng: “Một viên đá dù nhỏ đến mấy mà ném xuống nước thì nó cũng chìm Nhưng

một hòn đá dù to đến mấy, nếu đặt trên bè thì nó vẫn nổi” Thực ra Tịnh Độ tông

là biện pháp tu hành đáp ứng nguyện vọng của đa số quần chúng thất học, chính

vì thế nên sau khi ra đời, Tịnh Độ tông đã phát triển nhanh chóng Theo Tịnh Độ tông cái tâm hơn cái học vấn Phật tử thành tâm tin vào Phật A Di Đà, ngày ngày niệm Phật thì sẽ được an cư lạc nghiệp, khi chết (giải thoát) sẽ được về cõi Tịnh

Độ Tịnh Độ tông gợi cho Phật tử hướng về cõi Tịnh Độ, nơi yên tĩnh trong sáng, không có khổ đau, đó cũng là chốn Tây Phương cực lạc, là nơi do công đức của Phật đã kiến tạo trải qua nhiều kiếp Theo Tịnh Độ tông thì không có phân biệt người thông kinh sử với người không có thuộc kinh, người ngay với kẻ dữ, người

tu hành với kẻ sống trần tục, mọi người đều bình đẳng trước Phật A Di Đà trong những lúc tưởng niệm đến Ngài, sẽ được ngài giúp đỡ, lúc từ giã cõi đời sẽ được Phật A Di Đà tiếp dẫn về cõi Tịnh Thổ Nhờ cách tu đơn giản như vậy nên trong dân gian người ta tin Phật ngày càng đông và tượng A Di Đà ở chùa nào cũng có

và được tạc to, mỹ thuật

Đối với đại đa số dân Việt Nam trước đây, số người biết chữ Hán để đọc kinh Phật rất hiếm, người có điều kiện đi học thì nhằm mục đích để thi đỗ ra làm quan, vì vậy biện pháp tu theo tâm, hướng về Phật và niệm danh Phật Adiđà của Tịnh Độ tông là một cách thu hút dễ dàng đông đảo người dân Vì vậy, từ sau đời Trần, khi Phật giáo bị các nhà nho công kích, không còn được triều đình nâng đỡ nữa thì đạo Phật vẫn được phổ biến trong dân chúng với Tịnh Độ tông

Tuy đạo Phật phân chia ra thành 3 tông phái Thiền tông, Mật tông và Tịnh

Độ tông nhưng khi được truyền bá và thâu nhận ở Việt Nam thì không có sự tách biệt rạch ròi mà là một tổng hợp các tông phái cùng với tín ngưỡng bản địa, không có tông phái nào thuần khiết Tuy Thiền tông chủ trương: “Tâm là không

Trang 16

có hình, không có tiếng, không có trước, không có sau, thâm diệu, vi tế, không có tóc tơ hình thức”, nhưng các Thiền sư ở Việt Nam đã để lại rất nhiều trước tác về đạo Phật và văn học có giá trị Thiền phái Vinitaruci lại pha trộn với Mật tông, nhiều thiền sư tham gia chính trị góp phần củng cố nền độc lập tự chủ, đánh đuổi ngoại xâm Mật tông cũng có một vị trí trong đạo Phật ở Việt Nam do phục vụ cho những nhu cầu chữa bệnh, ước muốn của người dân trong khi chưa làm chủ được các hiện tượng xã hội và tự nhiên, đã kết hợp với tín ngưỡng bản địa, nên vẫn tồn tại trong dân chúng cho đến ngày nay Đạo Phật ở Việt Nam không có sự tách bạch giữa các phương pháp tu hành để giải thoát, chủ trương dung hợp giữa

tự lực và tha lực, có sự cố gắng của bản thân và sự giúp đỡ từ bên ngoài, kết hợp Thiền tông với Tịnh Độ tông

“Việt Nam không có một phái Tịnh Độ riêng biệt, nhưng tín ngưỡng Tịnh

Độ phổ biến rộng rãi, làm thành một cơ tầng bình dân cho Phật giáo Theo tín ngưỡng này, người ta tin có một cõi Tịnh Độ hay Tây Phương cực lạc, nơi có Phật A Di Đà ngự trị, các Bồ Tát Quan Thế Âm và Đại Thế Chí đã tiếp dẫn linh hồn chúng sinh về nơi đó Người ta chỉ cần niệm tên Phật A Di Đà nhiều lần là

có thể vãng sinh ở cõi Tây Phương cực lạc.Tên A Di Đà Phật đã trở thành lời chào nhau của các tín đồ Phật giáo Việt Nam” 5

Sự kết hợp giữa các tông phái đã được thể hiện ngay trong các chùa trong việc thờ Phật Chùa ở Việt Nam có rất nhiều tượng Phật, Bồ tát, La hán, A Di Đà, Quan Âm, mỗi loại tượng cũng lại có nhiều dạng như Thích Ca thuyết pháp, Thích Ca Sơ Sinh, Thích Ca Tuyết Sơn, Thích Ca ngồi tòa sen, Thích Ca nhập Niết Bàn Quan Âm có Phật Bà tọa sơn, Quan Âm Tống Tử, Quan Âm Nam Hải, Quan Âm Thị Kính…

5 Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long (1993), Chùa Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.21

Trang 17

Vào thế kỷ XVIII trong nước có nhiều cuộc chiến tranh, loạn lạc, chùa chiền bị đổ nát, đạo Phật cũng không có điều kiện phát triển Sau khi nhà Tây Sơn dẹp được chúa Nguyễn và chúa Trịnh, đã quan tâm chấn hưng đạo Phật, xuống chiếu chỉ xây cất các chùa lớn đẹp (chùa Kim Liên, chùa Tây Phương…) cho chọn các nhà sư có học thức và đạo đức trông coi và giảng kinh Phật cho dân chúng

“Đến thế kỷ XIX các vua triều Nguyễn cũng cho tu bổ các chùa Năm

1830, vua Minh Mệnh giao cho bộ Lễ triệu tập cao tăng các tỉnh về kinh để xem xét, cấp giới đạo và độ điệp, cả thấy được 53 người Nhiều thiền sư đã viết các sách kinh Phật” 6

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nước ta trở thành thuộc địa của thực dân Pháp, đất nước có nhiều biến động do tiếp xúc với văn hóa phương Tây, đạo Phật

đã có những chấn hưng, với những tổ chức Phật giáo ba kì, có báo chí để phổ biến giáo lí Những cuộc tranh luận về đạo Phật đã nổi ra xoay quanh những vấn

đề như Phật giáo vô thần hay hữu thần, linh hồn và thể xác, phật tử xuất thế hay nhập thế…

Đạo Phật đã thâm nhập trong đời sống của người Việt Nam như vào trong máu thịt, có thể nói là phần lớn người Việt Nam không theo đạo Thiên Chúa thì đương nhiên theo đạo Phật dưới nhiều hình thức như tu tại gia, lên chùa lễ Phật những ngày lễ và ngày rằm và mồng một, treo trong nhà ảnh Phật hoặc lúc đau khổ gặp nạn niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”… Theo số liệu năm 1993 của Ban tôn giáo chính phủ thì số tín đồ Phật tử xuất gia vào khoảng 3 triệu người, số thường xuyên đến chùa lễ Phật vào khoảng 10 triệu người, số chịu ảnh hưởng của đạo Phật vào khoảng vài chục triệu người

6 Nguyễn Thế Long, Phạm Mai Hùng (1997), Chùa Hà Nội, Nxb Văn hóa, Hà Nội, tr.42

Trang 18

1.2.2 Niên đại di tích

Tương truyền tiền thân của chùa Thiên Niên là chùa Bát Tháp - một di tích được cho là có từ thời Lý Nam Đế Chùa Bát Tháp cũng đã được đề cập tới trong truyền thuyết về Hồ Tây như sau:

Khu vực Hồ Tây, trước kia là khu rừng rậm mọc toàn gỗ lim Trong rừng

có hòn núi nhỏ, có con cáo 9 đuôi đã thành tinh ẩn náu trong hang núi đó, thường thường hiện hình làm hại người và vật, đã lâu ngày không trừ được Vua Lý Nam

Đế lấy làm lo, sai 2 công chúa đi học pháp thuật để trừ hại cho dân Hai công chúa tu luyện 3 năm, kết quả chưa thành, con cáo yêu quái càng quấy nhiễu dữ Hai công chúa xin sang phương Bắc học đạo Thuyền đi đến sông Nguyệt Đức, buổi chiều gặp một vị đại tiên Vị này nói: “Ta nghe hai công chúa có chí trừ yêu quái mà con hồ tinh lọt lưới ẩn nấp chưa trừ được Vậy ta đến giúp để cứu dân” Hai công chúa mừng lắm, đón vị đại tiên về, và vào tâu với vua Vua cho mời vị tiên, hỏi tường tận về pháp thuật Tiên ông bảo hãy chuẩn bị lập đàn ở nơi cao ráo, sạch sẽ, dựng 8 cửa, 8 tháp như hình Bát trận đồ, và dạy hai công chúa tất cả những bí quyết phù chú Trong khoảng trăm ngày, việc học tập đã thành thạo Bèn chọn ngày tốt, xem địa thế và lập đàn trừ yêu Dùng cờ và lọng ngũ sắc mỗi thứ 100 cái Rồi rước vị Huyền Chân Đại Đế ở phương Bắc chủ trì đàn trấn yêu Lại dựng miếu thờ vĩnh viễn, để con cáo yêu quái sau khi bắt được, không thể lại hiện hình, tác quái được nữa Vua theo lời lập 3 đàn, đàn giữa thờ thiên, địa, thần

kỳ do vị đại tiên chủ trì; đàn tả thờ dương thần, đàn hữu thờ âm thần do hai công chúa phụng lễ Đến ngày lễ đàn, tiên ông một tay cầm búa, một tay cầm kiếm, chỉ vào trước núi đá Bỗng thấy con cáo từ trong hang núi nhảy vọt ra, đá núi đổ xuống, sóng nước sôi lên, bắn tung ra bốn phía, rừng lim sụt xuống, tất cả biến thành hồ nước, đất sụt đến tận bên cạnh đàn Trong đàn lửa bốc lên, cờ, lọng bị

Trang 19

cháy hết Phía trên đám lửa kết thành một làn mây đen bay lên lưng chừng trời, tiên ông bắt trói con cáo yêu quái bay lên không trung Sau cùng không thấy nữa, chỉ còn hai công chúa bắt “quyết” ngồi ở đàn, lửa chẳng hề bén đến thân thể Quan quân báo tin về với vua Lý, vua theo như lời tiên ông nói trước, sai dựng đền ở nơi lập đàn, để hai công chúa sớm chiều thờ phụng Đền ở giáp bên hồ Sát

bờ bên kia hồ, cũng lập miếu để thờ Huyền Chân Đại Đế Và chỗ dựng tám tháp nơi đàn cũ, xây ngôi chùa để hai công chúa trụ trì Sau một thời gian, hai công chúa cũng hoá theo Tiên Phật.7

Theo truyền thuyết này thì chùa Bát Tháp là một ngôi cổ tự có mặt vào loại sớm trên đất Thăng Long xưa Sự biến đổi từ chùa Bát Tháp sang chùa Thiên Niên được luận giải như sau:

Theo truyền thuyết lưu truyền ở khu vực Hồ Tây, đời Lê Thánh Tông vua

đi đánh giặc thắng trận, được vua Chiêm hiến con gái đẹp, trong đó có một cô tên

là Phan Thị Ngọc Đô vốn là tỳ thiếp của vua Chiêm Vua Thánh Tông mặc dù rất yêu mến nàng song vẫn cho Ngọc Đô về ở Trích Sài, nơi đây có nhiều cảnh đẹp

và nhiều ruộng vườn gọi là “Thiên Niên trang” Nhân phía trước có chùa Bát tháp bèn dời đến chỗ đất cao hơn ở phía trên hồ Tây và dựng lại chùa Vì trang gọi là

“Thiên Niên trang” nên chùa gọi là “Thiên Niên tự” để làm nơi cung phi thờ Phật

và tu hành…” Vua cho nàng và hai mươi tư cung nữ, thị tì ra ở Thiên Niên trang

và quản tới 76 sáu mẫu hoa lợi Ở đây nàng đã cùng các cung nữ đem nghề dệt lĩnh truyền cho nhân dân trong vùng Được ít năm sau bà sinh một lần song không may chết cả mẹ lẫn con Nhân dân Trích Sài nhớ ơn, lập miếu thờ bà và còn đôi câu đối có nội dung: Cô gái dệt lĩnh truyền cho nghề quí …8 Truyền

7 Tuyển tập văn bia Hà Nội, T 1 (1978), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.39-41

8 Doãn Đoan Trinh (1991), Hồ sơ di tích chùa Thiên Niên, Ban quản lý di tích và danh thắng Hà Nội, Hà Nội

Trang 20

thuyết này có những yếu tố hợp lý bởi thời gian trước đây, ở bên trái của tòa Tiền đường chùa Thiên Niên còn một bệ thờ, trên có một long ngai và bài vị thờ bà chúa dệt lĩnh Phan Thị Ngọc Đô, thứ phi của vua Lê Thánh Tông Tuy nhiên, năm 2004, dân làng Trích Sài đã đến chùa xin và rước ngai thờ, bài vị của bà chúa về thờ phụng tại miếu Trích Sài

Minh văn trên tấm bia đá “Thiên Niên tự bi ký” (dựng năm Thành Thái thứ

13 - 1901) còn lưu giữ tại chùa cho biết: Đời Lê Thánh Tông chia một nửa ruộng đất thôn Trích Sài cho các cung phi làm thái địa, đặt tên là Thiên Niên trang, trên lập miếu và điện cho các cung phi ở đó thờ phụng Nhân phía trước có chùa Bát Tháp bèn dời đến chỗ đất cao hơn ở phía trên hồ Tây và dựng lại chùa Vì trang gọi là “Thiên Niên trang” nên chùa gọi là “Thiên Niên tự” để làm nơi cung phi thờ Phật và tu hành 9

Sự biến đổi từ chùa Bát Tháp sang chùa Thiên Niên cũng được ghi nhận qua câu đối hiện vẫn được lưu giữ tại Tiền đường chùa Thiên Niên:

Tiền tu Bát Tháp di tung, phế dã tất hữu hủng, phong tục hồ đầu khôi Tịnh

Đôi câu đối nhắc tới cõi Tịnh Độ, cho thấy “dấu ấn” của phái Tịnh Độ tông

tại chùa Thiên Niên từ khi mới khởi dựng Bởi vì, “Tịnh Độ tông chủ trương

9 Doãn Đoan Trinh (1991), Hồ sơ di tích chùa Thiên Niên, Ban quản lý di tích và danh thắng Hà Nội, Hà Nội

Trang 21

phải dựa vào tha lực (sự giúp đỡ từ bên ngoài)… Sự giúp đỡ từ bên ngoài cho tín

đồ Tịnh Độ tông là gợi cho họ về một cõi niết bàn cụ thể, gọi là cõi Tịnh Độ (yên tĩnh, trong sáng) được hình dung như một nơi Cực lạc, nơi này do đức Phật Adiđà cai quản… Sự giúp đỡ đó còn là việc bản thân họ cần thường xuyên đi chùa, dâng hương hoa trước tượng Phật, thường xuyên tụng niệm danh hiệu Phật Adiđà Hình dung cụ thể về niết bàn là để có đích mà hướng tới, cúng tượng Phật

và niệm danh Phật là để thường xuyên nhớ đến những lời dạy của người mà ráng làm theo”.10

Qua khảo sát thực tế, trong sân và vườn chùa còn nhiều loại gạch vồ (như gạch ở tường bao khu di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám) Loại gạch này phổ biến ở thế kỷ XV-XVI. 11 Điều này cho phép khẳng định niên đại khá lâu đời của

di tích Căn cứ theo di vật có minh văn niên đại sớm nhất tại chùa Thiên Niên hiện nay - tấm bia đá “Thiên Niên tự bi” được khắc năm 1709 (Vĩnh Thịnh ngũ niên) thì chùa Thiên Niên chắc chắn đã có mặt tại Thăng Long vào đầu thế kỷ XVIII

Tóm lại, chùa Thiên Niên có niên đại khá lâu đời, rất có thể đã được xây dựng vào khoảng thế kỷ XV - đời vua Lê Thánh Tông Di vật có niên đại sớm nhất còn lưu giữ tại chùa hiện nay được làm năm 1709 Như vậy, tồn tại cho đến nay, ngôi chùa đã có khoảng hơn 300 năm tuổi, diện mạo kiến trúc đã được tu sửa, làm lại nhiều lần, chủ yếu mang phong cách thời Nguyễn

Trang 22

1.2.3 Quá trình tồn tại của di tích

Thế kỷ XV, chùa Thiên Niên đã có mặt ở vùng đất ven Hồ Tây Cuối đời

Lê có quan Thái Bảo Đà quốc công sửa lại chùa và cúng ruộng, hiện còn bia ghi Trên tấm bia “Thiên Niên tự bi” dựng năm Vĩnh Thịnh ngũ niên (1709) có đoạn ghi: …“Cẩn lễ thân tá lang Thái Bảo Đà quốc công Mạc Ngọc Liễn góp công đức ruộng Tam bảo năm mẫu ở xứ Cổ chất thuộc xã Minh Cảo, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, Bản xã canh tác nộp thuế vào chùa Thiên Niên, số thóc mỗi năm năm trăm đấu…”; một tấm bia khác cũng ghi Thái Bảo Đà quốc công đã công đức

Về nhân vật Mạc Ngọc Liễn, tài liệu lịch sử cho biết một số thông tin như sau:

Mạc Ngọc Liễn là con Mạc Kính, là một tướng giỏi đời nhà Mạc

“Mạc cho Lại bộ thượng thư chưởng bộ sự kiêm Đông các đại học sĩ tri kinh diện sự tham dự triều chính… tây đạo tướng ngạn quận công là Mạc Ngọc Liễn làm Uyên quốc công”… 12

Ngày 11/5 năm Giáp Ngọ thứ mười bảy (1594) vua Mạc Kính Cung lấy Mạc Ngọc Liễn làm Thái phó, đem quân giữ núi Yên Tử, đánh cướp huyện Vĩnh Lại, đi đến đâu là dân theo nhiều đến đó 13

Khi nhà Mạc thua, Mạc Ngọc Liễn hiểu cơ trời cùng lòng dân nên ông từ quan, ông đã cúng nhiều ruộng vào các chùa và để lại một bức thư khuyên vua không nên kéo dài chiến tranh, làm khổ người dân vô tội

“Khi Mạc Ngọc Liễn sắp chết, có thư để lại khuyên Mạc Kính Cung rằng: Nay họ Mạc khi vận đã hết, họ Lê phục hưng, đó là số trời Dân ta là dân vô tội

12 Ngô Sĩ Liên (1984), Đại Việt sử ký toàn thư, T 4, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.174-175

13 Ngô Sĩ Liên (1984), Đại Việt sử ký toàn thư, T 4, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.204

Trang 23

lại để mắc nạn binh đao sao lại nỡ thế… Lại chớ nên mời người nước Minh vào trong nước ta, để đến nỗi dân ta phải chịu lầm than, đó cũng là tội không gì nặng bằng”…

Hiện nay, trong chùa (tại nhà thờ Mẫu), ở bàn thờ bên trái còn có một pho tượng ông quan Theo nhân dân Trích Sài đó là tượng quan Thái Bảo Đà Quốc công Mạc Ngọc Liễn Việc thờ cúng đức quan Thái Bảo tại chùa cũng là điều hợp lý, bởi Mạc Ngọc Liễn là người đã cúng nhiều ruộng cho chùa và là người góp sửa sang, xây dựng chùa ở cuối thế kỷ XVI

Thời Minh Mệnh (1820- 1840), trang và chùa là địa phận xã Trích Sài Đến niên hiệu Thành Thái thứ năm (1893), theo tấm bia Thành Thái thứ 13 (1901), dân làng mời nhà sư đến mở rộng phòng ở, sửa mới lại chùa, tô thêm tượng Phật, đúc lại chuông đồng Sau khi chuông đúc xong bèn khắc chữ để lưu niệm Bài minh còn ghi :

“…Cảnh Phật ở chùa ta là thượng giới ở hồ Tây

Chùa chiền nguy nga rộng rãi Lâu đài mới mẻ phong quang Vàng so tô điểm lộng lẫy ánh ngời tượng Phật…”

(Sửa lại chùa từ ngày 22/9 Thành Thái thứ 8 (1896) đến 12/11 Thành Thái thứ 12 (1900) thì hoàn tất)

Bia công đức cũng cho biết

Công mộc: nhà tiền đường hết 5300 đồng Chi phí tổ tượng hết 152 nghìn đồng

Phụ phí sửa hậu cung, đúc chuông khánh

Thời kỳ này, trụ trì chùa Thiên Niên là nhà sư Trần Văn Tựu

Trang 24

Năm 1953, nhà Tổ được tu sửa, thượng lương có dòng chữ “Hoàng triều Bảo Đại Quý Dậu niên”

Trong nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau, chùa Thiên Niên đã chứng kiến nhiều sự kiện có liên quan tới lịch sử địa phương và đất nước Chùa đã là nơi tập kết của các chiến sĩ tự vệ Thủ đô và là nơi qua lại của một số đồng chí cán bộ Trung ương trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp Thời kỳ kháng chiến chống

Mỹ, chùa bị ảnh hưởng bom đạn, đã được nhân dân địa phương góp công góp sức

tu sửa nhiều lần

Một thời gian dài, chùa Thiên Niên do nhân dân địa phương trông coi Chùa đã được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận là di tích lịch sử – văn hoá (Quyết định công nhận số 138 VHQĐ ngày 31/01/1992 do Bộ trưởng Trần Hoàn ký) Đây là một niềm vinh dự và tự hào lớn cho nhân dân địa phương nơi đây

Từ năm 2000 đến nay, Đại đức Thích Thanh Đức từ chùa Trấn Quốc về trụ trì, trông nom chùa Thiên Niên Gần 10 năm qua, Đại đức Thích Thanh Đức đã dồn hết tâm sức cho việc bảo vệ, sửa sang cảnh chùa Được sự giúp đỡ, ủng hộ của chính quyền phường Bưởi - quận Tây Hồ và ngành Văn hóa, tình hình đã biến chuyển theo chiều hướng tốt Ngày nay, chùa Thiên Niên vẫn là một trung tâm sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng cho các già vãi và cộng đồng nhân dân địa phương

Đại đức Thích Thanh Đức khẳng định: Đến nay chùa Thiên Niên vẫn theo phái Tịnh Độ tông, có quan hệ rộng rãi, cởi mở, thân thiện với nhiều ngôi chùa khác trên địa bàn Thủ đô Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung Có thể nói, như nhiều ngôi chùa khác, chùa Thiên Niên là di tích thờ Phật song chịu nhiều ảnh

hưởng của tín ngưỡng Tịnh Độ Đây cũng là điều dễ hiểu, bởi “Nhờ cách thức tu

Trang 25

đơn giản, Tịnh Độ tông là tông phái phổ biến khắp cõi Việt Nam Đâu đâu ta cũng gặp người dân tụng niệm câu Nam mô Adiđà Phật!” 14

Tóm lại, với quá trình tồn tại hàng mấy thế kỷ, chùa Thiên Niên có nhiều biến đổi; chứng kiến những bước thăng trầm của lịch sử và con người Hà Nội Cho đến nay, ngôi chùa vẫn ở nguyên vị trí ban đầu, lại được quan tâm tu bổ thường xuyên nên thu hút khá nhiều tín đồ Phật tử, đặc biệt là người dân địa phương Chùa Thiên Niên là một điểm sáng văn hoá, một vẻ đẹp mang tính truyền thống giữa vùng đất Hồ Tây, góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của Thủ đô

14 Trần Ngọc Thêm (1997), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb TP Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh, tr.480

Trang 26

Chương 2 GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC – NGHỆ THUẬT CHÙA THIÊN NIÊN

2.1 Giá trị kiến trúc

2.1.1 Không gian cảnh quan

Với mỗi di tích khi ra đời thường gắn với một không gian cảnh quan thoáng đãng, cây cối xum xuê, tươi tốt không uế tạp Thế đất thường phải cao, quang quẻ nghĩa là đất lành chim đậu, nơi muôn vật hội tụ về Việc chọn nơi xây dựng công trình là một khâu rất quan trọng bởi người Việt Nam từ xưa tới nay đều quan tâm đến lĩnh vực phong thủy, đất đó phải thiêng, thế đất tốt đạt được qui chuẩn âm dương, hướng đất cũng phải đẹp Chính vì vậy khi xây dựng chùa Thiên Niên, người xưa đã chọn hướng đất là hướng Nam, nhìn ra hồ Tây mênh mông sóng vỗ và bốn mùa gió lộng

Hướng Nam là hướng của đế vương, là phương của trí tuệ, là hướng đầy dương tính, sáng sủa, lí tưởng của xứ sở nhiệt đới gió mùa, tránh rét mùa đông, tránh nắng mùa hè lại phù hợp với quan niệm của nước ta là : “Nam giao thuộc cõi ly minh” có màu đỏ của lửa, của cuộc sống độc lập Mặt khác đây là hướng

của sức mạnh thần thánh, “Thánh nhân Nam diện, nhi thích thiên hạ chi thanh”

(Bậc thánh nhân quay về hướng Nam để nghe lời tâu bày của thiên hạ) Hướng

nam còn là hướng của sinh sôi phát triển Người Việt thường nói rằng: “Lấy vợ

hiền hòa, làm nhà hướng Nam” để thể hiện sự hài hòa mang phong cách phương

Đông Với các ngôi chùa, “Hướng Nam là sự thể hiện của chư Phật, chư Bồ Tát

Trang 27

quay hướng Nam để nghe những lời thỉnh cầu của chúng sinh trong kiếp bể khổ, trầm luân mà dùng pháp lực vô biên của mình để cứu vớt” 15

Từ trung tâm Hồ Hoàn Kiếm theo đường Tràng Thi – Nguyễn Thái Học đến ngã tư Cầu Giấy rẽ phải vào đường Bưởi; đi thẳng tới chợ Bưởi và đi tiếp lên đường Lạc Long Quân là đường nối các làng ở phía Tây Hồ, chùa nằm bên tay phải sát đường Lạc Long Quân và bên ven Hồ Tây Chúng ta có thể đi từ trung tâm Hồ Hoàn Kiếm – Tràng Thi - Điện Biên Phủ lên dốc Ngọc Hà, rẽ tay phải vào đường Hoàng Hoa Thám, tới ngã ba rẽ tay phải vào đường chợ Bưởi, đi tiếp lên ta sẽ tới chùa

“Thiên Niên cổ tự” là một ngôi chùa cổ với tổng thể kiến trúc hoàn chỉnh nằm ở ven hồ Tây, nằm trong địa phận của làng Trích Sài, phường Bưởi mà từ xa xưa đã đi vào văn thơ của người đương thời

Chùa nằm trên dải đất vùng ven hồ Tây có tới 20 ngôi đình, đền, miếu và

20 ngôi chùa cổ, tiêu biểu như quán Trấn Vũ, chùa Trấn Quốc… Đây là một vùng đất danh thắng của Thăng Long xưa, đã in đậm tâm trí vào người dân Hà Nội

Trong bài thơ “Cảnh trí Hồ Tây”, Nguyễn Công Trứ đã có bài thơ:

“Cảnh Hồ Tây khen ai khéo đặt Trong thị thành riêng một áng lâm truyền Bóng kỳ đài trăng mặt nước như in…”

Bài “Tụng Tây Hồ” của Nguyễn Duy Lượng cũng viết:

…“Kề bến nọ quán Thiên Niên lớp lớp Cách ngàn kia gềnh Vạn Bảo nhấp nhô

15 Trần Lâm Biền (2008), Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, Nxb Văn

hóa thông tin, Hà Nội, tr.166

Trang 28

Toà Kim Liên sóng nổi mùi hương, Chùa Trấn Quốc tưởng in vùng tĩnh phạn…”

Di tích chùa Thiên Niên chưa hội tụ trọn vẹn những yếu tố địa hình, cảnh quan của một nơi linh địa, hút được sinh lực tầng trên, có thể coi là một mảnh đất đẹp, gần yếu tố nước, hợp với tư duy của cư dân nông nghiệp Yếu tố nước chính

là lưu thủy với dòng Hồ Tây chảy trước mặt phía xa Quan niệm cho rằng có nước là có sự “tụ thủy” đồng nhất với tụ linh, tụ phúc Để thỏa mãn yếu tố này nếu không có nguồn nước tự nhiên người ta phải đào hồ, đào ao bán nguyệt Nhưng sẽ có ý nghĩa hơn rất nhiều nếu lựa chọn được thế đất mà có dòng chảy tự nhiên phía trước, càng đặc biệt hơn nếu đó là một dòng chảy uốn khúc Điều này xuất phát từ quy luật tự nhiên Cư dân luôn hướng tới nguồn nước bởi sự sống của vũ trụ bắt nguồn từ nước, nơi đâu có sự sống là nơi đó có sự hiện diện của nước Về sau, các nền văn minh lớn của nhân loại đều bắt nguồn từ những con sông lớn Đối với người Việt, cư dân trồng lúa nước thì nước chính là yếu tố

hàng đầu để sản xuất Dân gian có câu “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”

Chính vì tầm quan trọng như vậy nên nước được đồng nhất với yếu tố tụ linh, tụ phúc

Thông thường, mọi kiến trúc cổ truyền ngoài việc trồng cây cỏ tăng thêm

vẻ đẹp cho di tích thì nhiều loại cây được trồng mang ý nghĩa Phật triết Đối với chùa Thiên Niên cũng không nằm ngoài quy luật đó Đến với cảnh chùa, sự có mặt của cây cỏ còn mang ý nghĩa thoát tục Cây cỏ tươi tốt còn ứng với việc xác nhận mảnh đất mà di tích đang tồn tại là mảnh đất linh thiêng, mảnh đất lành cho muôn loài, trên mảnh đất ấy vạn vật sinh sôi phát triển Hơn nữa, khi bước vào chùa được bao bọc bởi cây cối tốt tươi, con người hòa mình vào thiên nhiên, nghe tiếng chuông chùa, mọi phiền muộn được trút bỏ, con người tạm lánh xa cõi

Trang 29

hồng trần tục lụy Họ có thể gạt bỏ hết những vướng mắc của đời thường để hướng đến tâm thiện, hướng đến cõi Phật

Trước tòa Tiền đường chùa Thiên Niên có một cây đại cổ thụ Cây đại vào mùa đông rụng lá, trơ những cành khẳng khiu như cánh tay vươn lên bầu trời Cây đại khi nở hoa có màu trắng, hương thơm tinh khiết, là một trong hệ cây thiên mệnh Theo người xưa, thế giới nhân gian và vũ trụ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Cây đại được coi như cánh tay của nhân gian hút sinh lực vũ trụ

Nó được coi như biểu tượng của sức sống, thân cây xù xì với nhiều bướu Những bướu của cây đại được coi như sự tập trung sinh lực của vũ trụ Nó chính là sự biểu tượng cho sự linh thiêng Người ta tin rằng khi sờ vào bướu cây sẽ được sống lâu

Trong khu vườn tháp của chùa Thiên Niên trồng nhiều cây mít Cây mít tiếng Phạn là Paramita, phiên âm theo tiếng Hán là “Cứu cánh đáo bỉ ngạn”, nghĩa là giáo hóa chúng sinh đưa tới bến bờ giác ngộ Vì thế cây mít là tượng trương cho sự giác ngộ, giải thoát Thời kỳ mà đạo Phật phát triển, các kiến trúc truyền thống, đồ thờ trong đình, chùa, đền, miếu thường được làm bằng gỗ mít

Và vì cây mít tượng trưng cho sự giác ngộ, giải thoát nên người ta còn lấy gỗ mít

để tạc tượng Trồng cây mít còn ngầm nhắc nhở những người tu luyện gắng tịnh tấn tu hành thì nhất định sẽ sớm giác ngộ cửa Phật

Phía cuối khu vườn nhà chùa còn trồng khá nhiều tre Tre là một giống cây phát triển rất mạnh, cây thường mọc thành bụi, thành khóm và vì thế mà khi nhìn thấy bụi tre ở chùa thì tưởng như đó là sự quy tụ của các Phật tử Không những vậy, tre còn có đặc điểm là dù đứng một mình hay thành từng bụi thì đều đứng thẳng, điều này tượng trưng cho tấm lòng ngay thẳng của nhà Phật Và thân cây tre rỗng cũng chính là một nét tượng trưng cho “tâm không” của nhà Phật Đốt

Trang 30

tre thì được coi như là những bậc thang đi về phía thần linh Cây tre được coi như

là trục của vũ trụ

Ngoài ra trong vườn còn có các loại cây ăn quả như: cây nhãn, hồng bì, hồng xiêm, chanh và nhiều loại rau xanh để phục vụ cho cuộc sống chay tịnh cho những người tu hành trong chùa

Mặt khác trong di tích, đặc biệt là các ngôi chùa, trồng các cây cối rậm rạp, sum xuê, người Việt tin rằng trong những tán cây đó có những linh hồn bơ vơ, ẩn nấp để hưởng chút lộc của chúng sinh và nghe kinh Phật mà tìm đường siêu thoát

2.1.2 Bố cục mặt bằng tổng thể

Di tích chùa Thiên Niên là một quần thể kiến trúc hoàn chỉnh, nằm theo hướng Nam, phía trước là Hồ Tây Chùa Thiên Niên được xây dựng gồm nhiều đơn nguyên kiến trúc hợp thành như Tam quan, Tiền đường, Thượng điện, nhà Mẫu, nhà Tổ, Tăng phòng và các công trình kiến trúc phụ như: vườn, sân chùa, công trình phụ phục vụ sinh hoạt

Mở đầu kiến trúc chùa là Tam quan với gác chuông có hai tầng mái Trước mặt Tam quan xưa có một đầm lớn để nuôi cá, nay do sóng vỗ ngày đêm đã lở dần và thông với Hồ Tây Xưa kia đường vào chùa qua Tam quan, nay là con đường đi từ đình của làng Trích Sài, rộng tới 3m để rước vào những ngày lễ hội hàng năm của làng xã Xung quanh chùa có nhiều cây lưu niệm và những lũy tre dày bao bọc Ngày nay do sự phá lở của sóng hồ, một mặt do ở gần khu cư dân của hai làng (làng Bưởi và làng La) nên đất chùa đã bị lấn chiếm nhiều so với xưa kia Hiện nay lối đi của chùa không phải là con đường Chính đạo qua Tam quan, đường đi của chùa phải chuyển ra phía bằng cổng phụ

Trang 31

Qua Tam quan là một khoảng sân, lát gạch và vườn cây lưu niên Qua sân gạch là phần chùa chính bao gồm Tiền đường, Thượng điện theo kết cấu dạng chữ đinh ( ) Nối liền với tòa chùa chính là nhà Mẫu, nằm song song với tòa Thượng điện Bên phải và sau Thượng điện là nhà Tổ và tăng phòng, bếp và vườn tháp của các sư tổ đã viên tịch, xung quanh là vườn cây ăn quả lưu niên

2.1.3 Kết cấu kiến trúc

2.1.3.1 Tam quan

Như mọi kiến trúc như truyền thống, chùa Thiên Niên cũng có Tam quan, bao hàm ý nghĩa Phật triết sâu sắc, có thể coi như tuyên ngôn của đạo Phật đối với đời Chúng sinh bước qua Tam quan chùa phần nào đã mang tâm Phật, ít nhiều giác ngộ được cái vi diệu của đạo pháp Theo đạo Phật, Tam quan là ba cửa thâu tóm tám vạn tư lối nhìn, bao gồm: Không quan, Giả quan và Trung quan Ở

đây “Không” là Không, “Giả” là Sắc, còn “Trung” là Giải thoát

Theo kinh Upanisad, “Không” có nghĩa là không có gì cả, có được sau khi

chia Mao thỏ trần (đầu lông thỏ) theo hằng số 7 sáu lần liên tiếp; do duyên khác nhau

mà chúng hội tụ thành muôn loài muôn vật “Không” là bản thể, chân như tuyệt đối, gốc khởi nguyên của thế giới - Không tức thị Sắc “Giả” có nghĩa là quy luật vô

thường của mọi vật, có sinh tất phải có diệt, từng vật dần sẽ tan hoặc chết đi - Sắc tức thị Không Qua Không quan, Phật tử vào với Phật đạo để tìm cái “đại ngã trường tồn”, cái “tâm Không”; qua Giả quan khẳng định con đường tu thông qua trí tuệ, tìm

về miền giải thoát Trung quan là cách nhìn nhận sâu sắc về chân lý đạo Phật, qua Trung quan là đi vào con đường giác ngộ tới mức “lậu tận thông” (hiểu tất cả) Tam quan thực chất vẫn là “nhất chính đạo”, ba cửa nhưng chỉ có một con đường - con đường đi đến thế giới cực lạc

Trang 32

Ngày xưa, Tam quan được làm kiêm gác chuông, để treo quả đại hồng chung Sau này, quả chuông được mang về treo tại tòa Tiền đường, đã trả lại nguyên vẹn ý nghĩa ban đầu của Tam quan Tam quan chùa Thiên Niên được xây dựng bằng gạch, được xây theo kiểu cổng lầu chia thành ba lối, Giả quan, Trung quan và Không quan được xây đơn giản, là một bức tường trổ một cửa nhỏ, thành hai bên là hai trụ biểu, phía trên cửa đắp một dòng đại tự chữ Phạn, cửa Trung quan cao hơn hai cửa bên, xây theo kiểu cuốn vòm, hướng theo Nhất chính đạo dẫn lên tòa Tiền đường.

Tam quan có bốn trụ lớn (cao 4m) tạo cho vòm Trung quan có độ sâu, đổ mái bằng và xây gác chuông ở tầng hai Phần gác chuông ở phía chính diện được trổ cửa sổ ô tròn, cạnh hai bên tạo cửa vòm, tạo nên sự thông thoáng Nhưng về sau đã dùng gạch xây bịt lại, dấu tích hiện còn Bên cạnh có hai cột trụ nhỏ (cao 3m) Mặt ngoài Tam quan, phần nối giữa trụ chính và trụ nhỏ trang trí gờ nổi Các trụ có kết cấu và trang trí giống nhau gồm ba phần: đầu trụ, thân trụ và đế trụ Đế trụ làm dạng quả găng, xây gờ, giật cấp, ăn sâu xuống lòng đất, làm móng chịu lực chính Thân trụ xây hình vuông, trụ lớn mỗi cạnh 0,45m x 0,45m, trụ nhỏ 0,38m x 0,38m; trên thân đắp gờ kẻ nổi để nhấn mạnh các câu đối chữ Hán Tiếp đến là phần lồng đèn, các mặt đắp nổi đề tài rồng, lá cúc, vân triệu hoá hổ phù… Những vân triện cho hai bên biểu hiện cho tam sơn, đại diện cho thế giới hạnh phúc

Tầng trên của Tam quan trước kia là nơi treo chuông Được kết cấu với bốn mái, lợp ngói vẩy hến, bờ nóc có con kìm là hai đầu rồng chầu mặt trời, đầu đao uốn cong duyên dáng thể hiện vân mây Tam quan chùa là sự kết hợp hài hoà giữa yếu tố hiện đại và phong cách truyền thống Do vậy không mất đi nét uyển chuyển, thâm nghiêm, mặc dù được xây bằng gạch và vôi vữa

Trang 33

2.1.3.2 Tiền đường

Từ Tam quan đi hết chính đạo, qua một khoảng sân gạch là bước lên bậc tam cấp của tòa Tiền đường, được dựng trên nền cao so với sân vườn khoảng 0,6m Nhìn từ phía hai hồi lên thì mái Tiền đường được làm theo kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, lợp ngói ta, bờ nóc thẳng, ở giữa có đắp ba chữ “Thiên Niên tự” (chùa Thiên Niên) Hai bên của Tiền đường là hai trụ xây, hai mặt trụ có đắp nổi các câu đối bằng vôi vữa, trên là kiểu lồng đèn bổ ô bốn mặt, trên đỉnh trụ là hai bông sen mãn khai

Toà Tiền đường được làm đơn giản với năm gian, hai chái Chiều ngang Tiền đường là 14m, sâu 5m Từ vườn sân bước lên ba bậc thềm vào Tiền đường qua hệ thống cửa cánh bức bàn ở giữa còn hai bên xây kín có trổ lỗ hoa thay cửa

Bốn bộ vì nóc ở gian giữa được làm theo kiểu giá chiêng chồng rường Kết cấu như sau: thượng lương được đặt trên một đấu hình thuyền để trơn Đấu hình

Trang 34

thuyền được đặt trên một đấu vuông khác, trên thành giá chiêng có một con rường thẳng, trên con rường này trang trí các hoa văn bằng phương pháp chạm nổi ở những mặt thành quay ra ngoài Con rường này hai đầu vươn ra đỡ hai hoành kế tiếp phía dưới thượng lương Hai đầu của con rường này được gối hai cột trốn Cột trốn này được bào trơn và chống trực tiếp lên câu đầu Hai bên cánh của giá chiêng là các con rường cụt chồng lên nhau Một đầu ăn mộng vào cột trốn, đầu kia vươn ra đỡ những con hoành kế tiếp phía dưới sau

Bộ vì ở gian cuối cùng, giáp với hồi bên phải có kết cấu kiểu vì kèo Kèo

là hai thanh gỗ lớn, đầu trên giao nhau ở thượng lương và trải dài theo chiều rộng của mái tới mái giọt gianh Ở khoảng ½ thân của thanh kèo được đỡ bởi đầu cột cái, có tác dụng hỗ trợ lực cho hai thanh kèo giữa hai đầu cột cái là một câu đầu

có tác dụng liên kết cột cái theo phương ngang, dưới bụng cột cái là hai nghé kẻ

tỳ lên Trên thanh kèo người ta có tạo các mộng nhỏ để đặt các hoành chạy qua

Tiền đường năm gian, hai chái gồm bốn hàng chân cột, cột được làm dáng búp đòng, đầu trên đỡ lấy câu đầu, đầu dưới gối lên các chân tảng đá được tạo tác theo kiểu âm dương nhằm chống ẩm đồng thời chống lún, trên là một mặt phẳng tròn có đường kính 0,4m, được lồng lên đế vuông, mang ý nghĩa âm dương đối đãi Các cột cái với đường kính 0,35m và cột quân đường kính 0,3m Nền nhà Tiền đường được lát gạch Bát Tràng nung già với kích thước 0,3m x 0,3m và chia các gian không đều nhau, gian giữa rộng hơn các gian bên (kích thước 3m và 2,5m) Khoảng cách từ cột cái đến cột cái là 2,4m; từ cột cái đến cột quân là 1,4m Cột cái cao 3,8m, cột quân cao 3,2m

Trang 35

2.1.3.3 Thượng điện

Thượng điện là một ngôi nhà dọc ba gian nối với Tiền đường Kiểu thức kết cấu giống như tòa Tiền đường, được lợp bằng ngói ta Các bộ vì đỡ mái làm theo kiểu giá chiêng chồng rường

Thượng điện không tạo hiên riêng mà hiên được làm liền ngay với Tiền đường

Nền nhà Thượng điện lát gạch Bát Tràng nung già có kích thước 0,3m x 0,3m, khoảng cách giữa hai hàng cột xây những bệ gạch cao dần từ ngoài vào để làm Phật điện, hai bên sát tường cũng được xây bệ để đặt tượng Thập điện Diêm vương

Thượng điện có độ sâu 8m, chiều ngang 6,6m; gồm ba gian một chái, mỗi gian rộng 2,1m Cột được làm theo dáng búp đòng Cột cao 3,8m Khoảng cách

từ cột cái đến cột cái là 3m, từ cột cái đến cột quân là 1,4m Đường kính cột cái

là 0,35m, cột quân là 0,3m Chiều cao của cột cái 3,8m, cột quân là 3,2m

2.1.3.4 Nhà Mẫu

Nối dọc với Thượng điện là nhà thờ Mẫu chạy dài đến tận phía sau Toà nhà này quay hướng Tây nhìn ra một sân gạch rộng và xa vẫn là Hồ Tây Toà nhà Mẫu hiện nay là ngôi nhà năm gian song nơi thờ tự ở ba gian sát với Thượng điện, còn lại hai gian là tăng phòng

Kết cấu bên trong của toà nhà Mẫu theo kiểu giá chiêng giống như ở tòa Tiền đường, kích thước nhà Mẫu là 4m x 5m Mái của tòa nhà được lợp bằng ngói ta

Toà nhà này còn có hiên khá rộng tới 1,5m, hiên có các kẻ cong được đặt trên các trụ xây tròn Hệ thống cửa bức bàn được làm những cánh lớn hình chữ nhật

Trang 36

2.1.3.5 Nhà Tổ

Nhà Tổ là tòa nhà 3 gian với bốn bộ vì kết cấu kiểu giá chiêng chồng rường, được sử dụng làm nơi thờ các vị sư đã từng tu tại chùa sau khi viên tịch Tiếp theo đó là khu tăng phòng và nhà bếp

Ra xa phía sau là một khu vườn rộng với các tháp mộ sư của chùa đã viên tịch

2.2 Giá trị nghệ thuật

2.2.1 Trang trí trên kiến trúc

Trong kiến trúc cổ, trang trí - điêu khắc là một bộ phận không thể thiếu, tạo cho công trình vẻ duyên dáng và tính thẩm mỹ cao Những đề tài trang trí còn thể hiện triết lý sống, quan niệm tâm linh của ông cha ta Chúng toát lên khát vọng về cuộc sống bình yên, hạnh phúc, đồng thời gửi gắm những ước mong thầm kín về sự sinh sôi phát triển của người dân đến các “thế lực tầng trên”; đồng thời còn là “tiếng nói” của người đương thời (chủ nhân sáng tạo văn hóa) cho thế

hệ sau

Ở chùa Thiên Niên, các mảng đề tài trang trí khác nhau được thể hiện trên

bề mặt các cấu kiện kiến trúc gỗ và trên các di vật Các cấu kiện kiến trúc gỗ ở chùa Thiên Niên không trang trí cầu kỳ mà được làm khá giản, đơn mộc mạc nhưng không vì thế mà làm giảm đi vẻ đẹp và sự bề thế của ngôi chùa Các cấu kiện gỗ chủ yếu được làm theo lối bào trơn đóng bén, một số cấu kiện khác trang trí những kiểu thức hoa văn đơn giản mà tạo nên những đường nét mềm mại trên những thớ gỗ và mang ý nghĩa triết lý sâu sắc Tuy các mảng trang trí không nhiều nhưng cũng đủ nói lên những ước vọng của người dân làng Trích Sài Trên các bộ vì mái tòa Tiền đường, cửa võng tòa Tiền đường và Thượng điện trang trí

Trang 37

những văn thực vật, văn mây, lá cuốn, những hoa văn này là biểu tượng của mây mưa, là sự mong cầu một nguồn nước dồi dào cho sản xuất, báo hiệu mùa màng

bội thu, đem lại hạnh phúc và sự no ấm cho cư dân nông nghiệp

Tại tòa Tiền đường, bên trái ngoài cùng là bộ vì trang trí theo kiểu ván mê Mảng trang trí này thể hiện bằng thủ pháp chạm nổi, người ta tạo hình một cây hoa cúc cổ thụ cách điệu tạo thành đề tài trang trí hổ phù Với những đường nét chạm trổ tinh xảo làm tăng thêm sự mềm mại, bớt đi cái thô cứng của chất liệu

gỗ

Hình tượng hổ phù được coi như biểu tượng cầu no đủ của cư dân nông nghiệp, thường gặp vào thời Tây Sơn từ thế kỷ XVIII về sau Trong các chùa Khơme Nam Bộ, hổ phù được tạo rất lớn và là hình ảnh trang trí cầu phồn thực

Sự tích về hổ phù được nhắc tới trong câu chuyện “Khuấy biển sữa”

“Một buổi vị đạo sĩ Durvasa được tín đồ dâng một vòng hoa, khi gặp Indra (Ngọc Hoàng Thượng Đế), đạo sĩ tặng lại vòng hoa này Nhưng khi vừa quay đi thì Ngọc Hoàng đã vứt vòng hoa xuống đất cho con voi dẫm lên Vị đạo

sĩ quay lại và khi quá tức giận đã nguyền cho các thần mất hết sức mạnh (đạo sĩ

là người đại diện về chân lý, tuy không có pháp lực nhưng lời của ông bao giờ cũng linh nghiệm) Các thần bị quỷ tới gây sự, đòi chia quyền lực, tất nhiên trong hoàn cảnh ấy bao giờ các thần cũng thua Các thần phải cầu viện tới hai vị thần tối thượng Vishnou và Siva Họ được các vị khuyên là phải “khuấy biển sữa” linh thiêng Các thần bèn nhổ núi Mandala (nơi chứa bốn thế giới: Đông thắng thần châu, Nam thiêm bộ châu, Tây ngưu hạ châu, Bắc ca lâu châu) vứt xuống biển sữa Dùng con rắn vĩnh cửu Vasuki quấn quanh quả núi để làm dây tạo sự vận chuyển, khi đang khuấy biển, thì bọn quỷ đến đòi tranh phần, các thần nhường cho quỷ cầm phía bên đầu Công việc đang tiến hành thì quả núi bị lún

Trang 38

xuống và thần Vishnou buộc phải biến thành con rùa chui xuống đội quả núi, nhưng vì quá nặng khiến cho thần phải gồng thân và oẹ ra một chất độc kinh hồn, có thể làm tiêu tan tất cả mọi vật trên đời Thấy vậy, thần Siva bèn há mồm nuốt toàn bộ chất độc khiến cho cổ ngài bị xanh lét Công việc đã thuận lợi và lúc này nổi dần lên mặt biển rất nhiều thứ linh thiêng và quý giá như mặt trăng, cây thiên mệnh, con voi, nữ thần rượu, vũ nữ apsara, nữ thần phú quý Laksmi, vị lương y và cuối cùng là bát thuốc trường sinh Sau đó thần và quỷ tranh nhau uống bát thuốc Vishnou phải biến thành một vũ nữ cực kỳ đẹp làm mê hồn quỷ

để dành lại bát thuốc trường sinh cho các thần Khi các thần đang uống, có một con quỷ đã đứng lẫn vào hàng ngũ thần, nó vừa nốc xong một ngụm thì thần mặt trời, mặt trăng phát hiện, mách với Vishnou Thần đã rút kiếm chặt quỷ làm đôi

Do đã uống được thuốc trường sinh nên quỷ không chết, các thần phải cho quỷ lên trời thành sao Hổ phù và Kế đô Hổ phù là nửa trên có mắt nhận biết, vì vậy mỗi lần gặp mặt trời, mặt trăng, lợi dụng sự to lớn của mình nên nó tìm cách nuốt tạo nên hiện tượng nhật thực và nguyệt thực Các cư dân ở miền Nam á chịu ảnh hưởng của văn hoá ấn Độ, quan tâm tới hiện tượng nguyệt thực và cho rằng khi Hổ phù nuốt hết mặt trăng mà đẻ ra ở phía bên (ở đằng nách) thì năm đó sẽ đói to, nếu đẻ ra ở phía dưới thì năm đó có chiến tranh, nhưng nếu không nuốt được, phải nhả thì năm đó sẽ được mùa lớn.” 16

Hai bên tay của hổ phù là những dải hoa văn trữ triện được chạm nổi trên nền gỗ sơn đen

Có giá trị về mặt thẩm mỹ hơn cả đó là ba bộ cửa võng ở tòa Tiền đường

và Thượng điện Cửa võng dùng để trang trí trước không gian thờ, tăng thêm vẻ

16 Trần Lâm Biền (2001), Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội,

tr 171 - 172

Trang 39

đẹp và không khí linh thiêng cho nơi thờ tự Với thủ pháp chạm lộng và chạm thủng, người ta tạo trên cửa võng đề tài tứ linh và đề tài rồng chầu mặt trời Ở phần trên cao và là trung tâm của cửa võng là đề tài lưỡng long chầu nhật với hình tượng hai con rồng uốn lượn mềm mại chầu vào mặt trời ở chính giữa Thân rồng được bao bởi những cụm mây Ở hai góc trên là hình ảnh chim phượngđang múa trong mây Phía dưới hai con rồng tạo tác hai con rồng nhỏ khác, đầu đang hướng thế bay lên

2.2.2.1 Tượng ở Thượng điện

* Tam Thế Phật

Tượng Tam Thế

Ba pho Tam Thế được đặt ở trên cao và sâu nhất của Thượng điện Tên đầy đủ được gọi là Tam Thế Thường Trụ Diệu Pháp Thân (Tam thế: ba thời, quá khứ gọi là Trang Nghiêm kiếp, hiện tại gọi là Hiền kiếp, tương lai gọi là Tinh Tú kiếp Mỗi đại kiếp này xấp xỉ 1.344.000 000 năm; Thường Trụ: tồn tại vĩnh hằng; Diệu: đẹp đẽ, linh thiêng, nhiệm màu; Pháp Thân: cái chân thực không biến đổi, không lệ thuộc vào hình- danh- sắc- tướng, không sinh, không diệt, tức cái đạo thể, Phật thân) Một tên khác là Tam Thế Tam Thiên Phật, có nghĩa là ba nghìn vị Phật nối tiếp nhau giáo hoá chúng sinh trong ba đại kiếp Như vậy, Tam Thế Phật mỗi một tượng là hiện thân, hội tụ của một 1000 vị Phật trong một thời

Trang 40

Bộ tượng này là đại diện của 3000 vị Phật biểu trưng cho ba thế giới Phật của quá khứ, hiện tại và tương lai Tượng được tạc theo phong cách cổ truyền, cùng được làm chung một kiểu thức và kích thước Đầu tượng nở, có những hàng tóc xoắn ốc màu sẫm Đỉnh đầu nổi cao thành một khối tròn như bát úp gọi là Nhục kháo (Unisa), nhờ trí tuệ tuyệt luân của Đức Phật và công quả tu hành mà

có Khuôn mặt thể hiện các quý tướng: nguyệt mi cong kéo dài và nhỏ dần về phía đuôi mắt, che đôi mắt khép hờ nhìn xuống đỉnh mũi soi rọi nội tâm Gốc mi nối với sống mũi cao thẳng trong vẻ đẹp thánh thiện Môi tượng dày, cằm nổi khối, cổ có ngấn, ngực nở, trước ngực là biểu tượng chữ Vạn thể hiện Phật lực vô biên như vầng hào quang tỏa ra bốn phương Mình tượng khoác hai lớp áo, áo lớp ngoài chùng với nhiều nếp tạo nên sự mềm mại, lớp trong bó sát thân, ngang thân thắt dải con do Tượng ngồi trong tư thế “Kiết già hàng ma” để lộ lòng bàn chân phải trên đùi trái Hai tay tượng đặt lên lòng đùi, kết ấn Thiền định (còn gọi

là ấn Tam muội) Thế ngồi này giữ cho kẻ hành giả giữ được tâm thanh tịnh, tránh tà loạn xâm nhập để nhập thân vào tâm vào thiền

Tượng an tọa trên đài sen, được sơn đỏ, có hai lớp cánh chính, một lớp cánh phụ, phía dưới có lớp cánh úp ngược xuống Đài sen biểu tượng cho bông sen vàng nghìn cánh, thể hiện sự cao quý, trong sạch về lý trí Giữa tượng và đài sen có độ kênh nhất định, có thể do làm lại nên đài hơi nhỏ so với mặt ngồi của tượng

Theo như Hồ sơ di tích chùa Thiên Niên do Ban quan lý di tích và danh thắng Hà Nội lập ra, bộ tượng này được làm ở đầu thế kỷ XVIII 17 Đây là một bộ tượng đẹp và có niên đại sớm nhất ở chùa

17 Doãn Đoan Trinh (1991), Hồ sơ di tích chùa Thiên Niên, Ban quản lý di tích và danh thắng Hà Nội, Hà Nội

Ngày đăng: 03/06/2021, 23:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w