1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐẦU TƯ VÀ PHÂN TÍCH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

44 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đầu Tư Và Phân Tích Đầu Tư Chứng Khoán
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Đầu Tư Chứng Khoán
Thể loại bài giảng
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 1,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tương ứng với tính chất bỏ vốn và mục tiêu đầu tư, đầu tư bao gồm nhiều loại như: đầu tư cho tiêu dùng và đầu tư cho sản xuất kinh doanh, đầu tư của Chính phủ và đầu tư của cá nhân, đầu

Trang 1

BÀI 5: ĐẦU TƯ VÀ PHÂN TÍCH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

Mục tiêu

 Hiểu được đặc điểm và các hình thức đầu tư, các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán

 Nắm được các mục đích và yêu cầu trong phân tích đầu tư chứng khoán

 Nắm được các phương pháp, nội dung phân tích

 Trên cơ sở kết quả phân tích đưa ra những khuyến nghị, đánh giá chứng khoán tốt, chứng khoán không tốt, thời điểm nên mua, nên bán chứng khoán

khoán

 Các hình thức đầu tư và yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán

 Mục đích và yêu cầu của phân tích đầu

tư chứng khoán

 Phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật

Trang 2

TÌNH HUỐNG DẪN NHẬP

Tình huống:

Thịnh là một nhà đầu tư chứng khoán Qua phân tích cơ bản,

Thịnh nhận thấy cổ phiếu BMC của công ty Bình Minh có các

chỉ số tài chính rất khả quan Công ty có mức EPS cao trong

khi đó P/E lại thấp; ROE và ROA đều cao hơn mức bình quân

ngành Kết hợp với phân tích kỹ thuật, Thịnh nhận thấy đây là

thời điểm thích hợp để mua cổ phiếu BMC và quyết định đầu

tư một số lượng lớn cổ phiếu BMC

Thịnh còn kết hợp với Hải (là giám đốc tài chính của BMC)

bàn nhau thực hiện làm giá cổ phiếu này Thời gian đầu, Thịnh

và Hải âm thầm tiến hành mua gom cổ phiếu BMC Gom được một lượng lớn cổ phiếu, Thịnh thông qua Hải tung ra một tin đồn công ty vừa ký được hợp đồng xuất khẩu than lớn đi Trung Quốc Tin đồn vừa ra, lập tức Thịnh và Hải tung thêm các lệnh mua ảo cổ phiếu BMC làm cho giá BMC tăng kịch trần liên tục nhiều phiên liên tiếp Các nhà đầu tư khác thấy tin tốt và giá

cổ phiếu tăng mạnh lập tức nhao theo để mua cổ phiếu BMC làm cho giá BMC ngày một tăng cao hơn Khi giá cổ phiếu BMC đã tăng lên gấp đôi, lập tức Thịnh và Hải tiến hành bán tháo ngay cổ phiếu để chốt lời

Câu hỏi

Theo anh (chị), hành vi của Thịnh và Hải đúng hay sai? Giải thích?

Trang 3

5.1 Đầu tư chứng khoán

 Khái niệm

Đầu tư là việc bỏ vốn vào một lĩnh vực nào đó để

nhằm đạt được mục tiêu xác định Tương ứng với

tính chất bỏ vốn và mục tiêu đầu tư, đầu tư bao

gồm nhiều loại như: đầu tư cho tiêu dùng và đầu tư

cho sản xuất kinh doanh, đầu tư của Chính phủ và

đầu tư của cá nhân, đầu tư không vì mục tiêu lợi

nhuận và đầu tư vì mục tiêu lợi nhuận… Đầu tư

chứng khoán là một trong những loại đầu tư vì mục

tiêu lợi nhuận

 Đặc điểm của đầu tư chứng khoán

o Thứ nhất, đầu tư chứng khoán là hình thức đầu tư tài chính linh hoạt do các chứng khoán thường có tính thanh khoản khá cao Xuất phát từ tính thanh khoản của chứng khoán mà các nhà đầu tư có thể linh hoạt hóa trong việc đầu

tư và rút vốn đầu tư dưới hình thức mua và bán chứng khoán trên thị trường

o Thứ hai, so với việc gửi tiết kiệm, đầu tư chứng khoán thường đem lại mức lợi nhuận kỳ vọng cao hơn nhưng rủi ro tiềm ẩn cũng cao hơn Với đặc trưng này, đầu tư chứng khoán phù hợp hơn với các nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận rủi ro

để có mức thu nhập kỳ vọng cao

o Thứ ba, đầu tư chứng khoán được thực hiện ở kênh tài chính trực tiếp nhưng các giao dịch này thường được thực hiện thông qua các trung gian

Có nhiều hình thức đầu tư chứng khoán khác nhau tùy theo tiêu thức phân loại

 Căn cứ vào công cụ đầu tư, đầu tư chứng khoán bao gồm: đầu tư cổ phiếu, đầu tư trái phiếu của doanh nghiệp, trái phiếu chính phủ và trái phiếu chính quyền địa phương, đầu tư chứng chỉ quỹ đầu tư, đầu tư các chứng khoán phái sinh

Trang 4

 Căn cứ vào mục đích đầu tư, đầu tư chứng khoán

bao gồm: đầu tư nhằm hưởng lợi ích về kinh tế (cổ

tức, trái tức, lãi vốn), đầu tư nhằm nắm giữ quyền

quản lý kiểm soát tổ chức phát hành

 Căn cứ theo cách thức đầu tư, đầu tư chứng khoán

bao gồm: đầu tư trực tiếp (tự đầu tư) và đầu tư gián

tiếp thông qua các quỹ đầu tư (đầu tư ủy thác)

Đầu tư thông qua một quỹ đầu tư là cách làm chuyên nghiệp và hiệu quả mà các nhà đầu tư cá nhân ở các nước phát triển thường thực hiện Thay vì tự mình nghiên cứu thông tin và ra quyết định đầu tư, nhà đầu tư sẵn sàng giao phó công việc này cho công ty quản lý quỹ theo các tiêu chí và mục tiêu định sẵn Công ty quản lý quỹ gom tiền từ các nhà đầu tư khác nhau, hình thành một quỹ đầu tư và tiến hành đầu tư theo tiêu chí và mục tiêu của quỹ Với việc tập trung hóa và chuyên môn hóa cao, quỹ đầu tư có nhiều ưu điểm so với tự đầu tư, đó là:

o Tăng cường khả năng quản lý bởi các chuyên gia tài chính được đào tạo bài bản;

o Giảm rủi ro thông qua đa dạng hóa danh mục đầu tư Với số tiền tập trung lớn, cho phép việc đa dạng hóa được thực hiện dễ dàng và hiệu quả;

o Tiết kiệm chi phí giao dịch và quản lý so với việc xé lẻ các khoản đầu tư;

o Nhà đầu tư có nhiều sự lựa chọn loại quỹ muốn tham gia dựa theo tiêu chí rủi

ro và mục tiêu đầu tư

 Căn cứ vào thời gian đầu tư, đầu tư chứng khoán

bao gồm: đầu tư ngắn hạn, đầu tư dài hạn

Đầu tư ngắn hạn có thể thực hiện theo các hình

thức sau:

o Đầu tư trái phiếu ngắn hạn: hình thức đầu tư

này thường thích hợp với các nhà đầu tư ngại rủi ro Do tính hoán tệ của các trái phiếu ngắn hạn cao nên chi phí chuyển đổi thành tiền không lớn, thời gian chuyển đổi thành tiền ngắn

o Đầu tư cổ phiếu, trái phiếu dài hạn và bán đi khi cần thiết Với hình thức đầu tư này nhà đầu tư có thể thu được món lợi lớn qua các thương vụ đầu tư nhưng mức

độ rủi ro cũng rất cao và vì thế nó chỉ thích hợp với những nhà đầu tư mạo hiểm Đầu tư dài hạn có thể thực hiện theo các hình thức sau:

o Đầu tư cổ phiếu: Trong hình thức đầu tư này thu nhập của nhà đầu tư không chỉ

là cổ tức và giá trị cổ phiếu gia tăng theo thời gian mà nhà đầu tư còn là chủ sở hữu, tham gia quản lý và kểm soát công ty tương ứng với tỉ lệ sở hữu cổ phiếu

o Đầu tư trái phiếu dài hạn: Trong hình thức này, nhà đầu tư nhận được trái tức theo định kỳ nhất định nào đó, nhưng khác với đầu tư trái phiếu ngắn hạn, lãi suất trái phiếu dài hạn thường cao hơn

Việc phân chia hoạt động đầu tư theo thời gian chỉ có tính tương đối, vì:

o Mục tiêu cuối cùng của tất cả các hoạt động đầu tư dù là ngắn hạn hay dài hạn đều là tối đa hóa lợi ích;

o Sự chuyển giao giữa các hình thức đầu tư trên có thể thực hiện một cách dễ dàng do phát sinh nhu cầu thanh toán đột xuất hoặc do sự biến động giá cả trên

Trang 5

thị trường Một nhà đầu tư có ý định mua cổ phiếu hoặc trái phiếu dài hạn và giữ chúng lâu dài, nhưng vì một lý do nào đó, ví dụ như giá cổ phiếu tăng giảm quá mạnh, do nhu cầu chi tiêu đột xuất quá lớn họ sẽ bán chứng khoán đó đi để chuyển hướng đầu tư hoặc đáp ứng nhu cầu thanh toán Ngược lại, một nhà đầu

tư mua trái phiếu dài hạn hoặc cổ phiếu với mục đích đầu tư ngắn hạn, nhưng

do giá các chứng khoán đã đầu tư liên tục gia tăng nên họ có thể quyết định nắm giữ chúng trong dài hạn

Do theo đuổi mục tiêu tìm kiếm lợi ích tối đa và hạn

chế thấp nhất những rủi ro cũng như đáp ứng nguyện

vọng có thể dễ dàng chuyển chứng khoán thành tiền

khi cần thiết, nên trước khi ra quyết định đầu tư, nhà

đầu tư cần nghiên cứu và cân nhắc các yếu tố sau:

 Thu nhập

Thu nhập là mục đích của đầu tư Vì vậy, thu nhập

là yếu tố đầu tiên mà nhà đầu tư cần quan tâm tính toán và phân tích trước khi ra quyết định đầu tư Thu nhập trong đầu tư chứng khoán thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: ví dụ: lợi tức trái phiếu (trái tức), lợi tức cổ phiếu (cổ tức), chênh lệch giá trên thị trường, chênh lệch giá trị sổ sách của cổ phiếu qua quá trình tích lũy vốn của công ty cũng như sự xuất hiện của các tài sản vô hình… Do đó, để có thể đánh giá được mức thu nhập trong hoạt động đầu tư, nhà đầu tư không chỉ quan tâm tới mức lãi suất, hoặc các lợi tức hiện hành (đặc biệt đối với cổ phiếu)

mà phải đặt sự chú ý nhiều hơn đối với triển vọng của công ty phát hành và những thay đổi trong tổng số cổ đông Thông thường trong phân tích khả năng thu nhập của các cổ phiếu, người ta thường sử dụng các hệ số chi trả cổ tức, hệ số thị giá/ thư giá (P/B), hệ số P/E, tốc độ tăng trưởng của công ty…

 Rủi ro

Rủi ro trong đầu tư chứng khoán là khả năng xảy ra

những sự cố không lường trước, và khi nó xảy ra

làm thu nhập thực tế khác thu nhập dự kiến

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong đầu tư

chứng khoán và theo đó tác động của chúng đến

thu nhập thực tế cũng rất khác nhau, với các đặc

trưng và mức độ rủi ro cao thấp khác nhau Khi đầu tư chứng khoán, nhà đầu tư có thể phải chấp nhận một số loại rủi ro chính sau đây:

o Rủi ro lãi suất: là sự tổn thất, suy giảm hiệu quả vốn đầu tư do biến động của lãi suất thị trường

o Rủi ro sức mua: là sự suy giảm thu nhập thực tế của chứng khoán do sự sa sút

về sức mua của tiền tệ

o Rủi ro thị trường: là những biến động của thị trường (quan hệ cung cầu, cạnh tranh giữa các nhà đầu tư…) dẫn đến sự mất giá của chứng khoán đang được giao dịch trên thị trường

Trang 6

o Rủi ro quản lý: là những sai sót và nhầm lẫn của các nhà quản trị doanh nghiệp phát hành chứng khoán dẫn đến sự giảm sút về hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, làm ảnh hưởng đến lợi nhuận đầu tư chứng khoán

o Rủi ro phá sản: là rủi ro do sự phá sản của tổ chức phát hành (chủ yếu là các doanh nghiệp) gây ra những tổn thất về vốn đầu tư và lợi nhuận dự kiến của các nhà đầu tư chứng khoán

o Rủi ro thanh khoản: là sự suy giảm về tính thanh khoản của chứng khoán biểu hiện dưới hình thức tăng chi phí chuyển đổi chứng khoán thành tiền và từ đó làm giảm lợi nhuận dự kiến của chứng khoán

o Rủi ro ngành: là những biến động của ngành làm giảm lợi nhuận đầu tư chứng khoán

Ngoài ra, còn có thể phát sinh nhiều loại rủi ro khác như rủi ro kỹ thuật, rủi ro đạo đức, rủi ro pháp luật… Nhận dạng và tiên liệu trước các rủi ro có thể phát sinh đối với mỗi hình thức đầu tư là biện pháp quan trọng giúp nhà đầu tư đạt được các mục tiêu đặt ra trong đầu tư chứng khoán

 Tính thanh khoản của chứng khoán

Tính thanh khoản của chứng khoán là yếu tố quan

trọng tác động đến các quyết định đầu tư chứng

khoán Bởi vì, hầu hết các nhà đầu tư không phải

lúc nào cũng tính trước được những nhu cầu tiêu

dùng để xác định lượng tiền dự trữ phục vụ yêu cầu

thanh toán, nên hành động bán chứng khoán để đáp

ứng nhu cầu chi trả có thể xảy ra bất cứ lúc nào

Mặt khác, do nhiều yếu tố tác động khác nhau mà

nhu cầu và mục tiêu đầu tư có thể thay đổi theo

thời gian, và do đó nhu cầu hoán tệ (bán chứng khoán) cũng sẽ nảy sinh Trên thực

tế, khả năng thanh khoản của chứng khoán phụ thuộc vào một số yếu tố cơ bản sau:

o Số người nắm giữ chứng khoán: loại chứng khoán nào được phát hành rộng rãi

ra công chúng thì số người nắm giữ chứng khoán đông đảo hơn, từ đó việc mua bán chúng cũng phổ biến và dễ dàng hơn

o Chất lượng của chứng khoán: thể hiện chủ yếu ở mức độ an toàn của chứng khoán và điều này lại phụ thuộc vào khả năng thanh toán của tổ chức phát hành Thông thường những chứng khoán có rủi ro tiềm ẩn thấp thì tính hoán tệ cao và ngược lại

o Chi phí giao dịch: việc mua bán trên TTCK chủ yếu được thực hiện thông qua các nhà môi giới Vì thế, các nhà đầu tư luôn phải trả một khoản chi phí nào đó khi mua bán chứng khoán Nếu khoản chi phí là hợp lý, nhà đầu tư có thể dễ dàng bán chứng khoán khi cần thiết, ngược lại nếu chi phí quá cao nhà đầu tư

sẽ phải cân nhắc kỹ trước khi ra quyết định dẫn tới thời gian bán chứng khoán kéo dài, làm giảm tính hoán tệ của chứng khoán Thông thường, tính hoán tệ của chứng khoán tỉ lệ thuận với khả năng sinh lợi, tỉ lệ nghịch với tính rủi ro và thời gian đáo hạn của chứng khoán

o Chế độ quản lý ngoại hối: các nhà đầu tư nước ngoài, khi bán chứng khoán

và chuyển thu nhập về nước thường chuyển đổi ra tiền nước ngoài Do đó, nếu thủ tục chuyển đổi ngoại hối phức tạp, thời gian thanh toán kéo dài, đứng trên

Trang 7

giác độ là nhà đầu tư nước ngoài, tổng thời gian để chuyển đổi chứng khoán thành loại tiền mà họ yêu cầu sẽ lâu hơn, và đó cũng là một nguyên nhân cản trở đối với nhà đầu tư nước ngoài

 Tâm lý và bản lĩnh của nhà đầu tư

Có thể nói rằng, trong đầu tư chứng khoán, nếu thu

nhập (doanh lợi) kỳ vọng là động lực thôi thúc, lôi

kéo các nhà đầu tư sẵn sàng tiếp cận các quyết định

đầu tư thì ngược lại, rủi ro luôn là một trở ngại, làm

giảm sự nhiệt tình đó, buộc họ phải cẩn trọng, cân

nhắc Thu nhập là cái mà nhà đầu tư có thể nhận

được, ngược lại rủi ro là cái giá vô hình cho mức

thu nhập dự kiến trong tương lai mà nhà đầu tư phải chấp nhận nếu muốn đạt được mục tiêu của mình Thu nhập và rủi ro đồng thời hiện hữu với các quyết định đầu

tư Tuy nhiên, việc ra quyết định lựa chọn loại chứng khoán, phương thức đầu tư cũng có những điểm khác biệt giữa các nhà đầu tư Ngoài thu nhập, rủi ro và khả năng thanh khoản, một quyết định đầu tư nào đó còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu

tố chủ quan của nhà đầu tư như: trình độ kiến thức, kinh nghiệm, tâm lý và bản lĩnh của nhà đầu tư Thông thường trên TTCK có 3 nhóm nhà đầu tư:

o Nhóm những người có năng lực, kiến thức và bề dày kinh nghiệm Thêm vào

đó họ sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm Nhóm người này thường lựa chọn những chứng khoán có khả năng rủi ro cao, đổi lại họ sẽ có một mức thu nhập tương xứng với cái giá họ phải chấp nhận Đây là nhóm người đại diện cho những nhà đầu tư cổ phiếu, hoặc các loại trái phiếu dài hạn của các công ty

o Nhóm những người mua, bán chứng khoán theo trào lưu là những người thiếu bản lĩnh, lý trí, kinh doanh một cách thụ động Loại chứng khoán mà họ mua, bán là tất cả các loại chứng khoán hiện hữu đang được giao dịch sôi động trên thị trường

o Nhóm những người thuộc trường phái thận trọng, không dám chấp nhận mạo hiểm, đổi lại họ sẽ có những khoản thu nhập chắc chắn khiêm tốn trong tương lai Chứng khoán mà họ sẵn sàng giao dịch là những chứng khoán có mức thu nhập hợp lý với một hệ số an toàn khá cao, điển hình là trái phiếu chính phủ ngắn hạn

Câu chuyện chứng khoán: Lời khuyên đầu tư vô giá

“Đầu tư vào một công ty tuyệt vời với một mức giá hợp lý sẽ tốt hơn nhiều việc đầu

tư vào một công ty hợp lý với một mức giá tuyệt vời” Nếu có thể lĩnh hội đầy đủ lời

khuyên đơn giản này từ cây đại thụ Warren Buffett, bạn hẳn đã là một nhà đầu tư hiệu quả Trên thị trường chứng khoán, có rất nhiều chiến lược đầu tư khác nhau, nhưng công thức đầu tư của Buffett không chỉ dễ dàng thực hiện mà còn diễn giải

rõ ràng những thành công có một không hai của nhà đầu tư huyền thoại này trên thị trường hơn 50 năm qua Vì vậy, tại sao bạn lại phải thử một chiến lược khác nào đó? Một nghiên cứu thú vị mới đây đã cho thấy kỷ lục đầu tư kỳ diệu của Buffett Trong thời gian từ năm 1980 đến năm 2003, danh mục đầu tư cổ phiếu của Berkshire Hathaway, công ty đầu tư do Buffett quản lý, đã đánh bại chỉ số S&P 500 trong 20 năm liền Cùng thời gian đó, mức lợi nhuận trung bình của Berkshire Hathaway từ danh mục đầu tư cổ phiếu luôn ở mức 12,24% trong cả những thời kỳ khủng hoảng

Trang 8

của thị trường Các học thuyết về thị trường đã dự đoán điều này là không thể Nhưng các học thuyết này đã sai trong trường hợp của Buffett Buffett quan niệm rằng cổ phiếu chỉ là tờ giấy chứng nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với công ty đó Ông không đầu tư vào cổ phiếu, mà đầu tư vào công ty

Và từ đó, Buffett đã đảm bảo những khoản lợi nhuận kỷ lục bằng việc mua cổ phiếu của rất nhiều công ty tuyệt vời như Gillette, Washington Post Ngoài ra, Berkshire còn có mặt trong các công ty khác như Nike, M&T Bank và Wesco Financial Quả vậy, giá trị khoản đầu tư của ông vào Gillette đã tăng gấp 3 lần trong suốt thập niên 90 Những

cổ phiếu Buffett hướng tới thường là cổ phiếu của các công ty lớn có tiếng tăm, tiềm lực tài chính mạnh, thành tích kinh doanh vững chắc, lợi nhuận ổn định Việc nắm giữ cổ phiếu này sẽ giảm thiểu yếu tố rủi ro, ngay cả trong thời kỳ suy thoái hay khủng hoảng kinh tế Chiến lược này phù hợp với những nhà đầu tư ngại rủi ro

và muốn có thu nhập đều đặn Rõ ràng việc mua cổ phiếu của những công ty lớn với mức giá hợp lý sẽ đảm bảo những khoản lợi nhuận ổn định cho các nhà đầu tư dài hạn

Chứng khoán là loại hàng hóa đặc biệt, chất lượng và

giá trị của chúng không được chứa đựng trong các

bằng chứng pháp lý xác nhận sự tồn tại của chứng

khoán như các hàng hóa khác mà nó phụ thuộc vào

thực trạng hoạt động và tương lai của tổ chức phát

hành Bên cạnh đó, giá trị chứng khoán còn phụ thuộc

vào nhiều yếu tố khác như sự thay đổi của môi trường

kinh doanh, diễn biến của thị trường chứng khoán

Vì vậy, để có thể đánh giá được chất lượng và giá trị của chứng khoán làm cơ sở cho việc ra các quyết định đầu tư, người ta thường phải tiến hành các hoạt động phân tích

về chứng khoán và TTCK

Phân tích đầu tư chứng khoán là các hoạt động thu thập thông tin, phân tích, đánh giá

về chứng khoán và TTCK trong quá khứ, hiện tại và dự báo tương lai

 Mục đích của phân tích đầu tư chứng khoán

o Mục đích trung gian

 Lựa chọn chứng khoán để đầu tư Trên TTCK, số lượng chứng khoán nhiều hay ít tùy thuộc vào thực tế phát triển của nó Thị trường càng phát triển, số lượng chứng khoán được phát hành và niêm yết càng nhiều Bằng những giác quan thông thường, nhà đầu

tư không thể biết được loại chứng khoán nào tốt, loại chứng khoán nào không tốt để ra quyết định đầu tư Bởi mỗi loại chứng khoán khác nhau thì hiệu quả và rủi ro cũng tồn tại ở các mức độ khác nhau Vì vậy thông qua các hoạt động phân tích (phân tích cơ bản - fundamental analysis), nhà đầu

tư sẽ có cơ sở để chọn mua những chứng khoán có triển vọng tốt nhưng đang bị thị trường đánh giá thấp

Trang 9

 Lựa chọn thời điểm mua, bán chứng khoán Giống như các hình thức đầu tư khác, quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư bao giờ cũng gắn với những cơ hội và rủi ro tiềm ẩn trong suốt quá trình đầu tư Với những diễn biến theo các chiều hướng khác nhau của thị trường, đòi hỏi nhà đầu tư phải có những phản ứng tức thời với các quyết định tối ưu Chính bởi vậy, việc phân tích đầu tư chứng khoán được coi là tiền đề, là cơ sở quan trọng cho những phản ứng và quyết định

đó Thông qua các dữ liệu, các thông tin có độ tin cậy cao và bằng những phương pháp phân tích phù hợp (phân tích kỹ thuật – technical analysis), nhà đầu tư xác định được thời điểm mua, bán; nhờ đó có thể chớp được những cơ hội mà thị trường mang lại

o Mục đích cuối cùng

Phân tích đầu tư chứng khoán là một trong những công cụ hữu hiệu giúp nhà đầu tư thực hiện các mục tiêu trong đầu tư chứng khoán, đó là:

 Tối đa hoá hiệu quả vốn đầu tư,

 Tối thiểu hoá rủi ro trong đầu tư chứng khoán

 Yêu cầu của phân tích đầu tư chứng khoán

o Đưa ra được các kết quả phân tích, đánh giá về mỗi loại chứng khoán - trong quá khứ, hiện tại và triển vọng tương lai để làm cơ sở cho việc ra quyết định loại chứng khoán, hoặc danh mục chứng khoán đầu tư

Hoạt động phân tích đầu tư chứng khoán ra đời và song song tồn tại cùng với

sự hiện diện của chứng khoán, đầu tư chứng khoán Cùng với sự phát triển của TTCK, vai trò của của phân tích đầu tư chứng khoán càng được khẳng định và thể hiện một cách rõ ràng hơn Để phát huy được vai trò của mình, phân tích đầu tư chứng khoán phải phân loại, chọn lọc các thông tin từ các nguồn cung cấp đa dạng, phải áp dụng các phương pháp phân tích phù hợp và phải có một

nhận định toàn diện để đưa ra các cơ sở tin cậy cho các quyết định đầu tư

o Đưa ra được các biểu đồ, đồ thị về quy mô giao dịch, diễn biến về giá, chỉ số giá của từng loại chứng khoán, của một nhóm ngành, của từng thị trường và các chỉ số khác của TTCK…, nhận dạng các xu thế về giá trong quá khứ, hiện tại và dự báo trong tương lai

Với các TTCK phát triển sôi động, diễn biến thị trường thường rất phức tạp, thậm chí chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn Sự chi phối khắc nghiệt của quy luật cạnh tranh, cơ chế tự điều tiết với sự chi phối của quy luật cung cầu đã và đang đặt ra cho các nhà đầu tư phải lựa chọn chứng khoán và thời điểm thích hợp để đầu tư Khi nào thì nên mua, hoặc bán chứng khoán, đó là bài toán cần có lời giải đáp Câu trả lời chỉ có thể có được nếu các nhà phân tích đầu tư chứng khoán đưa ra được các biểu đồ, đồ thị và nhận dạng được các trào lưu lên xuống của giá chứng khoán trong quá khứ, hiện tại và dự báo được xu thế về giá trong tương lai

Trang 10

5.2.2 Phân tích cơ bản (fundamental analysis)

5.2.2.1 Khái niệm

Phân tích cơ bản bao gồm các hoạt động phân tích môi trường đầu tư (như phân tích nền kinh tế toàn cầu, phân tích nền kinh tế quốc gia, phân tích ngành) và phân tích doanh nghiệp làm cơ sở cho việc ra quyết định thị trường đầu tư, lĩnh vực và danh mục các loại chứng khoán đầu tư

5.2.2.2 Phân tích kinh tế vĩ mô và phân tích ngành

Trong nền kinh tế thị trường, nhất là trong xu thế hội nhập sự tồn tại, phát triển cũng như sự suy thoái của các doanh nghiệp là hệ quả tất yếu khách quan, đôi khi hoàn toàn không phụ thuộc vào chủ quan của chính bản thân doanh nghiệp Tương lai của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào viễn cảnh của nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế quốc gia, xu hướng phát triển của ngành và các chiến lược kinh doanh cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp Xu hướng biến động giá cổ phiếu cũng như khả năng cổ tức và thu nhập dự kiến của doanh nghiệp phụ thuộc vào tương lai của doanh nghiệp

Do đó, để có thể lựa chọn chứng khoán và các phương thức đầu tư tối ưu thì việc phân tích và dự đoán tương lai của doanh nghiệp phát hành chứng khoán trong mối quan hệ hữu cơ với các tình huống kinh tế vĩ mô và ngành sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả vốn đầu tư

 Phân tích nền kinh tế toàn cầu

Xu hướng kinh tế hội nhập đã tạo ra một sự ràng buộc

lẫn nhau về sự phát triển của các nền kinh tế cũng như

bản thân các doanh nghiệp Trong thời đại ngày nay,

sự tăng trưởng hoặc suy thoái kinh tế của quốc gia,

khu vực này sẽ là một trong những nguyên nhân dẫn

đến sự tăng trưởng hoặc suy thoái kinh tế tất yếu của

các quốc gia khác Điều đó đã đặt ra không ít các câu hỏi khác nhau cho các chuyên gia kinh tế trong phân tích nền kinh tế toàn cầu về các yếu tố cũng như sự ảnh hưởng của nó tới các nền kinh tế

Các yếu tố cơ bản thuộc môi trường kinh tế toàn cầu có ảnh hưởng đến tương lai của doanh nghiệp bao gồm:

o Các diễn biến về chính trị trong khu vực cũng như của từng quốc gia;

o Tốc độ tăng trưởng GDP của các khu vực cũng như của từng quốc gia;

o Các chiến lược và chính sách kinh tế tài chính của các quốc gia như: chính sách

tỷ giá, chính sách lãi suất, hàng rào thuế quan, chính sách bảo hộ cho nền kinh

Trang 11

 Phân tích nền kinh tế quốc gia

Thực tế đã chứng minh rằng bên cạnh sự ảnh hưởng của nền kinh tế toàn cầu, mỗi nền kinh tế của từng quốc gia đều có những thế mạnh và khó khăn riêng trong chiến lược phát triển của mình Điều đó đã là lời giải đáp thỏa đáng là tại sao trong cùng một giai đoạn lịch sử có những nền kinh tế ổn định và tăng trưởng, nhưng ngược lại có không ít những nền kinh tế vẫn chưa thể thoát ra khỏi cảnh đói nghèo

và lạc hậu Nền kinh tế quốc gia là ngôi nhà thường trú mà trong đó các doanh nghiệp tồn tại và hoạt động Do đó, để đánh giá tương lai của một doanh nghiệp thì không được bỏ qua việc xem xét môi trường kinh tế vĩ mô của quốc gia sở tại Các yếu tố cơ bản thuộc môi trường kinh tế vĩ mô của các quốc gia ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của các doanh nghiệp trong tương lai bao gồm:

o Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): sự tăng trưởng GDP phản ánh sự phồn thịnh của quốc gia, là chỉ tiêu cơ bản phản ánh tổng quát thực trạng của nền kinh tế, thể hiện mức độ cơ hội để doanh nghiệp có thể thực thi các chiến lược đầu tư

và phát triển sản xuất kinh doanh của mình

o Tỷ lệ lạm phát: là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá thực lực cũng như triển vọng phát triển của từng nền kinh tế Tỷ lệ lạm phát cao và có

xu hướng gia tăng làm giảm sút thu nhập thực tế từ đầu tư chứng khoán

o Tỷ lệ thất nghiệp: là tỉ lệ người lao động trong

tổng lực lượng lao động chưa tìm được việc làm Chỉ tiêu này phản ánh công suất hoạt động của nền kinh tế Tuy nhiên, khi xem xét chỉ tiêu này cũng cần phải đặt trong mối quan hệ về trình độ phát triển công nghệ của từng quốc gia

để có thể đánh giá khách quan nền kinh tế của từng quốc gia

o Lãi suất: lãi suất bình quân của nền kinh tế là yếu tố cơ bản cấu thành chi phí

sử dụng vốn, chi phối thường xuyên đến quá trình ra các quyết định đầu tư Các mức lãi suất cao sẽ làm giảm giá trị hiện tại của các dòng tiền tương lai, từ

đó làm giảm tính hấp dẫn của các cơ hội đầu tư chứng khoán Lãi suất (lãi suất thực) là yếu tố chủ yếu cấu thành chi phí đầu tư kinh doanh, là giới hạn để lựa chọn phương hướng đầu tư Do đó, khi phân tích tìm kiếm cơ hội đầu tư chứng khoán, chúng ta phải xem xét và dự báo lãi suất Lãi suất phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố như: quy mô nguồn tiền gửi tiết kiệm; quan hệ cung cầu vốn trong nền kinh tế; sự can thiệp của Chính phủ;

o Thâm hụt ngân sách: Là yếu tố ảnh hưởng đến các quyết định tăng thu ngân sách và cắt giảm chi tiêu của chính phủ, tăng lãi suất huy động vốn, từ đó sẽ ảnh hưởng đến lãi suất thị trường, giá cả và tình hình lạm phát, nghĩa vụ đóng thuế của các chủ thể kinh doanh, nhu cầu của thị trường,

o Tâm lý của công chúng: tâm lý của công chúng ảnh hưởng trực tiếp quy mô cầu tiêu dùng của thị trường Nếu người tiêu dùng tin vào thu nhập trong tương lai của họ sẽ tăng thì họ sẵn sàng tăng chi tiêu Tương tự, nếu người kinh doanh

dự đoán rằng nhu cầu đối với sản phẩm của họ sẽ tăng thì họ sẽ gia tăng sản xuất và dự trữ Do đó, tâm lý của công chúng người tiêu dùng ảnh hưởng đến

Trang 12

tổng cầu của nền kinh tế nói chung cũng như cơ hội mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

o Chu kỳ của nền kinh tế: sự thay đổi tuần hoàn các trạng thái kinh tế theo trình

tự: Tăng trưởng - Suy thoái - Phục hồi của nền kinh tế quốc gia có ảnh hưởng

rất lớn đến tương lai của các doanh nghiệp Điều này lưu tâm các nhà đầu tư chứng khoán rằng trong đầu tư luôn luôn phải có một cái nhìn xa hơn, rộng hơn

về viễn cảnh của doanh nghiệp trong mối quan hệ với chu kỳ của nền kinh tế

o Phân tích chính sách của Chính phủ

“ Người ta không thể vỗ tay bằng một bàn tay”

Điều đó đã khẳng định vai trò tất yếu khách quan của Nhà nước, của Chính phủ đối với nền kinh tế của từng quốc gia Nói cách khác, sự phát triển hay suy thoái của nền kinh tế vĩ mô chịu sự chi phối trực tiếp bởi vai trò quản lý và điều tiết của Nhà nước Trong phân tích chính sách của Chính phủ liên quan tới đầu tư chứng khoán cần quan tâm đến 2 chính sách lớn là:

o Chính sách tài chính: chính sách tài chính của Chính phủ bao gồm các chính sách thuế và chính sách chi tiêu của Chính phủ cho đầu tư phát triển Thuế là một định chế tài chính ảnh hưởng trực tiếp tới chính sách giá cả hàng hóa của doanh nghiệp, đến thu nhập thực tế của người tiêu dùng và các chủ thể kinh doanh Tương tự, tăng hoặc giảm chi tiêu của Chính phủ sẽ làm thay đổi quy

mô nhu cầu tiêu dùng đối với hàng hoá, dịch vụ

o Chính sách tiền tệ: chính sách tiền tệ của Nhà nước có liên quan đến việc huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, điều tiết cung ứng tiền tệ để kích thích đầu tư và tiêu dùng, từ đó ảnh hưởng đến cơ chế lãi suất Bởi vậy, chính sách tiền tệ của Chính phủ sẽ chi phối đến chiến lược huy động vốn, kế hoạch đầu tư phát triển của doanh nghiệp

Khi phân tích về môi trường pháp luật của một quốc gia cần quan tâm đến các khía cạnh: tính đồng bộ, tính khả thi, tính hiệu quả, tính ổn định và tính quốc tế của hệ thống pháp luật đó Một môi trường pháp lý đồng bộ, hiệu quả, ổn định… là môi trường tốt cho hoạt động đầu tư chứng khoán, góp phần hạn chế rủi ro, và ngược lại một môi trường pháp lý không đồng bộ, hiệu lực thấp, thay đổi thường xuyên… sẽ làm gia tăng nguy cơ rủi ro pháp luật trong đầu tư chứng khoán

 Phân tích ngành

Phân tích ngành thực chất là phân tích quan hệ cung – cầu một, hoặc một nhóm hàng hóa, dịch vụ do một ngành nào đó đảm nhận Doanh nghiệp là một trong những hạt nhân trực tiếp cấu thành cung của ngành Khi phân tích ngành cần quan tâm đến các nội dung cơ bản:

o Phân tích chu kỳ sống của sản phẩm: Chu kỳ sống của sản phẩm liên quan trực tiếp tới chiến lược quy mô sản xuất, kinh doanh của từng doanh nghiệp Tương thích với các giai đoạn trong chu kỳ sống sản phẩm, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm đó thay đổi thì hiệu quả vốn đầu tư của doanh nghiệp cũng sẽ bị thay đổi

Trang 13

Dưới góc độ đầu tư chứng khoán, các nhà đầu tư không những quan tâm tới lợi nhuận của một kỳ đầu tư trong hiện tại mà còn phải quan tâm tới lợi nhuận kỳ vọng trong tương lai đối với các chứng khoán có thể đầu tư Với khía cạnh đó, khi nào mua, khi nào bán chứng khoán là một trong những vấn đề mà nhà đầu

tư phải quan tâm

o Phân tích cơ cấu và các thế lực của ngành:

Thương trường như chiến trường Đó là hệ quả tất yếu của cơ chế thị trường do sự hiện diện và chi phối của quy luật cạnh tranh Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp là tổng hòa của các yếu tố như: khả năng tài chính, công nghệ, kinh nghiệm tổ chức và quản lý kinh doanh, uy tín tên tuổi của doanh nghiệp… Ảnh hưởng của cạnh tranh tới sự sống còn của các doanh nghiệp thường được biểu hiện dưới các hình thức như: mối đe doạ xâm nhập của các đối thủ cạnh tranh hiện hữu cũng như các đối thủ tiềm năng, sức ép từ các sản phẩm cùng loại thay thế, thế độc quyền của người mua, người bán

o Xác định hệ số rủi ro của ngành (hệ số β), từ đó tính toán lợi suất đòi hỏi của nhà đầu tư theo mô hình CAPM

E(R) = Rf + β(Rm – Rf) Trong đó: E(R) là mức lợi suất đòi hỏi của nhà đầu tư

Rf: Lãi suất phi rủi ro Rm: Mức sinh lời bình quân của thị trường β: Hệ số rủi ro của ngành

Phân tích ngành có vai trò quan trọng tác động trực tiếp đến hiệu quả của mỗi quyết định đầu tư

o Tỷ suất sinh lời của các ngành là khác nhau  việc phân tích ngành sẽ giúp nhà đầu tư chọn được những ngành có lợi suất cao để đầu tư

o Ngay trong một ngành, lợi suất cũng không ổn định  việc phân tích ngành sẽ giúp nhà đầu tư tìm được cơ hội đầu tư và rút vốn đầu tư đúng lúc

o Các ngành khác nhau có mức độ rủi ro khác nhau  việc phân tích ngành sẽ giúp nhà đầu tư có thể đánh giá mức độ rủi ro của ngành để xác định mức lợi suất đầu tư tương xứng cần phải đạt được

5.2.2.3 Phân tích doanh nghiệp

Trong đầu tư, ngạn ngữ thường có câu: “Trông giỏ bỏ thóc” Không có một nhà đầu tư

nào lại không quan tâm tới địa chỉ nơi mà anh ta muốn đầu tư vốn để tìm kiếm một mức lợi nhuận như mong muốn với rủi ro thấp nhất Doanh nghiệp là nơi trực tiếp sử dụng vốn đầu tư và là nơi trực tiếp hứa hẹn sẽ đem lại những lợi ích kinh tế cho nhà đầu tư Bởi vậy, việc phân tích doanh nghiệp có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, liên quan trực tiếp tới việc lựa chọn chứng khoán để đầu tư

Trang 14

 Phân tích chung về doanh nghiệp

o Lịch sử của doanh nghiệp

Đôi khi việc nghiên cứu quá khứ của một doanh nghiệp là điều rất có ích để có thể hiểu rõ được chiến lược phát triển của nó ở hiện tại và tương lai Ví dụ: một doanh nghiệp phát triển mạnh

mẽ bằng việc thâu tóm các doanh nghiệp khác

sẽ hầu như không có sự thay đổi trong chiến lược của nó trong tương lai, trừ khi có biến động lớn về cơ cấu quyền lực

o Nguồn nhân lực

Con người là yếu tố có tính quyết định đến hiệu quả kinh doanh, đến sự tồn vong và phát triển của một doanh nghiệp Trong phân tích về nguồn nhân lực người ta thường quan tâm đến hai dạng sau:

o Người lãnh đạo

Thực tế cho thấy, khả năng của người lãnh đạo, uy tín, tiếng tăm của họ là nguyên nhân dẫn đến những thành công của các doanh nghiệp mà họ điều hành Người lãnh đạo trong các công ty cổ phần lớn thường có tầm nhìn xa trông rộng hơn các chủ doanh nghiệp nhỏ Các nhà lãnh đạo sắp đến tuổi nghỉ hưu cũng có xu hướng hạn chế việc theo đuổi các dự án cỡ lớn Điều này có nguy cơ làm giảm khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp trong nhiều năm sau Chính vì thế tuổi tác cũng có tầm quan trọng như khả năng quản lý của người lãnh đạo

tố tác động trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực của mỗi doanh nghiệp

o Nguồn lực tài chính

Chiến lược của một doanh nghiệp phải được đặt trong mối quan hệ với khả năng tài chính của nó Người ta sẽ suy nghĩ như thế nào về một doanh nghiệp khẳng định mong muốn phát triển nhờ vào những nguồn lực bên ngoài, vay nợ nhiều nhưng lại không có tài sản gì đáng kể? Một doanh nghiệp có nguồn lực tài chính hùng mạnh là điều kiện tốt để không ngừng nâng cao vị thế, thương hiệu và khả năng chiếm lĩnh thị trường, không chỉ trong nước mà còn cả thị trường quốc tế

o Khách hàng và nhà cung cấp

Sự phát triển của một doanh nghiệp cũng phụ thuộc rất nhiều vào khách hàng và nhà cung cấp của họ Hãy thử tưởng tượng, nếu doanh nghiệp có một khách hàng

Trang 15

chiếm tới hơn 50% doanh số thì điều gì sẽ xảy

ra nếu khách hàng đó chuyển sang mua hàng của một nhà cung cấp khác, hoặc khách hàng đó lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán Vì

lý do đó, một doanh nghiệp quá tập trung vào một nhóm khách hàng hay nhà cung cấp, hoặc chỉ có một số khách hàng lớn thường bị đánh giá có mức độ ổn định tài chính và khả năng thanh toán thấp hơn so với những doanh nghiệp có nhiều khách hàng nhỏ

o Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp

Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là một trong những căn cứ quan trọng

để xác định lợi nhuận dự kiến của các kỳ đầu tư chứng khoán trong tương lai Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là các định hướng phát triển có tính chất dài hạn được thể hiện trên các kế hoạch chủ yếu của doanh nghiệp như:

 Kế hoạch đầu tư phát triển công nghệ,

 Kế hoạch sản phẩm,

 Kế hoạch phát triển thị trường,

 Kế hoạch huy động vốn dài hạn,

 v.v…

Một chiến lược kinh doanh mang tính khả thi là một chiến lược được hoạch định trên cơ sở các tham chiếu về tình hình và triển vọng của thị trường nội địa cũng như thị trường quốc tế, về chính sách kinh tế vĩ mô và sự can thiệp của Chính phủ, về khả năng đáp ứng của doanh nghiệp cho các chỉ tiêu kế hoạch…Với các nhà đầu tư, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là một trong những căn cứ quan trọng để lựa chọn địa chỉ đầu tư vốn của mình

 Phân tích tài chính doanh nghiệp

Tình hình tài chính doanh nghiệp được ví như một

bức tranh toàn cảnh sống động và đầy đủ về “tình

trạng sức khỏe” của một doanh nghiệp Nếu xem

xét các báo cáo tài chính doanh nghiệp giống như

là bảng liệt kê các thông số ban đầu về thể trạng

của cơ thể con người, thì phân tích các báo cáo tài

chính được ví như việc các bác sĩ thực hiện các xét

nghiệm, giải phẫu để chẩn đoán bệnh Do đó, phân tích và đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp được coi là một trong những nội dung quan trọng và không thể bỏ qua khi quyết định đầu tư vào cổ phiếu hay trái phiếu của một doanh nghiệp cụ thể, bởi vì tình hình tài chính hiện tại sẽ ảnh hưởng rất lớn tới tương lai của doanh nghiệp

 Nguồn thông tin phục vụ cho phân tích tài chính doanh nghiệp

Thông thường, để xem xét và đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, các nhà phân tích căn cứ vào các dữ liệu thực tế được phản ánh thông qua các báo cáo tài chính của doanh nghiệp đã được kiểm toán và được công khai trên TTCK

Trang 16

(1) Bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả thực trạng về tình hình tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định (thường là thời điểm kết thúc một niên độ kế toán)

Ý nghĩa của bảng cân đối kế toán

I Tài sản lưu động và ĐTNH (tài sản ngắn hạn)

1 Tiền và các khoản tương đương tiền

2 Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn

3 Các khoản phải thu

II TSCĐ và ĐTDH (tài sản dài hạn)

1 Các khoản phải thu dài hạn

- Lợi nhuận chưa phân phối…

2 Nguồn kinh phí và quỹ khác

CÁC CHỈ TIÊU NGOÀI BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN

1 Tài sản thuê ngoài

2 Vật tư hàng hóa nhận giữ hộ, nhận gia công

3 Hàng hóa nhận bán hộ, nhận kí gửi

4 Nợ khó đòi đã xử lý

5 Ngoại tệ các loại

6 Dự toán chi hoạt động

7 Nguồn vốn khấu hao cơ bản hiện có

Trang 17

(2) Báo cáo kết quả kinh doanh

Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tài chính phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định (thường là một quý hoặc năm)

5 Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ

6 Doanh thu hoạt động tài chính

7 Chi phí tài chính

8 Chi phí bán hàng

9 Chi phí quản lý doanh nghiệp

10 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh

11 Thu nhập khác

12 Chi phí khác

13 Lợi nhuận khác

14 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế

15 Thuế thu nhập doanh nghiệp

16 Lợi nhuận sau thuế TNDN

Ngoài ra, phân tích tài chính doanh nghiệp còn dựa vào một số báo cáo tài chính khác như: báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh về kết quả kinh doanh…

 Nội dung phân tích

Trên cơ sở hệ thống số liệu đã được phản ánh ở các báo cáo tài chính liên quan, để đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp người ta thường tính toán và phân tích một số các chỉ tiêu sau:

o Các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh và phân phối thu nhập

Trên thực tế, mức độ lợi nhuận ròng giữa các ngành là khác nhau, còn trong một ngành thì công ty nào quản lý và sử dụng các yếu tố đầu vào (vốn, nhân lực…) tốt hơn thì sẽ có hệ số lợi nhuận / doanh thu (lợi nhuận ròng) cao hơn

Lợi nhuận sau thuế Chỉ số lợi nhuận/ doanh thu

(doanh lợi - ROS) = Doanh thu thuần (1)

Trang 18

Với các công ty cổ phần phát hành 2 loại cổ phiếu: cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi, người ta thường tính ROE cho vốn cổ phiếu thường

ROE thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu khác trên thị trường Thông thường ROE càng cao thì cổ phiếu càng hấp dẫn, vì tỉ số này cho thấy được khả năng sinh lời của công ty so với các công ty khác Chỉ

số này là thước đo chính xác nhất để đánh giá một đồng vốn của cổ đông bỏ ra tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ROE cao chứng tỏ công ty sử dụng có hiệu quả đồng vốn của cổ đông Từ đó nhà đầu tư có cơ sở tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty X hay công ty Y có cùng ngành nghề với nhau

Lợi nhuận ròng – Cổ tức

CPƯĐ Thu nhập ròng một cổ phiếu

thường (EPS) = Tổng số CPT đang lưu hành (5)

Tổng tài sản – Tổng nợ – Tổng mệnh giá CPƯĐ

Tổng cổ tức đem chia cho cổ

phiếu thường

Hệ số chi trả cổ tức Hd

phiếu ưu đãi

(8)

hoặc:

Hệ số chi trả cổ tức (Hd) = 1 – tỉ lệ thu nhập giữ lại

Lợi nhuận sau thuế Chỉ số lợi nhuận/ tài sản

Trang 19

Hệ số chi trả cổ tức thường được tuyên bố tại đại hội cổ đông thường niên, nói lên cổ tức chiếm bao nhiêu phần trăm trong thu nhập, nó cũng nói lên chính sách chia cổ tức của công ty Chính sách này có thể thay đổi theo từng thời kỳ

và do đó nó phản ánh chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp

Cổ tức 1 CPT (DPS)

Tỷ lệ cổ tức hiện hành = Thị giá CPT (9)

Tỉ lệ cổ tức hiện hành phản ánh thu nhập của nhà đầu tư tính trên vốn thực phải

bỏ ra để có được cổ tức tương ứng

o Các chỉ tiêu về triển vọng phát triển của công ty

Hệ số thu nhập giữ lại (b) = 1 – hệ số chi trả cổ tức (10)

Hệ số thu nhập giữ lại là 1 yếu tố quan trọng nói lên sự tích lũy của công ty cho tương lai, góp phần vào tốc độ phát triển của công ty sau này

Thị giá cổ phiếu (market price - Pm)

Hệ số giá / thu nhập (P/E hay PER) = Thu nhập ròng của một

cổ phiếu (EPS)

(11)

P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập bao nhiêu lần, hay nhà đầu

tư phải trả giá cho mỗi đồng thu nhập

Một công ty hiện tại có thu nhập chưa cao, nhưng lại được thị trường đánh giá cao về tiềm năng phát triển thì P/E sẽ cao, và ngược lại

Thị giá cổ phiếu (market price - Pm) Chỉ số thị giá / giá trị

Tốc độ tăng trưởng (g - growth rate) = Tỉ lệ thu nhập giữ lại (b) × ROE (13)Cùng với tốc độ tăng trưởng và P/E, người ta còn quan tâm đến chỉ số PEG

PEG = PER/g PEG biến động từ 0 đến 1 thể hiện tốc độ tăng trưởng cao hơn PER và đó là cổ phiếu tốt PEG>1 thể hiện tốc độ tăng trưởng thấp hơn PER PEG chủ yếu áp dụng trong phân tích cổ phiếu tăng trưởng

o Các chỉ tiêu phản ánh tình hình thanh toán

Tổng giá trị tài sản

Hệ số thanh toán chung = Tổng nợ (14)

Trang 20

Hệ số thanh toán chung phản ánh 1 đồng nợ được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản của doanh nghiệp Nhìn chung, hệ số này càng cao, chứng tỏ khả năng thanh toán của doanh nghiệp là tốt, doanh nghiệp chủ động được nguồn vốn trong kinh doanh Nếu hệ số này bằng 1 hoặc nhỏ hơn 1 chứng tỏ doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng mất hết vốn chủ sở hữu và đang đi đến bờ vực phá sản

tư tài chính và các khoản phải thu để hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn

Nhìn chung các hệ số thanh toán nợ ngắn hạn cao đem lại sự an toàn về tình hình tài chính, đảm bảo doanh nghiệp luôn có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn Ngược lại các hệ số thanh toán thấp thể hiện tiềm năng thanh toán kém Tuy nhiên, 1 doanh nghiệp có hệ số thanh toán nợ ngắn hạn quá cao cũng có mặt không tốt, do doanh nghiệp tồn trữ khối lượng tiền quá lớn, một loại tài sản gần như không sinh lời

o Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu vốn và tình hình tài sản

Giá trị TSCĐ và ĐTDH

Tỷ trọng vốn cố định =

Trang 21

Giá trị TSLĐ và ĐTNH

Tỷ trọng vốn lưu động =

Các chỉ tiêu phản ánh quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn

 Quan hệ giữa TSCĐ và nguồn vốn dài hạn Nguồn vốn dài hạn của doanh nghiệp = Vốn chủ sở hữu (Vcsh) + Nợ dài hạn (Nợdh)

Nếu TSCĐ > Nguồn dài hạn chứng tỏ nguồn tài trợ không hợp lý, doanh nghiệp dễ lâm vào tình trạng thiếu và mất khả năng thanh toán do dùng nguồn ngắn hạn tài trợ cho tài sản dài hạn

 VLĐ thường xuyên = Vcsh + Nợ dh – Giá trị còn lại của TSCĐ (VCĐ)

 Vốn lưu động thuần = TSLĐ và ĐTNH – Tổng nợ ngắn hạn (Net working capital)

o Các chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động của tài sản

Giá vốn hàng bán Vòng quay

hàng tồn kho = Giá trị hàng hóa tồn kho

1 ngày

(24)

Vòng quay hàng tồn kho phản ánh trong 1

kỳ, hàng tồn kho luân chuyển được bao nhiêu lần Số ngày của 1 vòng quay hàng tồn kho phản ánh số ngày từ khi mua nguyên vật liệu, hàng hóa đến khi bán được hàng

Nhìn chung, so với kỳ trước, vòng quay hàng tồn kho giảm, hay thời gian của 1 vòng quay hàng tồn kho tăng, chứng tỏ hàng tồn kho luân chuyển chậm, vốn ứ đọng, kéo theo nhu cầu vốn của doanh nghiệp tăng (trong điều kiện quy mô sản xuất kinh doanh không thay đổi)

Nguyên nhân làm giảm vòng quay hàng tồn kho có thể do:

 Hiệu quả quản lý yếu tố đầu vào không tốt,

 Chu kỳ sản xuất kéo dài,

 Thành phẩm hàng hóa không bán được,

 Chính sách dự trữ vật tư, hàng hóa,

 Các nguyên nhân khách quan khác

Trang 22

Thận trọng khi phân tích: trường hợp vòng quay hàng tồn kho tăng song

phản ánh xu hướng tài chính không tốt (sau khi bán, hàng khan hiếm, giá cả đầu vào tăng, không có hàng bán…)

Doanh thu bán chịu trong kỳ Vòng quay

các khoản phải thu = Phải thu bình quân (25)

Phải thu bình quân

Số ngày 1 vòng quay hàng tồn kho = Doanh thu bán chịu bình quân

một ngày

(26)

Kỳ thu tiền bình quân phản ánh số ngày cần thiết để chuyển các khoản phải thu

từ người mua thành tiền Nó cho thấy hiệu quả của cơ chế quản lý tín dụng của doanh nghiệp

Nếu chính sách tín dụng của doanh nghiệp không thay đổi, vòng quay khoản phải thu bình quân tăng, hay kỳ thu tiền bình quân ngắn hơn so với

kỳ trước thường được coi là tốt, bởi các tác động tích cực sau:

 Làm giảm vốn bị ứ đọng trong khâu thanh toán

 Giảm nhu cầu vốn của doanh nghiệp (trong điều kiện quy mô sản xuất không thay đổi)

 Tăng hiệu quả sử dụng vốn

 Tăng khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn cho chủ nợ

Ngược lại, nếu chính sách tín dụng của doanh nghiệp không thay đổi, vòng quay khoản phải thu bình quân giảm, hay kỳ thu tiền bình quân dài hơn so với

kỳ trước thường được đánh giá là không tốt Nguyên nhân của tình trạng đó có thể là:

 Công tác giám sát, quản lý nợ của doanh nghiệp không tốt

 Khách nợ cố tình chây ỳ, hoặc lâm vào tình trạng thiếu / mất khả năng thanh toán

 Kết quả của những biện pháp nhằm duy trì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp…

Lưu ý

Cần thận trọng khi phân tích trong các trường hợp, vòng quay khoản phải thu tăng song lại phản ánh xu hướng tài chính không tốt do các khoản phải thu giảm kéo theo kết quả tiêu thụ giảm Cần phân tích kỹ nguyên nhân để có cách nhìn nhận đánh giá chính xác

Phải trả bình quân

Kỳ thanh toán (phải trả)

Ngày đăng: 17/03/2022, 06:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w