1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Đổi mới kiểm tra đánh giá Ngữ văn 11

20 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 51,56 KB
File đính kèm Đổi mới kiểm tra đánh giá.rar (49 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

sáng kiến: “ Một số kinh nghiệm trong đổi mới kiểm tra đánh giá ở môn Ngữ văn 11 tại trường THPT Phiêng Khoài”. Phương pháp KTĐG HS thông thường là học thuộc lòng văn bản, làm bài kiểm tra trên giấy, với 2 phần đọc hiểu và làm văn. Hình thức KTĐG này mới chỉ chứng minh HS nắm vững kiến thức để làm bài tập, nhận biết vấn đề hoặc giải thích một số hiện tượng liên quan đến những kiến thức đã học. Năng lực mà HS được đánh giá với PP này chủ yếu là năng lực trình bày, diễn đạt, lập luận, trình bày cảm nghĩ v..v.. Một số kỹ năng lực như trình bày một vấn đề trước đám đông, xử lý tình huống, làm việc hợp tác, độc lập sáng tạo… rất cần trong cuộc sống nhưng khó xác định được với cách KTĐG như trên. Vì vậy, ngoài các bài kiểm tra theo PPCT, (cách KTĐG thông thường) tôi đưa ra những tiêu chí riêng theo đặc trưng bộ môn để đánh giá năng lực người học.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

I Bối cảnh của sáng kiến

Đổi mới KTĐG là hết sức cần thiết trong quá trình triển khai đổi mới chương trình giáo dục phổ thông để đảm bảo và giữ vững quan điểm đổi mới giáo dục phổ thông, đặc biệt tạo điều kiện thiết yếu cho việc đổi mới PPDH hướng vào hoạt động học tích cực, chủ động có mục đích rõ ràng của người học

Việc kiểm tra đánh giá kiến thức và kĩ năng của HS có vai trò rất quan trọng, nó vừa giữ vai trò động lực thúc đẩy quá trình dạy học, nó lại vừa có vai trò bánh lái, giúp giáo viên điều chỉnh phương pháp dạy và giúp người học thay đổi phương pháp học tập để phù hợp với hình thức, phương pháp kiểm tra nhằm đạt kết quả cao

- Thông qua KTĐG tạo điều kiện cho GV :

+ Nắm được sự phân hoá về trình độ học lực của HS trong lớp, từ đó có biện pháp giúp đỡ HS yếu và bồi dưỡng HS giỏi; có cơ sở thực tế để điều chỉnh và hoàn thiện quá trình dạy học

+ Giúp cho HS : biết được khả năng học tập của mình so với mục tiêu

đề ra và với yêu cầu của chương trình; tìm được nguyên nhân sai sót, từ đó điều chỉnh hoạt động của mình; phát triển kĩ năng tự đánh giá

+ Giúp cho cha mẹ HS và cộng đồng biết được kết quả dạy học một cách thực chất, khách quan, toàn diện nhất

+ Giúp cho cán bộ quản lí giáo dục nắm được các thông tin cơ bản về thực trạng dạy và học ở đơn vị để có sự chỉ đạo kịp thời, đúng hướng

Đổi mới phương pháp dạy học trong chương trình giáo dục phổ thông nói chung và bộ môn Ngữ văn nói riêng là vấn đề được đặt ra và thực hiện từ nhiều năm nay Để thực hiện vấn đề này, đã có nhiều những hình thức và biện pháp dạy học được triển khai như: dạy học nêu vấn đề, tổ chức các hoạt động dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học…

Những biện pháp và hình thức đó, trong quá trình thực hiện, đã góp phần thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả giảng dạy của giáo viên và chất lượng học tập của HS Tuy nhiên, để nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học, bên cạnh các biện pháp, hình thức dạy học như trên thì việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS là vô cùng quan trọng Đổi mới kiểm tra, đánh giá sẽ tạo động lực thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, góp phần nâng cao chất lượng, bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục

Mục tiêu của môn Ngữ văn ở trường phổ thông là hình thành và phát triển ở HS năng lực chung (tức năng lực giao tiếp, khả năng ứng dụng các

Trang 2

kiến thức và kĩ năng đã học vào giải quyết vấn đề thực tiễn, và năng lực chuyên biệt Tức là năng lực văn học, gồm tiếp nhận hoặc cảm thụ văn học, sáng tác văn học) tuy nhiên, nhà trường phổ thông hiện nay chưa đặt ra mục tiêu cụ thể về hình thành và bồi dưỡng năng lực đặc trưng của bộ môn cho HS

Để đánh giá được các năng lực Ngữ văn của HS, cần có những bộ công

cụ phù hợp với mục đích và tính chất của từng bài kiểm tra, kì thi Việc kiểm tra, đánh giá thường xuyên và định kì phải mang tính chất rèn luyện, thực hành, tăng cường yêu cầu vận dụng để chuẩn bị cho các kì thi quốc gia

Hiện nay nhiều giáo viên trong các nhà trường đã thực hiện nhiều kĩ thuật dạy học để đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn đồng thời còn sử dụng nhiều phương pháp để đánh giá năng lực người học Tuy nhiên, những phương pháp đánh giá đó còn nhiều hạn chế và khó khăn trong quá trình thực hiện Với đặc trưng năng lực bộ môn, cần có những phương pháp mới để đánh giá đúng năng khiếu, năng lực và cảm thụ văn học của HS

II Lý do chọn sáng kiến

Kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập là một khâu quan trọng trong quá trình dạy học ở nhà trường phổ thông, giúp đánh giá năng lực người học và điều chỉnh phương pháp dạy học Đổi mới kiểm tra đánh giá sẽ là động lực thúc đẩy các quá trình khác như đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới cách thức tổ chức hoạt động dạy học, đổi mới quản lý…

Hiện nay, một số nội dung kiểm tra vẫn thiên về học thuộc lòng văn bản, ghi nhớ máy móc một nội dung nào đó của văn bản, kiểm tra trí nhớ là chính Việc kiểm tra đánh giá đó theo hướng cung cấp nội dung nên kết quả là

HS tập trung học thuộc lòng hoặc sưu tầm chép những bài văn mẫu Một số giáo viên mới chỉ đánh giá để biết được mức độ tiếp thu kiến thức và kỹ năng của người học mà chưa chú ý đến yêu cầu thực hiện những công việc có ý nghĩa giống với những thách thức đời thường sẽ gặp sau này để xem người học hình thành kỹ năng đến mức nào Theo các nhà nghiên cứu giáo dục thì cái quan trọng trong việc đào tạo ở THPT không chỉ là cung cấp kiến thức mà quan trọng hơn là dạy cách học

Để khắc phục tình trạng trên, tránh sự khuôn mẫu và để phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập suy nghĩ của HS thì việc làm cấp bách hiện nay là phải đổi mới quá trình kiểm tra đánh giá năng lực học của HS

Hiện nay, thực tế chung tại các nhà trường THPT là các đề thi chưa đánh giá được toàn diện năng lực Ngữ văn của người học, chưa khuyến khích được sự sáng tạo của HS trong làm bài Ngoài ra, với tâm lí dạy và học khá thực dụng, hầu hết các câu hỏi trong bài kiểm tra thường xuyên và định kì đều

ra theo “mẫu”, “dạng” của đề thi THPT Quốc gia Cách kiểm tra đánh giá này

vô hình chung không đánh giá được toàn diện năng lực người học, chưa thực

Trang 3

sự công bằng khi nhận định về năng lực của một HS so với các HS khác trong lớp

Tính “ổn định” trong cách ra đề và làm đáp án của kì thi THPT Quốc gia này có ảnh hưởng vô cùng lớn với việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập

và phương pháp dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông

Trên thực tế, năng lực Ngữ văn của HS phong phú hơn nhiều so với những “chuẩn” nêu ở trong chương trình hiện hành Theo thuyết trí thông minh đa dạng của Tiến sĩ Howard Gardner, con người có 8 loại trí thông minh

khác nhau (Ngôn Ngữ, Toán học, Giao tiếp, Vận động, Âm nhạc, Tự nhận thức, Tự nhiên, Không gian) Nói cách khác, mỗi HS có những năng lực, trí

thông minh khác nhau, nhiệm vụ của người giáo viên là khai thác được các tiềm năng đó, giúp HS tự nhận thức được thế mạnh của mình và đánh giá HS

ở các thế mạnh riêng của nó Nếu chỉ dụng một phương thức KTĐG thì không công bằng với các HS trong lớp Vì vậy, không cần phải đợi đến khi có chương trình giảng dạy phổ thông môn Ngữ văn theo hướng tiếp cận năng lực

ra đời mới đổi mới kiểm tra đánh giá chất lượng học tập Ngữ văn của HS theo hướng đánh giá năng lực

Đánh giá theo yêu cầu phát triển năng lực, tức là xác định được khả năng vận dụng tổng hợp những gì đã học của HS vào việc giải quyết những tình huống mới Phương thức đánh giá không chú trọng yêu cầu học thuộc, nhớ máy móc, nói đúng và đầy đủ những điều thầy, cô đã dạy… mà coi trọng

ý kiến và cách giải quyết vấn đề của mỗi cá nhân người học; động viên những suy nghĩ sáng tạo, mới mẻ, giàu ý nghĩa; tôn trọng sự phản biện trái chiều, khuyến khích những lập luận giàu sức thuyết phục…

Do cách ra đề kiểm tra như vậy thì giáo viên cũng chỉ chủ yếu dạy theo phương pháp thuyết trình, minh họa , dạy chay, ít dạy thực hành Nói chung ra

đề kiểm tra bằng các hình thức trên thì chưa ngăn chặn được những biểu hiện tiêu cực trong kiểm tra như còn có hiện tượng nhìn bài, quay bài, nhắc bài cho bạn… Do vậy chưa khuyến khích tư duy sáng tạo, chưa phát huy tính tích cực, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới vấn đề đặt ra là làm thế nào để việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS tốt hơn, đảm bảo tính khách quan, đa chiều, công bằng…

Để đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn và xu thế quốc tế, cần đổi mới kiểm tra đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn nói chung và nhất là ở cấp THPT, bởi nó có tác động trực tiếp đến khả năng thi THPT Quốc gia theo định hướng phát triển năng lực người học

Trong hoạt động chuyên môn tại trường THPT Phiêng Khoài, BGH nhà trường coi trọng nhiệm vụ đổi mới kiểm tra- đánh giá để thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học các bộ môn Nhiều giáo viên đã tích cực đổi mới PPDH

và kiểm tra đánh giá, song vẫn còn vướng mắc ở nhiều khâu, nhiều giai đoạn Nên việc kiểm tra đánh giá vẫn chưa thực chất: ví dụ ra đề quá khó hay quá

Trang 4

dễ, đề bài chỉ đổi mới hình thức mà chưa chú trọng nội dung, chưa đánh giá được những năng khiếu, thế mạnh của HS…

Vì vậy, là một giáo viên Ngữ văn, tôi xây dựng sáng kiến: “ Một số

kinh nghiệm trong đổi mới kiểm tra đánh giá ở môn Ngữ văn 11 tại trường THPT Phiêng Khoài”

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của sáng kiến là một số kinh nghiệm trong đổi mới kiểm tra đánh giá ở môn Ngữ văn 11 tại trường THPT Phiêng Khoài năm học 2018 – 2019

- Phạm vi nghiên cứu

+ Thời gian: năm học 2018-2019

+ Giới hạn thực nghiêm: HS các lớp 11A3, 11A4 và 11A5 Trường THPT Phiêng Khoài năm học 2018-2019

IV Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lí thuyết và thực tiễn áp dụng việc đổi mới kiểm tra đánh giá ở HS lớp 11 trường THPT Phiêng Khoài

Từ đó đề xuất một số kinh nghiệm trong đổi mới kiểm tra đánh giá mới phù hợp với HS các lớp 11A3, 11A4 và 11A5 và với môn Ngữ văn nói chung

Nhằm xây dựng những hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá hiệu quả, vừa đánh giá thực chất năng lực người học vừa phát huy được năng khiếu HS và tạo hứng thú trong học tập bộ môn

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG

I Thực trạng vấn đề

Thập niên gần đây để đáp ứng với nhu cầu của thời kì mới, ngành giáo dục đã và đang từng bước thay đổi chương trình và phương pháp đào tạo, tuy nhiên việc kiểm tra đánh giá vẫn chưa được quan tâm một cách đúng mức, nhiều khi còn tùy tiện, chủ quan, thiếu chính xác, hình thức chủ nghĩa, công tác thanh kiểm tra về vấn đề này chưa được thường xuyên Điều đó cho thấy muốn thay đổi một hệ thống chương trình và phương pháp giáo dục cần chú trọng việc đổi mới kiểm tra đánh giá

Nhắc đến kiểm tra đánh giá trong các môn học nói chung và trong môn Ngữ văn nói riêng, người ta thường nghĩ đến các hình thức kiểm tra như:

Kiểm tra miệng (về các bài đọc hiểu văn bản là chính): Hiện nay không có quy định cụ thể về cách kiểm tra miệng, song thông thường là kiểm tra học thuộc lòng văn bản, ghi nhớ máy móc một nội dung nào đó của văn bản mà HS chưa được trình bày cách hiểu và lí giải một khía cạnh nào đó của văn bản dưới hình thức nói/trình bày miệng

- Kiểm tra dưới 1 tiết (thường là kiểm tra 15 phút): Cũng như kiểm tra miệng, hiện nay không có quy định cụ thể về cách kiểm tra dưới 1 tiết, song

đó cũng thường là kiểm tra học thuộc lòng văn bản, ghi nhớ máy móc một nội dung nào đó của văn bản; hoặc có đổi mới nhưng chỉ mang tính hình thức hoặc đổi mới chưa hiệu quả

- Kiểm tra từ 1 tiết trở lên (45 phút – 90 phút): dưới dạng 2 phần đọc hiểu và làm văn, ở các mức độ nhận biết, thông hiểu và vận dụng; yêu cầu HS tạo lập VB (tự sự, thuyết minh, nghị luận…) về một vấn đề văn học hoặc đời sống; phạm vi kiến thức và kĩ năng kiểm tra hẹp (sau một cụm bài, một bài học)

Trong kiểm tra đánh giá một số môn ở chương trình THPT như: Hóa, Sinh, Lý, Công nghệ, Địa, Sử…có tiết thực hành và có tối thiểu một lượt điểm/học kì là điểm thực hành Nhưng môn Ngữ văn hiện chưa có lượt điểm thực hành(chỉ có điểm miệng, điểm viết…) Trong khi thực tế môn Ngữ văn

có rất nhiều tiết thực hành (Sáng tác thơ, dịch thơ Nôm, thơ chữ Hán, …) Vì vậy, KTĐG ở môn Ngữ văn chưa có tính thực hành cao Đa số đều là lý thuyết, viết trên giấy Cách kiểm tra này khiến văn học chưa thực sự gắn liền với đời sống

Trang 6

Chương trình môn Ngữ văn hiện hành thiên về cung cấp kiến thức văn học nên hầu hết các chuẩn về kĩ năng đọc, viết đều liên quan đến văn học; các chuẩn chưa được cụ thể hóa thành những kĩ năng, thao tác cụ thể (“mức độ cần đạt” thường là “hiểu, cảm nhận được những nét chính về nội dung và nghệ thuật”, “bước đầu hiểu một số đặc điểm về thể loại”; phần “diễn giải” thường nêu các kĩ năng đi kèm là “nhớ, đọc thuộc lòng”, trong đó “nhớ” chiếm tỉ lệ nhiều hơn cả

Các đề kiểm tra thường xuyên, đề kiểm tra định kì, đề thi tốt nghiệp THPT quốc gia hầu như được ra theo dạng cố định, tính tích hợp (giữa các phân môn Tiếng Việt, Làm văn, Văn học và liên môn) chưa cao

Các câu hỏi chủ yếu đánh giá HS ở 2 mức nhận biết và thông hiểu Phần lớn nội dung các đề thi kiểm tra kiến thức về văn học, về chính những văn bản đã học trong chương trình và sách giáo khoa

Để làm bài, HS thường phải ghi nhớ máy móc nội dung bài học Đáp án của đề thi đưa ra hệ thống ý mà các em phải trình bày cùng với biểu điểm hết sức cụ thể, chi tiết Cách làm này mang tính áp đặt, nếu học sinh không làm đúng đáp án sẽ không có điểm

Để khắc phục tình trạng trên, tránh sự khuôn mẫu và để phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập suy nghĩ của HS thì việc làm cấp bách hiện nay là phải đổi mới khâu ra đề, kiểm tra đánh giá năng lực học của HS

II Nội dung sáng kiến

1. Bản chất của giải pháp mới

1.1 Vận dụng các PPDH, kĩ thuật dạy học để kiểm tra, đánh giá năng lực chuyên biệt, năng khiếu của HS

Thực hiện theo hướng dẫn của công văn 1318/SGDĐT-GDTrH ngày 28/8/2017 của Sở Giáo dục và Đào tạo Sơn La về hướng dẫn xây dựng kế hoạch giáo dục theo định hướng phát triển năng lực

HS từ năm học 2017 - 2018 Và công văn 1173/SGDĐT-GDTrH ngày 29/8/2018 của Sở Giáo dục và Đào tạo Sơn La về việc thực hiện nhiệm vụ GDTrH năm học 2018 - 2019 Theo đó, các nội dung về đổi mới PPDH, KTĐG phải được xây dựng từ đầu năm học và cụ thể hóa trong PPCT Trong quá trình thực hiện,

có những bổ sung, điều chỉnh kịp thời để phù hợp với thời gian, đối tượng HS, …

Việc đổi mới kiểm tra đánh giá này tập trung khai thác những năng khiếu nhất định và đánh giá năng lực (khả năng tiếp thu, sự tích cực, khả năng làm việc, đóng góp vào sản phẩm học tập) của HS Kết hợp với các bài kiểm tra viết đã được quy định trong kế hoạch dạy học (PPCT), thì các hình

Trang 7

thức đổi mới kiểm tra đánh giá này sẽ giúp đánh giá toàn diện hơn, chân thực hơn

Như đã trình bày ở trên, con người có 8 loại trí thông mình và mỗi người thường có tối thiểu 2/8 trí thông minh đó

Vì vậy, sử dụng các hình thức đổi mới KTĐG này giúp HS nhận diện được loại thông minh mà bản thân sở hữu đồng thời phát huy nó một cách tích cực nhất

Theo đó, tôi đã vận dụng các PPDH, kĩ thuật dạy học để kiểm tra, đánh giá năng lực chuyên biệt, năng khiếu của HS môn Ngữ văn 11 như sau:

TÊN BÀI PP-KT

DẠY HỌC

Chữ người tử

tù-Nguyễn

Tuân

PP Đóng vai

- Hãy đóng vai mình là Huấn Cao, luyện viết chữ thư pháp cho một đầu báo tường

- Đầu báo tường của nhóm-tổ

Chí

Phèo-Nam Cao

DH theo dự

án + PP đóng vai

- 4 dự án (4 tổ) + Quá trình tha hóa của Chí

+ Quá trình thức tỉnh của Chí

+ Tình yêu Thị Nở-Chí Phèo

+ Viết tiếp câu chuyện Chí phèo

- Video, clip, bảng phụ hoặc phần trình chiếu power point của

HS (do HS được

tự do lựa chọn hình thức thể hiện)

Phỏng vấn và

trả lời phỏng

vấn

DH theo dự

án kết hợp TNST

- 4 tổ = 4 dự án: PV và TLPV về các vấn đề sau + Vấn đề ATGT ở địa phương em

+ Vấn đề giới tính thứ ba + Vấn đề sống ảo

+ Vấn đề Tình yêu học đường

- Video nhóm HS

đã thực hiện hoặc sản phẩm trình bày của nhóm (do HS được tự

do lựa chọn hình thức thể hiện)

Bản tin Hoạt động

TNST

- 4 tổ = 4 dự án: Thực hành viết bản tin về vấn

- Video nhóm đã thực hiện (do HS

Trang 8

đề sau:

+ Vấn đề bạo lực học đường

+ Vấn đề ô nhiễm môi trường ở địa phương em + Vấn đề không khí đón giáng sinh

+ Vấn đề hành trình bóng

đá Việt Nam tại AFF Suzuki cup

được tự do lựa chọn hình thức thể hiện)

Tình yêu và

thù hận (Trích

Romeo và

Juliet)-

W-sếch xpia

PP đóng vai

- lớp chia 2 hoặc 4 tổ Chọn phân đoạn trong đoạn trích và diễn kịch

- Vở kịch được diễn trên lớp

Vĩnh việt Cửu

Trùng Đài –

Nguyễn Huy

Tưởng

PP đóng vai

- lớp chia 2 hoặc 4 tổ Chọn phân đoạn trong đoạn trích và diễn kịch

- Vở kịch được diễn trên lớp

Người trong

bao –Sê-khốp

PP đóng vai

- Mỗi tổ (4 tổ) xây dựng một hình tượng nhân vật Bêlicốp theo cách nghĩ của mình

- Hình ảnh nhân vật (do HS được

tự do lựa chọn hình thức thể hiện)

Các bài thơ

mới: Vội

vàng- Xuân

Diệu

+ Tràng

giang-Huy

Cận

+ Đây thôn Vĩ

Dạ -Hàn Mặc

Tử…

Hoạt động nhóm

- Chia thành các nhóm tương ứng trong các bài dạy

- Bảng phụ hoặc câu trả lời của HS

- Cách tiến hành

Bước 1: GV giao nhiệm vụ cho HS

Trang 9

- GV nêu câu hỏi, nhiệm vụ một cách cụ thể cho từng nhóm

HS (thông thường lớp học chia thành 4 nhóm) Chọn nhóm trưởng, thời gian chuẩn bị 1 tuần

+ GV có những định hướng cụ thể, rõ ràng khi nêu câu hỏi, nhiệm vụ

Bước 2: HS tiếp nhận nhiệm vụ và thực hiện

- Nhóm trưởng tập trung nhóm Phân công nhiệm vụ cho các thành viên (hoặc các thành viên tự đề xuất nhiệm vụ theo khả năng của mình.)

- Trong quá trình tập luyện nếu phát sinh các vấn đề ngoài dự kiến thì liên hệ với GVBM

- Nhóm trưởng theo dõi và điều hành hoạt động của nhóm

- HS chuẩn bị đầy đủ các đạo cụ khi sử dụng PP đóng vai Các sản phẩm dự án cần gửi GV bộ môn trước buổi học

- GV kiểm tra sản phẩm trước 1 ngày (nếu cần thiết)

Bước 3: Báo cáo sản phẩm

- HS đại diện cho nhóm thuyết trình

- Các nhóm khác nhận xét, đánh giá, bổ sung

- GV nhận xét, đánh giá, chốt kiến thức

Bước 4: Đánh giá và cho điểm

- Tiêu chí chấm điểm

+ Tiêu chí chung: dựa vào sự sôi nổi, tích cực, tiến bộ của các

cá nhân trong tiết học

+ Tiêu chí riêng: Tùy từng yêu cầu tiết học mà có tiêu chí cho phù hợp

VD:

+ PP đóng vai: diễn xuất, trang phụ, đạo cụ, nội dung kịch bản, sự chuẩn bị…

+ DH theo dự án: Chất lượng hình ảnh, ngôn từ, hình ảnh, mầu sắc, …

- Cách đánh giá, cho điểm

+ GV bộ môn đánh giá tổng thể sản phẩm của từng nhóm, nhận xét từng mặt tốt và hạn chế của sản phẩm Từ đó, HS được rút kinh nghiệm và tiến bộ hơn ở những tiết sau

Trang 10

+ Đánh giá theo khả năng và đóng góp của cá nhân HS vào sản phẩm của nhóm Người đóng góp nhiều nhất được điểm cao nhất, và điểm số giảm dần theo mức độ đóng góp của cá nhân đó Nếu cá nhân nào không tham gia, không hoạt động

và không có đóng góp vào sản phẩm của nhóm thì cho 0 điểm

+ Người đánh giá và cho điểm là nhóm trưởng và tất cả các thành viên trong nhóm Đánh giá theo biểu mẫu

+ Sau khi cho điểm, điểm số đó được công khai trước tập thể lớp, được ý kiến phản hồi

+ Người quyết định số điểm sau cùng là GV bộ môn đó

1.2 Xây dựng các tiêu chí đánh giá cụ thể với bộ môn

Phương pháp KTĐG HS thông thường là học thuộc lòng văn bản, làm bài kiểm tra trên giấy, với 2 phần đọc - hiểu và làm văn Hình thức KTĐG này mới chỉ chứng minh HS nắm vững kiến thức để làm bài tập, nhận biết vấn

đề hoặc giải thích một số hiện tượng liên quan đến những kiến thức đã học Năng lực mà HS được đánh giá với PP này chủ yếu là năng lực trình bày, diễn đạt, lập luận, trình bày cảm nghĩ v v Một số kỹ năng lực như trình bày một vấn đề trước đám đông, xử lý tình huống, làm việc hợp tác, độc lập sáng tạo… rất cần trong cuộc sống nhưng khó xác định được với cách KTĐG như trên

Vì vậy, ngoài các bài kiểm tra theo PPCT, (cách KTĐG thông thường) tôi đưa ra những tiêu chí riêng theo đặc trưng bộ môn để đánh giá năng lực người học

1.2.1 Đưa ra những tiêu chí, năng lực cụ thể trong tiết học

Việc KTĐG sẽ dễ dàng và đảm bảo hơn khi đưa ra tiêu chí rõ ràng và

GV nhận xét trên những tiêu chí đó Điều này không chỉ có tác dụng hỗ trợ giúp đỡ HS tiến bộ mà sự phối hợp giữa GV và gia đình trong việc giáo dục

HS tốt hơn Trong đổi mới KTĐG, tôi chú trọng các năng lực sau:

(1) Kỹ năng làm việc độc lập

(2) Năng lực sáng tạo

(3) Mức độ hoàn thành các bài tập

(4) Năng lực sử dụng công nghệ thông tin

(5) Khả năng hợp tác với những người xung quanh

(6) Khả năng giải quyết những xung đột của cá nhân

(7) Mức độ tham gia các hoạt động tập thể của lớp

Ngày đăng: 15/03/2022, 17:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w