Giáo trình học CCCT 2021 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là cơ quan trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng; đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện, thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; là trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp, cán bộ khoa học lý luận chính trị của hệ thống chính trị; trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học lý luận MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các khoa học chính trị, khoa học lãnh đạo, quản lý.
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Trang 2BAN CHỈ ĐẠO CẬP NHẬT, CHỈNH SỬA GIÁO
TRÌNH DÙNG CHO HỆ ĐÀO TẠO
- ủy viên Thường trực
- ủy viên thư ký
Trang 320 TS Bùi Phương Thùy
21 TS Đinh Văn Thụy
22 TS Phan Mạnh Toàn
23 TS Hoàng Thu Trang
Trang 4LỜI GIỚI THIỆU
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là cơ quan trực thuộc BanChấp hành Trung ương Đảng; đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàndiện, thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; là trung tâm quốc giađào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp, cán bộ khoahọc lý luận chính trị của hệ thống chính trị; trung tâm quốc gia nghiên cứukhoa học lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước, các khoa học chính trị, khoa học lãnhđạo, quản lý
Chương trình Cao cấp lý luận chính trị là chương trình trọng điểmtrong toàn bộ công tác đào tạo, bồi dưỡng của Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh Mục tiêu của chương trinh là: Trang bị cho đội ngũ cán bộlãnh đạo, quản lý trung, cao cấp của hệ thống chính trị kiến thức nền tảng
về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng làm cơ sở cho việccủng cố nền tảng tư tưởng, nâng cao tầm nhìn và năng lực tư duy chiếnlược, năng lực chuyên môn, hoàn thiện phương pháp, kỹ năng lãnh đạo,quản lý, tu dưỡng, rèn luyện nhân cách của người cán bộ lãnh đạo, quản
lý đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh toàndiện, đông bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hộinhập quốc tế
Đổi mới, bổ sung, cập nhật nội dung các chương trình đào tạo, bồidưỡng cán bộ là việc làm thường xuyên của Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh nhằm đáp ứng kịp thời những yêu cầu, nhiệm vụ của Đảng,Nhà nước trong từng giai đoạn, thời kỳ phát triển, phù hợp với bối cảnhcủa đất nước và thế giới
Chương trình Cao cấp lý luận chính trị được kết cấu gồm 19 mônhọc và các chuyên đề ngoại khóa, được tổ chức biên soạn công phu,nghiêm túc, trí tuệ và trách nhiệm của đội ngũ các nhà khoa học đang trực
7
Trang 5tiếp giảng dạy trong toàn Học viện; đồng thời, có sự tham gia góp ý, thẩmđịnh kỹ lưỡng của nhiều nhà khoa học trong và ngoài Học viện.
Bộ giáo trình Cao cấp lý luận chính trị xuất bản lần này kế thừa cácgiáo trình cao cấp lý luận chính trị trước đây; đồng thời chỉnh sửa, cậpnhật các nội dung mới trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXIII của Đảng, tình hình thực tiễn mới của thể giới, khu vực và đất nước.Phương châm chung của toàn bộ giáo trình là cơ bản, hệ thống, cập nhật,hiện đại và thực tiễn
Xin trân trọng giới thiệu và mong nhận được nhiều ý kiên đóng gópquý báu từ các nhà khoa học, giảng viên, học viên và bạn đọc nói chung
BAN CHỈ ĐẠO CẬP NHẬT, CHỈNH SỬAGIÁO TRÌNH DÙNG CHO HỆ ĐÀO TẠOCAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
8
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
Triết học Mác-Lênin là một trong ba bộ phận hợp thành hữu cơkhông thể tách rời của chủ nghĩa Mác-Lênin, là học thuyết về những quyluật phổ biến của sự tồn tại, vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và
tư duy con người Với phương pháp biện chứng duy vật và quan niệmduy vật về lịch sử, triết học Mác-Lênin đóng vai trò thế giới quan,phương pháp luận khoa học cho nhận thức và hoạt động thực tiễn của conngười
Tuy nhiên, sự thay đổi nhanh chỏng của khoa học, công nghệ đòihỏi phải biết vận dụng sáng tạo triết học Mác-Lênin phù hợp với điềukiện thực tiễn mới, nhằm khẳng định giá trị bền vững của triết học Mác-Lênin nói riêng, chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung, đồng thời, bổ sung,phát triển cho phù hợp với sự thay đổi của thực tiễn
Xuất phát từ yêu cầu đó và thực hiện chỉ đạo của Giám đốc Họcviện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh về việc biên soạn giáo trình cácmôn học trong Chương trình đào tạo Cao cấp lý luận chính trị của hệ
thống Học viện, Viện Triết học biên soạn Giảo trình Triết học Mảc-Lênìn
trên cơ sở đổi mới có kế thừa các giáo trinh trước nhằm giúp cho việc
nghiên cứu, giảng dạy, học tập môn Triết học Mác-Lênin một cách hiệu
quả nhất
Giáo trình gồm 10 bài, được biên soạn công phu, có nhiều đổi mới,cập nhật các quan điểm của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII củaĐảng, nâng cao nội dung so với các giáo trinh trước đây theo hướng gắnvới thực tiễn thời đại và đất nước nhằm đáp ứng mục tiêu đổi mới, nâng
Trang 7cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ,lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay.
Trong quá trình biên soạn Giáo trình, khó tránh khỏi những thỉếụ sót,tập thể tảc giả rất mong nhận được các ý kiến đóng góp để Giáo trinhngày càng được hoàn thiện hơn
TẬP THẺ TÁC GIẢ
Trang 8Bài 1
TRIÉT HỌC MÁC-LÊNIN TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY
A MỤC TIÊU
•
về kiến thức- Trang bị cho học viên những tri thức cơ bản nhất' về
tính tất yếu khách quan của sự ra đời triết học Mác-Lênin; thực chất củacuộc cách mạng trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện cùngtính khoa học, tính cách mạng, những giá trị bền vững và một số nguyêntắc cần quán triệt trong vận dụng, bổ sung, phát triển triết học Mác-Lênin
về kỹ năng- Giúp học viên biết vận dụng tri thúc đã học vào bảo vệ
những giá trị bền vững cùa triết học Mác-Lênin, chổng lại những luậnđiểm xuyên tạc các giá trị bền vững của triết học Mác-Lênin
về tư tưởng- Giúp học viên củng cố niềm tin vào chủ nghĩa
Mác-Lênin nói chung và triết học Mác-Mác-Lênin nói riêng, có căn cứ để thực hiệnmục tiêu, lý tưởng của Đảng và đấu tranh chống lại một số quan điểm saitrái, thù địch
B NỘI DUNG
1 KHÁI LƯỢC Sự RA ĐỜI TRIẾT HỌC MÁC
1.1 Những điều kiện, tiền đề khách quan cho sự ra đời triết hoc Mác
1.1.1 Điều kiện kinh tể - xã hội
Triết học Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX, khi chủnghĩa tư bản ở châu Âu đang trên đà phát triển mạnh mẽ Sự phát triển củálực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tạo ra những tiền đề vật chất, kỹthuật cho phép các nhà tư tưởng của thời đại nói chung, trong đó Có
Trang 9C.Mác và Ph.Ăngghen, có điều kiện thực tiễn để thoát khỏi tính khôngtưởng trong những quan niệm triết học của mình.
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa đãlàm nảy sinh nhiều vấn đề tư tưởng, lỷ luận, thực tiễn đòi hỏi các nhà triếthọc của thời đại phải giải quyết Đây là một trong những điều kiện thựctiễn xã hội quan trọng thúc đẩy sự ra đời của chủ nghĩa Mác nói chuiig,triết học Mác nói riêng
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sàn xuất tư bản chủ nghĩa đãgóp phần làm cho phong trào đấu tranh của giai cấp côhg nhân trongnhững thập niên đầu của thế kỷ XIX ở châu Âu phát triển hét sức mạnh
mẽ Trong khi ấy lại xuất hiện nhiều học thuyết triết học không khoa họcđang tìm cách len lỏi vào phong trào công nhân Tình hình này đòi hỏiphải có một lý luận triết học thực sự khoa học, cách mạng dẫn đường chophong trào công nhân Có thể nói, sự xuất hiện giai cấp vô sản trên vũ đàilịch sử và cuộc đấu tranh mạnh mẽ của giai cấp này là một trong nhữngđiều kiện chính trị - xã hội quan trọng nhất cho sự ra đời của chủ nghĩaMác nói chung, triết học Mác nói riêng
1.1.2 Tiền đề khoa học tự nhiên
Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên đã có bướcphát triển vượt bậc về chất, chuyên từ trình độ thực nghiệm lên trình độ lýluận Nhiều phát minh khoa học mang tính vạch thời đại xuất hiệnI Nhữngphát minh khoa học này không chỉ làm bộc lộ rõ tính hạn chế của phươngpháp tư duy siêu hình trong nhận thức thế giới, mà còn tạo ra cơ sở khoahọc để khắc phục phương pháp tư duy siêu hình này Đồng thời, chúngcũng cung cấp những cơ sở khoa học cho phương pháp tư duy biện chứng
và quan niệm duy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội ra đời, phát triển.Đánh giá về vai trò, ý nghĩa của những phát minh khoa học thời kỳ này đổivới sự hình thành phương pháp tư duy biện chứng, Ph.Ảngghen viết:
I Ví dụ: Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng của G.R.Mayơ (1814-1878); Thuyết tiến hóa của S.R.Đácuyn (1809-1882); Thuyết tế bào của M.G.Sleđen (1804-1892) và
T.Svanơ (1810-1882).
Trang 10“Quan niệm mới về giới tự nhiên đã được hoàn thành trên những nét cơbản: tất cả cái gì cứng nhắc đều bị tan ra, tất cả cái gì là cố định đều biếnthành mây khói; và người ta đã chứng minh rằng toàn bộ giới tự nhiênđều vận động theo một dòng và một tuần hoàn vĩnh cửu”1 Những phátminh khoa học tự nhiên này đã là những cơ sở, tiền đề khoa học trực tiếpcho sự ra đời chủ nghĩa Mác nói chung, thế giới quan duy vật và phươngpháp biện chứng duy vật của triết học Mác nói riêng.
1,1.3 Tiền đề lý luận
Triết học Mác ra đời là kết quả của sự kế thừa, tiếp thu có phê phán,
có chọn lọc toàn bộ những tinh hoa trong lịch sử tư tưởng của nhân loại từ
cổ đại đến thời đại của C.Mác và Ph.Ăngghen, trong đó có kinh tế chínhtrị cổ điển Anh, chủ nghĩa xã hội không tưởng Anh, Pháp, nhưng trực tiếpnhất là triết học cổ điển Đức Đúng như V.I.Lênin đã khẳng định, học
thuyết của C.Mác “ra đời là sự thừa kể thẳng và trực tiếp những học thuyết
của những đại biểu xuất sắc nhất trong triết học, trong kinh tế chính trị học
và trong chủ nghĩa xã hội”II III
Khắc phục sai lầm và kế thừa cách tiếp cận của I.Cantơ về cách đậtvẩn đề cái gì là cầu nối giữa tư duy của con người với thế giới, C.Mác đãchỉ rõ, chính hoạt động thực tiễn của con người là cầu nối giữa tư duy củacon người với thế giới bên ngoài Hoạt động nhận thức, hoạt động đạo đức
và hoạt động thẩm mỹ của con ngựời cũng dựa trên cơ sở hoạt động thựctiễn Chính việc chỉ ra hoạt động thực tiễn là cầu nối giữa tư duy của conngười với thế giới bên ngoài đẫ là một nhân tổ làm cho triết học Mác khác
và hơn hẳn về chất không chỉ với triết học của I.Cantơ mà với toàn bộ cáctrường phái triết học khác
Với triết học cửa Hêghen, C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa tưtưởng biện chứng, đồng thời gạt bỏ cái vỏ duy tâm, thần bỉ của phép biệnchứng ấy và đặt phép biện chủng ấy trên nền thế giới quan duy vật C.Máckhẳng định: “Phương pháp biện chứng của tôi không những khác phương
IIC.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2002, t.20, tr.471 IIIV.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.23, tr.49-50.
Trang 11pháp của Hê-ghen về cơ bản, mà còn đối lập hẳn với phương pháp ấynữa”IV.
C Mác và Ph.Ăngghen cũng kế thừa những giá trị trong triết họcduy vật nhân bản của Phoỉơbắc, khắc phục tính chất siêu hình, máy móc,trực quan, không triệt để của nó, làm giàu nó bằng phép biện chứng Đồngthời, cả chủ nghĩa duy vật và cả phép biện chửng đều được C.Mác vàPh.Ăngghen phát triển lên một trình độ mới về chất so với trước đó Trongtriết học Mác, chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng, phươngpháp biện chứng là phương pháp biện chứng duy vật Rõ ràng, chủ nghĩaduy vật của C.Mác và Ph.Ăngghen là một hình thức phát triển cao của chủnghĩa duy vật triết học
1.2 Vaỉ trò nhân tố chủ quan của C.Mác và Ph.Ẩngghen đổi với
sự ra đòi triết học Mác
Triết học Mác ra đời ngoài những điều kiện khách quan còn cónhững điều kiện chủ quan Đó là những nhân tô thuộc về cá nhân củaC.Mác và Ph.Ăngghen
Các Mác, tên đầy đủ Karl Henrich Marx, sinh ngày 5-5-1818, mấtngày 14-3-1883 C.Mác sinh trưởng tại Triơ (Trier), tỉnh Ranh nước Đứctrong một gia đình lao động Phriđrich Ăngghen (Fridric Engels), sinhngày 28-11-1820 tại Bácmen nước Đức, mất ngày 5-8-1895 tại Luân Đônnước Anh Ph.Ăngghen sinh trưởng trong một gia đình chủ xưởng dệt.Tháng 10-1843, trên đường từ Anh về Đức, Ph.Ăngghen đã gặp C.Mác tạiPháp và từ đó hai ông trở thành nhũng người bạn tâm đầu, ý hợp cả về thếgiới quan, nhân sinh quan và tư tưởng Đây là nhân tố chủ quan rất quantrọng cho sự ra đời của triết học Mác
Những nhân tố chủ quan của C.Mác và Ph.Ãngghen trước hết là:
Tinh thần nhân đạo, yêu thương con người sâu sac Do ảnh hưởng tết của
giáo dục gia đình, nhà trường nên C.Mác sớm có tinh thần nhân đạo, yêuthương con người và yêu tự do C.Mác cũng là người sớm có tinh thần dân
IV C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2002, t.23, tr.35.
Trang 12chủ cách mạng; có niềm say mê nghiên cứu khoa học và ước mơ giảiphóng con người khỏi mọi hình thức áp bức, bất công, nô dịch Tháng 8-
1835, khi mới 17 tuổi, trong bài luân văn thi tốt nghiệp trường trung học
với tựa đê Những suy nghĩ của một thanh niên khỉ chọn nghề, C.Mác đã
nhận định: “Neu con người làm việc chỉ vì bản thân mình thì may ra có thểtrở thành một nhà bác học nổi tiếng, một nhà thông thái vĩ đại, một nhà thơ
ưu tú, nhưng không bao giờ có thể trở thành con người thực sự hoàn thiện
và vĩ đại Nếu ta chọn một nghề trong ‘dỏ ta cỗ thể làm việc được nhiềuhơn cho nhân loại, thì ta sẽ không còng lưng dưới gánh nặng của nó, bởi vì
đó là sự hy sinh vì mọi người”V Rõ ràng, những đức tính và phẩm chất ấy
ở C.Mác đã góp phần quan trọng trong việc hình thành nên học thuyết triếthọc duy vật, biện chứng, nhân đạo vĩ đại mang tên Người
Ph.Ăngghen ngay từ khi còn ỉà học sinh trung học đã căm ghét sựchuyên chế, độc đoán của quan lại nhà nước phong kiến Phổ Khi đến Anhlàm việc, tiếp xúc với đời sống giai cấp vô sản Anh, trực tiếp chứng kiếnrồi tham gia phong trào Hiến chương đã giúp ông hiểu và thông cảm vớicuộc sống vất vả của những người công nhân Cũng từ đây, tinh thần dânchủ cách mạng, vô thần, tình yêu thương những người công nhân, sự đồngcảm với cuộc sống của họ ở Ph.Ăngghen được củng cố, phát triển Từ đó,ông quyết tâm đi theo con đường giải phóng những người lao động khỏimội lầm than, nô dịch
Tri tuệ uyên bác và tỉnh thản cần cù lao động không mệt mỏi của C.Mác và Ph.Ẵngghen Có thể nói, C.Mác và Ph.Ăngghen là những bộ óc
bách khoa vĩ đại không chỉ của thời đại ông mà còn của các thời đại saunày Cùng với trí tuệ uyên bác và tinh thần cần cù học tập, lao động,nghiên cứu khoa học không mệt mỏi đã giúp các ông phát hiện ra nhiều bímật trong xã hội đương thời mà bao người từng nghiên cứu không thể pháthiện ra Cũng chính vì vậy mà các ông đã vượt lên trên các nhà khôngtưởng vĩ đại trước đó và đương thời
V Êlêna Ilina: Tuổi trẻ Các Mác, Nxb.Thanh niên, H.1978, tr.l 10.
Trang 13Niềm tin sâu sắc vào ỉý tưởng cách mạng, sứ mệnh lịch sử của giai cap công nhân Sớm tiếp xúc với đời sống thực tiễn và phong trào đấu
tranh của giai cấp công nhân, chứng kiến, tham gia lãnh đạo nhiều phongtrào đấu tranh của giai cấp công nhân châu Âu khi ấy, C.Mác vàPh.Àngghen luôn tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh, niềm tin, lý tưởngcách mạng, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân - những người đại diệncho lực lượng sản xuất hiện đại đương thời - có sứ mệnh lịch sử lật đổ chế
độ xã hội cũ, xây dựng xã hội mới không còn người bóc lột người, người
áp bức người,V.V
Có thể nói, tình yêu thương những người công nhân nói riêng, những người, lao động nói chung, tinh thần hy sinh không mệt mỏi vì sự nghiệp giải phóng họ, niềm tin sâu sắc vào lỷ tưởng cách mạng của giai cấp công nhãn, cùng sự thông minh hơn người của C.Mảc và Ph.Ẵngghen là những nhân tố chủ quan đóng vai trò quan trọng nhất cho sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng.
Tất cả những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trên thôngnhất với nhau, liên hệ, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, làm chó sự ra đờicủa chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng là một tất yêu kháchquan mang tính lịch sử Sự ra đời ẩy là tất yếu khách quan mang tỉnh lịch
sử còn bởi lẽ, nó là kết quả của sự phản ánh thực tiễn đấu tranh cách mạngcủa giai cấp công nhân và là sự phát triển hợp quy luật của lịch sử tưtưởng nhân loại
2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TRIẾT HỌC MÁC
2.1 Giai đoạn hình thành triết học Mác
2.1 L Giai đoạn C.Mác và Ph.Ầngghen chuyển biến từ thế giới qụạn duy tâm sang thế giới quan duy vật và từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản chủ nghĩa
Từ đầu năm 1842 đến tháng 3-1843 là giai đoạn C.Mảc và
Ph.Ăngghen bước đầu sự chuyển biển từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản chủ nghĩa, từ thế giới quan duy tâm sang thế
Trang 14giới quan duy vật, Điều này thể hiện rất rõ trong các bài báo C.Mác đăng ở báo Sông Ranh, và Những bức thư từ Vesphalỉ của Ph.Ăngghen.
Từ tháng 4-1843 đến đầu năm 1844 là giai đoạn C.Mác vàPh.Ăngghen chuyển biến dứt khoát sang lập trường cộng sản chủ nghĩa vàthế giới quan triết học duy vật biện chứng Điều này thể hiện ở các bài
báo: vấn đề Do Thái; Góp phần phê phản trỉết học pháp quyền của Hêghen; Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, Lời nói đầu, Với Ph.Ăngghen9 sự chuyển biến thể hiện rõ thông qua các bài báo:
Tình cảnh nước Anh; Lược khảo phẽ phán khoa kinh tế chính trị; Quá khứ
và hiện tại; Tômát Cácỉây.
2 L2 Giai đoạn C.Mác và Ph.Ấngghen đề xuất những nguyên
lỷ của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Từ đầu năm 1844 đến đầu năm 1846 là giai đoạn C.Mác và
Ph.Ãngghen bựớc đầu đề xuất những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật bỉện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Điều này thể hiện ờ các tác phẩm: Bản thảo kỉnh tế - triết học 1844; Gia đình thần thánh (C.Mác và Ph.Ăngghen viết chung năm 1845); Luận cương về Phoỉơbẳc; Hệ tư tưởng Đức (C.Mác và Ph.Ãngghen viết chung cuối năm 1845 đến đầu năm
1846)
Từ đầu năm 1846 đến tháng 2-1848 là giai đoạn hình thành hệ thống chủ nghĩa Mác với ba bộ phận cấu thành triết học duy vật biện chứng; chủ nghĩa xã hội khoa học và kinh tế - chính trị học Mác-Lênỉn Điều này thể hiện rõ ở các tác phẩm: Sự khốn cùng của triết học (1847); Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (C.Mác và Ph.Ăngghen viết chung cuối năm 1847 đầu năm 1848) Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là văn kiện có
tính chất cưomg lĩnh đầu tiên của chủ nghĩa Mác; đánh dấu sự hình thànhchủ nghĩa Mác, trong đó có triết học Mác
Trang 152.2 Giai đoạn C.Mác và Ph.Ẵngghen bổ sung, phát triển triết học của mình
Sau Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã gắn
triết học của mình với phong trào công nhân, trên cơ sở đó thúc đẩy triếthọc Mác và phong trào công nhân phát triển C.Mác tổng kết kinh nghiệmthực tiễn phong trào cách mạng ở châu Âu, nhất là ở Pháp, bổ sung, pháttriển nguyên lý đấu tranh giai cấp là một trong những động lực phát triểncủa xã hội có giai cấp đối kháng; về tính tất yếu của cách mạng vô sản; về
vai trò của quần chúng nhân dân; về thái độ của giai cấp vô sản đối với nhà
nước tư sản,v.v Những nguyên lý nạy thể hiện rất rõ trong những tác
phẩm Đẩu tranh giai cạp ở Pháp 1848-1850', Ngày mười tám tháng Sương mù của Lui Bônapáctơ (1852); Nội chiến ở Pháp (1871),V.V
về phần mình, Ph.Àngghen thông qua việc khái quát những thànhtựu của khoa học tự nhiên đương thời để bổ sung triết học Mác, phê phánnhững quan điểm duy tâm, siêu hình, duy vật tầm thường; luận chứng tínhthống nhất vật chất của thế giới, đưa ra định nghĩa về phép biện chứng,phân loại các hình thức vận động của vật chất; phát triển quan điểm biệnchứng về lịch sử xã hội có giai cấp; chỉ ra quá trình tiến hóa của gia đình;
sự hình thành giai cấp và nhà nước,v.v Những điểm này thể hiện rõ trong
Chổng Đuyrỉnh (1876-1878); Biện chứng của tự nhiên (1873-1883); Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước (1884); Lútvích Phoiơbắc và sự cảo chung của triết học cổ điển Đức (1886).
Như vậy, C.Mác và PhÀngghen luôn thông qua tổng kết thực tiễnphong trào công nhân và khái quát những thành tựu của khoa học đươngthời để bổ sung, phát triển lý luận triết học của mình
3 Sự RA ĐỜI TRIẾT HỌC MÁC LÀ cuộc CÁCH MẠNG TRONGLỊCH sử TRIẾT HỌC
Với sự sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ẵngghen đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lịch sử triết học nhân loại Lần đầu tiên trong lịch sử triết học nhân loại,
Trang 16C.Mác và Ph.Ăngghen đã giải thích được quy luật phát triển của xã hộiloài người một cách khoa học, khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể vềnguyên tắc, sự ra đời triết học Mác đã đánh bại chủ nghĩa duy tâm với mọibiểu hiện của nó Do vậy, triết học của C.Mác và Ph.Ẵngghen là triết họcduy vật triệt để nhất, hoàn bị nhất Không phải ngẫu nhiên mà V.LLênin đãkhẳng định: “triết học của Mác là một chủ nghĩa duy vật triết học hoànbị”1 Cũng chính vì vậy mà V.I.Lênin đã nhấn mạnh: “Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học Một lý
luận khoa học hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và sựtùy tiện vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử vàchính trị”VI Như vậy, với quan niệm duy vật về lịch sử, C.Mác đã kết thúcthời kỳ nghiên cứu xã hội, lịch sử một cách tùy tiện, lộn xộn, mở ra mộtthời kỳ mới trong nghiên cứu xã hội, lịch sử - chỉ ra quy luật hình thành,vận động và phát triển của xã hội, lịch sử Ph.Ăngghen đã so sánh phátminh này của C.Mác “Giống như Đácuyn đã tìm ra quy luật phát triển củathế giới hữu cơ, Mác đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loàingười”VII Chủ nghĩa duy vật lịch sử của C.Mác “chỉ cho ta thấy rằng, dochỗ lực lượng sản xuất lớn lên, thì từ một hình thức tổ chức đời sống xãhội này, nảy ra và phát triển lên như thế nào một hình thức tổ chức đờisống xã hội khác cao hơn; ví dụ, chủ nghĩa tư bản đã nảy sinh ra như thếnào từ ché độ phong kiến”VIII Trên cơ sở đó, triết học Mác đã lý giải, phântích những quy luật vận động của lịch sử, xã hội một cách khoa học vàthực tiễn
Sự ra đờỉ của triết học Mác đã tạo ra căn cứ khoa học để chủ nghĩa
xã hội không tưởng trở thành khoa học Sự ra đời của triết học Mác đã làm
cho giai cấp công nhân - người đại diện cho lực lượng sản xuất hiện đại,tiến bộ - có được lý luận khoa học, cách mạng dẫn dắt trong cuộc đấutranh giải phóng bản thân mình và giải phóng nhân loại Chính sự kết hợp
lý luận của chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng với phong
VI 1,2,4 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.23, tr.54; 53; 53.
VII C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính ữị quốc gia Sự thật, H.1995, 1.19,
VIIItr.499.
Trang 17trào công nhân đã tạo ra bước chuyên về chất của phong trào từ tự phát lên
tự giác Phong trào công nhân đã tìm thấy ờ triết học Mác vũ khí tinh thầncủa mình, còn triết học Mác tìm thấy ở phong hào công nhân vũ khí vật
chất của mình: “Giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của
mình”1
Với sự sảng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ẫngghen đã khắc phục được sự đối lập giữa triết học với hoạt động thực tiễn của con người Trước khi triết học Mác ra đời,
các nhà triết học thường tập trung chủ yếu vào giải thích thế giới mà ít chú
ý tới cải tạo thế giới Trung tâm chú ý của triết học Mác không chỉ là giảithích thế giới mà quan trọng hơn là cải tạo thế giới Đúng như C.Mác đã
từng nhận định: “Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới”IX X Cũng có một số nhàtriết học muốn cải tạo thế giới nhưng lại bằng con đường không tưởng nhưdựa vào các lực lượng siêu nhiên, bằng “khai sáng”, mở mang dân trí,bằng con đường giáo dục đạo đức,v.v Có thể nói, không một nhà triết họcnào trước Mác hiểu được thực tiễn và vai trò của nó đối với cải tạo thếgiới Các nhà triết học khai sáng Pháp thế kỷ XVIII muốn thay thế cácquan hệ xã hội phong kiến lạc hậu, lỗi thời bằng các quan hệ xã hội tiến bộhơn nhưng cũng không hiểu được rằng, phải thông qua hoạt động thực tiễncách mạng của đông đảo quần chúng mới thực hiện được điều này Ngay
cả L.Phoiơbắc, đại biểu lớn nhất của chủ nghĩa duy vật trước Mác, “chỉ coihoạt động lý luận là hoạt động đích thực của con người, còn thực tiễn thìchỉ được ông xem xét và xác định trong hình thức biểu hiện Do
Thái bẩn thỉu của nó mà thôi”XI Khác với các nhà triết học trước đó,C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra rằng, chỉ có thể cải tạo được thế giới thôngqua hoạt động thực tiễn của con người Trong triết học của hai ông, không
có sự đối lập giữa triết học với hoạt động thực tiễn của con người, trước
IXC.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2002, t.l, tr.589 XC.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.1995, t.3, tr.12.
XI C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.1995, t.3, tr.9.
Trang 18hết là hoạt động thực tiễn của giai cấp vô sản Do vậy, triết học của C.Mác
và Ph.Ăngghen đã trở thành công cụ nhận thức và cải tạo thế giới của giaicấp vô sản và của toàn thể nhân loại tiến bộ
Với sự sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ẵngghen đã khắc phục sự đối lập giữa triết học với các khoa học cụ thể Trước khi triết học Mác ra đời thì triết học, hoặc
là hòa tan, ẩn giấu đằng sau các khoa học khác, hoặc đối lập vói chúng.Quan hệ giữa triết học Mác với các khoa học cụ thể là quan hệ biện chứng,tác động qua lại lẫn nhau Các khoa học cụ thể cung cấp cho triết học Máccác tư liệu, dữ kiện, thông số khoa học để triết học Mác khái quát Ngay sự
ra đời của triết học Mác cũng không thể thiếu những điều kiện, tiền đề củakhoa học tự nhiên đương thời Chính những thành tựu của khoa học tựnhiên nửa đầu thế kỷ XIX đã làm bộc lộ những hạn chế, sự bất lực củaphương pháp siêu hình trong nhận thức thế giới; đồng thời cung cấp cơ sởkhoa học cho sự ra đời của phương pháp biện chứng duy vật của C.Mác.Triết học Mác toong quan hệ với các khoa học cụ thể đóng vai trò thế giớiquan, phưorng pháp luận chung nhất Thực tiễn phát triển mạnh mẽ củacác khoa học cụ thể càng làm tăng vai trò the giới quan, phương pháp luậncủa triết học Mác Đúng như một nhà khoa học tự nhiên ở thế kỷ XX đãnhận xét: “Các khái quát hóa triết học cần dựa trên các kết quả khoa học.Tuy nhiên, một khi đã xuất hiện và được truyền bá rộng rãi, chúng thườngrất ảnh hưởng đến sự phát triển tiếp tục của tư tưởng khoa học khi chứngchỉ ra một trong rất nhiều phương hướng phát triển có thể có”XII Như vậy,
có thể nói, sự ra đời của triết học Mác đã chấm dứt mâu thuẫn giữa triếthọc với các khoa học cụ thể
Triết học Mác có sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật với phươngpháp biện chứng, giữa lý luận với thực tiễn, giữa tính khoa học với tínhđảng cho nên nó là học thuyết khoa học, cách mạng, luôn tự đổi mới, pháttriển cùng với sự phát triển tư tường của nhân loại Vì vậy, triết học Mác
XII A.Anhxtanh và Inpheđơ: Sự tiến triển của vật lý học, M.1965, tr.48 (Tiếng Nga); trích theo Lê Hữu Nghĩa (Chủ biên): Thời đại chủng ta và sức sổng của chủ nghĩa Mác-Lênin,
Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2002, tr.90.
Trang 19luôn là nền tảng của nhận thức khoa học, là công cụ nhận thức và cải tạothế giới của giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ.
4 V.I.LÊNIN BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỀN TRIẾT HỌC MÁC
4.1 Hoàn cảnh lịch sử V.I.Lênin phát triển triết học Mác
Vlađimirơ Hích Lênin sinh ngày 22-4-1870 tại thành phốXimbiếcxcơ, mất ngày 21-1-1924 tại làng Goocki, tỉnh Mátxcơva
V.I.Lênin đã vận dụng và phát triển triết học Mác trong điều kiện mới: về khoa học tự nhiên, giai đoạn này đã đạt được những thành tựu mới, đặc
biệt là trong vật lý học, đi sâu nghiên cứu thế giới vi mô Thực tế có cácnhà khoa học tự nhiên giỏi trong nghiên cứu tự nhiên nhưng không đứngvững trên thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng duy vật nên
đã rơi vào duy tâm và không giải thích được những thành tựu khoa họcmới Điều này đòi hỏi phải có những khái quát triết học mới làm cơ sởkhoa học cho nghiên cứu thế giới tự nhiên
về chỉnh trị - xã hội, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc
chủ nghĩa, một mặt, làm cho chủ nghĩa tư bản tăng thêm sức mạnh kinh tê,nhưng mặt khác càng làm lộ rõ bản chất bóc lột, ăn bám của nó Đồngthời, nó cũng làm cho mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sảnngày càng gay gắt, phong trào giải phóng dân tộc ngày càng phát triểnmạnh mẽ Điều này đòi hỏi phải biết vận dụng chủ nghĩa Mác nói chung,triết học Mác nói riêng vào luận giải những vấn đề mới của chủ nghĩa tưbản cùng như vai trò, sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân
Đổi với nước Nga, phong trào cách mạng ở Nga đã trở nên mạnh mẽ
hơn bất cứ nước nào Điển hình như Cách mạng dân chủ tư sản
1905-1907, Cách mạng Tháng Hai năm 1917 và đỉnh cao là Cách mạng xã hộichủ nghĩa Tháng Mười năm 1917 Tuy nhiên, ở nước Nga cũng xuất hiệnmột số khuynh hướng tư tưởng triết học không khoa học nhằm chống lại
chủ nghĩa Mác ngày càng gay gắt hơn, ví dụ như chủ nghĩa kinh nghiệm
phê phán; chủ nghĩa xét lại; chủ nghĩa thực dụng; phái dân túy Nga, muốnthay chủ nghĩa Mác bằng chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo,v.v Tất cả những
Trang 20điều kiện trên đã thôi thúc V.I.Lênin bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác nóichung, triết học Mác nói riêng.
4.2 Những nội dung chủ yếu V.I.Lênin phát triển triết học Mác
V.I.Lênin phát triển chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nóiriêng bằng tri thức khoa học, phê phán, bác bỏ những quan điểm sai lầm
và làm sáng tỏ thêm những luận điểm của C.Mác và Ph.Àngghen Trong
các tác phẩm lớn ban đầu như Những người bạn dân là thế nào và họ đẩu tranh chổng những người dân chủ - xã hội ra sao? (1894); Nội dung kỉnh
tế của chủ nghĩa dân tủy và sự phê phản trong cuốn sách của ông Xtơruvê
về nội dung đó, V.I.Lênin vạch trần bản chất phản cách mạng, giả danh
“người bạn của dân”, những sai lầm siêu hình, duy tâm chủ quan trongquan niệm về lịch sử của phái dân túy Nga; bảo vệ và làm phong phú lýluận hình thái kinh tê - xã hội của C.Mác
Tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phản
được V.I.Lênin viết năm 1908 khi trong khoa học tự nhiên xuất hiện chủnghĩa duy tâm vật lý Trong tác phẩm này, V.I.Lênin đã chống lại triết họcduy tâm chủ quan của phái Makhơ; bảo vệ và làm phong phú thêm một sốnguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sửcủa C.Mác trên cơ sở khái quát những thành tựu của khoa học tự nhiênđương thời
Trong,tác phẩm Chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa xét lạỉ (4-1908),
V.I.Lênin vạch trần cơ sở triết học của chủ nghĩa xét lại trong phong tràocông nhân cũng như bản chất của nó Ông còn tổng kết thực tiễn cáchmạng nước Nga và trên thế giới để bổ sung, phát triển lý luận triết họcMác Trong nhũng năm 1914-1915, V.I.Lênin quan tâm nghiên cứuphương pháp biện chửng nhằm đáp ứng yêu cầu nhận thức giai đoạn độcquyền nhà nước của chủ nghĩa tư bản và giải quyết những vấn đề cấp bách
do thực tiễn cách mạng vô sản đặt ra Điều này thể hiện rõ trong Bút ký triết học.
Trang 21Trong tác phẩm Chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản XIII (1916), V.I.Lênin đã vận dụng phương pháp luận triết học
đề cập về tình huống cách mạng vô sản; phân tích phương thức sản xuất tưbản chủ nghĩa, chỉ ra bản chất ăn bám, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc; chỉ
rõ vai trò của đảng cộng sản trong thực hiện chuyên chính vô sản Tác
phẩm Nhà nước và cách mạng (1917) của V.I.Lênin đã làm sáng tỏ những
vấn đề cơ bản của lý luận mácxít về nhà nước; trình bày rõ, việc C.Mác vàPh.Ăngghen phát triển lý luận về nhà nước trên cơ sở tổng kết kinhnghiệm cách mạng 1848- 1851 và Công xã Pari 1871; về nhiệm vụ cơ bảncủa giai cấp vô sản trong cách mạng vô sản là đập tan nhà nước tư sản,thiết lập chuyên chính vô sản
Sau Cách mạng tháng Mười, V.I.Lênin tiếp tục bổ sung học thuyết
về chủ nghĩa đế quốc như là giai đoạn “cao hơn” của chủ nghĩa tư bản;phát triển lý luận về khả năng thăng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa ởmột nước tư bản chủ nghĩa trong thời đại đế quốc chủ nghĩa; về quá độgián tiếp lên chủ nghĩa xã hội ở những nước chưa qua phát triển tư bản chủnghĩa; đề xuất quan điểm cùng tồn tại hòa bình giữa các nước có chế độchính trị-xã hội khác nhau,V.V
Để bảo vệ chủ nghĩa Mác, triết học Mác, V.I.Lênin không chỉ phêphán không khoan nhượng đối với mọi kẻ thù của chủ nghĩa Mác, mà ôngcòn kịch liệt phê phán những người nhân danh chủ nghĩa Mác, nhưng trênthực tế xa rời chủ nghĩa Mác Đặc biệt, V.I.Lênin rất chú trọng tổng kếtkinh nghiệm thực tiễn cách mạng nước Nga cũng như phong trào cáchmạng thế giới để bổ sung, phát triển di sản triết học Mác Do có nhữngđóng góp to lớn của V.I.Lênin vào sự phát triển lý luận của chủ nghĩa Mácnói chung, triết học Mác nói riêng mà một giai đoạn mới trong sự pháttriển của chủ nghĩa Mác được gắn với tên tuổi của Người và được gọi làchủ nghĩa Mác-Lênin, còn triết học thì được gọi là triết học Mác-Lênin
XIII Nguyên bản tiếng Nga: Chủ nghĩa đế quốc, như là giai đoạn cao hơn của chủ nghĩa tư bản.
Trang 225 NHŨNG GIÁ TRỊ BỀN VŨNG CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VÀYÊU CẦU BÔ SUNG, PHÁT TRIỂN TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY
5.1 Những giá trị bền vững của triết học Mác-Lênin
Nhận định về thời đại, Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Trên thế giới, trong những năm tới tình hình sẽ còn nhiều diên biến phức tạp,
nhưng hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xuthế lớn Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩymạnh Hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa cácnước, nhất là giữa các nước lớn ngày càng tăng Cuộc cách mạng khoa học
- công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin tiếp tục phát triển mạnh mẽ,thúc đẩy sự phát triển nhảy vọt trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ vàthách thức đối với mọi quốc gia”1 Tiếp tục tinh thần này, Báo cáo của Banchấp hành Trung ương khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII củaĐảng chỉ rõ: “Trong những năm tới, dự báo tình hỉnh thế giới và khu vựctiếp tục có nhiều thay đổi rất nhanh, phức tạp, khó lường Hòa bình, hợptác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song cũng đứng trước nhiều trở ngại,khó khăn, thách thức Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển,nhưng cũng đang bị đe dọa bởi sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan,cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại diễn ragay gắt Do tác động của đại dịch Covid-19, thế giới rơi vào khủng hoảngnghiêm trọng nhiều mặt Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư pháttriển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ vàthách thức đối với mọi quốc gia Các nước điều chỉnh chiến lược vàphương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới Khu vực châu Á
- Thái Bình Dương tiếp tục có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng TạiĐông Nam Á, môi trường an ninh, tranh chấp chủ quyền trên biển Đôngcòn diễn biến phức tạp Biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và các vấn đề
an ninh phi truyền thống khác, nhất là an ninh mạng, ngày càng tác độngmạnh, nhiều mặt, đe dọa nghiêm trọng đến sự phát triển ổn định, bền vững
Trang 23của thế giới, khu vực và đất nước ta”XIV XV Như vậy, thời đại ngày nay cónhiều đổi thay, thực tiễn biến đổi nhanh, khó lường, chủ nghĩa xã hội hiệnthực đứng trước nhiều khó khăn thách thức, khoa học, công nghệ pháttriển rất nhanh, nhưng những giá trị bền vững của triết học Mác- Lêninvẫn còn nguyên ý nghĩa Bởi lẽ, chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung, triết họcMác-Lênin nói riêng luôn có sự thống nhất giữa tính khoa học và tính cáchmạng Đồng thời luôn được bổ sung từ tổng kết thực tiễn, thành tựu khoahọc đương thời và phong trào cách mạng của giai cấp công nhân Đó làcác giá trị cơ bản sau:
Triết học Mác-Lênin là một học thuyết triết học phát triển
về bản chất, chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung, triết học Mác- Lêninnói riêng là một học thuyết khoa học phát triển, là hệ thống mở với bảnchất nội tại vốn có là luôn luôn được bổ sung, phát triển Ngay từ năm
1887 trong một bức thư gửi một nữ sĩ người Mỹ bà Phlo-ren-xơ sne-vét-xcai-a, Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Lý luận của chúng tôi là lý luậncủa sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải họcthuộc lòng và lắp lại một cách máy móc”1 Ph.Ăngghen nhiều lần khẳngđịnh, học thuyết của các ông không phải là một giáo điều mà là một kimchỉ nam cho hành động V.I.Lênin sau này cũng đã không ít làn nhắc lại lờiPh.Ăngghen và khẳng định lại luận điểm này của chủ nghĩa MácXVI XVII.Quá trình lịch sử hình thành, phát triển của chủ nghĩa Mác-Lênin nóichung, triết học Mác-Lênin nói riêng đã chứng minh điều đó Bản thânC.Mác và Ph.Ángghen không phải ngay từ đầu đã có thế giới quan duy vậtbiện chứng, đã có phương pháp biện chứng duy vật Các ông đã từngthuộc những thành viên sùng bái Hêghen, theo phái Hêghen trẻ trước khi
Ken-li-vi-XIVĐảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lẩn thứ XII, Nxb.Chính
trị quốc gia Sự thật, H.2016, tr.70-71.
XVĐảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb.Chính
trị quốc gia Sự thật, H.2021, t.I, tr.30-31.
XVIC.Mác và Ph.Ằngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.1999, t.36, tr.796 XVIIXem V.LLênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.20, tr.99, 103; t.4,
tr.258.
Trang 24trở thành những nhà duy vật biên chứng lỗi lạc Hơn nữa, thế giới quanduy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật của các ông luônkhông ngùng được bổ sung, hoàn thiện, phát triển.
Sự bổ sung, phát triển sáng tạo triết học Mác trong thời đại đế quốc chủnghĩa và trong thời đại xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở nước NgaXôviết của V.LLênin là một minh chứng cho bản chất khoa học, cáchmạng vốn có của triết học Mác ỉà luôn được bổ sung, phát triển Nhiềuluận điểm của triết học Mác đã được V.I.Lênin bổ sung, phát triển cho phùhợp với điều kiện thực tiễn mới cũng như sự phát triển của khoa học vàcuộc đấu tranh chống lại các loại hình kẻ thù khác nhau của triết học Mác
Ví dụ, V.LLênin đã đưa ra định nghĩa nổi tiếng về vật chất; định nghĩachính xác về giai cấp; đấu tranh giai cấp; bổ sung những nhận thức mới vềmối quan hệ giữa chân lý tựơng đối và chân lý tuyệt đối; sự thống nhấtgiữa phép biện chứng, lôgíc biện chứng và lý luận nhận thức,v.v Chínhsách kinh tế mới (NEP) là một trong những minh chứng cho sự phát triểnhết sức sáng tạo triết học Mác vào điều kiện nước Nga của V.I.Lênin.Trong cuộc đời hoạt động lý luận cũng như hoạt động cách mạng,V.I.Lênin luôn nhắc nhở những người Bôn-sê-vích Nga: “Chúng tá đùngtin điều nói rằng tư tưởng chính thống cho phép chúng ta tin bất cứ một cái
gì, rằng tư tưởng chính thống gạt bỏ những sự vận dụng có tinh thần phêphán và gạt bỏ sự phát triển hon nữa, rằng nó cho phép dùng những côngthức trừu tượng để làm lu mờ những vấn đề lịch sử Neu có những môn đồnào của tư tường chính thống mà mắc phải những khuyết điểm thực sựnghiêm trọng ẩy, thì lỗi đó là hoàn toàn tại bản thân họ, chứ tuyệt nhiênkhông phải là tại tư tưởng chính thống là tư tưởng rõ ràng có những phẩmchất hoàn toàn trái ngược lại”XVIII Vì vậy, trong tác phẩm Cương lĩnh của chủng ta, V.I.Lênin nhấn mạnh: “Chứng ta không hề coi lý luận của Mác
như là một cái gì đâ xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng tatin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người
xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không
XVIII V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.4, tr.l 10-111.
Trang 25muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống Chúng tôi nghĩ rằng những
người xã hội chủ nghĩa ở Nga đặc biệt cần phải tự mình phát triển hơn nữa
lý luận của Mác, vì lý luận này chỉ đề ra những nguyên lý chi đạo chung, còn việc áp dụng nguyên lý ẩy thì xét riêng từng nơi, ở Anh không giống ở
Pháp, ở Pháp không giống ở Đức, ở Đức không giống ở Nga”XIX
Rõ ràng, C.Mác, Ph.Àngghen, V.I.Lênin không bao giờ tự coi lý luậntriết học của các ông là “bất khả xâm phạm”, là hệ thống khép kín, là chân
lý tuyệt đích cuối cùng Trái lại, các ông luôn đòi hỏi những người mácxítphải biết vận dụng sáng tạo những nguyên lý triết học cơ bản của Mác saocho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, truyền thống văn hóa V.V của mỗi quốc gia, dân tộc Đó là một trong những đặc trưng vốn có củachủ nghĩa Mác-Lênin nói chung, triết học Mác-Lênin nói riêng
Sự vận dụng sáng tạo triết học Mác-Lênin vào điều kiện, hoàn cảnhcủa cách mạng Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản ViệtNam cũng như các đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế chothấy bản chất vốn có của chủ nghĩa Mác- Lênin nói chung, triết học Mác-Lênin nói riêng là sáng tạo và phát triển Chính nhờ có sáng tạo mà chủnghĩa Mác-Lênin nói chung, triết học Mác-Lênin nói riêng được phát triển,chính phát triển lại là điều kiện cho những người cộng sản chân chính vậndụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung, triết học Mác-Lênin nóiriêng
Cần nhấn mạnh rằng, khi khẳng định lý luận chủ nghĩa Mảc- Lêninnói chung, triết học Mác-Lênin nói riêng là lý luận phát triển không cónghĩa là những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung, triếthọc Mác-Lênin nói riêng không mang giá trị bền vững V.I.Lênin từngnhắc nhở " tuỳ theo những biến chuyển của tình hỉnh xã hội và chính trị
cụ thể, cho nên những phương diện khác nhau của chủ nghĩa Mác, tức là của một học thuyết sinh động, không thể không nổi bật lên hàng đầu”XX
Có nghĩa là, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung,
XIX V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.4, tr.232.
XX V.LLênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.20, tr.100.
Trang 26triết học Mác-Lênin nói riêng cho tới nay vẫn hoàn toàn đúng đắn, khoahọc, khách quan, nhưng có những luận điểm cụ thể nào đó do thực tiễnchính trị-xã hội, cũng như do sự phát triển cùa kỉnh tế, của khoa học,v.v
đã đổi thay mà cần phải được bổ sung, phát triển, thậm chí bị thực tiễnvượt qua Đó cũng là bản chất cách mạng, là đặc trưng vốn có của chủnghĩa Mác-Lênin nói chung, triết học Mác-Lênin nói riêng
Chủ nghĩa nhân văn vì con người Triết học Mác-Lênin xuất phát từ
con người và cũng nhằm mục đích giải phóng con người Triết học Lênin không có mục tiêu nào khác là giải phóng con người khỏi mọi hìnhthức nô dịch, áp bức, bóc lột Nhưng để giải phóng con người, trước hếtphảỉ giải phóng giai cấp công nhân, dân tộc và nhân loại Thực tiễn lịch sửphát triển của nhân loại đã chứng tỏ ý nghĩa to lớn của chủ nghĩa nhân văn
Mác-vì con người của triết học Mác-Lênin Mặc dù, các nhà tư tưởng phươngTây luôn xuyên tạc rằng, triết học Mác-Lênin “bỏ rơi” con người, “quên”con người, nhưng thực tế cả về phương diện lý luận, cả về phương diệnthực tiễn đều chứng tỏ, triết học Mác-Lênin là triết học nhân đạo, hoàn bị,
triệt để nhất Trong tác phẩm Bản thảo kinh tể - triết học 1844, C.Mác đã cho rằng: “‘Chủ nghĩa cộng sản với tính cách là sự xóa bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu - sự tha hóa ấy của con người - và do đỏ với tính cách
là sạ chiếm hữu một cách thực sự bản chất con người bởi con người và vì
con người; do đó với tính cách là việc con người hoàn toàn quay trở lại
chính mình với tính cách là con người xã hội, nghĩa là có tính chất người
- Chủ nghĩa cộng sản như vậy, với tính cách là chủ nghĩa tự nhiên hoàn
bị, = chủ nghĩa nhân đạo, với tính cách là chủ nghĩa nhân đạo hoàn bị, =chti nghĩa tự nhiên”1 Cũng vào năm 1844, trong tác phẩm Góp phần phê phản triết học pháp quyền của Hêghen, Lời nói đầu, C.Mác đã kêu gọi
phải đập tan, xóa bỏ mọi quan hệ nô dịch con người C.Mác cho rằng:
“người là sinh vật tối cao đoi với còn người, do đó, dẫn đến cải mệnh lệnh tuyệt đổi đòi phải lật đổ tất cả những quan hệ trong đó con người là một
sinh vật bị làm nhục, bị nô dịch, bất lực, bị khỉnh rẻ”XXI XXII; đồng thời
XXI C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2000, t.42, tr.167.
XXII’ 3 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.1995, t.l.
Trang 27khẳng định: “bản thân con người là bản chất tối cao của con người”XXIII.
Đên tác phẩm Tuyên ngôn cửa Đảng Cộng sản (1848), C.Mác và
Ph.Ăngghen khẳng định: “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp
và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự pháttriển tự do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do cùa tất cả mọingười”XXIV Như vậy, có thể nói, “về phương diện lý thuyết, thì sự pháttriển con người trong tương quan với tiến bộ xã hội theo quan niệm này là
mô hình lý tưởng; hiếm thấy lý thuyết nào đề cập đến sự phát triển tự docủa cá nhân - cộng đồng - xã hội trong mối quan hệ vừa ràng buộc vừa hỗtrợ lẫn nhau hữu cơ đến thế”XXV Rõ ràng, chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung,triết học Mác-Lênin nói riêng không có mục tiêu nào ngoài mục tiêu giảiphóng con người khỏi mọi hình thức nô dịch, áp bức, bóc lột, bất công.Bởi lẽ, với chủ nghĩa Mác-Lênin “lịch sử xã hội của con người luôn luônchỉ là lịch sử của sự phát triển cá nhân của những con người”XXVI; và conngười được giải phóng, được tự do phát triển toàn diện - đó là một trongnhững đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội mới, chế độ xã hội mà giai cấp
vô sản cách mạng và chính đảng của nó có sứ mệnh phải xây dụng Đâycũng là mục tiêu nhân văn cao cả của chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung,triết học Mác- Lênin nói riêng
Phương pháp biện chửng duy vật Cho đến nay, nhân loại đã biết tới
nhiều phương pháp nhận thức khác nhau nhưng chưa có phương pháp nào
có thể thay thế được phương pháp biện chứng duy vật của triết học Lênin Mặc dù thực tiễn đã có nhiều đổi thay, khoa học có nhiều phát hiệnmới, nhưng những nguyên tắc phương pháp luận của phương pháp biệnchứng duy vật trong triết học Mác-Lênin, như: nguyên tắc khách quan,toàn diện, phát triểh, lịch sử - cụ thể, thực tiễn vẫn giữ nguyên giá trị chohoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn Những thành tựu của khoa
Trang 28học hiện đại chỉ làm giàu thêm, phong phú thêm những giá trị của phươngpháp biện chứng duy vật của triết học Mác-Lênin mà thôi.
Quan điểm duy vật về lịch sử Quan điểm duy vật về lịch sử của triết
học Mác-Lênin xuất phát từ trình độ phát triển của nền sản xuất vật chất xãhội để lý giải những quan niệm, tư tưởng cũng như những điều kiện xã hộitrong đời sống của quần chúng nhân dân cùng vai trò của họ trong lịch sử.Hơn nữa, quan điểm duy vật về lịch sử đã xem xét xã hội một cách chỉnhthể, toàn diện quá trình phát sinh, phát triển và suy tàn của các hình tháikinh tế - xã hội, bằng cách xem xét toàn bộ các xu hướng mâu thuẫn khácnhau, tác động lẫn nhau và tìm ra cơ sở của chúng chính ỉà các điều kiệnsinh hoạt và sản xuất vật chất - tinh thần của xã hội Quàn điểm duy vật vềlịch sử của triết học Mác-Lênin khác với chủ nghĩa duy kinh tê, chủ nghĩaduy vật tầm thường - chỉ nhấn mạnh một chiều yếu tố kinh tế, yếu tố vậtchất trong quan hệ với yếu tố tinh thần Quan điểm duy vật về lịch sửtrong khi khẳng định vai trò quyết định của đời sống vật chất đối với đờisống tinh thần, kinh tế đối với chính trị,v.v đã không hề hạ thấp mà cònnhấn mạnh sự tác động trở lại của đời sống tinh thần đến đời sống vật chất,của chính trị đối với kỉnh tế, của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội,v.v
Do vậy, chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác-Lênin về bản chấtcũng là chủ nghĩa duy vật biện chứng Nhung đó là chủ nghĩa duy vật biệnchứng về xã hội Hon nữa, các quy luật của lịch sử luôn mang tính xuhướng Nghĩa là, các quy luật xã hội chỉ có thể nảy sinh, tồn tại, vận độngthông qua hoạt động thực tiễn có ý thức của con người Mặc dù con ngườikhông thể tùy tiện thay thê, hay xóa bỏ các quy luật, nhưng thông qua hoạtđộng thực tiễn của mình, con người có thể tác động để các quy luật xã hội
có thể nhanh diễn ra hoặc chậm diễn ra hơn Chính vì vậy, chủ nghĩa duyvật lịch sử của triết học Mác-Lênin đánh giá cao vai trò hoạt động thựctiễn của con người
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội Lịch sử phát triển của thế giới
đã chứng minh, sự phát triển của nhân loại không theo kiểu duy nhất “kinh
tế quyết định”; không theo kiểu “phương Tây là trung tâm”; cũng không
Trang 29theo kiểu “làn sóng thứ ba” mà một số nhà tư tưởng đương đại đã đề cập.
Sự phát triển của nhân loại là hết sức phong phú, đa dạng nhưng sự phongphú, đa dạng ấy vẫn diễn ra theo quy luật khách quan Do vậy, mặc dù sựphát triển của các quốc gia, dân tộc là hết sức đa dạng, phong phú nhưngvẫn trải qua những nấc thang, những giai đoạn tương đong nhau (có thể làtương đồng nhau về sự tuần tự từ hình thái kinh tế - xã hội thấp lên hìnhthái kinh tế - xã hội cao hơn; cũng có thể là sự tương đồng trong việc bỏqua một hoặc nhiều hình thái kinh tế - xã hội nào đó trong sự phát triểncủa mình - nếu điều kiện cho phép) Chính điều này tạo nên những hìnhthái kinh tế - xã hội đan xen nhau, kế tiếp nhau của lịch sử thế giới; làmcho lịch sử thế giới phát triển có sự đan xen, không đồng đều giữa cácquốc gia, dân tộc Sự không
đồng đêu thể hiện ở chỗ, ngay trong cùng một thời đại nhung ở mỗi quốcgia, dân tộc khác nhau lại ở một hình thái kinh tế - xã hội không như nhau.Còn sự đa dạng thể hiện ở chỗ, ngay trong cùng một hình thái kinh tế-xãhội nhưng ở các dân tộc, quốc gia khác nhau thì cũng có những biểu hiệnkhác nhau Ví dụ như, củng là hình thái kinh tế - xã hội phong kiến, nhưnglại có hình thái kinh tế - xã hội phong kiến tập quyền và hình thái kinh tế -
xã hội phong kiến phân quyền,V.V Tuy vậy, dòng chảy của lịch sử nhânloại vẫn diễn ra theo sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp lêncao Điều này diễn ra một cách lịch sử - tự nhiên Bởi lẽ, những nguyênnhân dẫn tới những sự thay thế này là do những mâu thuẫn bên trong lòngcủa mỗi hình thái kinh tế - xã hội quy định Đó là mâu thuẫn giữa lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất; giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượngtầng,v.v Những mâu thuẫn này được giải quyết sẽ tạo điều kiện cho sự rađời của hình thậi kỉnh tế - xã hội mới Quá trình này diễn ra không phụthuộc vào ỷ chí, mong muốn chù quan của con người Tuy nhiên, các quyluật xã hội còn bị tác động bởi văn hóa, phong tục, tập quán, truyền thống,lợi ích, của con người Chỉnh những điều này đã làm cho lịch sử pháttriển của nhân loại có thêm những đặc thù
Trang 30Học thuyết giá trị thặng dư Phưong pháp biện chứng duy vật và
quan điểm duy vật lịch sử đã giúp C.Mác trở thành nhà kinh tế học đầutiên phát minh ra học thuyết giá trị thặng dư trong nền sản xuất tư bản chủnghĩa Ông đã thành công trong việc chỉ ra nguồn gốc của giá trị thặng dư.Trên cơ sở đó, C.Mác đã vén lên bức màn bí mật của phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa Cho đến nay, các học giả tư sản dù muốn cũng chưa một
ai đưa ra được một lý thuyết nào khả dĩ có thể bác bỏ được học thuyết giátrị thặng dư của C.Mác Những phân tích của Mác về chủ nghĩa tư bản và
hệ thống kinh tế của nó vẫn giữ nguyên giá trị khoa học Cùng với học
Trang 31thuyết về giá trị thặng dư, lý luận về sở hữu, về xóa bỏ chế độ chiếm hữu
tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, về sự ra đời tất yếu của sởhữu xã hội là những giá trị bền vững của kinh tế - chính trị học của chủnghĩa Mác-Lênin
Hiện nay, nhiều học giả tìm mọi lý lẽ để bác bỏ học thuyết giá trịthặng dư của C.Mác Đáng chú ý là quan niệm cho rằng, quy luật giá trịthặng dư đúng với thời kỳ kinh tế công nghiệp Bởi lẽ, quy luật này giảđịnh nhà tư bản phải chiếm hữu tư liệu sản xuất để bóc lột lao động làmthuê Nhưng trong thời đạỉ kinh tê tri thức, người lao động không thể bántri thức được Thực tế ngày nay, tri thức với tính cách là một dạng tư liệusản xuất đặc biệt, nóỉ như C.Mác “tri thức xã hội phổ bien [wissen,
knowledge] đã chuyển hóa đến mức độ nào thành lực lượng sản xuất trực tỉếp ,A đã bị nhà tư bản độc quyền dừng tiền chiếm hữu không bồi thườngvới tỷ suất bóc lột rất cao Không chỉ lao động của công nhân “cổ xanh”
mà cả công nhân “trí thức - cổ trắng” cũng bị bóc lột giá trị thặng dư với tỷsuất lợi nhuận cao Tất nhiên cơ chế của sự bóc lột này tinh vi hơn, phứctạp hơn thời kỳ trước Do vậy, học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác vẫngiữ nguyên chân giá trị trong điều kiện hiện nay Không phải ngẫu nhiên
mà trong điều kiện khủng hoảng tài chính thế giới, người ta lại tìm đọc
nhiều bộ Tư bản của C.Mác Tất nhiên, có một số điểm cần bổ sung cho
học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác Ví dụ, đầu vào của sản xuất cầnphải tính cả tiền mua bản quyền phát minh, sáng chế, tiền quảng cáo vàtiền công quản lỷ của chính nhà tư bản,v.v Mặc dù vậy, học thuyết giá trịthặng dư của C.Mác về bản chất vẫn giữ nguyên giá trị khoa học, bởi lẽsức lao động sống của người công nhân vẫn là nguồn gốc duy nhất tạo nêngiá trị thặng dư
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2000, t.46, phần II,
tr.372.
3
Ó
Trang 32về vai trò, sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô sản.
Phương pháp biện chứng duy vật và quan điểm duy vật lịch sử đã giúpC.Mác và Ph.Ăngghen phát hiện ra rằng, trong tất cả các giai cấp đang đốilập với giai cấp tư sản chỉ có giai cấp vô sản là thực sự cách mạng; có vaitrò, sứ mệnh lịch sử lật đổ giai cấp tư sản thiết lập một chế độ xã hội mớikhông còn người bóc lột người Điều này là do địa vị kinh tế, chính trị củagiai cấp vô sản quy định, cũng do địa vị kinh tế, chính trị này mả giai cấp
vô sản phải lãnh đạo sự nghiệp lật đổ sự áp bức tư sản, xây dựng chế độ xãhội mới V.I.Lênin khẳng định: “chính là công nhân thành thị và, nóichung, công nhân nhà máy, công nhân công nghiệp - mới có khả năng lãnhđạo được toàn thể quần chúng lao động và những người bị bóc lột trongcuộc đấu tranh để lật đổ ách tư bản”1 V.LLênin còn phát triển sâu sắc hơnluận điếm vai trò sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân doC.Mác và Ph.Ăngghen khởi xướng: “Chỉ có giai cấp vô sản mới có thể là
chiển sĩ tiên phong đấu tranh cho tự do chính trị và cho những thể chế dân
chủ; vì một là giai cấp vô sản là giai cấp phải chịu ách áp bức chính trị
nặng nề hơn cả Hai là, chỉ có giai cấp vô sản mới có khả năng đẩy tới cùng việc dân chủ hóa chế độ chính trị và xã hội, bởi vì có dân chủ hóa
được như vậy thi mới giành được chế độ đổ về tay công nhân”XXVII XXVIII
Mặc dù hiện nay, lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa đang có sựphát triển vượt bậc, một bộ phận giai cấp công nhân có thể mua cổ phầncủa một số công ty, thậm chí có một bộ phận công nhân trở thành tầng lóptrung lưu, nhưng tỷ suất giá trị thặng dư của nhà tư bản thì không hề giảm
đi mà còn tăng lên không ngừng so với thời kỳ C.Mác và Ph.Ăngghensống Bản thân người công nhân hiện đại vẫn là người làm thuê hiện đại,vẫn bị bóc lột giá trị thặng dư Ngay từ năm 1916, V.I.Lênin đã chỉ ra rằng:việc cổ phần hóa công ty với những cổ phiếu giá thấp mà người lao động
có thể mua được “thật ra chỉ là một trong những phương pháp tăng thêm
uy lực cho bọn đầu sỏ tài chính”XXIX Ngày nay, rất nhiều kẻ cơ hội cho
XXVIIV.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.39, tr.17.
XXVIIIV.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.2, tr.565-566.
XXIX V.I.Lênin: 7bà« tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.27, tr.439.
3 7
Trang 33rằng: việc công nhân có cổ phiếu chúng tỏ tính xã hội hóa cao của quan hệsản xuất tư bản chủ nghĩa và tính “dân chủ hóa tư bản” của nền sản xuất tưbản hiện đại và rằng công nhân bây giờ là những người đồng sở hữu vớinhà tư bản Do vậy, ngày nay không thể nói công nhân bị bóc lột nữa Điềunày hoàn toàn là ngụy biện Bởi ỉẽ, đúng là người công nhân trong các nhàmáy của nhà tư bản hiện nay có cổ phiếu nhưng với giá trị quá nhỏ bé củanhững cổ phiếu ấy, người công nhân không bao giờ có quyền tham giaquyết định quá trình sản xuất Hơn nữa, cũng không phải tất cả công nhânhiện đại ở các nước tư bản chủ nghĩa đều có thể mua cổ phiếu, về bản chấtcủa vấn đề này, đúng như V.I.Lênin đã từng phân tích, đó chỉ là mộtphương pháp tập trung vốn để tăng thêm uy lực cho bọn đầu sỏ tài chính
mà thôi
Ngày nay, xét về nội dung kinh tể, hiện tại, giai cấp công nhân vẫn là
chủ thể chủ yếu của quá trình sản xuất vật chất trong nền công nghiệp hiệnđại Giai cấp công nhân vẫn là người gắn với lực lượng sản xuất hiện đại.Chính điều này đã tạo cho giai cấp công nhân có những phẩm chất nhưmang tỉnh thần đồng đội, tập thể, có tầm nhìn xa trông rộng, có tính kỷluật cao, có khả năng quỵ tụ, lãnh đạo các giai cấp khác trong xã hội để lật
đổ sự áp bức, bóc lột tư sản, xây dựng xã hội mới không còn người áp bức
người, Xét về nội dung chinh trị - xã hội, chỉ có giai cấp công nhân mới có
thể liên minh với nhân dân lao động khác do đảng cộng sản lãnh đạo đểxây dựng được nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vìdân Do địa vị chính trị - xã hội của mình nên chỉ có giai cấp công nhânmới giải quyết được các vấn đề chính trị-xã hội trong quá trình xây dựng
xã hội mới Xér về nội dung văn hóa, tư tưởng, chỉ có giai cấp công nhân
mới là lực lượng xác lập được các hệ giá trị mới như lao động, công bằng,dân chủ, bình đẳng, tự do để thày thế cho hệ giá trị tư sản cũ Do vậy, họcthuyết cùa C.Mác và Ph.Ăngghen về vai trò, sứ mệnh lịch sử toàn thế giớicủa giai cấp công nhân hiện nay vẫn còn nguyên giá trị, ý nghĩa thời sự.Tất nhiên, vai trò của các giai tầng khác trong xã hội cũng có những biếnđổi nhưng không thể thay thế vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp côngnhân
38
Trang 34Từ những giá trị bền vững cho thấy, lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênỉn về chủ nghĩa xã hộỉ vẫn còn nguyên giá trị Sự sụp đổ của chủ
nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô, Đông Âu chỉ là sự sụp đổ của mô hìnhchủ nghĩa xã hội giáo điều, cứng nhắc, không đổi mới Hiện nay, các đảngcộng sản chân chính vừa kiên tri lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin về chủnghĩa xã hội, vừa vận dụng, phát triển sáng tạo lý luận đó cho phù hợpthực tiễn dân tộc và thời đại Do vậy, lý luận về chủ nghĩa xã hội ngàycàng được hoàn thiện Thực tiễn đổi mới ở Việt Nam cho thấy rất rõ điềunày
5.2 Tính tất yếu khách quan và yêu cầu bể sung, phát triển triết học Mác-Lênỉn
Bổ sung, phát triển lý luận của triết học Mác-Lênin là bản chất cách mạng vốn có của triết học Mác-Lênin, là đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn thời đại cũng như sự phát triển của khoa học, công nghệ hiện đại Triết học Mác-Lênin về bản chất là một hệ thông mở, chứ không phải
hệ thống khép kín Sau này, V.LLênin cũng nhấn mạnh: “Chính vì chủnghĩa Mác không phải là một giáo điều chết cứng, một học thuyết nào đó
đã hoàn thành hẳn, có sẵn đâu vào đấy, bất di bất dịch, mà là một kim chỉnam sinh động cho hành động, chính vì thế nên nó không thể không phảnánh sự biến đổi đặc biệt mạnh mẽ của điều kiện sinh hoạt xã hội”1 Chính
vì vậy, nó luôn phải được bổ sung, phát triển Hơn nữa, bản thân triết họcMác-Lênin là khoa học về sự phát triển của thế giới, của xã hội loài người
Do vậy, không ngùng phát triển triết học Mác-Lênin cũng là đòi hỏi đápúng yêu cầu nội tại, thiết thực của chính chủ nghĩa Mác-Lênin Đồng thời,chỉ có phát triển, thông qua phát triển và bằng phát triển, triết học Mác-Lênin mới thể hiện được sức sống của mình đối với thời đại
Thời đại ngày nay có nhiều biến động sâu sắc Đó là sự phát triển kỳdiệu của khoa học, công nghệ mà điển hình là sự phát triển mạnh mẽ củaCách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số; là sự sụp đổ của
mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu; xuất hiệnnhiều vấn đề toàn cầu như bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai,
3 9
Trang 35dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninhmạng, biến đổi khí hậu,v.v tiếp tục diễn biên phức tạpXXX XXXI Tất cảnhững điều đó đòi hỏi chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung, triết học Mác-Lênin nói riêng phải luôn không ngừng được bổ sung, phát triển để phùhợp với tình hình biến đổi của thực tiễn, của sự phát triển khoa học, côngnghệ.
Bổ sung, phát triển lý luận của triết học Mảc-Lênin là tất yểu khách quan còn do yêu cầu đẩu tranh chống lại các loại kẻ thù của triết học Mác-Lênin Sau sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và
Đông Âu, kẻ thù tư tường của chù nghĩa Mác-Lênin lại xuất hiện nhiềuhơn bao giờ hết Đúng như nhận định: “Dàn đồng ca chông chủ nghĩaMác-Lênin cũng đông hơn gấp nhiều lần Bên cạnh những thế lực thù địchchính là bọn cơ hội xét lại, phản bội, những kẻ đầu hàng, những kẻ hènnhát, trong đó không ít người đã đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin phần lớnđời mình - những học giả, những nhà tư tưởng, nhũng người đẵ tùng ởcương vị lãnh đạo của Đảng Cộng sản này hay Đảng Cộng sản khác”XXXII.Những kẻ chổng lại triết học Mác-Lênin, bẩt chấp mọi hành động, thủđoạn như: xuyên tạc, vu khống nhằm “kết thúc” triết học Mác-Lênin.Tình hình này đòi hỏi những người cộng sản chân chính không chỉ có lậptrường vững vàng, kiên định, mà còn phải hết sửc tỉnh táo bổ sung, pháttriển lý luận của triết học Mác-Lênin một cách khoa học Chỉ cỏ như vậy,chúng ta mới bảo vệ được triết học Mác-Lênin và chiến thắng được kẻ thù
lý luận, tư tưởng của mình
Bo sung, phát triển lỷ luận của triết học Mác-Lênin là tất yểu khách quan còn do yêu cầu phải giải đáp những vẩn đề thực tiễn mới đặt ra.
Những biến đổi sâu sắc của đời sống kỉnh tế, chính trị, xã hội ở nhữngthập niên đầu của thế kỷ XXI đang đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn,
XXXV.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.20, tr.103.
XXXIXem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ xin,
Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, t.I, tr.106-107.
XXXII Đặng Xuân Kỳ: Chù nghĩa Mác-Lênin và thời đại chúng ta, Thông tín chuyên đề
của Trung tâm Tư liệu - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, H.1988, tr.12-13.
40
Trang 36mà để giải quyết đúng đắn, đồng thời phải tìm ở triết học Mác-Lênin và ởchính cuộc sống ngày hôm nay Điều đó nói lên rằng, chính cuộc sốngngày hôm nay đang đòi hỏi phải tiếp tục bổ sung, phát ttiển triết học Mảc-Lênin Có như vậy, triết học Mác-Lênin mới thực hiện được vai trò thếgiới quan và phương pháp luận chung nhất Ví dụ, sự phát triển mạnh mẽlực lượng sản xuất của xã hội tư bản đã không hề đấy nhanh sự sụp đổ củatòa nhà tư bản chủ nghĩa, mà dường như lại cung cấp cho giai cấp tư sảnnhững điều kiện vật chất để “sửa chữa” nó Tất nhiên, nhìn trên tổng thể,
sự phát triển không đồng đều của chủ nghĩa tư bản làm cho quá trinh hưng
- suy của các nước lớn tăng lên, do đó làm cho mâu thuẫn của chủ nghĩa tưbản càng thêm gay gắt Thời đại ngày nay đang đặt ra rất nhiều vấn đềtoàn cầu như dịch bệnh, biến đổi khí hậu, an ninh phi truyền thống,V.V Tất cả những điều đó đòi hỏi phải biết vận dụng đúng đắn, sáng tạo nhữngnguyên lý của triết học Mác-Lênin để xem xét, giải quyết những vấn đềcủa ngày hôm nay Vì vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen từng lưu ý: “ chủ
nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sắng tạo rạ, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay.
Những điều kiện của phong trào ấy là do những tiền đề hiện đang tồn tại
đẻ ra”1 Không phải ngẫu nhiên mà trong các quan điểm chỉ đạo tiếp tụcthực hiện đường lối đổi mới trong giai đoạn tới, Đại hội XIII của Đảngnhấn mạnh quan điểm thứ nhất là “Kiên định và vận dụng, phát triển sángtạo chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ”XXXIII XXXIV Tuy nhiên,
bổ sung, phát triển triết học Mác-Lênin phải quán triệt những nguyên tắcsau:
Thứ nhất, bổ sung, phát triển triết học Mác-Lênin không phải là phủ
định mà tiếp tục làm sáng tỏ, làm giàu thêm và khẳng định bản chất cáchmạng, khoa học vốn có của triết học Mác-Lênin trong điều kiện mới Đồngthời phải khẳng định những tư tưởng, những luận điểm của các nhà kinh
XXXIIIC.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.1995, t.3, tr.51 XXXIVĐàng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII,
Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, t.I, tr.109.
4 1
Trang 37điển chủ nghĩa Mác-Lênin, không những đúng vói trước kia và bây giờ,
mà còn tiếp tục có giá trị hướng dẫn cho hoạt động nhận thức và thực tiễncủa con người Nghĩa là phải trên cơ sở kiên định bản chất khoa học, cáchmạng vốn có, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, hên quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, không hoangmang, dao động, mất phương hướng Đồng thời cần tránh khuynh hướngnhân danh “kiên định” để ngại đổi mới, ngại bổ sung, ngại phát triển, rơivào bảo thủ, trì trệ, giáo điều, không thấy được những đổi thay của thựctiễn, sự phát triển của khoa học - công nghệ Ngược lại, cũng cần tránhkhuynh hướng nhân danh “đổi mới, bổ sung, phát triển” để xét lại, xuyêntạc một cách vô nguyên tắc, phủ định sạch trơn bản chất khoa học, cáchmạng của chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung, triết học Mác-Lênin nói riêng
Thứ hai, bổ sung, phát triển triết học Mác-Lênin phải đứng trên lập
trường của chủ nghĩa Mảc-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối củaĐảng Cộng sản Việt Nam; kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thốngtốt đẹp của dân tộc, tiếp thu cỏ chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại; kiếnđịnh những luận điểm của triết học Mác-Lênin trước đây đứng, bây giờvẫn đúng; nhận thức lại những luận điểm trước đây đúng nhưng ta nhậnthức chưa đúng; bổ sung, phát triển những luận điểm trước đây đúngnhưng bây giờ do thực tiễn đểi thay nên không còn phù họp; bổ sung, hoànthiện những điểm mới vào lý luận triết học Mác-Lênin do thực tiễn mớicũng như sự phát triển của khoa học, công nghệ yêu cầu
Thứ ba, trong khi bổ sung, phát triển triết học Mác-Lênin phải kiên
quyết đấu tranh chống lạỉ những quan điểm sai húi, thù địch, những quanđiểm nhân danh phát triển để chống lại triết học Mác- Lênin, bảo vệ sựtrong sáng của triết học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương,đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Thứ tư, để bổ sung, phát triển triết học Mác-Lênin có hiệu quả cần
học tập, tiếp thu, quán triệt, vận dụng sáng tạo những nguyên tắc phươngpháp luận mà Hồ Chí Minh đã vận dụng để bổ sung, phát triển chủ nghĩaMác-Lênin nói chung, triết học Mác-Lênin nói riêng, như nguyên tắc
42
Trang 38khách quan, phát triển, toàn diện, lịch sử - cụ thể và thực tiễn Nguyên tắckhách quan yêu cầu bổ sung, phát triển triết học Mác-Lênin theo quy luậtkhách quan, không áp đặt chủ quan, tùy tiện Nguyên tắc phât triển đòi hỏikhi bổ sung, phát triển triết học Mác-Lênin phải chú ý tới quy luật pháttriển, tránh bảo thủ, trì trệ, ngại bổ sung Nguyên tắc toàn diện yêu cầu khi
bổ sung, phát triển triết học Mác-Lênin phải chú ý cả “kiên định”, cả “bổsung, phát triển, sáng tạo”, không tuyệt đối hóa mặt nào Nguyên tắc lịch
sử - cụ thể đòi hỏi phải căn cứ vào tình hình thực tế để bổ sung, phát triểntriết học Mác-Lênin
c CHỦ ĐÈ THẢO LUẬN
1 Những giá trị bền vững của triết học Mác-Lênin
2 Bước ngoặt cách mạng trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghenthực hiện
D CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Tính tất yếu khách quan của sự ra đời triết học Mác?
2 Thực chất của cuộc cách mạng trong triết học do C.Mác vàPh.Ăngghen thực hiện?
3 Thống nhất giữa tính cách mạng và tính khoa học của triết họcMác-Lênin?
4 Tính tất yếu khách quan của việc bổ sung, phát triển triết họcMác-Lênin?
5 Một số quan điểm cần quán triệt khi vận dụng, bổ sung, phát triểntriết học Mác-Lênin?
E TÀI LIỆU HỌC TẬP
* Tài liệu bắt buộc
1 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giảo trình Triết học Mác-Lênin (Dùng cho hệ đào tạo Cao cấp lý luận chính trị), Nxb.Lý luận
chính trị, H.2021
4 3
Trang 392 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021.
* Tài liệu đọc thêm
1 GS, TS Hoàng Chí Bảo (Chủ biên): Bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênỉn, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2010,
7 Tiêu Phong: Hai chủ nghĩa một trăm năm (bản dịch của Nguyễn
Vinh Quang và Hoàng Văn Tuấn), Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2004,tr.26-54
8 Terry Eagleton: "Tại sao Mác đúng?” Sách tham khảo (Tủ sách phục vụ lãnh đạo), tải bản lần thử ba, Nxb.Lý luận chính trị, H.2019.
9 Viện Nghiên cứu lịch sử chủ nghĩa Mác-Lênin, Trường Đại học
nhân dân Trung Quốc: Lịch sử chủ nghĩa Mác, Nxb.Chính trị quốc gia Sự
thật, H.2003, t.l, tr.93-103, 136-155, 217-230, 226- 286; t.4, tr.286, 295
294-44
Trang 40Bài 2
CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỚI VIỆC XÂY DỤNG THỂ GIỚI QUAN CHO ĐỘI NGŨ CÁN Bộ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
A MỤC TIÊU
về kiển thức' Giúp học viên nắm vững bản chất của chủ nghĩa duy
vật biện chúng - đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử nhân loại, từ
đó phân tích vai trò của nó ttong việc xây dựng thế giới quan duy vật biệnchúng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý ở Việt Nam hiện nay
về kỹ năng: Góp phần giúp học viên nâng cao kỹ năng vận dụng chủ
nghĩa duy vật biện chứng để phê phán những biểu hiện sai lầm của chủnghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật tầm thường, bệnh chủ quan duy ý chí
về tư tưởng: Góp phần củng cố niềm tin vào triết học Mác- Lênin
nói riêng, chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung, vào nền tảng tư tưởng củaĐảng cho học viên
B NỘI DUNG
1 CHỪ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHÚNG - NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỀM
1.1 Nội dung của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Việc giải quyết khía cạnh thứ nhất trong vấn đề cơ bản của triết học vấn đề về mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, tinh thần và giới tự nhiên, ý thức và vật chất, hay theo cách nói phương Đông là
-4
Ó