Đề tài “Vận dụng mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn vào quá trình đổi mới ở Việt Nam”. Nước ta đang trên con đường tiến lên công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy việc nắm vững các quan điểm thực tiễn, phát triển lí luận nhằm đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên giành thắng lợi luôn là vấn đề cần thiết cần sự quan tâm của cả xã hội. Trong xã hội , triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triển của bất cứ hình thái kinh tế nào. Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức và thực tiễn, phương pháp biện chứng... luôn là cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉ cho hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội cho hoạt động. Chúng ta biết rằng, triết học là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác. Lênin đã chỉ rõ rằng chủ nghĩa duy vật biện chứng đó chính là triết học của chủ nghĩa Mác. Cho đến nay, chỉ có triết học Mác là mang tính ưu việt hơn cả. Trên cơ sở nền tảng triết học Mác Lênin, Đảng và Nhà nước ta đã học tập và tiếp thu tư tưởng tiến bộ, đề ra những mục tiêu, phương hướng chỉ đạo chính xác, đúng đắn để xây dựng và phát triển xã hội, phù hợp với hoàn cảnh đất nước. Mặc dù có những khiếm khuyết không thể tránh khỏi song chúng ta luôn đi đúng hướng trong cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế, từng bước đưa đất nước ta tiến kịp trình độ các nước trong khu vực và thế giới về mọi mặt. Chính những thành tựu của xây dựng chủ nghĩa xã hội và qua hai mươi năm đổi mới là minh chứng xác đáng cho vấn đề nêu trên. Hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn cùng với sự nắm bắt các quy luật khách quan trong vận hành nền kinh tế ở nước ta là một vấn đề còn nhiều xem xét và tranh cãi, nhất là trong quá trình đổi mới hiện nay.Vì vậy, em quyết định chọn nội dung “Vận dụng mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn vào quá trình đổi mới ở Việt Nam” làm đề tài tiểu luận của mình.
Trang 1VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VÀO QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM.
A.MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Nước ta đang trên con đường tiến lên công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, xâydựng nền kinh tế thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy việc nắm vững cácquan điểm thực tiễn, phát triển lí luận nhằm đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên giành thắnglợi luôn là vấn đề cần thiết cần sự quan tâm của cả xã hội
Trong xã hội , triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triển của bất cứhình thái kinh tế nào Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức và thực tiễn, phươngpháp biện chứng luôn là cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉ cho hoạt động thực tiễn,xây dựng và phát triển xã hội cho hoạt động Chúng ta biết rằng, triết học là một trong
ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác Lênin đã chỉ rõ rằng chủ nghĩa duy vật biệnchứng đó chính là triết học của chủ nghĩa Mác Cho đến nay, chỉ có triết học Mác làmang tính ưu việt hơn cả Trên cơ sở nền tảng triết học Mác - Lênin, Đảng và Nhà nước
ta đã học tập và tiếp thu tư tưởng tiến bộ, đề ra những mục tiêu, phương hướng chỉ đạochính xác, đúng đắn để xây dựng và phát triển xã hội, phù hợp với hoàn cảnh đất nước.Mặc dù có những khiếm khuyết không thể tránh khỏi song chúng ta luôn đi đúng hướngtrong cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế, từng bước đưa đất nước ta tiến kịp trình độ cácnước trong khu vực và thế giới về mọi mặt Chính những thành tựu của xây dựng chủnghĩa xã hội và qua hai mươi năm đổi mới là minh chứng xác đáng cho vấn đề nêu trên.Hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn cùng với sự nắm bắt các quy luật khách quantrong vận hành nền kinh tế ở nước ta là một vấn đề còn nhiều xem xét và tranh cãi, nhất
là trong quá trình đổi mới hiện nay.Vì vậy, em quyết định chọn nội dung “Vận dụng mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn vào quá trình đổi mới ở Việt Nam” làm đề tài
tiểu luận của mình
2 Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Qua việc vận dụng nghiên cứu mối quan hệ giữa lí luận và thực tiễn trong quátrình đổi mới nhằm giúp Đảng và Nhà nước ta có nhận thức, vận dụng đúng đắn nhữngquan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh vào quá trình đổi mới trêntất cả các lĩnh vực Trên cơ sở đó rút ra kinh nghiệm tổng kết thực tiễn Đổi mới trên cơ
sở vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò sáng tạo chủ động củanhân dân xuất phát từ thực tiễn nhạy bén cái mới
3.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đây là một đề tài rộng được nhiều tác giả nghiên cứu Tôi xin trình bày quá trìnhĐảng và Nhà Nước ta vận dụng mối quan hệ giữa lí luận và thực tiễn để đổi mới đấtnước trên tất cả các lĩnh vực Từ đó tìm ra những mặt tiêu cực, hạn chế còn tồn tại đểtrong quá trình đổi mới để đưa ra những giải pháp phù hợp
4.Phương pháp nghiên cứu.
Tiểu luận sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩaMác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương chính sách nghị quyết của Đảng
Trang 2và Nhà nước ta Cùng với phương pháp trên, tiểu luận còn sử dụng phương phápnghiên cứu tài liệu, phương pháp so sánh, thu thập tài liệu
5 Kết cấu của đề tài.
Tiểu luận bao gồm: phần mở đầu; kết luận, danh mục ghi tài liệu tham khảo; phầnphụ lục và phần nội dung gồm có 3 chương:
Chương I: Cơ sở lí luận chung.
Chương II: Vận dụng mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn để tìm hiểu quá trình
phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam từ khi đổi mới đến nay
Chương III Một số giải pháp nhằm vận dụng tốt hơn mối quan hệ giữa lí luận và
thực tiễn trong việc phát triển kinh tế xã hội của nước ta
B NỘI DUNG Chương I: Cơ sở lí luận.
Thực tiễn theo quan điểm triết học Mác xít: Là những hoạt động vật chất cảm tính,
có mục đích, có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo, làm biến đổi tự nhiên
và xã hội
- Kết cấu của thực tiễn:
Hoạt động sản xuất vật chất: Trong hoạt động vật chất, con người sử dụng các
phương tiện, công cụ, sức mạnh vật chất của mình để tác động vào tự nhiên, xã hộinhằm cải tại, biến đổi chúng phù hợp với nhu cầu của mình Đây là một quá trình tươngtác giữa chủ thể và khách thể Trong đó, chủ thể hướng vào việc cải tạo khách thể Chonên thực tiễn trở thành khâu trung gian nối liền ý thức con người với thế giới bên ngoài
Trang 3Chỉ có thực tiễn mói trực tiếp làm thay đổi thế giới hiện thực, mới thực sự mangtính chất phê phán và cách mạng Đây là đặc điểm quan trọng nhất của thực tiễn, là cơ
sở để phân biệt hoạt động thực tiễn khác với hoạt động lý luận của con người
Hoạt động chinh trị - xã hội: Là hoạt động của con người trong các lĩnh vực chính
trị - xã hội nhằm phát triển và hoàn thiện các thiết chế xã hội, các quan hệ xã hội làm địabàn rộng rãi cho hoạt động sản xuất và tạo ra những môi trường xã hội xứng đáng vớibản chất của con người bằng cách đấu tranh giai cấp và đấu tranh cách mạng
Hoạt động thực nghiệm khoa học: Là hoạt động thực tiễn đặc biệt vì con người phải
tạo ra một thế giới riêng cho thực nghiệm của khoa học tự nhiên và cả khoa học xã hội
1.2 Vai trò của thực tiễn.
Hoạt động thực tiễn là cơ sở, là nguồn gốc, là động lực, là mục đích, là tiêu chuẩn củanhận thức
- Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức
Trong hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi thế giới khách quan, bắt các sựvật, hiện tượng của thế giới khách quan phải bộc lộ những thuộc tính và quy luật củachúng Trong quá trình hoạt động thực tiễn luôn luôn nảy sinh các vấn đề đòi hỏi conngười phải giải đáp và do đó nhận thức được hình thành Như vậy, qua hoạt động thựctiễn mà con người tự hoàn thiện và phát triển thế giới quan( tạo điều kiện cho nhận thứccao hơn)
Qua hoạt động thực tiễn, não bộ con người cũng ngày càng phát triển hơn, các giác quanngày càng hoàn thiện hơn
Thực tiễn là nguồn tri thức, đồng thời cũng là đối tượng của nhận thức
Chính hoạt động thực tiễn đã đặt ra các nhu cầu cho nhận thức, tạo ra các phương tiệnhiện đại giúp con người đi sâu tìm hiểu tự nhiên
- Thực tiễn là động lực của nhận thức
Ngay từ đầu, nhận thức đã bắt nguồn từ thực tiễn, do thực tiễn quy định Mỗibước phát triển của thực tiễn lại luôn luôn đặt ra những vấn đề mới cho nhận thức, thúcđẩy nhận thức tiếp tục phát triển Như vậy thực tiễn trang bị những phương tiện mới, đặt
ra những nhu cầu cấp bách hơn, nó rà soát sự nhận thức Thực tiễn lắp đi lắp lại nhiềulần, các tài liệu thu thập được phong phú, nhiều vẻ, con người mới phân biệt được đâu làmối quan hệ ngẫu nhiên bề ngoài, đâu là mối liên hệ bản chất, những quy luật vận động
và phát triển của sự vật
- Thực tiễn là mục đích của nhận thức
Những tri thức khoa học chỉ có ý nghĩa thực tiễn khi nó được vận dụng vào thựctiễn Mục đích cuối cùng của nhận thức không phải là bản thân các tri thức mà là nhằmcải tạo hiện thức khách quan, đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần xã hội Sựhình thành và phát triển của nhận thức là bắt nguồn từ thực tiễn, do yêu cầu của thựctiễn
Nhận thức chỉ trở về hoàn thành chức năng của mình khi nó chỉ đạo hoạt động thực tiễn,giúp cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả hơn Chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn, thìtri thức con người mới thể hiện được sức mạnh của mình, sự hiểu biết của con ngườimới có ý nghĩa
Trang 4- Thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức
Bằng thực tiễn mà kiểm chứng nhận thức đúng hay sai Khi nhận thức đúng thì nóphục vụ thực tiễn phát triển và ngược lại
- Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
+ Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý khôngphải là ý thức tư tưởng, tư duy mà là thực tiễn Bởi vì chỉ có thông qua hoạt động thựctiễn, tri thức mới trở lại tác động vào thế giới vật chất, qua đó nó được ”hiện thực hoá”,
“vật chất hơn” thành các khách thể cảm tính Từ đó mới có căn cứ để đánh giá nhận thứccủa con người đúng hay sai, có đạt tới chân lý hay không
Thực tiễn có rất nhiều hình thức khác nhau, nên nhận thức của con người cũng đượckiểm tra thông qua rất nhiều hình thức khác nhau
+Thực tiễn của xã hội luôn luôn vận động và phát triển
+Thực tiễn trong mỗi giai đoạn lịch sử đều có giới hạn Nó không thể chứng minh haybác bỏ hoàn toàn một tri thức nào đó của con người mà nó được thực tiễn tiếp theochứng minh, bổ sung thêm
Như vậy tiêu chuẩn thực tiễn cũng mang tính chất biện chứng và như vậy mới có khảnăng kiểm tra một cách chính xác sự phát triển biện chứng của nhận thức
* ý nghĩa.
Thực tiễn lớn nhất ở nước ta hiện nay là thực tiễn xây dựng nền kinh tế thị trườngmới, nền văn hoá mới đậm đà bản sắc dân tộc và chế độ xã hội mới: công bằng, bìnhđẳng, tién bộ
Trong lĩnh vực kinh tế, đường lối, chính sách hay các giải pháp kinh tế cụ thể muốn biếtđúng hay sai đều phải thông qua vận dụng chúng trong sản xuất, kinh doanh cũng nhưquản lý các quá trình đó Đường lối chính sách cũng như các giải pháp kinh tế chỉ đúngkhi chúng mang lại hiệu quả kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao năng suất laođộng, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội sau những bước tiến và những thành tựu to lớnmang lại ý nghĩa lịch sử, giờ đây lại đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết Những hoạt độngnghiên cứu lý luận chính là nhằm tìm ra lời giải đáp cho những vấn đề của giai đoạncách mạng hiện nay Công cuộc đổi mới ở nước ta vừa là mục tiêu, vừa là động lựcmạnh mẽ thúc đẩy hoạt động nhận thức nói chung và công tác lý luận nói riêng, nhấtđịnh sẽ đem lại cho chúng ta những hiểu biết mới, phong phú hơn và cụ thể hơn về môhình chủ nghĩa xã hội, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
2. Lý luận.
Trang 5- Lý luận mở đường và hướng dẫn hoạt động của thực tiễn:
Ví dụ như lý luận Mác – Lênin hướng dẫn con đường đấu tranh của giai cấp vô sản
Sự thành công hay thất bại của hoạt động thực tiễn là tùy thuộc vào nó được hướng dẫnbởi lý luận nào, có khoa học hay không? Sự phát triển của lý luận là do yêu cầu của thựctiễn, điều đó cũng nói lên thực tiễn không tách rời lý luận, không thể thiếu sự hướng dẫncủa lý luận
Vai trò của lý luận là ở chỗ: nó đưa lại cho thực tiễn các tri thức đúng đắn về các quyluật vận động, phát triển của hiện thực khách quan , từ đó mới có cơ sở để định ra mụctiêu và phương pháp đúng đắn cho hoạt động thực tiễn
Quan hệ giữa lý luận và thực tiễn mang tính chất phức tạp, quan hệ đó có thể làthống nhất hoặc mâu thuẫn đối lập
3. Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn
Được thể hiện bằng mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn GIữa lý luận và thực tiễnthống nhất biện chứng với nhau Sự thống nhất đó bắt nguồn từ chỗ: chúng đều là hoạtđộng của con người, đều nhằm mục đích cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội để thoả mãnnhu cầu của con người
- Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn
Lý luận dựa trên nhu cầu của thực tiễn và lấy được chất liệu của thực tiễn Thựctiễn là hoạt động cơ bản nhất của con người, quyết định sự tồn tại và phát triển xã hội
Lý luận không có mục đích tự nó mà mục đích cuối cùng là phục vụ thực tiễn Sức sốngcủa lý luận chính là luôn luôn gắn liền với thực tiễn, phục vụ cho yêu cầu của thực tiến
- Lý luận mở đường và hướng dẫn hoạt động của thực tiễn
Ví dụ: lý luận Mác - Lênin hướng dẫn con đường đấu tranh của giai cấp vô sản
Sự thành công hay thất bại của hoạt động thực tiễn là tuỳ thuộc vào nó được hướng dẫnbởi lý luận nào, có khoa học hay không? Sự phát triển của lý luận là do yêu cầu của thựctiễn, điều đó cũng nói lên thực tiễn không tách rời lý luận, không thể thiếu sự hướng dẫncủa lý luận
Vai trò của lý luận khoa học là ở chỗ: nó đưa lại cho thực tiễn các tri thức đúng đắn vềcác quy luật vận động, phát triển của hiện thực khách quan, từ đó mới có cơ sở để định
ra mục tiêu và phương pháp đúng đắn cho hoạt động thực tiễn
Quan hệ lý luận và thực tiễn mang tính chất phức tạp, quan hệ đó có thể là thống nhấthoặc mâu thuẫn đối lập
- Lý luận và thực tiễn là thống nhất
Lý luận và thực tiễn thống nhất khi giai cấp thống trị còn mang tinh thần tiến bộ
và còn giữ sứ mệnh lịch sử Khi lý luận và thực tiễn thống nhất thì chúng sẽ tăng cườnglẫn nhau và phát huy vai trò của nhau Sự thống nhất đó là một trong những nguyên lýcăn bản của triết học Mác- Lênin
Trang 6- Sự mâu thuẫn của lý luận và thực tiễn
Xảy ra khi giai cấp thống trị trở nên phản động, lỗi thời, lạc hậu Khi mâu thuẫnnảy sinh, chúng sẽ làm giảm ảnh hưởng của nhau Điều đó dẫn đến mọi đường lối, chínhsách xã hội trở nên lạc hậu và phản động
đi vào tiến hành đổi mới Quá trình đổi mới nói chung, đổi mới kinh tế nói riêng và việcnhận thức quá trình đổi mới đó không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau cùng pháttriển
Chương II Vận dụng mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn để tìm hiểu quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam từ khi đổi mới đến nay.
2.1.Một số nét sơ lược về quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam trước đổi mới.
* Tình hình:
Sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi, dựa vào kinh nghiệm của các nước xã hộichủ nghĩa lúc đó, nước ta bắt đầu xây dựng một mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trungdựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Các hình thức tổ chức sản xuất và dịch vụquốc doanh được phát triển Cùng với quốc doanh, hợp tác xã được tổ chức rộng rãi ởnông thôn và thành thị Với hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể, sở hữu tư nhân bịthu hẹp lại, không còn cơ sở cho tư nhân phát triển Cùng với quốc doanh, hợp tác xãđược tổ chức rộng rãi vì ta đã học tập được mô hình tổ chức kinh tế của Liên Xô cũ Với
sự nỗ lực cao độ của nhân dân ta, cùng với sự giúp đỡ tận tình của các nước xã hội chủnghĩa lúc đó, mô hình kế hoạch hoá tập trung đã phát huy được những tính ưu việt đó
Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, phân tán và manh mún, bằng công cụ kếhoạch hóa, ta đã tập trung được vào trong tay một lực lượng vật chất quan trọng về cơ sởvật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng thành thị và nông thôn, đất đai, máy móc, tiền vốn để ổnđịnh và phát triển kinh tế
Vào những năm sau của thập niên 60, ở Miền Bắc đã có những chuyền biến về kinh tế,
xã hội Trong thời kỳ đầu, nền kinh tế tập trung bao cấp đã tỏ ra phù hợp với nền kinh tế
tự cung, tự cấp, phù hợp với điều kiện hai nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu trong chiếntranh lúc đó
Năm 1975, sau ngày giải phóng miền Nam, một bức tranh mới về hiện trạng kinh
tế Việt Nam đã thay đổi Đó là sự duy trì một nền kinh tế tồn tại cả ba loại hình:
+Kinh tế cổ truyền (tự cung tự cấp)
+Kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp (ở miền Bắc)
Trang 7+Kinh tế thị trường (đặc trưng ở miền Nam).
Mặc dù đây là một tồn tại khách quan sau năm 1975 nhưng chúng ta vẫn tiếp tục xâydựng nền kinh tế tập trung theo cơ chế kế hoạch hoá trên phạm vi cả nước Đó là sự ápđặt rất bất lợi
* Hậu quả:
Do chủ quan nóng vội, cứng nhắc, chúng ta đã không quản lý được hiệu quả cácnguồn lực dẫn tới việc sử dụng lãng phí nghiêm trọng các nguồn lực của đất nước
- Tài nguyên bị phá hoại, sử dụng khai thác không hợp lý, môi trường bị ô nhiễm
- Nhà nước bao cấp và tiến hành bù lỗ phổ biến gây hậu quả nghiệm trọng cho nền kinhtế
+ Sự tăng trưởng kinh tế chậm lại, tăng trưởng kinh tế trên lý thuyết, giấy tờ
+Hàng hoá, sản phẩm trở nên khan hiếm, không đáp ứng được nhu cầu trong nước.+Ngân sách thâm hụt nặng nề Vốn nợ đọng nước ngoài ngày càng tăng và không có khảnăng cho chi trả
+Thu nhập từ nền kinh tế quốc dân không đủ chi dùng, tích luỹ hầu như không có
+Vốn đầu tư cho sản xuất và xây dựng chủ yếu là dựa vào vay và viện trợ nước ngoài
- Cùng với đó là sự thoái hoá về mặt con người và xã hội
- Đến năm 1979, nền kinh tế rất suy yếu, sản xuất trì trệ, đời sống nhân dân khó khăn,nguồn trợ giúp từ bên ngoài giảm mạnh
- Từ năm 1975 đến năm 1985, các thành phần kinh tế tư bản tư nhân, cá thể bị tiêu diệthoặc không còn điều kiện phát triển dẫn đến thực trạng tiềm năng to lớn của các thànhphần kinh tế này không được khai thác và phục vụ cho mục tiêu chung của nền kinh tế.Ngược lại, thành phần kinh tế quốc doanh đã phát triển ồ ạt, tràn lan trên mọi lĩnh vựctrở thành địa vị đọc tôn trong hầu hết các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ (trừngành nông nghiệp, thành phần kinh tế tập thể là chủ yếu).Thời điểm cao nhất,thànhphần kinh tế quốc doanhđã cõ gần 13 nghìn doanh nghiệp với số tài sản cố địnhchiếm 70% tổng số tài sản cố định của nền kinh tế Thời kỳ này, kinh tế nước ta tuy cóđạt được tốc độ tăng trưởng nhất định nhưng sự tăng trưởng đó không có cơ sở để pháttriển vì đã dựa vào điều kiện bao cấp, bội chi ngân sách, lạm phát và vay nợ nước ngoài
- Do phát triển tràn lan lại quản lý theo cơ chế bao cấp, kế hoạch hoá tập trung nên nhànước gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý, điều hành các doanh nghiệp quốc doanh,nhiều doanh nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ, lực lượng sản xuất không được giảiphóng, nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng và tụt hậu
* Nguyên nhân.
Trong nhận thức cũng như trong hành động, chúng ta chưa thật sự thừa nhận cơcấu kinh tế nhiều thành phần còn tồn tại trong thời gian tương đối dài, chưa nắm vững
và vận dụng đúng lý luận và thực tiễn vào tinh hình nước ta
Đến năm 1986, cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp về căn bản vẫn chưa bị xoá bỏ Cơchế mới chưa được thiết lập đồng bộ, nhiều chính sách, thể chế lỗi thời chưa được thayđổi Tình trạng tập trung quan liêu còn nặng, đồng thời những hiện tượng vô tổ chức, vô
kỷ luật còn khá phổ biến
Trang 8Việc đổi mới cơ chế và bộ máy quản lý, việc điều hành không nhạy bén, là nhữngnguyên nhân quan trọng dẫn tới hành động không thống nhất từ trên xuống dưới.
Chúng ta mới nêu ra được phương hướng chủ yếu của cơ chế mới, hình thức, bước đi,cách làm cụ thể thì còn nhiều vấn đề chưa giải quyết được thoả đáng cả về lý luận vàthực tiễn
* Phương hướng chỉ đạo.
Chúng ta đã bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận trong thời kỳ quá độ:”Khuynhhướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy,đặc biệt là những chính sách kinh tế làbệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theonguyện vọng chủ quan” (Đảng công sản Việt nam - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VI-1986) Chúng ta đã có những thành kiến không đúng, trên thực tế, chưa thừanhận thật sự những quy luật của sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan
Chúng ta đã ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách quá mức mà hiệu quảkinh tế phát triển chậm Hơn thế nữa, ta chưa chú ý đúng mức tới sản xuất nông nghiệp
và sản xuất hàng tiêu dùng nên đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn
Chính vì vậy, đại hội VI ( tháng 12-1986) đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đấtnước bao gồm đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức cán bộ, đổi mới phương thức lãnh đạo
và phong cách công tác Đại hội đặc biệt nhấn mạnh phải đổi mới tư duy, trước hết là tưduy kinh tế, phải nắm vững quy luật khách quan, lấy dân làm gốc
Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Những quan điểm,đường lói do Đại hội VI vạch ra là sự vận dụng đúng đắn và sáng tạo chủ nghĩa Mac –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn của đất nước Công cuộc đổi mới của Đảng
ta từ sau Đại hội VI đến nay nước ta không nằm ngoài những quy luật phổ biến của phépbiện chứng Đảng ta đã vận dụng phép biện chứng vào nhận thức hiện thực xã hội, phântích các mối liên hệ biện chứng của đời sống hiện thực, tìm ra các mâu thuẫn đó và tạođộng lực mạnh mẽ cho quá trình đổi mới đó
2.2 Quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam từ khi đổi mới đến nay.
Việc Đảng ta tổng kết những bài học ở Đại hội VI, lần đầu tiên chỉ rõ sai lầm chủquan, duy ý chí, coi thường các quy luật khách quan dẫn tới làm sai, làm hỏng và phảisửa chữa trong các chính sách xây dựng kinh tế, phát triền văn hoá có ý nghĩa tự giảiphóng và mở đường cho sự phát triển mới rất to lớn
Trên thực tế, đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo có một sự tương đồng về hoàncảnh, nội dung và ý nghĩa như”Chính sách kinh tế mới của Lênin” (NEP) Với đổi mới,quan niệm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta đãngày được xác định rõ hơn Nó thấm nhuần quan điểm lịch sử cụ thể, quan điểm thựctiễn và quan điểm phát triển
2.2.1 Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn trong đổi mới về kinh tế
2.2.1.1 Về các thành phần kinh tế và các chủ thể kinh tế thị trường.
Đổi mới về mối quan hệ giữa củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất với phát triển lựclượng sản xuất - một trong những căn cứ quan trọng cho sự đổi mới tư duy về cấu trúcnền kinh tế (cấu trúc sở hữu và các thành phần kinh tế )
Trang 9Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt thống nhất của phương thức sảnxuất, trong đó, mỗi mặt có vị trí và tác động không giống nhau Lực lượng sản xuất làmặt động nhất, cách mạng nhất và giữ vị trí quyết định đối với quan hệ sản xuất Mốiquan sản xuất được thiết lập thích ứng với trạng thái, trình độ phát triển của lực lượngsản xuất sẽ giữ vai trò mở đường tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sảnxuất: Lực lượng sản xuất quyết định tính chất của quan hệ sản xuất, quyết định sự pháttriển của quan hệ sản xuất, do đó, không thể nóng vội thiết lập quan hệ sản xuất mới khichưa tạo ra được lực lượng sản xuất mới và cũng không thể tuỳ tiện xoá bỏ quan hệ sảnxuất hiện có khi nó còn tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển.
Như vậy, từ chỗ chủ trương xây dựng quan hệ sản xuất phải đi trước để mở đường,thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, chúng ta đã nhận thức lại yêu cầu củng
cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, để giải
phóng sức sản xuất, đã khẳng định thước đo của đổi mới là thực tiễn: sản xuất phát
triển, lưu thông thông suốt, đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân từng bước đượcnâng cao, xã hội ngày càng lành mạnh, chế độ xã hội chủ nghĩa được củng cố Đã khẳngđịnh mục tiêu đúng đắn của đổi mới, hoàn thiện quan hệ sản xuất nhằm giải phóng sứcsản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, đồng thời tạo sự đồng thuận trong xãhội, tạo sự lực thu hút mọi nguồn lực trong xã hội đầu tư cho phát triển
• Về vấn đề sở hữu.
Trước đây, trong xây dựng quan hệ sản xuất chỉ chú trọng quan hệ sở hữu mà mấuchốt là cải biến chế độ sở hữu cá thể và chế độ sở hữu tư bản tư nhân về tư liệu sảnxuất thành các hình thức khác nhau của chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa Đổi mới yêucầu phải chú trọng cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ sản xuất mới bao gồm bamặt: xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chế độ quản lý và chế độ phân phối
xã hội chủ nghĩa Từ chỗ coi các hình thức sở hữu tồn tại biệt lập trong từng thành phầnkinh tế đến chỗ coi các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất vốn có bản chất riêng nhưngtrong hoạt động sản xuất kinh doanh không ngăn cách nhau mà có nhiều loại hình đadạng, đan xen, hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu
Quan niệm về sở hữu cũng có những đổi mới rất căn bản, từ chỗ chỉ nhìn nhận đốitượng sở hữu về mặt hiện vật, tiến đến chú trọng đối tượng sở hữu về mặtgiá trị và sở hữu trí tuệ; có sự phân định và ngày càng làm rõ quan hệ giữa quyền sở hữu
và quyền sử dụng, đặt cơ sở quan trọng cho việc phân định trong mối quan hệ giữaquyền chủ sở hữu và quyền tài sản tại doanh nghiệp nhà nước
Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ VII (1994) nhận thức về khả năng và
sự cần thiết tách bạch quan hệ quản lý kinh doanh từ chủ thể sở hữu là Nhà nước đãđược phát triển thêm một bước không chỉ trong quan hệ đất đai mà còn mở rộng ra cáctài sản khác mà Nhà nước quản lý, từ đó đã phân biệt rõ sở hữu nhà nước và doanhnghiệp nhà nước Phát triển sở hữu nhà nước để bảo đảm vai trò điều tiết kinh tế - xã hội
có hiệu quả cao, chuyển một bộ phận tài sản do nhà nước quản lý cho các chủ thể khác
sử dụng với mục đích kinh doanh dưới các hình thức: giao quyền sử dụng lâu dài (đấtđai, rừng ), cho thuê, tô nhượng (hầm mỏ), liên doanh; góp cổ phần…
Trang 10Đại hội IX đã xác định ba hình thức sở hữu tồn tại căn bản trong nền kinh tế nhànước, bao gồm sở hữu toàn dân; sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể Nhà nước chú trọngphát triển các hình thức tổ chức kinh doanh đan xen, hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu,giữa các thành phần kinh tế với nhau, giữa trong nước và nước ngoài Phát triển mạnhhình thức tổ chức kinh tế cổ phần nhằm huy động và sử dụng rộng rãi vốn đầu tư xã hội.
* Về các thành phần kinh tế
Đại hội lần thứ VI của Đảng trên cơ sở vận dụng quan điểm của Lênin về chính sáchkinh tế mới, về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội ở nước Nga Xôviết và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong chế độ dân chủ mới cónăm loại hình kinh tế khác nhau và xuất phát từ thực tiễn 10 năm tìm tòi, thử nghiệm ởnước ta Đảng đã xác định nền kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta là một nền kinh tế
có cơ cấu nhiều thành phần Các thành phần đó là:
Kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm khu vực quốc doanh và khu vực tập thể, cùng với
bộ phận kinh tế gia đình gắn liền với thành phần đó
Các thành phần kinh tế khác gồm: kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá (thợ thủ công, nôngdân cá thể, những người buôn bán, kinh doanh dịch vụ cá thể); kinh tế tư bản tư nhân,kinh tế có vốn đầu tư nước ng dưới nhiều hình thức, mà hình thức cao là công tư hợpdoanh; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiẻu số ởTây Nguyên và các vùng cao khác
Trong các thành phần kinh tế ấy, kinh tế xã hội chủ nghĩa với khu vực quốc doanhlàm nòng cốt phải giành được vai trò quyết định trong nền kinh tế quốc dân, cụ thể làchiếm tỷ trọng lớn cả trong sản xuất và lưu thông Thể hiện tính ưu việt và chi phối đượccác thành phần kinh tế khác
Đổi mới lại hệ thống doanh nghiệp nhà nước để củng cố và tăng cường vai tròchủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế Phân biệt sở hữu nhà nước với hình thứcdoanh nghiệp nhà nước Tài sản và vốn thuộc sở hữu nhà nước được sử dụng dưới nhiềuhình thức để bảo đảm hiệu quả kinh tế đồng thời tăng cường khả năng kiểm soát trựctiếp của nhà nước Tập trung xây dựng doanh nghiệp nhà nước ở những ngành, lĩnh vựckết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, hệ thống tài chính ngân hàng Trong nhiều lĩnh vực, thựchiện chủ trương giảm bớt những doanh nghiệp nhà nước không cần giữ hình thức quốcdoanh, đồng thời cho phép các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác tham gia.Tăng cường hệ thống thương nghiệp nhà nước, khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tếtrong nông nghiệp, đồng thời coi trọng phát triển ngành dịch vụ
2.2.2 Về việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường
2.2.2.1 Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Việc đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa làmột đột phá lí luận rất sáng tạo của Đảng ta Từ đại hội VI, chúng ta đã dứt khoát từ
bỏ mô hình kinh tế phi hàng hóa, phi thị trường, mô hình kinh tế tập trung quan liêu,bao cấp , chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Cương lĩnh
1991 khẳng định “ Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xãhội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà Nước” Đại hội
Trang 11IX đư ra khái niệm” kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” xem đó là môhình tổng quát trong suốt thời kì qua độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội; trong đó quá trình sản xuất,phân phối, trao đổi và tiêu dùng đều được thực hiện thông qua thị trường Vì thế kinh tế thị trường không chỉ là “công nghệ”, là “phương tiện” để phát triển kinh tế - xã hội, màcòn là những quan hệ kinh tế - xã hội, nó không chỉ gồm lực lượng sản xuất, mà còn cảmột hệ thống quan hệ sản xuất Như vậy rõ ràng là không thể có một nền kinh tế thịtrường chung chung, trừu tượng tách rời khỏi hình thái kinh tế - xã hội, tách rời khỏi chế
độ chính trị - xã hội của một nước
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế vừa tuân theo quyluật của kinh tế thị trường, vừa chịu sự chi phối của các nhân tố định hướng xã hội chủnghĩa Vì thế kinh tế thị trường ở nước ta vừa có những đặc trưng chung, phổ biến củamọi nền kinh tế thị trường, vừa có những đặc trưng mang tính đặc thù - định hướng xãhội chủ nghĩa Theo tinh thần của các đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam từ lần thứ VI đếnlần thứ X định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường thể hiện ở các nội dung sauđây: Thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh;giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhândân; đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, đồng thời khuyến khích mọi người làm giàu chínhđáng và giúp đỡ, tạo điều kiện để người khác thoát khỏi nghèo, từng bước khá giả hơn;phát triển kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhànước giữ vai trò chủ đạo; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước vàtừng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáodục giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người; thực hiện chế độphân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng gópvốn cùng với nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội; phát huy quyền làm chủ xãhội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng cộng sản Việt Nam
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự quản lý của nhà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhân tố hàng đầu quyết định thành công sự phát triển rútngắn, bền vững nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và côngcuộc xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, kinh tế thị trường mới không bị chệch địnhhướng xã hội chủ nghĩa
Về tốc độ tăng trưởng, trong những năm khởi đầu công cuộc đổi mới (1986-1991)tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng trưởng tương đối chậm Nhưng khi quá trình đổimới diễn ra rộng khắp và đi vào thực chất thì tốc độ tăng trưởng GDP luôn đạt mức cao
và ổn định kéo dài, mặc dù có lúc bị giảm sút do dự báo chủ quan và ảnh hưởng củacuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu
Năm 2008 là năm kỷ lục thu hút FDI của Việt Nam (đạt trên 60 tỷ USD) Năm 2009,
dù kinh tế thế giới đang suy thoái và khủng hoảng tài chính nhưng đến nay cam kết đầu
tư nước ngoài đã đạt 18 tỷ USD, dự kiến có thể đạt 20 tỷ USD Mặc dù kinh tế thế giớisuy thoái nhưng Việt Nam vẫn là một trong những nước đạt tăng trưởng dương (khoảng5,2% năm 2009) Kết quả này cũng nhờ vào chính sách mở cửa, thu hút đầu tư, tăng