1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BÀI THU HOẠCH HỒ SƠ 07

9 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 49,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bà Nhân không đồng ý với quyết định xử phạt nên bà đã khiếu nại và được UBND TP A giải quyết khiếu nại tại CV số 604/CV.UBND ngày 21/2/2018, với nội dung việc UBND TP ban hành quyết định

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHÓA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ

-o0o -BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

Môn: KN tham gia giải quyết các vụ việc hành chính

Hồ sơ số: LS.HC 07

Diễn lần: 01

Ngày diễn: 19/12/2021

Vai diễn: Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích HP NKK

Họ và tên: Nguyễn Tuấn Anh Ngày tháng năm sinh: 07/06/1987 MSHV: 04

Lớp: Đào tạo nghề Luật sư

Tại: Cần Thơ

Cần Thơ, ngày 19 tháng 12 năm 2021

Trang 2

1 Văn bản pháp luật áp dụng:

- Luật tố tụng hành chính năm 2015;

- Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung năm 2012;

- Nghị định 155/2016/NĐ-CP, ngày 18/11/2016 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;

- Thông tư 28/2011/TT-BTNMT, ngày 01/08/2011 quy định về quy trình kỹ thuật quan trắc môi trường không khí xung quan và môi trường;

2 Tóm tắt nội dung vụ án

Ngày 27/01/2018, UBND TP A ban hành Quyết định 44/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm về bảo vệ môi trường đối với bà Hoàng Thị Nhân là chủ cơ sở mộc, địa chỉ Lô 18P3, khóm Tân An, phường Tân Hội, TP.A; tổng tiền phạt 14.500.000đ, từng hành vi bị

xử phạt cụ thể là (1) không thực hiện nội dung trong bản cam kết bảo vệ môi trường theo điểm a khoản 2 Điều 8 Nghị định 155/2016/NĐ-CP - mức phạt 4.000.000đ; (2) thải bụi vượt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về chất thải dưới 1,5 lần, theo điểm a khoản 2 Điều

15 Nghị định 155/2016/NĐ-CP – mức phạt: 7.500.000đ; (3) gây tiếng ồn vượt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về tiếng ồn trong khoảng thời gian từ 06 giờ đến 21 giờ, theo khoản 2 Điều 17 Nghị định 155/2016/NĐ-CP, mức phạt 3.000.000đ

Bà Nhân không đồng ý với quyết định xử phạt nên bà đã khiếu nại và được UBND

TP A giải quyết khiếu nại tại CV số 604/CV.UBND ngày 21/2/2018, với nội dung việc UBND TP ban hành quyết định xử phạt bà Nhân là đúng quy định của pháp luật

3 Chủ thể khởi kiện

Bà Hoàng Thị Nhân, sinh năm 1960 là người trên 18 tuổi, có đủ năng lục hành vi hành chính, năng lực tố tụng hành chính và chịu ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp bởi Quyết định 44/QĐ-XPHC ngày 27/01/2018 xử phạt vi phạm về bảo vệ môi trường của UBND TP A Vì thế bà Nhân có quyền khởi kiện QĐ 44;

(K8, Đ3: Người khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành

chính… danh sách cử tri trưng cầu ý dân (sau đây gọi chung là danh sách cử tri)

và K2, Đ58 Năng lực hành vi tố tụng hành chính là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ trong tố tụng hành chính hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng hành chính.)

4 Người bị kiện, Đối tượng khởi kiện:

- Chủ tịch UBND thành phố A

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường số 44/QĐ-XPHC ngày 27/01/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố A (khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng hành chính 2015)

Trang 3

- Quyết định hành chính có liên quan: Công văn số 604/CV.UBND ngày 21/2/2018 của UBND TP A, về việc giải quyết khiếu nại của bà Hoàng Thị Nhân

5 Thẩm quyền và thời hiệu khởi kiện

- Khởi kiện Quyết định hành chính là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng hành chính 2015 Quyết định do Chủ tịch UBND TP A ban hành nên tòa án nhân dân cấp tỉnh B là Tòa án có thẩm quyền giải quyết (Căn cứ khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính 2015);

- QĐ xử phạt được ban hành ngày 27/1/2018, ngày 21/3/2018 bà Nhân khiếu nại là còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 116 Luật TTHC

6 Hỏi tại phiên Tòa:

6.1 Hỏi người bị khởi kiện

- Phó CT UBND TP A được giao quyền ký Quyết định số 44 dựa trên văn bản nào?

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính được ban hành dựa trên kết quả đo ngày nào?

- Tại sao không căn cứ kết quả tại biên bản kiểm tra ngày 11/01/2018 để làm căn cứ lập biên bản vi phạm hành chính ngày 14/01/2018 mà lại căn cứ vào kết quả ngày 11/11/2017?

- Tại sao thành phần Đoàn kiểm tra ngày 11/11/2017 khác với thành phần Đoàn kiểm tra do UBND TP A thành lập theo QĐ số 16/QĐ-UBND ngày 8/11/2017?

- Tại sao ngày 15/11/2017 đã có kết quả phân tích mẫu mà đến ngày 14/01/2018 mới lập biên bản vi phạm hành chính?

- Thời điểm lập Biên bản vi phạm hành chính ngày 14/01/2018 có sự tham gia của chính quyền địa phương không?

- Người bị kiện có ý kiến thế nào khi bà Nhân cho rằng ngày lập Biên bản vi phạm hành chính ngày 14/01/2018 chỉ có 08 người tham gia mà không phải là 11 người như ghi trong Biên bản?

- Tại sao ngày 14/01/2018 lập biên bản vi phạm hành chính mà đến ngày 27/01/2018 mới ra QĐ xử phạt?

- Mô tả rõ vị trí lấy mẫu ngày 11/11/2017?

- Hành vi vi phạm của bà Nhân có tình tiết tăng nặng nào?

6.2 Dự kiến hỏi Người khởi kiện

- Bà Nhân cho biết cơ quan nhà nước đã nhiều lần đến kiểm tra cơ sở mộc của bà đúng không?

- Ngoài lần kiểm tra ngày 11/11/2017, những lần khác kết luận kiểm tra như thế

Trang 4

- Bà Nhân cho biết vị trí Đoàn kiểm tra lấy mẫu ngày 11/11/2017?

- Tại sao bà ký biên bản kiểm tra ngày

11/11/2017? Ngày 14/01/2018, khi Đoàn kiểm tra đến lập biên bản có sự tham gia của UBND phường không?

- Trước đây, bà đã từng bị xử phạt hành chính đối với các hành vi tương tự như trong QĐ số 44 chưa?

Trang 5

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

BẢN LUẬN CỨ

Kính thưa Hội đồng xét xử

Tôi là Luật sư Nguyễn Tuấn Anh thuộc Văn phòng Luật sư MINH HIẾU - Đoàn luật sư tỉnh Đồng Tháp Theo yêu cầu của người khởi kiện và được sự cho phép của Hội đồng xét xử, tôi tham gia phiên tòa hôm nay với tư cách là Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Hoàng Thị Nhân là người khởi kiện trong vụ kiện hành chính được xét xử hôm nay

Qua việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, thu thập các chứng cứ có liên quan và lời trình bày của các đương sự tại phiên toà hôm nay, yêu cầu của người khởi kiện là hoàn toàn có

cơ sở bởi các lập luận sau đây:

Việc lấy mẫu để giám định không đúng trình tự thủ tục được quy định tại khoản 1, điều 9, thông tư 28 ngày 01/08/2011 Quy định quy trình kỹ thuật quan trắc môi trường không khí xung quanh và tiếng ồn Việc lấy mẫu để giám định không xác định được Tọa độ lấy mẫu giam định;

Xét

thời hạn lập Biên bản vi phạm hành chính , theo Biên bản kiểm tra do Đoàn kiểm tra lập ngày 11/11/2017, Đoàn kiểm tra đã tiến hành thu mẫu Ngày 15/11/2017 có kết quả phân tích mẫu của Trung tâm quan trắc và kỹ thuật tài nguyên môi trường tỉnh B Tuy nhiên, đến ngày 14/01/2018, Đội QL trật tự đô thị TP mới lập Biên bản vi phạm hành chính là đã 60 ngày từ ngày có kết quả phân tích mẫu Việc chậm lập biên bản VPHC với thời gian như trên là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật XLVPHC Xét trình tự thủ tục ban hành quyết định, Quyết định số 44 ngày 27/01/2018 căn cứ trên Biên bản vi phạm hành chính ngày 14/01/2018, tuy nhiên việc lập Biên bản vi phạm hành chính ngày 14/01/2018 chưa đảm bảo về trình tự, thủ tục theo quy định tại khỏan 2 Điều 58 Luật LVPHC Biên bản VPHC ngày 14/01/2018 do không có chữ ký của bà Nhân

và cũng không có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở

Xét về thẩm quyền ban hành, Quyết định số 44 ngày 27/01/2018 được ký ban hành bởi Phó chủ tịch UBND TP A, tuy nhiên trong phần căn cứ ra quyết định không thể hiện việc Phó chủ tịch UBND TP A được Chủ tịch UBND TP A giao quyền theo văn bản

Trang 6

quyền xử phạt cho cấp phó theo quy định theo quy định tại Điều 54 Luật xử lý vi phạm hành chính Do đó, Quyết định số 44 ngày 27/01/2018 được ban hành sai thẩm quyền Xét nội dung, việc xử lý vi phạm của bà Nhân hoàn toàn phải dựa trên kết quả phân tích mẫu Tuy nhiên, như đã phân tích, trong biên bản vi phạm hành chính ngày 14/01/2018 không nêu được việc xác định hành vi vi phạm căn cứ trên kết quả phân tích nào, vì vậy biên bản vi phạm hành chính ngày 14/01/2018 không có giá trị làm căn cứ để

ra quyết định xử phạt theo Điều 59 Luật xử lý vi phạm hành chính

Phía người bị kiện cho rằng có hành vi gây tiếng ồn, thải bụi vượt quá quy chuẩn dựa trên kết quả lấy mẫu ngày 11/11/2017 do Trung tâm quan trắc và kỹ thuật tài nguyên môi trường tỉnh B thực hiện Tuy nhiên tại Biên bản làm việc cũng như Biên bản thu mẫu ngày 11/11/2017 chỉ nêu chung chung vị trí lấy mẫu là trước cơ sở, trước nhà… mà không nêu rõ tọa độ Do đó, việc lấy mẫu không được bảo đảm là đã được thực hiện đúng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 9 Thông tư 28/2011/TT-BTNMT:

“- Vị trí lựa chọn phải đặc trưng cho khu vực cần quan trắc (phải có toạ độ xác định);

- Tránh các vật cản gây phản xạ âm;

- Tránh các nguồn gây nhiễu nhân tạo: tiếng nhạc, tiếng va đập của kim loại, trẻ

em nô đùa ;

- Chọn vị trí đo sao cho có sự truyền âm ổn định nhất với thành phần gió thổi không đổi từ nguồn đến vị trí đo”.

Bên cạnh đó, Biên bản kiểm tra ngày 11/01/2018 với thành phần đoàn kiểm tra gồm

04 người là chuyên viên phòng TN &MT TP, chuyên viên Đội QLTTĐT TP, cán bộ phường Tân Hội và bảo vệ dân phòng khóm Tân An có kết quả đo hoàn toàn ngược lại Trước đó, Đoàn kiểm tra liên ngành cũng đã kiểm tra và kết luận không có bụi phát tán ra xung quanh, đo độ ồn không vượt quá tiêu chuẩn quy định tại Biên bản ngày 11/04/2017 Hơn nữa, phía người khởi kiện cũng đã cung cấp Phiếu kết quả thử nghiệm và Báo cáo kết quả phân tích ngày 20/05/2018 do Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ thực hiện cho thấy tại cơ sở mộc Thái Sơn các chỉ tiêu tiếng ồn, bụi đều đạt so với tiêu chuẩn cho phép Điều đó cho thấy việc lấy mẫu ngày 11/11/2017 được thực hiện không đúng quy định dẫn đến kết quả có sai sót, không thể làm căn cứ để ra quyết định

xử phạt đối với bà Nhân

Mặt khác, việc áp dụng mức phạt 4.000.000đ đối với hành vi không thực hiện nội dung trong bản cam kết bảo vệ môi trường của là không phù hợp Theo điểm a khoản 2

Trang 7

Điều 8 Nghị định 155/2016/NĐ-CP quy định hành vi trên bị phạt tiền từ 1 – 5 triệu đồng Người bị kiện áp dụng mức phạt đối với bà Nhân là 4.000.000đ là đã áp dụng tình tiết tăng nặng, tuy nhiên trong Biên bản vi phạm hành chính ngày 14/01/2018 và Quyết định

số 44 ngày 27/01/2018 đều không chỉ ra tình tiết tăng nặng nào

Từ các lẽ trên, tôi khẳng định Quyết định số 44 ngày 27/01/2018 vi phạm thẩm quyền, thời hạn lập biên bản vi phạm hành chính, trình tự, thủ tục ra quyết định và cả nội dung quyết định, do đó đề nghị HĐXX căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 193 LTTHC 2015: Hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường số 44/QĐ-XPHC ngày 27/01/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố A

IV PHẦN NHẬN XÉT DIỄN ÁN

1 Nhận xét về thẩm phán chủ trì phiên hợp

- Thẩm phán chủ trì: Điều hành tốt phiên hợp, phiên hợp diễn ra đúng trình tự thủ tục theo quy định; thông báo đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự tham gia phiên họp;

- Không giải thích rõ về thẩm quyền giải quyết cho đương sự tham gia phiên tòa biết;

2 Nhận xét về thư ký tham gia phiên hợp:

- Chưa kiểm tra đầy đủ các thành phần tham gia phiên hợp, cũng như báo cáo cho thẩm phán chủ trì phiên hợp thiếu về thành phần tham gia phiên họp (thiếu LS bảo vệ cho NKK)

3 Nhận xét về người khởi kiện: Huỳnh Nam (Tuấn Anh)

-

4 Nhận xét về người bị kiện: Như Ý (Trung Quân)

- Sự phối hợp giữa LS và người bị kiện chưa thống nhất về nội dung,

5 Nhận xét về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Phát biểu tốt; Khi đo đất mẹ tôi có đồng ý cho tôi đứng tên; theo tạp quán tại địa phương thí con trai trong gia đình là được thừa hưởng phần đất do cha ong để lại, việc đó

là dúng theo quy định

6 Luật sư bảo vệ người khởi kiện (Nguyễn Thị Khả Ái); (Nguyễn Quốc Khải) (Ái) Phát biểu bổ sung ý kiến khởi kiện cùa NKK có bổ sung thêm căn cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện;

Thời hiệu khởi kiện vẫn còn và thẩm quyền giải quyết đúng theo TTHC 2010

Trang 8

(Khải) Phát biểu bổ sung ý kiến khởi kiện cùa NKK có bổ sung thêm căn cứ về hồ

sơ cấp đất cho NBK không đúng quy định pháp luật;

Quan điểm của UBND TP Hải Dương; Biên bản xác minh của Tòa án (!) xác định sai (Đ135 NĐ 181);

Khi đo đạt có thông báo cho gia đình anh Phong biết;

Thông tu 1990 UBND xã phải có trách nhiệm thẩm tra nguồn gốc đất (xã không xác minh kỹ nguồn gốc ai đang sử dụng)

7 Luật sư bảo vệ người bị kiện (Lâm sơn Hải) (Huỳnh Như)

(Như) Đưa ra quan điểm bảo vệ cho người bị kiện: Thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền khởi kiện cho rằng thời hiệu khởi kiện đã hết vì theo lời trình bày của bà Ngợi biết được việc cấp giấy 2015; Thẩm quyền giải quyết của Tò án tỉnh Hải Dương (K4, Đ32,

HC 2015)

(Hải) Phát biểu bổ sung ý kiến khởi kiện của NBK biên bản xác minh của Tòa án chứng minh có sự thỏa thuận của gia đình bà Ngợi

Ý kiến đóng góp

- Thanh Quang: Diễn tốt, nhưng phát biểu chưa chính;

- Thanh Giang: Thành công tốt, Sỹ Bằng (Ngợi) diễn tốt

- Huỳnh Nam: Thời hiệu khởi kiện của LSBĐ trình bày, LSNĐ biện hộ rất tốt làm

rõ có hay không có chứng cứ bảo vệ cho quan điểm của mình Quan hệ hôn nhân bà Ngợi ông Đặt những người thừa kế còn lại chưa ý kiến

- Thanh Phát: (Hải) Hỏi LS để xem còn phát biểu gì không? là không thuộc thẩm quyền của luật sư

- Hoàng Sơn: THống nhất ý kiến của các bạn; Việc công khai chứng cứ chưa chốt lại chứng cứ; chưa xác định thẩm quyền; chưa làm rõ việc bị đơn thay đổi ý kiến? thay đổi cái gì?

- Đỗ Minh Thanh: Không nghiêm túc trong quá trình tham gia phiên họp; đóng vai chưa phù hợp với người ủy quyền là bà Nhàn

- Khưu Ngọc Lâm Tấn: Các vai thực hiện đúng với quá trình vụ án; Nội dung xác định nguồn gốc đất; quá trình đăng ký có đúng quy định; gọi tên không đúng tên trong hồ

- Thúy Mi: Cần xoáy vào nội dung nộp thuế;

- Trần Văn Bé: Nội dung ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Trang 9

- Huỳnh Văn Nghiêm: Thống nhất các ý kiến đóng góp; LSNBK đưa quan điểm trái chiều với NBK; Tại phiên họp NBK thay đổi ý kiến

GV Nguyễn Thị Mai:

- Buổi diễn thành công, A Thành đóng vai NLQ cũng như người khởi kiện (Sĩ Bằng) thành công; Thư ký còn lúng túng; LS có ưu điểm riêng, kỹ năng rất tốt, liên quan đến nội dung diễn án; Phản ứng nhanh là bạn Quốc Hải

Ngày đăng: 08/03/2022, 20:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w