1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM

130 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam
Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xã hội có loại vun trồng vật chất đó là sự trồng trọt về cây cối, có loại vun trồng tinh thần cho con người đó chính là văn hóa.Văn hóa gắn liền với giáo dục đào tạo con người, một

Trang 1

CHƯƠNG 1: ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG

1.1 DẪN LUẬN VĂN HÓA

Văn hóa là một từ Việt gốc Hán Văn chỉ vẻ đẹp, cái hay cái đẹp; hóa hàm nghĩa thay đổi, làm cho tốt đẹp, hoàn thiện hơn Vì vậy trong sách Chu Dịch có câu: “Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ” (Quan sát vẻ đẹp của con người, của xã hội loài người, dựa vào đó mà giáo hóa thiên hạ) Đến đời nhà Hán hai từ văn hóa được kết hợp nhau lại thành từ ghép là văn hóa với hàm nghĩa: dùng để chế hợp lòng người, lễ nhạc văn chương, sách vở ghi lời hay ý đẹp, gương sáng đạo đức hiền tài… để cảm hóa dân chúng Với ý nghĩa đó, từ văn hóa được tiếp tục mở rộng ở cuối đời nhà Thanh, khi loại sách “tân thư” mới xuất hiện, đây là loại sách bàn về đổi mới thể chế xã hội do phong trào Duy Tân ở Trung Quốc khởi xướng Đồng thời trong cuộc cách mạng Minh Trị duy tân ở Nhật Bản 1868, các nhà khoa học đã dịch nhiều sách thuộc lĩnh vực văn chương học thuật phương Tây Họ đã dùng hai chữ văn hóa mượn của Trung Quốc để dịch thuật ngữ Culture trong sách tiếng Anh và tiếng Pháp, hoặc chữ Kultur trong tiếng Đức Văn hóa (Culture) là tất cả những gì được cải biến, không còn ở trạng thái tự nhiên (nature) Culture, culture bắt nguồn từ ngữ căn La tinh Cultura, cultus có nghĩa là vun trồng Trong xã hội có loại vun trồng vật chất đó là sự trồng trọt về cây cối, có loại vun trồng tinh thần cho con người đó chính là văn hóa.Văn hóa gắn liền với giáo dục đào tạo con người, một tập thể cộng đồng người

để họ có những phẩm chất tốt đẹp cần thiết cho toàn thể cộng đồng Về sau hàm nghĩa của văn hóa được tiếp tục mở rộng với nội dung gắn liền với những hoạt động thực tiễn sáng tạo của con người,nhằm nâng cao chất lượng và không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của con người trong xã hội

Qua những phân tích trên thì khái niệm văn hóa được các nhà nghiên cứu quan niệm: văn hóa

là cái tương xứng, đối lập với tự nhiên hay là thiên nhiên thứ hai do con người sáng tạo ra; hoặc

là cái tồn tại bên cạnh tự nhiên, đồng thời tương xứng và đối lập với chính bản năng của con người (là cái tự nhiên vốn có trong con người, giống như các loại động vật khác) Vì vậy văn hóa

là một hiện tượng lịch sử - xã hội mang tính nhân loại và tính dân tộc riêng biệt do điều kiện hoàn cảnh môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của mỗi dân tộc quy định, cùng với nhiều tính chất phức hợp nữa của các xã hội phân tầng ở nhiều mức độ của các quốc gia trên thế giới

Trang 2

Kể từ giữa thế kỉ XIX đến nay, có nhiều cách hiểu về văn hóa càng nói lên tính đa dạng của

văn hóa Theo tác giả Kroeber và Kluchkohn trong cuốn Văn hóa, một sự kiểm duyệt các khái niệm và định nghĩa đã đưa ra 164 định nghĩa về văn hóa Điều đó đã nói lên tính đa dạng của

văn hóa và cách hiểu về văn hóa Tuy nhiên các khái niệm ấy không mâu thuẫn mà bổ sung cho nhau Trong giới học thuật quốc tế ngày nay người ta chọn định nghĩa của nhà dân tộc học người

Anh Edward B Tayor như một định nghĩa đầu tiên mang tính chất kinh điển “Văn hóa hay văn

minh, được hiểu theo nghĩa rộng của dân tộc học, là một toàn bộ phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và mọi khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách một thành viên của xã hội” Ở khái niệm trên chúng ta lưu ý 4 khía

cạnh được đề cập: văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng; là một phức thể nhiều mặt; do con người tạo nên; con người đó được xét trong bối cảnh xã hội

Nhìn chung, các định nghĩa văn hóa đã công bố đều thống nhất với nhau ở một điểm đó là đều coi văn hóa như đặc điểm hoặc phương thức hoạt động sống của con người Do đó, văn hóa

là khái niệm cơ bản để chỉ các hình thức tổ chức đời sống của con người Đến những năm 90 của thế kỉ XX thì UNESSCO mới đưa ra định nghĩa: đó là một phức thể - tổng thể cá đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức vật chất và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng: gia đình, xóm làng, vùng miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống tín ngưỡng…

Tóm lại: chúng ta tạm đưa ra hai định nghĩa cô đọng của văn hóa theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp:

Theo định nghĩa chung: văn hóa là một toàn bộ phức hợp những mô thức ứng xử, hệ giá trị

và thành tựu của con người – xã hội trong các mối quan hệ với môi trường thiên nhiên, quần thể cộng đồng và thế giới tâm linh

Theo nghĩa riêng, văn hóa là những nét đặc trưng đời sống mang tính phổ biến cho một cộng đồng người, đồng thời là bản sắc khu biệt khi đối sánh với những cộng đồng người khác

1.1.2 Văn hóa học

Ví dụ 1: Nhã nhạc VN là loại hình nghệ thuật như thế nào?

Nó là 1 loại hình âm nhạc bác học, phản ánh tư duy và ước nguyện của các triều đại quân chủ trong XHVN, là một biểu tượng của vương triều, của sự yên bình cho cả quốc gia Nhã nhạc còn gọi là âm nhạc cung đình

- Ví dụ 2: Nhã nhạc ra đời vào lúc nào?

Ra đời vào thời Lý (1010-1225) và định hình vào triều nhà Hồ hoạt động có quy cũ phải vào thời Lê (1427-1788)

Trang 3

- Ví dụ 3: Bạn hiểu gì về nhạc cụ trong nhã nhạc?

Tiểu nhạc thì có: nhị, hồ, bầu, sáo, nguyệt, tam, phách, bản (trống nhỏ); Đại nhạc thì dùng trống lớn, mõ, bồng, xập xõa Ban nhạc có nữ không?

Từ những ví dụ trên có thể rút ra một vài nhận xét sau:

- Với tư cách là một khoa học lý luận, văn hoá học có nhiệm vụ nghiên cứu văn hoá như một

đối tượng riêng biệt với mục đích phát hiện các đặc trưng hệ thống, những quy luật hình thành và phát triển của một nền văn hoá, trên cơ sở những tư liệu do các ngành khác (dân tộc học, sử học, ngôn ngữ học, tôn giáo học ) cung cấp Nghiên cứu văn hoá dân tộc theo lối này không chỉ là tìm hiểu “cái gì”, mà chủ yếu là tìm hiểu “tại sao?” và “như thế nào?” Nhờ đi vào bề sâu, tìm những mối liên hệ hệ thống có tính chất bản chất giữa các sự kiện, văn hoá học sẽ cho phép hiểu, suy luận, suy ngẫm và lý giải các tư liệu văn hoá mà ta gặp

1.1.3 Phân biệt văn hoá và văn minh

- Theo Bửu Ý từ năm 1959 ở Singapore đã có 3 điều kì diệu: không có dây điện giăng trên đường phố, không có cảnh sát, không có rác 3 điều đó đã chứng tỏ cuộc sống văn minh

- Văn minh: là khái niệm có nguồn gốc từ phương Tây đô thị chỉ trình độ phát triển nhất định của văn hoá về phương tiện vật chất, nó đặc trưng cho 1 thời đại và 1 khu vực rộng lớn (hoặc cả nhân loại)

Điểm khác biệt đầu tiên là khái niệm văn hoá bao trùm cả các giá trị vật chất lẫn tinh thần,

còn khái niệm văn minh chỉ chứa đựng khái niệm vật chất Theo viện sĩ D.Likhachop thì“văn hoá giàu tính nhân bản, hướng tới những giá trị muôn thuở; trong khi đó thì văn minh hướng tới

sự hợp lí, sắp đạt cuộc sống sao cho tiện lợi”

Điểm khác biệt thứ 2 là ở tính lịch sử: văn hoá có bề dày quá khứ, văn minh chỉ là 1 lát cắt

đồng đại

=> Cho nên, có thể có nhận xét rằng: 1dân tộc có trình độ văn minh cao vẫn có thể có 1 nền văn hoá rất nghèo nàn, và ngược lại, 1 dân tộc lạc hậu vẫn có thể có 1 nền văn hoá phong phú

Điểm khác biệt thứ 3: Văn hoá mang tính dân tộc, vì giá trị tinh thần và lịch sử - là của riêng,

còn văn minh có tính quốc tế - vì chứa đựng giá trị vật chất

Điểm khác biệt thứ4: Văn hoá (cultus) gắn bó với phương Đông nông nghiệp, còn văn minh

(civitas) gắn bó với phương Tây đô thị

1.1.4 Văn hiến và văn vật

- Văn hiến là một khái niệm của phương Đông Văn là vẻ đẹp, hiến là hiền tài Văn hiến là khái niệm thiên về chỉ các giá trị tinh thần, có tính chất truyền thống

- Văn vật là khái niệm bộ phận của văn hóa, chỉ khác văn hóa ở độ bao quát các giá trị Văn vật là truyền thống văn hóa thiên về các giá trị văn hóa vật chất ở một vùng đất biểu hiện ở việc

có nhiều nhân tài, nhiều di tích, công trình, hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử

Trang 4

Điểm giống của hai khái niệm trên là : có bề dày lịch sử, có tính dân tộc, gắn với phương Đông nông nghiệp

1.1.5 Một số khái niệm cơ bản của văn hoá học

a Cấu trúc văn hoá

- Ví dụ 1: Bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến chứng tỏ sự tiếp đón bạn của NK

như thế nào? Sự tiếp đón đó người ta gọi là văn hoá vật chất hay văn hoá tinh thần?

Vừa là văn hoá vật chất vừa là văn hoá tinh thần - văn hoá nhận thức

- Ví dụ 2: Việc con người bảo vệ rừng hay phá rừng thể hiện loại văn hoá gì?

Văn hoá ứng xử với môi trường xã hội

- Ví dụ 3: Lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn là lễ hội thuộc loại văn hoá gì?

Văn hoá tổ chức cộng đồng

Từ 1 số ví dụ vừa nêu trên, chúng ta có thể chia cấu trúc văn hoá ra làm 4 loại:

+ Văn hoá nhận thức

+ Văn hoá tổ chức cộng đồng

+ Văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên

+ Văn hoá ứng xử với môi trường xã hội

b Văn hoá vùng

Khái niệm

+ Vùng văn hóa để chỉ một không gian có những tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư

sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ về nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng

về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa các cộng đồng cùng địa vực đã diễn ra những mối giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác

+ Vùng văn hóa là để nhận rõ bản sắc địa phương hòa đồng trong bản sắc dân tộc Một vùng văn hóa là một tổng thể - hệ thống, một không gian văn hóa với một cấu trúc - hệ thống bao gồm các hệ dưới hay tiểu hệ theo lối tiếp cận hệ thống

VD: Các dân tộc ở ĐNA vốn là những cư dân trồng trọt lúa nước, đánh cá, săn bắn, chăn nuôi trên các triền sông, trên thảo nguyên, trong rừng núi, cho nên phong tục tập quán (lễ hội, múa hát, trò chơi dân gian) đều có những chỗ giống nhau Lễ té nước, hội đua thuyền, hội đâm trâu, trò tung còn, đá cầu, đánh phết, múa hát giao duyên, tục ăn trầu, nhuộm răng đen đều có trong các nước ĐNA

c Loại hình văn hoá

+ Môi trường sống quy định các loại hình văn hoá Môi trường sống quy định kinh tế, kinh tế quy định văn hoá: văn hoá nông nghiệp thì lo tạo dựng cuộc sống ổn định, lâu dài, không xáo

Trang 5

trộn, chúng mang tính chất trọng tĩnh; văn hoá du mục thì lo tổ chức làm sao để có thể di chuyển

1 cách gọn gàng, nhanh chóng - mang tính chất trọng động

+ Từ môi trường sống tạo ra cách ứng xử với môi trường tự nhiên: văn hoá gốc nông nghiệp tôn trọng tự nhiên, không dám ganh đua với thiên nhiên - “người định không bằng thiên định”,

“nhờ trời”, “ơn trời” “thiên nhân tương dữ”, “thiên thời, địa lợi, nhân hoà” (trường hợp trận Xích

bích trong Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung ) Tôn trọng tự nhiên và rụt rè, e ngại

trước tự nhiên “phòng chống bão lụt - phòng tránh bão lụt” Nghề nông - nghề nông nghiệp lúa nước phụ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều “trông trời, trông đất, trông mây ” đó là đầu mối của

lối tư duy tổng hợp, tập hợp các yếu tố riêng để thấy các mối quan hệ của chúng VD: trời đang

nắng cỏ gà trắng thì mưa; quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa Thâm dông thì mưa, thâm dưa thì khú, thâm vú thì chửa; cơm chín tới, cải vồng non, gái 1 con, gà ghẹ ổ Tư duy tổng hợp biện

chứng không có điều kiện hình thành những khoa học chuyên sâu, nhưng đó là cơ sở hình thành một nền đạo học - hệ thống tri thức thu được bằng con đường kinh nghiệm, chủ quan, cảm tính; diễn đạt ngắn gọn, súc tích - tính thâm thuý từ đó mà ra Do được hình thành tự nhiên lại được kiểm chứng qua kinh nghiệm hàng ngàn đời nên tính đúng của tư tưởng thường khá cao

+ Văn hoá gốc du mục thì khác, thấy địa hình không thuận lợi thì chuyển sang sống nơi khác, dẫn đến tình trạng coi thường thiên nhiên, mang tham vọng chinh phục và chế ngự thiên nhiên (làm mưa nhân tạo, lấy nước sạch từ không khí) Điều này rất nguy hiểm vì có thể phá huỷ môi trường tự nhiên

Nghề chăn nuôi thường theo bầy đàn, từ cái tổng thể tư duy con người theo lối phân tích để tách ra các yếu tố cấu thành, chú ý tới yếu tố - phân tích và siêu hình là lối tư duy của văn hoá du mục mà phương Tây là tiêu biểu và đây là cơ sở cho khoa học (hình thành theo con đường thực nghiệm, khách quan, lí tính; tính chặt chẽ và sức thuyết phục của khoa học cũng từ đó mà ra ) VD: Hiện tượng sao chổi, nhật thực, nguyệt thực ở người phương Đông và phương Tây rất khác nhau

+ Về mặt tổ chức cộng đồng: con người nông nghiệp ưa tổ chức theo nguyên tắc trọng tình

“1 bồ cái lí không bằng 1 tí cái tình” => trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ? (trọng nhà = trọng bếp = trọng phụ nữ - Nhất vợ nhì trời, Lệnh ông không bằng cồng bà, ruộng sâu trâu nái không

bằng con gái đầu lòng) (phương Tây phụ nữ lấy họ chồng - Annakarenina)

Với lối tư duy tổng hợp và biện chứng, luôn phải đắn đo cân nhắc của người làm nông nghiệp đã dẫn đến lối sống linh hoạt, luôn biến báo cho thích hợp với từng hoàn cảnh cụ thể dẫn

đến triết lí sống của người VN là: ở bầu thì tròn ở ống thì dài Đi với bụt mặc áo cà sa tâm lí

sống hiếu hoà là đặc trưng của người phương Đông “sửa sang hoà hiếu 2 nước, tắt muôn đời chiến tranh ” => con người tôn trọng và cư xử bình đẳng (dân chủ) với nhau Nền dân chủ làng mạc phương Đông xuất hiện sớm hơn nhiều lần so với dân chủ phương Tây

Trang 6

Sống du cư buộc phải tuân theo kỉ luật chặt chẽ, sớm hình thành 1 nếp sống theo pháp luật, với tính tổ chức cao, lối sống trọng lí; coi trọng sức mạnh, trọng vợ, trọng nam giới, thiên hướng

đó tạo ra tâm lí hiếu thắng (ưa giải quyết mâu thuẫn bằng vũ lực và khi giải quyết luôn có tham vọng buộc đối phương khuất phục hoàn toàn) và cách cư xử mà quyền lực tuyệt đối nằm trong tay người cai trị (quân chủ) - Trường hợp đấu súng của nhà thơ Puskin

* Mọi lối sống có ưu điểm và nhược điểm của nó Mặt trái của nguyên tắc là máy móc, rập khuôn cứng nhắc, mặt trái của quân chủ là áp đặt thiếu bình đẳng thì mặt trái của linh hoạt là tuỳ tiện - biểu hiện “giờ cao su”, “luật giao thông”, tệ “đi cửa sau, chạy chức chạy quyền” - “nhất quen, nhì thân, tam thần, tứ thế Trọng tình và linh hoạt làm cho người nông nghiệp có tính tổ chức kém

Trong lối ứng xử với môi trường xã hội, tư duy tổng hợp và phong cách linh hoạt của văn hoá nông nghiệp còn quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận và mềm dẻo trong đối phó; lối sống theo nguyên tắc của văn hoá gốc du mục dẫn đến lối ứng xử độc tôn, chiếm đoạt trong tiếp nhận và cứng rắn trong đối phó

Trong nội bộ các quốc gia có nền văn hoá gốc du mục thường duy trì một đường lối cai trị hà khắc, trong tôn giáo thì độc tôn, trong các quốc gia lâân bang thì chiến tranh (Mông Cổ) Ở VN thì ngược lại, không có chiến tranh tôn giáo - tam giáo đồng nguyên - thiên chúa giáo (khác với Trung Quốc chiến tranh Phật giáo )

d Tiếp xúc và giao lưu văn hóa trong lịch sử văn hóa Việt Nam

- Tiếp xúc văn hóa là hiện tượng nền văn hóa của cộng đồng này gặp gỡ hoặc ở gần đến mức

có thể trực tiếp chịu tác động, gây ra sự biến đổi văn hóa của cộng đồng khác

Đây là giai đoạn đầu, là điều kiện để dẫn đến sự giao lưu văn hóa Song không phải cuộc tiếp xúc văn hóa nào cũng dẫn đến giao lưu văn hóa Mà giao lưu văn hóa chỉ xảy ra khi sự tiếp xúc

đó diễn ra liên tục, trong một thời gian dài và gây ra những biến đổi về mô thức ban đầu

- Giao lưu văn hóa là sự tiếp xúc và trao đổi qua lại trong một quá trình lâu dài, trực tiếp giữa hai nền văn hóa của hai cộng đồng người khác nhau Giao lưu văn hóa là sự vận động thường xuyên của văn hóa Nó không chỉ là động lực phát triển của văn hóa mà còn là động lực của tiến hóa xã hội

Trong quá trình giao lưu văn hóa, một điều tất yếu xảy ra là, bất kể văn hóa của cộng đồng người đang ở nấc thang nào của sự tiến hóa nhân loại thì một yếu tổ văn hóa của cộng đồng người này có thể lan truyền đến cộng đồng kia các yếu tố văn hóa này có khi là cá biệt, rời rạc, nhưng có khi lại kết thành hệ thống chặt chẽ, có khi lại kết dính với những yếu tố văn hóa truyền thống, có khi lại làm đổi thay mạnh mẽ các yếu tố văn hóa cũ Và như thế thì gọi là yếu tố văn hóa ngoại sinh

Giao lưu văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển lịch sử

Trang 7

- Có 3 giai đoạn giao lưu văn hóa trong lịch sử loài người

+ Giai đoạn cổ sơ của xã hội nguyên thủy, lưu lượng thông tin còn ít, mức độ giao lưu hạn hẹp trong khu vực Đó là giao lưu văn hóa trong các xã hội tiền văn tự

+ Giao lưu văn hóa trong các xã hội có văn tự, thường là xã hội nông nghiệp, đã xuất hiện các hình thái Nhà nước chiếm hữu nô lệ thời cổ đại Nhờ xuất hiện văn tự, các công việc dạy học, viết sách, in văn bản có điều kiện ra đời Giao lưu văn hóa có thể thực hiện trong phạm vi rộng lớn như Ai Cập, Lưỡng Hà, Aán Độ, Trung Hoa, Hy Lạp, La Mã

+ Giao lưu văn hóa trong xã hội công nghiệp gắn với sự ra đời của các phương tiện truyền thông đại chúng Đó là đặc trưng cơ bản của xã hội hiện đại, phát triển theo xu hướng toàn cầu Câu hỏi ôn tập

1 Phân biệt các khái niệm: văn hoá, văn hoá học, văn minh, văn hiến, văn vật

2 Có mấy loại cấu trúc văn hoá?

3 Việt Nam thuộc vùng văn hoá nào? Vùng văn hoá đó có đặc điểm gì?

4 Chứng minh rằng môi trường sống quy định loại hình văn hoá Văn hoá Việt Nam thuộc loại nào? Đặc trưng của loại hình văn hoá đó

1.2 NHỮNG NỀN TẢNG CỦA VĂN HÓA VIỆT NAMTRUYỀN THỐNG

1.2.1 Vị trí địa lý và không gian văn hoá Việt Nam

- VN nằm trong khu vực ĐNA cùng với các nước: Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma, Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Singapore và Brunêy, Đôngtimo (mới tách ra khỏi Inđônêxia - năm 2001; tổng dân số 500 triệu, diện tích 4.522.000 km2)

- Không gian văn hoá VN

- Ở phạm vi hẹp: Không gian gốc của văn hoá VN nằm trong khu vực cư trú của người Nam

Á (Bách Việt)

- Ở phạm vi rộng: Không gian tồn tại của văn hoá VN nằm trong khu vực của người Indonesien lục địa

Ở cả 2 phạm vi đều có một đặc điểm là địa thế sông nước, với những con sông lớn: Dương

tử, Mêkông, điều này tạo nên nét độc đáo của nền văn hoá nông nghiệp lúa nước

Văn hoá khu vực ĐNA gồm ĐNA lục địa và ĐNA hải đảo

1.2.2 Dân tộc và nguồn gốc dân tộc Việt Nam

- Về nguồn gốc dân tộc VN, hiện có nhiều giả thuyết: gốc bản địa, gốc Trung Hoa, gốc Tây Tạng Thế giới phân chia nhân loại thành 3 đại chủng: chủng Á - da vàng, chủng Âu- da trắng, chủng Úc - Phi - da đen cách phân chia này mới chỉ dựa trên màu da, màu tóc, màu môi Còn căn cứ vào đường vân tay, nhóm máu, hình thái răng? chia làm 2 khối quần cư: Úc - Á - phía đông, Phi - Âu - phía Tây Có thể nói rằng chủ thể của văn hoá VN ra đời trong phạm vi của

Trang 8

trung tâm hình thành loài người phía đông và trong khu vực hình thành của đại chủng phương Nam Quá trình hình thành này qua 3 giai đoạn:

+ Vào thời đồ đá giữa (khoảng 10.000 năm về trước) có1 dòng người thuộc chủng Mongoloid từ vùng Tây Tạng thiên di về phía Đông Nam, tới vùng Đông Dương thì dừng lại Tại đây diễn ra sự hợp chủng giữa họ với cư dân Melannésien bản địa (thuộc đại chủng Úc), dẫn đến kết quả là sự hình thành chủng Indonésien (còn gọi là cổ Mã Lai) với nước da ngăm đen, tóc quăn dợn sóng, tầm vóc thấp Số người này sống ở 1 vùng rộng lớn từ sông Dương tử (phía Bắc), đến bang Assam (phía Tây) của Aán Độ, đông tới quần đảo Philippin và phía Nam tới các hải đảo Inđônêxia

+ Từ cuối thời đồ đá mới, đầu thời đại đồ đồng (khoảng gần 5.000 năm về trước), từ phía Nam sông Dương tử đến lưu vực sông Hồng, có sự chuyển biến từ loại hình Indonésien bản địa dưới tác động của sự tiếp xúc thường xuyên với chủng Mongoloid từ phía bắc đã hình thành 1 chủng mới là chủng Nam-Á, nét Mongoloid nổi trội, nên nó được xếp vào Mongoloid phương Nam

+ Thời kì sau đó, chủng Nam-Á được chia tách thành 1 loạt các chủng tộc mà trong cổ thư

VN và Trung Hoa được gọi bằng danh từ Bách Việt (Điền Việt, Dương Việt, Mân Việt, Đông Việt, Nam Việt, Lạc Việt ), người Việt đã tách ra từ khối Việt - Mường chung vào khoảng cuối thời Bắc thuộc (lưu ý chi tiết: tự Triệu, Đinh, Lý, Trần )

Ở phía Nam, dọc theo dải Trường Sơn, vẫn là địa bàn cư trú của người Indonésien Cuộc sống biệt lập khiến cho khối người này lưu giữ được nhiều hơn những đặc điểm của truyền thống văn hoá cổ gần gũi với cư dân các hải đảo Đó là tổ tiên của người Chàm, Raglai, Êđê, Giarai

=> Người Việt và tuyệt đại bộ phận dân tộc VN đều xuất phát từ cùng 1 nguồn gốc chung là nhóm loại hình Indonésien, chính điều đó đã tạo nên sự thống nhất - một tính thống nhất trong sự

đa dạng - của con người và văn hoá VN, và rộng hơn là toàn bộ vùng ĐNA (Xem GT của Trần Ngọc Thêm, trang 49)

1.2.3 Văn hoá Việt Nam trong quan hệ với khu vực (Đông Nam Á, Đông Á )

- Gần nửa thế kỷ trước, các nước ĐNA chỉ là những chấm đen trên bản đồ thế giới, thậm chí nhiều nước không mấy ai biết tên Ngày nay ĐNA đã trở thành điểm sáng chói, thu hút sự chú ý của thế giới Đặc biệt sau khi khối ASEAN ra đời (1967), nền kinh tế nhiều nước ngày càng phát triển, có nước đã trở thành con rồng châu Á như Sigapore khiến cả thế giới kinh ngạc

+ ĐNA gồm chân núi Himalaya và Thiên Sơn, hầu hết các con sông lớn của khu vực đều bắt nguồn từ hai dãy núi này và lưu vực của các con sông đó đã trở thành những vùng đồng bằng màu mỡ, đầy phù sa

+ Nét đặc trưng của vùng này là sự chênh lệch quá lớn giữa bình nguyên và núi rừng và sự chênh lệch tương đối nhỏ giữa bình nguyên và mặt biển Đặc điểm này cùng với khí hậu nóng

Trang 9

ẩm, mưa nhiều trở thành vùng trồng lúa nước chủ yếu của thế giới theo mô hình văn hóa thảo mộc

+ Các dân tộc ĐNA vốn là những cư dân trồng lúa nước, đánh cá, săn bắn, chăn nuôi trên các triền sông, trên thảo nguyên, trên rừng núi theo phương thức sản xuất nông nghiệp, nên đời sống văn hoá có nhiều nét tương đồng Tín ngưỡng, tục thờ cúng ông bà tổ tiên, những hình thức lễ hội, các trò chơi dân gian, các phong tục tập quán như gần giống nhau: lễ té nước, cầu mưa, hội đua thuyền, trò tung còn, đá cầu, đánh phết, thả diều, múa hát gia duyên, tục ăn trầu, nhuộm răng đen đều có trong nhiều nước ở ĐNA

VD: GS âm nhạc Trần Văn Khê cho rằng điệu hò mái đẩy của Huế giống điệu Pelog của người dân đảo Giava - Inđônêxia

+ Xét về nhiều phương diện thì tinh thần ĐNA có tính chất tương đối đồng nhất về nhân văn cộng đồng Tính đồng nhất này được biểu thị ở cơ cấu tổ chức làng xóm xã thôn với những quy định chung, tập tục chung, được biểu thị ở ý thức bảo tồn tín ngưỡng truyền thống cổ xưa mà khởi nguyên của chúng chính là những tín ngưỡng vật linh nguyên thủy, những quan niệm hợp nhất đại vũ trụ, những mối giao hòa giữa vật và tâm

+ Thời kì cổ đại, các nước ĐNA cùng tiếp nhận 2 nền văn hoá lớn của loài người là văn hoá

Ấn Độ và Trung Hoa - đây được xem là cuộc hội nhập văn hoá lần thứ nhất Thể hiện rõ nhất là

sự truyền bá đạo Bàlamôn và đạo Phật

Vào thời Sĩ Nhiếp (cuối thế kỷ II) có 2 nhà sư Ấn Độ tên là Javaka và Kaudra đến đất Luy Lâu truyền bá đạo Phật và đào tạo Phật tử Theo sử sách cho biết thời đó đã xây dựng 20 bảo tháp, 500 tăng lữ và có trên 15 bộ kinh được dịch từ chữ Phạn và chữ Hán Đến đời Lý - Trần Phật giáo càng phát triển Sư sãi VN và Aán Độ qua lại học hỏi nhiều lần

Tôn giáo Ấn Độ đến với ĐNA còn mang theo các hình thức văn hoá nghệ thuật khác, đặc biệt là nghệ thuật kiến trúc Khi xây dựng các công trình, các nghệ nhân đã thay đổi ít nhiều các kiểu cách cho phù hợp với màu sắc, cảnh trí của đất nước mình nhưng không làm mất đi truyền thống nghệ thuật Ấn Độ (các tháp Chàm ở VN, Thạt Luông ở Lào, chùa vàng ở Mianma ) Do việc truyền bá kinh kệ, giáo lý đạo Bàlamôn, đạo chữ Pali và chữ Xăngcơrít được phổ biến và có ảnh hưởng rất lớn đến chữ viết và tiếng nói của 1 số nước: Thái Lan, Mianma, Campuchia, Lào

ở miền Nam VN trước kia dùng tiếng Giava, tiếng Phạn

Ở các nước ĐNA, nhiều tác phẩm văn học lấy đề tài, cốt truyện Ấn Độ nhưng qua quá trình cải biên và sáng tạo vẫn giữ được bản sắc dân tộc, trở thành tài sản của dân tộc mình “Trong quá trình phát triển 1 dân tộc, những đặc điểm và tâm lý mang tính dân tộc được xác định và chúng làm phân biệt dân tộc này với dân tộc khác” (Ăngghen) Từ xu hướng bản địa hoá các tác phẩm văn học cổ Ấn Độ tiến đến dân tộc hoá nền văn học viết, là đặc điểm chung của các nước ĐNA

Trang 10

Khi chữ viết dân tộc đã phát triển, phổ biến thì văn học bằng tiếng vay mượn vốn được coi là văn học cao quý, bác học, văn học cung đình dần dần xuống ngôi

+ Thế kỷ XVI, Philippin bị Tây Ban Nha xâm chiếm Kẻ chiếm đóng mang theo nền văn hoá phương Tây có thể xem như mở màn cho cuộc hội nhập văn hoá lần thứ 2 của ĐNA Tiếp đó, thế kỷ XIX - XX, văn hoá phương Tây đã ăn sâu bén rễ trên mảnh đất này Cuộc hội nhập văn hoá lần thứ 2 này đã tạo ra 1 nền văn học hiện đại của các nước ĐNA mang 1 màu sắc mới, mang đậm tính thời đại CNHT và lãng mạn trở thành quen thuộc với các nhà văn, những yếu

tố tôn giáo thần bí, siêu hình mờ nhạt dần trong văn học các dân tộc ĐNA

Câu hỏi ôn tập

1 Có nhận xét gì về vị trí địa lý và không gian văn hoá Việt Nam?

2 Chứng minh mối quan hệ mật thiết của văn hoá Việt Nam với văn hoá các nước Đông Nam Á

3 Theo dõi các kì thi SEAGAME, có nhận xét gì về văn hoá thể thao ở các nước Đông Nam Á?

1.3 LƯỢC TRÌNH VĂN HÓA VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG

Với 336.000 km2 diện tích, với hơn 80 triệu dân cư, nước VN từng đứng thứ 12 trên thế giới

về dân số và là một trong những nước lớn ở ĐNA

Trong 34 nền văn minh lâu đời ấy chỉ có 18 nền văn minh còn tồn tại và phát triển trong thế giới hiện đại Văn minh VN là một trong số 18 nền văn minh này

1.3.1 Các nền văn hóa tiền sử

+ Thời kì này dần dần hình thành một cơ tầng văn hoá chung cho tất cả các cư dân vùng ĐNA, dù họ thuộc ngữ hệ nào trong năm ngữ hệ chủ yếu là Tày Thái, Việt Mường, Nam Á, Nam Đảo, Hán Tạng

+ Đến khoảng giữa thiên niên kỷ thứ nhất TRCN thì cư dân ở ĐNA nói chung đã có trình độ phát triển văn hóa khá cao Nông nghiệp trở thành sinh nghiệp chủ yếu của tuyệt đại đa số cư dân ĐNA Ở vùng núi, cư dân còn ở trình độ tổ chức bộ lạc, sống lẻ tẻ từng nhà hoặc sống thành xóm nhỏ Ở trung du và đồng bằng, cư dân đã vươn đến trình độ tổ chức liên minh bộ lạc, sống thành vùng cư dân đông đúc Đây là bước quá độ để vươn lên trình độ quốc gia

+ Từ khoảng 4 000 năm trước đây, tổ tiên chúng ta đã chuyển dần từ thời kì đồ đá mới sang thời kì đồ đồng Và nước ta trên cơ tầng văn hóa chung cho cả vùng ĐNA, đã dần hình thành văn hóa Đông Sơn (Thanh Hóa) khoảng 3000 đến 2000 năm trước đây kỹ thuật chế tác đồ đồng đã vươn lên trình độ khá cao so với trình độ của thế giới lúc đương thời Trống đồng Đông Sơn là sản phẩm tiêu biểu nhất của văn hóa Đông Sơn

Trang 11

1.3.2 Thời kì văn hóa Đông Sơn là thời kì hình thành nước Văn Lang của vua Hùng và tiếp đó là nước Âu Lạc của vua An Dương

+ Các dân tộc chưa hoàn toàn tách biệt, các quốc gia chưa hình thành, cho nên thành tựu văn hoá thời đó cũng là thành tựu chung của một khối cư dân sinh sống trên cả 1 khu vực: cư dân bách Việt

+ Thành tựu lớn nhất của giai đoạn văn hoá thời tiền sử của cư dân Nam - Á là sự hình thành nền nông nghiệp lúa nước Nơi đây đã tạo ra cây lúa nước nổi tiếng và đã tích lũy được một vốn

kĩ thuật trồng lúa nước phong phú (những dấu tích lưỡi liềm, lưỡi cày đồng tìm được có niên đại

Truyền thuyết đã đánh dấu giai đoạn văn hoá này bằng những nhân vật thần thoại trong đó có Thần Nông (TK thứ IV TRCN) (lưu ý cú pháp phương Nam )

1.3.3 Các nền văn hóa sơ sử

+ Kế tục không gian, thời gian văn hoá thời tiền sử; đưa các thành tựu văn hoá xây dựng trên

cơ sở nghề nông nghiệp lúa nước lên đến đỉnh cao

+ Về mặt không gian là khu vực tam giác - không gian gốc của văn hoá VN “truyền thuyết về kinh Dương Vương và Lạc Long quân phản ánh truyền thống sử học truyền khẩu về địa bàn cư trú cổ xưa của các bộ lạc tiền Việt, cho nên, theo nghĩa đó, nó cũng mang tính lịch sử”

+ Về mặt thời gian, thiên niên kỉ thứ III TRCN ứng với giai đoạn đầu thời đại đồ đồng, cũng chính là thời điểm hình thành chủng Nam - Á (bách Việt) Thành tựu văn hoá chủ yếu của giai đoạn Văn Lang - Âu lạc, sau nghề trồng lúa nước, là nghề luyện kim đồng Cả trên phương diện này, vai trò của vùng văn hoá Nam - Á đối với khu vực cũng hết sức to lớn: đồ đồng Đông Sơn

và ảnh hưởng của nó đã tìm thấy khắp nơi - từ Nam Trung Hoa, Thái Lan đến toàn bộ vùng Đông Nam Á hải đảo

1.3.4 Thời các vua Hùng, liên minh bộ lạc của người Việt đã vươn dần lên trình độ tổ chức quốc gia (nhà nước)

+ 2 quốc gia khác cũng xuất hiện sớm nhất ĐNA là Phù Nam và Chămpa, vương quốc Phù Nam, một phần thuộc Nam bộ ngày nay, xuất hiện sau nước Aâu Lạc khoảng 200 năm, tức là khoảng đầu công nguyên Vương quốc Chămpa nằm giữa nước Âu Lạc (ở phía Bắc) và nước Phù Nam (ở phía Nam) xuất hiện sau nước Phù Nam khoảng hơn 1 thế kỷ, sau nước Âu Lạc khoảng hơn 3 thế kỷ Như vậy trên lãnh thổ VN hiện nay trong mấy trăm năm trước và sau công

Trang 12

nguyên đã xuất hiện 3 quốc gia cổ nhất ĐNA Xuất hiện sớm nhất trong 3 quốc gia ấy là quốc gia Âu Lạc

- Với việc hình thành nước Âu Lạc mà thủ đô là Cổ Loa, nền văn hóa của tổ tiên ta đã vươn đến một trình độ văn minh tương đối cao ở vùng ĐNA cổ đại - thành Cổ Loa (cách Hà Nội khoảng 10 km đường chim bay) là thành thị cổ nhất ở ĐNA Các nhà khảo cổ học vừa tìm thấy dấu vết hiển nhiên của một tòa bảo lũy đồ sộ (thành), dấu vết của những nơi sản xuất thủ công nghiệp, chợ búa (thị), dấu vết bến sông (phố) trên sông Thiếp, con sông vừa thông với sông Cầu vừa thông với sông Hồng

- Đến năm 179 TRCN vì nhiều lí do, trong đó có sự sai lầm của An Dương vương, nước Âu Lạc bị thôn tính vào nước Nam Việt của Triệu Đà Đến năm 111 TRCN, nước Nam Việt bị thôn tính vào đế quốc Hán Nước Âu Lạc khi ấy thuộc nước Nam Việt, cũng bị thôn tính theo đế quốc Hán

- Giai đoạn từ thiên niên kỉ III - II TRCN cho đến khoảng cuối thiên niên kỉ thứ I TRCN rõ ràng đã tạo nên 1 đỉnh cao rực rỡ trong lịch sử dân tộc - văn hoá và có ảnh hưởng lớn đến toàn khu vực “Về hàng loạt phương diện của văn hoá từ sản xuất nông nghiệp cho đến lĩnh vực thần thoại - ĐNA đã có những ảnh hưởng lớn - vượt rất xa ra ngoài ranh giới những láng giềng trực tiếp của nó Tất nhiên là trong việc tạo nên những thứ như là cây lúa trồng, nghề luyện kim đồng, hoặc những thành tựu văn hoá khác, có sự tham gia không chỉ của những dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử nhiều nghìn năm của mình cái thế giới độc đáo được gọi là ĐNA” (Ja.V.Chesnop, 1976:6)

1.3.5 Thời kì Bắc thuộc

+ Trong hơn 10 thế kỷ Bắc thuộc, các triều vua TQ, từ Hán đến Đường, đã thi hành chính sách cai trị tàn bạo Các quan thái thú, thứ sử, đô hộ kế tiếp nhau đã thi hành chính sách đồng hóa (Hán hóa) đối với tổ tiên ta, nhằm vĩnh viễn thôn tính nước ta vào đế quốc phương Bắc + Trong thời kì Văn Lang nhất là thời kì Âu Lạc, người Việt đã vươn đến trình độ tổ chức Nhà nước, với ý thức cộng đồng vững chắc, người Việt đã vươn đến trình độ văn minh tương đối cao và có bản sắc độc đáo Nói một cách khác, căn cước của người Việt đã sâu gốc bền rễ trên đất nước Việt, bản sắc văn hóa, văn minh của người Việt đã rõ nét và không thể dễ dàng bị thủ tiêu

+ Vừa bảo tồn, vừa phát triển, vừa giao lưu là đặc điểm của văn hóa VN giai đoạn này Ta vừa dệt lụa bằng tơ chuối rất nõn nà, gọi là “lụa giao chỉ”, tiếp thu công nghệ làm giấy của Trung Quốc, ta sản xuất loại giấy bằng vỏ cây dó và rêu biển, tiếp thu từ Aán Độ và Trung Hoa công nghệ chế tác thủy tinh

Trang 13

=> Văn hóa vật chất phong phú, văn hoá tinh thần thể hiện ở ý thức cộng đồng, tinh thần dân chủ chất phác, coi trọng phụ nữ Duy trì phong tục tập quán Việc đề kháng thể hiện rõ nhất ở việc thờ cúng các anh hùng huyền thoại

+ Nho giáo và Đạo giáo thâm nhập ngày càng sâu vào VN, dần dần XH VN chuyển sang chế

độ phong kiến, chế độ gia đình phụ quyền Đến đầu công nguyên, Phật giáo cũng du nhập vào nước ta Bảo tồn và tiếp biến văn hóa nước ngoài đã tạo nên sức mạnh trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc

+ Ý thức đối kháng bất khuất và thường trực đối với nguy cơ xâm lăng từ phía phong kiến Bắc phương

+ Các cuộc khởi nghĩa Hai bà Trưng 940-430, Triệu Thị Trinh (246), Lí Bôn (544-548), Triệu Quang Phục (548-571), Mai Thúc Loan (722), Phùng Hưng (791), cha con họ Khúc (906-923), Dương Diên Nghệ (931-937) và đạt đến đỉnh cao là khởi nghĩa Ngô Quyền (938)

+ Sự suy tàn của một nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc, do: Sự suy thoái tự nhiên có tính quy luật của một nền văn hoá sau khi đạt đến đỉnh cao Sự tàn phá cố tình của kẻ thù xâm lược Bắc phương với âm mưu đồng hoá thâm độc “Tiết Tông dâng sớ lên vua Hoàng Võ kể rằng: Hán Võ

Đế giết Lữ Gia - đại thần Nam Việt, chia nước Việt thành 9 quận, đặt ra quan thứ sử quận Giao chỉ Từ đó những tội nhân TQ chạy sang, ở lẫn với dân, dạy học sử sách Trung Hoa, và phổ cập phong tục lễ hoá của TQ” (Lê Văn Siêu, 1972: 228)

+ Giai đoạn văn hoá thời chống Bắc thuộc đã mở đầu cho quá trình giao lưu - tiếp nhận văn hoá Trung Hoa và khu vực, cũng tức là mở đầu cho quá trình văn hoá VN hội nhập vào văn hoá khu vực Tuy tiếp xúc trực tiếp và thường xuyên với con người và văn hoá TH, nhưng trong giai đoạn chống Bắc thuộc, VN đã tiếp nhận văn hoá TH rất ít, Nho giáo hầu như chưa xâm nhập được vào VN, mà chủ yếu lại tiếp nhận văn hoá Phật giáo từ Ấn Độ sang - ban đầu là trực tiếp, sau đó gián tiếp qua con đường TH

* Lý giải hiện tượng này?

Văn hoá Phật giáo đến bằng con đường hoà bình, còn văn hoá TH đến bằng vó ngựa xâm lăng; cho nên dân tộc VN quật cường luôn chống Hán hoá về mặt văn hoá (xem thêm Trần Ngọc Thêm, tr.64)

+ Nhờ có được nền móng vững vàng tạo nên từ đỉnh cao rực rỡ trong lớp văn hoá bản địa, tinh thần Văn Lang - Âu Lạc vẫn tồn tại như 1 mạch ngầm trong suốt thời kì chống Bắc thuộc,

để khi bước sang giai đoạn văn hoá Đại Việt, chỉ sau 3 triều đại (Ngô-Đinh-Tiền Lê) lo việc ổn định, gây dựng lại, văn hoá VN đã khôi phục và thăng hoa nhanh chóng Giai đoạn văn hoá Đại Việt trở thành đỉnh cao thứ 2 trong lịch sử văn hoá VN

+ Tinh thần tổng hợp bao dung truyền thống của văn hoá dân tộc được tiếp sức bởi văn hoá Phật giáo giàu lòng bác ái đã làm nên linh hồn của thời đại Lí - Trần Văn hoá Lí - Trần chứng

Trang 14

kiến thời kì hưng thịnh nhất của Phật giáo VN, và với tinh thần tổng hợp bao dung đó đã tiếp thu

cả Nho giáo và Đạo giáo - Tam giáo đồng quy trên cơ sở văn hoá dân tộc đã khiến cho văn hoá

VN thời Lí - Trần phát triển mạnh mẽ về mọi phương diện

+ Nho giáo phát triển từ khi nhà Lý mở cửa và đặt nền móng (Xây Văn Miếu thờ Khổng Tử năm 1070, lập trường Quốc Tử Giám năm 1076 ), và Nho giáo trở thành 1 hệ thống chính trị -

XH nhập thế đã tỏ ra có tính ưu việt hơn hẳn so với Phật giáo như 1 tôn giáo xuất thế trong việc cai trị XH Đỉnh cao của Nho giáo vào thời Lê mạt và thế kỷ XV - có thể xem đây là văn hoá Nho giáo Quá trình giao lưu - tiếp thu văn hoá TH và khu vực, chồng lên lớp văn hoá bản địa đã đạt tới giới hạn

* Lưu ý vấn đề văn tự

1.3.6 Văn hóa Đại Việt

- 938 Ngô Quyền thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng mở ra một thời kì quốc gia phong kiến độc lập 967, Đinh Bộ Lĩnh khắc phục nạn cát cứ 12 sứ quân, đưa giang sơn về một mối, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, định đô ở Hoa Lư 981 Lê Hoàn đánh tan quân Tống thành lập tiền Lê 1010 triều Lý thay thế triều Lê dời đô về Đại La 1054 vua nhà Lý đổi tên nước Đại Việt

Trong thời kì Đại Việt ông cha ta trải qua nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Trải qua 3 lần phục hưng văn hóa dân tộc:

+ Lần 1: Đinh - tiền Lê, Lý, Trần (XI - XIV), vừa phục hồi văn hóa dân gian vừa xây dựng văn hóa bác học

+ Lần 2: TK XV: giặc Minh vừa tiêu diệt văn hóa của ta vừa đồng hóa văn hóa Việt Nhưng văn hóa thời Lê Thánh Tông vô cùng rực rỡ Tiêu biểu cho sự giữ gìn văn hóa Đại Việt là Nguyễn Trãi

+ Lần thứ 3: cuối TK XVIII: đế quốc phương Tây nhòm ngó, chế độ phong kiến ngày càng suy vi; đất nước đứng trước 3 nhiệm vụ lịch sử: thống nhất đất nước đang bị chia cắt, giải phóng nhân dân khỏi chế độ phong kiến tàn bạo, bảo vệ tổ quốc trứơc nguy cơ xâm lược

3 nhiệm vụ ấy được phong trào Tây Sơn thực hiện tương đối trọn vẹn Nhà Nguyễn kế thừa thành tựu thống nhất đất nước, thành tựu về phát triển văn hóa Nhà Nguyễn “bế quan tỏa cảng” kìm hãm sự canh tân và phát triển của dân tộc

=> Thời kì Đại Việt, văn hóa vật chất phát triển mạnh hơn so với các nước trong khu vực Văn hóa tinh thần phát triển từ văn hóa dân gian, từ phong tục tập quán, từ tín ngưỡng, nếp sống đến văn học nghệ thuật, diễn xướng, hội lễ Văn hóa bác học xây dựng trên thành tựu của văn hóa dân gian Chữ Nôm là thành tựu lớn của văn hóa Đại Việt

Trang 15

1.3.7 Giai đoạn văn hoá Đại Nam: được chuẩn bị từ thời các chúa Nguyễn và kéo dài hết

thời Pháp thuộc và chống Pháp thuộc Đại Nam là quốc hiệu chủ yếu của nước ta trong giai đoạn này, từ thời Minh Mạng trở đi Văn hoá Đại Nam có mấy đặc điểm sau:

+ Từ những tiền đề Quang Trung Nguyễn Huệ đã chuẩn bị, với sự hoàn tất của nhà Nguyễn, lần đầu tiên đất nước ta có được sự thống nhất về lãnh thổ và tổ chức hành chính từ Nam Quan đến Cà Mau

+ Sau thời kì Lê-Mạc, Trịnh - Nguyễn hỗn độn, đến triều Nguyễn, Nho giáo lại được phục hồi làm quốc giáo, nhưng nó ngày càng suy tàn

+ Khởi đầu thời kì thâm nhập văn hoá phương Tây (và cùng với nó là Thiên chúa giáo) cũng

là thời kì văn hoá VN hội nhập vào nền văn hoá nhân loại Sự giao lưu khiến nó biến đổi nền văn hoá VN về mọi phương diện, khiến cho lịch sử văn hoá VN lật sang trang mới

1.3.8 Thời kì cận - hiện đại

- Giai đoạn văn hoá hiện đại: được chuẩn bị từ trong lòng văn hoá Đại Nam, đó là sự truyền

bá tư tưởng Mac-Ăngghen-Lênin, tạm thời đưa ra mấy đặc điểm như sau:

+ Óc phân tích, khoa học thâm nhập từ cuối giai đoạn Đại Nam cùng với các tư tưởng của triết học duy vật biện chứng Mac-xit đã bổ sung tương đối nhuần nhuyễn cho lối tư duy tổng hợp truyền thống

+ Ý thức về vai trò con người cá nhân đang được nâng cao bổ sung cho ý thức cộng đồng truyền thống

+ Đô thị ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, quá trình đô thị hoá diễn ra ngày 1 nhanh hơn, cùng với nó là sự lớn mạnh của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hoá và nhu cầu về cuộc sống văn minh tiện nghi

- Lớp văn hoá giao lưu với phương Tây dẫn đến 1 sản phẩm của cuộc giao lưu mới: chữ quốc ngữ

1.3.9 Giai đoạn Pháp thuộc (1862 - 1945)

- 1858 Pháp nổ tiếng súng đầu tiên, 1885 thôn tính toàn bộ nước ta Những nhà yêu nước thấy rằng cần phải tiếp thu kinh nghiệm của phương Tây, và sử dụng những giá trị của văn hóa, khoa học phương Tây vào sự nghiệp giải phóng dân tộc Các phong trào Duy Tân, Đông Du và Đông Kinh nghĩa thục hồi đầu thế kỷ XX đã thể hiện việc gắn liền cụôc đấu tranh văn hóa với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Văn hóa vô sản phương Tây cũng có ảnh hưởng đến ta

Trang 16

- Sau 1945 tiến trình hiện đại hóa văn hoá dân tộc đã được thúc đẩy nhanh hơn Sự phát triển của văn hóa chuyên nghiệp ngày càng khẳng định rõ hơn bản sắc văn hóa dân tộc

1.3.11 Giai đoạn văn hoá Việt Nam hội nhập với khu vực, sự tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa, khu vực

- Văn hoá VN trong quan hệ cội nguồn với văn hoá Trung Hoa

+ Trong số những nền văn hoá đã đóng góp vào sự hình thành văn hoá Trung Hoa cổ đại, vai trò quan trọng hơn cả chính là thuộc về văn hoá phương Nam - nơi địa bàn gốc của trung tâm hình thành loài người phía Đông, nơi con người bắt tay vào cuộc sống nông nghiệp định cư từ rất sớm “Từ thượng cổ cho đến thời Tần Hán, dải đất hiện tại gọi là Triết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, cho đến Bắc Việt, Trung Việt đều là đất của người Việt cả Cuối thời Xuân Thu, Việt Vương Câu Tiễn xưng bá, ấy là thời kì thịnh vượng nhất của người Việt ” “Niềm tin

là nước Tàu vốn đã lớn lao mãi từ xưa và thường xuyên như thế chỉ là 1 huyền thoại Trái hẳn lại, đó là một việc mới xảy ra về sau Văn minh Tàu không phải tự nó sinh ra nó, mà là hậu quả của sự thâu hoá Việc thâu hoá từ đâu thì xưa cho là phía Tây, nhưng càng về sau nhiều người cho là từ Đông Nam” (T.de Lacouperie, 1887)

+ Cùng với sự lớn mạnh của đế quốc Trung Hoa, nền văn hoá Trung Hoa cũng phát triển nhanh chóng và đến lượt mình, phát huy ảnh hưởng trở lại với các dân tộc xung quanh Phương Nam luôn là hướng bành trướng chủ yếu của các triều đại phong kiến Trung Hoa: “Thánh nhân Nam diện nhi thính thiên hạ” (Kinh Dịch) (Vua quay mặt về phương Nam để cai trị thiên hạ)

=>* Mối liên hệ cội nguồn giữa văn hoá VN với văn hoá Trung Hoa qua các cặp phạm trù

“Văn hoá Nam Á / văn hoá vùng lưu vực sông Hoàng hà”, “Văn hoá phương Nam / văn hoá phương Bắc”

+ Tuy sau này, trong quá trình giao lưu với khu vực, văn hoá VN trở nên gắn bó mật thiết với văn hoá Trung Hoa, tiếp thu khá nhiều từ văn hoá Trung Hoa, nhưng từ trong cội nguồn thì không gian văn hoá VN vốn được định hình trên nền của không gian văn hoá khu vực ĐNA

- Từ trước đến nay nói đến giao lưu văn hóa với bên ngoài thời xưa, nước ta hay nói đến sự tiếp xúc với hai nền văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ, chủ yếu là Trung Hoa, nay phải thấy thêm nước ta vốn thuộc nền văn hóa Đông Nam Á

+ Thời Âu Lạc, giao lưu văn hóa thời kì này diễn ra bình thường, tốt đẹp giữa người Việt với các dân tộc xa gần, kể cả với dân tộc cùng sống chung trong lãnh thổ; bán ra nước ngoài 1 số đồ đồng, ngọc trai, ngà voi và các hương liệu VN ; tín ngưỡng, nghi thức giống với Aán Độ, Trung Hoa

+ Từ 179 TRCN - 938 (10 thế kỉ), sự giao lưu không thể bình thường với văn hóa phương Bắc Bọn xâm lược cố đồng hóa nước ta bằng cách áp đặt văn hóa, phong tục, lễ nghi, tín

Trang 17

ngưỡng, học thuật, ngôn ngữ, văn tự đều bắt ta theo Hán - nghĩa là văn hóa không áp đặt thì cũng hạn chế, và ta cố giữ bản sắc văn hóa của mình

c Giai đoạn văn hoá Việt Nam hội nhập với văn hoá nhân loại: Sự tiếp xúc với văn hóa phương Tây (thời Nguyễn), cách tân và đổi mới văn hóa (sự tiếp nhận chủ nghĩa Mác)

+ Thời kì quốc gia phong kiến độc lập: giao lưu phong phú, đa dạng nhưng cũng phức tạp hơn Văn hóa Ấn Độ trước đây vào nước ta bằng con đường Phật giáo, nay vào ta bằng con đường Chiêm thành và Ấn Độ giáo Thời kì đầu giai cấp phong kiến còn tiến bộ, việc giao lưu vẫn còn giữ bản sắc dân tộc Càng về cuối vừa chịu ảnh hưởng những nét văn hóa tiêu cực vừa chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây

+ Sự giao lưu văn hóa trong hoàn cảnh thuộc địa rõ ràng là không bình thường Nguyện vọng sâu xa của những phần tử tiên tiến là mong muốn nước nhà đi vào con đường cải cách theo hướng giàu mạnh của phương Tây

+ Từ cách mạng tháng 8 đến nay đáng lẽ có được sự giao lưu đúng đắn, rộng mở, hào hứng, nhiều kết quả, nhưng cuộc chiến đấu giành độc lập, thống nhất, rồi hòa bình kiến thiết đất nước theo kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa nhiều thuận lợi mà cũng không ít khó khăn, thử thách, nên đến nay vẫn chưa tháo gỡ hết mọi vướng mắc

- Văn học Việt Nam phát triển trong sự giao lưu với các nền văn hóa văn học khác

Cơ sở tư tưởng VN là: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa (Trần Văn Giàu); như vậy tư tưởng chủ đạo là yêu nước, thương người Việc giao lưu văn hóa đã đưa đến nước ta nhiều hệ tư tưởng theo dạng học thuyết chính trị, đạo đức hay là tôn giáo + Nho giáo không phải là học thuyết tôn giáo mà là học thuyết chính trị và đạo đức phục vụ giai cấp phong kiến Vào VN, nho giáo gặp phải cơ sở tư tưởng vững chắc của dân tộc; tư tửơng yêu nước và tư tưởng nhân văn, nhân đạo; cho nên nó phải biến đổi cho phù hợp với hòan cảng của đất nước VN - VD: chữ “trung” của Nguyễn Trãi

+ Phật giáo vào nước ta từ rất sớm, từ thế kỷ II, TK III, và cũng chịu ảnh hưởng của tư tưởng yêu nước thương người của dân tộc ta Tư tưởng từ bi của đạo Phật vào nước ta thì tình thương người vốn có của ta được mở rộng; có thêm lòng vị tha, lo lắng cho người khác hơn cả mình Một miếng khi đói bằng một gói khi no, thương người như thể thương thân là sự xuyên thấm của

2 nguồn tình thương - sự tiếp thu này vừa mở rộng vừa thấm sâu Phạm vi tiếp thu có sự lựa chọn và biến đổi trên cơ sở vốn của dân tộc: lựa chọn Thiền tông Thiền tông chủ trương nhập thế, gánh vác việc đời, ra sức cống hiến cho đời theo tinh thần đại từ bi thì phải đại hùng, đại lực

- thơ thiền Lý - Trần Trung Quốc và Nhật bản đều có thiền nhưng không giống như ở nước ta + Đạo giáo vào nước ta từ rất sớm, ta tiếp thu từ hình tượng dân gian Chử Đồng Tử không phụ thuộc vào thần diện đạo giáo phương bắc, và tiếp thu tình thần phóng khoáng lí tưởng trong

Trang 18

tình yêu chống lại mọi thứ ràng buộc vô nhân của Nho giáo Truyền kì mạn lục, Bích câu kì ngộ

+ Thiên chúa giáo:

+ Tư tưởng tư sản thế kỷ XX: tư tưởng tư sản khẳng định con người cá nhân, vào thời buổi bình minh tư tưởng ấy sản sinh ra những con người và những hành động kì vĩ thời Phục hưng - Hăm lét, Mông tennhơ Tư tưởng Việt Nam có khả năng làm sống dậy thời oanh liệt của tư tưởng tư sản, và chủ nghĩa anh hùng yêu nước VN đã lồng vào chủ nghĩa anh hùng giải phóng con người của tư tưởng cách mạng tư sản, tạo nên một âm điệu hào hùng của chiến đấu, hi sinh

+ Văn học: kiểu tư duy lý luận, phê bình văn chương thiên về cầu tính, hỗn hợp trực giác và

lý tính, rất coi trọng trực giác chân lý nghệ thuật bị lép vế so với tư duy lý luận phê bình văn chương thiên về phân tích, duy lý

+ Y học: y học cổ truyền phương Đông như Hoa Đà, Lê Hữu Trác cũng bị Tây y lấn át + Võ thuật: Khí công, khinh công, nội công bị lép vế trước hình thức thể dục thể thao phương Tây

Nhìn sâu vào bên trong:

+ Quan niệm về con người: có sự khác nhau giữa Đông và Tây, VD: quan niệm tam tài của người phương Đông: quan hệ giữa con người với vũ trụ, với đất trời, với cõi nhân gian

+ Cách xử lí mối quan hệ đức - trí, đức - tài trong cuộc sống con người Ở phương Đông cổ trung đại, nói chung thiên về đức trị hơn là pháp trị Theo quan điểm Nho giáo: nhân - nghĩa - lễ

- trí - tín; nhân - trí - dũng; “tiên học lễ, hậu học văn”; “lập đức, lập công, lập danh”; “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” Như vậy chữ đức, chữ nhân, chữ tâm bao giờ cũng đứng trước chữ trí Ở phương Tây ngược lại, đặt chữ trí lên đầu, cho nên mới đạt được những thành tựu về khoa học kĩ thuật VD: Lối học Tây và Đông – cách xưng hô

+ Thuyết âm dương và luật đối trọng, cân bằng Giá trị thực tiễn của thuyết âm dương là ở chỗ đã đưa con người tới quy luật đối trọng để tạo sự cân bằng, vốn là quy luật lớn nhất đảm bảo cho độ vững chãi của cuộc sống nói chung, sự sống con người nói riêng

Trang 19

Câu hỏi ôn tập

1 Liệt kê những thành tựu chủ yếu của văn hoá Việt Nam thời tiền sử

2 Ảnh hưởng của Nho, Phật, Đạo trong tiến trình văn hoá Việt Nam như thế nào?

3 Vì sao VN luôn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc dù đế quốc phương Bắc thường trực âm mưu đồng hoá?

4 Chỉ ra những cái được và mất của văn hoá Việt Nam trong hội nhập văn hoá nhân loại

Trang 20

CHƯƠNG 2: CÁC THÀNH TỐ CỦA VĂN HÓA VIỆT NAM

2.1 VĂN HÓA NHẬN THỨC

Các khái niệm nhận thức cổ truyền và ảnh hưởng của chúng trong đời sống văn hoá

2.1.2 Triết lí âm dương

- Nguồn gốc của triết lí âm dương và tính cách người Việt

Tư tưởng âm dương là sản phẩm trừu tượng hoá từ ý niệm và ước mơ của cư dân nông nghiệp về sự sinh sản của 2 đối tượng quan trọng là hoa màu và con người Thuật ngữ âm dương

đã bắt nguồn từ tiếng Đông - Nam - Á cổ đại với nghĩa gốc là mẹ (cha) - đất (trời) Mối quan tâm hàng đầu của con người nông nghiệp là sự sinh sôi nảy nở của hoa màu và con người; sự sinh sản của con người do cha và mẹ, của cây cối do đất và trời; từ quan niệm âm dương với 2 cặp đối lập đó mà nảy sinh vô số những cặp đối lập mới

Triết lí âm dương mang tính chất tổng hợp và biện chứng, nó chỉ có thể là sản phẩm tư duy của loại hình văn hoá nông nghiệp trọng tĩnh Người VN từ tư duy đến cách sống, từ các dấu vết cổ xưa đến những thói quen hiện đại, khắp nơi đều thấy toát lên tính cách quân bình âm dương như 1 đặc trưng chung nhất Vật tổ của người VN là một cặp đôi trừu tượng Tiên - Rồng

Ở VN mọi thứ đều đi đôi theo nguyên tắc âm dương hài hoà; ông Đồng bà Cốt, đồng Cô đồng cậu; xin âm dương, ngói âm dương, “Trời tròn đất vuông” là 1 cách phát biểu cô đúc của triết lí âm dương

- Văn hoá gốc nông nghiệp là văn hoá trọng âm, văn hoá gốc du mục là văn hoá trọng dương Quy luật trong âm có dương và ngược lại

- Hai quy luật của triết lý âm dương

+ Quy luật về bản chất của các thành tố: không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương, trong âm có dương và trong dương có âm

Muốn xác định tính chất âm dương của 1 đối tượng, trước hết phải xác định đối tượng so sánh VD: màu trắng so với màu đen là dương, nhưng so với màu đỏ lại là âm - màu áo trong bóng đá

Để xác định tính chất âm dương của 1 đối tượng, sau khi đã xác định được đối tượng so sánh, còn phải xác định cơ sở so sánh VD: 1 phụ nữ so với nam giới về sinh lí là âm, nhưng xét về tính cách có thể lại là dương

+ Quy luật về quan hệ giữa các yếu tố: âm và dương luôn luôn gắn bó mật thiết, vận động và chuyển hoá cho nhau: âm cực sinh dương, dương cực sinh âm (tr.83 - biểu tượng âm dương)

- Người VN nắm rất vững quy luật âm dương

+ Trong âm có dương - trong rủi có may, trong dở có hay, trong hoạ có phúc

Trang 21

+ Theo quy luật âm dương chuyển hoá (âm sinh dương, dương sinh âm) người VN luôn nhớ rằng: sướng lắm khổ nhiều, trèo cao ngã đau; yêu nhau lắm cắn nhau đau; tham thì thâm, bĩ cực thái lai

=> Nhờ nắm vững quy luật mà người VN có khả năng thích nghi cao với mọi hoàn cảnh, dù khó khăn đến đâu vẫn không chán nản

Đại dịch cúm gà - nuôi bò

- Hai hướng phát triển của triết lí âm dương

Văn hoá phương Bắc dương tính, trọng động, sinh ra lối tư duy phân tích và siêu hình, gọi

âm dương là lưỡng nghi và bằng phép nhân đôi thuần tuý đã sản sinh ra mô hình vũ trụ chặt chẽ với số lượng thành tố chẵn (âm tính) Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái biến hoá vô cùng (Kinh dịch)

* Kinh dịch là 1 bộ sách được hình thành qua nhiều thời kì và được tin dùng trong nhiều thời

kì khác nhau Ảnh hưởng của KD đến việc bói toán và tín ngưỡng thật rõ ràng Mỗi khi đã bói toán thì phải bàn giải cho mọi người cầu xin về mọi thắc mắc và mọi hoàn cảnh Thế là những nguyên lí của Dịch học được áp dụng rất nhiều môn học khác như Đạo học, Y học, Phong thuỷ học dịch học ảnh hưởng rất rộng đến triết lí, văn chương và học thuật; ảnh hưởng nhiều đến các nước lân bang; Ở VN ảnh hưởng ở Nho, Y, Lý, Số

- Người phương Bắc thích dùng những cách nói khái quát với cách dùng những con số chẵn:

tứ bàng (4 bên hàng xóm), tứ đại (4 đời), tứ đức (công, dung, ngôn, hạnh), tứ thanh (bình, thượng, khứ, nhập); lục nghệ (lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số), lục súc (ngựa, bò, dê, gà, chó, lợn) Người phương Nam thích dùng số lẻ: 1 lời nói dối sám hối 7 ngày, 1 câu nhịn 9 câu lành, 1 miệng thì kín, 9 miệng thì hở, 3 mặt 1 lời, 3 sương 1 nắng, 3 thưng cũng vào 1 đấu, mua danh 3 vạn bán danh 3 đồng; 3 hồn 7 vía, 3 dãy 7 toà, 3 lo 7 liệu, 3 vành 7 vẻ, 3 vuông 7 tròn, 5 cha 3

mẹ, 5 bè 7 mối, 5 lần 7 lượt, 5 lừa 7 lọc, 5 liệu 7 lo

Người Việt thích số lẻ, nhưng cũng sợ số lẻ Nhịp thơ TQ: 4/3, VN: ¾

Triết lý âm dương thể hiện qua việc tổ chức đời sống tập thể và tổ chức đời sống cá nhân của người Việt:

Ở bộ phận tổ chức đời sống tập thể, ba thiết chế xã hội được khảo sát là gia đình (nhà), làng,

nước Trong tổ chức gia đình, sự quân bình âm dương thiên về âm tính thể hiện ở việc chú trọng

sự hòa thuận, đề cao vai trò của người phụ nữ, cùng với quá trình vận động trong sự đối lập các mặt: trọng nam, trọng trưởng / trọng nữ; tôn ty trật tự / tình cảm, cộng đồng, hòa thuận; tập trung tài sản, sở hữu cộng đồng / phân tán tài sản, sở hữu cá nhân Trong tổ chức làng xã, triết lý âm dương biểu hiện ở tính tự trị và tính cộng đồng, tính tôn ty và tính dân chủ, trong đó tính tự trị và tính dân chủ vừa là nền (trên cở sở nông nghiệp lúa nước) vừa luôn có xu thế lấn lướt (quân bình

âm dương nhưng thiên về âm tính) Trong tổ chức quốc gia – Nước, triết lý âm dương thể hiện ở

Trang 22

quan niệm về Nước Nước là sự kết hợp của hai yếu tố âm dương (Lạc Long Quân – Âu Cơ, Đất – Nước) Nhà nước quản lý xã hội bằng cả luật pháp và phong tục (biểu hiện ở sự song song tồn tại của phép nước và lệ làng) Và ở trong dân gian, lệ làng có biểu hiện nổi trội (Phép vua thua lệ làng) – đề cao lệ, đề cao tình (âm tính)

Ở bộ phận văn hóa tổ chức đời sống cá nhân,

các lĩnh vực được khảo sát bao gồm: tín ngưỡng, phong tục (lễ hội, cưới hỏi, tang ma) và nghệ thuật (nghệ thuật thanh sắc và nghệ thuật tạo hình) Đây là bộ phận thể hiện sâu đậm và sinh động triết lý âm dương Quân bình âm dương thiên về âm tính trong tín ngưỡng là: tín ngưỡng

đa thần, sự tồn tại lâu dài, phổ biến của tín ngưỡng phồn thực và sự nổi trội của nữ thần Trong lĩnh vực phong tục, quân bình âm dương thể hiện qua các nghi lễ, trò diễn, tục lệ: ở lễ hội, đó là

sự quân bình giữa phần lễ với phần hội, giữa phần thế tục với phần linh thiêng; trong hôn nhân, các nghi thức, các lễ vật luôn thể hiện cặp đôi đực - cái; trong tang ma, các nghi thức các tục lệ thể hiện quan niệm về quan hệ giữa thế giới người sống (dương) với thế giới người chết (âm) Trong nghệ thuật dân gian, bộ phận nghệ thuật thanh sắc thể hiện triết lý âm dương ở giọng ca luyến láy, ở nhạc cụ nhấn nhá và trong diễn xướng đối ca, đối tỷ; bộ phận nghệ thuật tạo hình thể hiện triết lý âm dương trong hình thức trình bày cặp đôi, trong nội dung thể hiện biểu tượng âm dương… Đặc điểm nổi trội của của triết lý âm dương trong tổ chức đời sống cá nhân là tín ngưỡng phồn thực tồn tại lâu dài và thấm đượm trong mọi hoạt động của người Việt, từ nghi lễ cho đến trò diễn, trò chơi và sáng tạo nghệ thuật…

Triết lý âm dương trong ứng xử với môi trường tự nhiên thể hiện qua hai mặt hoạt động: tận dụng môi trường tự nhiên và ứng phó với môi trường tự nhiên Ở mặt tậm dụng môi trường tự nhiên (ăn uống, chữa bệnh), người Việt luôn hướng tới sự quân bình âm dương giữa các nguyên liệu chế biến thức ăn, giữa thức ăn với cơ thể và giữa cơ thể với môi trường Cũng do ở xứ nóng nên cơ cấu bữa ăn của người Việt thiên về thực vật (nhiều rau, bột) - âm tính Mặt ứng phó với môi trường tự nhiên thể hiện trong việc mặc và ở Mặc của người Việt cũng hướng tới sự quân bình bằng cách làm giảm cái nóng (dương) của thời tiết qua cách mặc thoáng mát Quân bình âm dương trong ở của người Việt thể hiện qua việc chọn hướng nhà (hướng nam), chọn đất theo

Trang 23

thuật phong thủy (tránh luồng khí, dòng nước ngưng tụ hoặc quá mạnh = quá âm hoặc quá dương), hướng tới sự hài hòa thiên – địa – nhân

Triết lý âm dương trong ứng xử với môi trường xã hội cũng thể hiện qua hai mặt hoạt động: tiếp nhận và đối phó Trên “cái nền” hài hòa âm dương thiên về âm tính, trong ứng xử với môi trường xã hội, ở mặt tiếp nhận, các hiện tượng văn hóa ngoại lai (Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo…) được biến đổi theo hướng dung hợp (sự kết hợp giữa các tôn giáo với nhau và với tín ngưỡng bản địa, giữa lý với tình, giữa đạo với đời; biến thành cặp đôi dực – cái) – quân bình, trọng tình, nữ hóa Ở mặt phản kháng để tồn tại, với nhận thức trong âm có dương, trong dương

có âm, âm dương chuyển hóa, người Việt có cách ứng xử là hòa hiếu, tránh đối đầu, khi chiến thắng thì không lạm sát Và, khi bắt buộc phải tiến hành chiến tranh thì vận dụng linh hoạt, tổng hợp, có niềm tin ở tương lai

Ở khía cạnh tạo nên tính cách người Việt, triết lý âm dương là bộ phận quan trọng của nhận thức với vai trò là thế giới quan, nhân sinh quan Xuất phát từ nhận thức âm dương là gốc của mọi vật nên người Việt luôn hướng tới sự quân bình âm dương Với người Việt, quân bình âm dương vừa biểu hiện cho sự hoàn thiện, viên mãn, mà vuông tròn là một biểu tượng (Vái trời cho đặng vuông tròn – ca dao; Ba vuông sánh với bảy tròn, đời cha vinh hiển, đời con sang giàu - tục ngữ), vừa được xem như là nguyên tắc ứng xử (Đừng ăn quá miệng, đừng diện quá sang; Nhọn gãy, cứng nát…tục ngữ)

Cũng từ sự nhận thức về âm dương chuyển hóa (âm cực sinh dương, dương cực sinh âm) mà người Việt có lối sống thanh thản, lạc quan (Không ai giầu ba họ, không ai khó ba đời - tục ngữ), ứng xử linh hoạt và khả năng thích nghi cao (Ăn theo thuở, ở theo thì - tục ngữ)

2.1.2 Những đặc trưng khái quát của Ngũ hành

- Ngũ hành thường được hiểu một cách đơn giản là kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ ứng với 5 chất: kim loại, cây cối, nước, lửa, đất

+ Ngũ hành tương sinh theo Hà Đồ: thuỷ - mộc, mộc - hoả, hoả - thổ, thổ - kim, kim - thuỷ + Ngũ hành tương khắc theo Lạc Thư: thuỷ khắc hoả, hoả khắc kim, kim khắc mộc, mộc khắc thổ, thổ khắc thuỷ

- Ứng dụng của ngũ hành rất rộng:

+ màu sắc: đen đỏ - âm dương ứng với 2 hành thuỷ hoả; 2 màu xanh trắng cũng đối lập âm dương ứng với 2 hành mộc kim, màu vàng ứng với hành thổ ở trung ương (vua cai quản con người, cai quản muôn loài, nên giành lấy màu vàng, màu của hành thổ làm của riêng cho mình - luôn mặc áo màu vàng)

+Bộ vật biểu người phương Nam là chim - rồng rùa - nhất điểu, nhất xà hình con chim lạc trên trống đồng

Trang 24

+Trong truyền thống văn hoá dân gian, ta gặp rất nhiều ứng dụng của ngũ hành Người VN trị tà ma bằng bùa có chỉ ngũ sắc (ngũ hành), bằng bức tranh dân gian ngũ hổ (5 con hổ ở 5 phương với 5 màu theo ngũ hành mà thầy cúng thường gọi là “ngũ dinh quan lớn”)

+Thuật phong thuỷ (địa lý) hoàn toàn dựa trên căn bản ngũ hành - trường hợp con của Lê Quý Đôn tìm đất cho vua Minh Mạng

- Ngũ hành ở phương Nam dựa trên cơ sở tư duy tổng hợp và biện chứng - lối tư duy điển hình trọng tĩnh ở phương Nam; bát quái được xây dựng trên cơ sở tư duy phân tích và siêu hình - lối tư duy điển hình của văn hoá trọng động phương Bắc

Ảnh hưởng của chúng trong đời sống văn hoá dân tộc Con đường đi đến nhận thức khoa học hiện đại

- Trong vũ trụ có âm dương, trong con người cũng vậy; vũ trụ cấu trúc theo ngũ hành, con người cũng thế; 5 tạng, 5 phủ, 5 giác quan Với cơ chế ngũ hành tài tình, cho phép ta nhận thấy, một mặt các quan hệ hàng ngang giữa các yếu tố cùng loại qua luật tương sinh tương khắc nhưng mối quan hệ chính là cơ sở của cách chẩn đoán và chữa bệnh đông y

- Các quy luật tương sinh tương khắc đã được phổ biến cho ngay cả nội bộ các chi, các can với các luật “tam hợp”, “tứ xung” để xem xét về mối quan hệ giữa những người ứng với các can, chi, hành ấy trong quan hệ bè bạn, hôn nhân và, tương tự như ở ngũ hành, hệ thống 12 chi cũng xác định được cho các thành phần của 1 bộ phận trên cơ thể Và dựa vào can, chi, ngũ hành là thuật xem tử vi; trong hệ thống tử vi, toàn bộ các mặt quan hệ, hoạt động của con người được chia thành 12 cung (ứng với 12 chi), họp thành 2 nhóm: cá nhân: bản thân, tiền kiếp, bệnh tật, nhà cửa, của cải, sự nghiệp, đi lại; các quan hệ xã hội: cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái, bè bạn Có 110 lá số khác nhau, tuỳ thuộc vào cách giải đoán mà sự đúng - sai khác nhau

- Ngày nay, khoa học cũng rất cần các dự đoán, nhưng để dự đoán đúng cần phải xây dựng

mô hình đúng Muốn xây dựng mô hình đúng cần có đầy đủ dữ kiện Con người tồn tại trong không gian, thời gian và thừa hưởng các tính cách, đặc điểm di truyền, vì vậy dự đoán về con người phải hội đủ cả 3 bình diện đó Vì vậy người giải đoán tử vi giỏi phải kết hợp trong mình rất nhiều tri thức: nho - y - lí - số (một số lời tiên đoán của Nguyễn Bỉnh Khiêm, của Hồ Chí Minh )

2.2 VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG TẬP THỂ

Trang 25

- Tổ chức nông thôn theo nghề nghiệp và sở thích: đặc trưng của phường hội là tính dân chủ

- Tổ chức nông thôn theo truyền thống nam giới: Giáp, cai giáp, lềnh, đinh, tráng, ti ấu Vinh

dự nhất là hàng giáp lên lão => tính tôn ti: sống lâu lên lão làng, tính dân chủ, vừa trai phải lứa

- Tổ chức nông thôn về mặt hành chính: thôn, xã Dân chính cư, dân ngụ cư Ngụ cư sang chính cư phải sống 3 năm trở lên, phải có 1 ít điền sản

Dân chính cư trong xã có 5 hạng: chức sắc, chức dịch, lão, đinh, ti ấu

- Tính cộng đồng và tính tự trị - hai đặc trưng cơ bản của nông thôn

+ Tính cộng đồng: thể hiện ở các mặt tổ chức nông thôn ở trên – Phép vua thua lệ làng? Biểu tượng là sân đình, bến nước, cây đa

Tính cộng đồng là: đồng nhất, đồng tộc, đồng niên, đồng nghiệp, đồng hương

=> Tính tập thể, tính đoàn kết, dân chủ - bình đẳng; ý thức cá nhân bị thủ tiêu, dựa dẫm, ỉ lại, cào bằng, đố kị,

+ Tính tự trị: nhấn mạnh sự khác biệt, tạo nên tinh thần tự lập cộng đồng, nếp sống tự cấp tự túc

=> Óc tư hữu, ích kỷ, óc gia trưởng, tôn ti, óc bè phái, địa phương

2.2.2 Tổ chức quốc gia

- Từ làng đến nước

- Nước với nhu cầu tổ chức và quản lý xã hội: bộ máy, pháp luật

- Nước với truyền thống dân chủ của văn hoá nông nghiệp: quan hệ tình nghĩa, tính dân chủ thể hiện qua truyến thống lãnh đạo tập thể, trong luật pháp, trong việc tuyển chọn người vào bộ máy quan lại

Sĩ, công, nông, thương

2.2.3 Tổ chức đô thị

- Đô thị trong mối quan hệ với quốc gia: 2 chức năng: hành chính và kinh tế Do nhà nước quản lý và khai thác

- Đô thị trong mối quan hệ với nông thôn: làng công thương thực hiện chức năng kinh tế của

đô thị Chịu ảnh hưởng của nông thôn và mang tính nông thôn đậm nét

tổ chức hành chính; phủ, huyện, tổng, thôn

- Quy luật tổ chức xã hội Việt Nam

2.3 VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CÁ NHÂN

Trang 26

Việc thờ cơ quan sinh dục được gọi là thờ sinh thực khí (sinh = đẻ, thực = nảy nở, khí = công cụ)

Tín ngưỡng phồn thực còn là nguồn gốc hoặc liên quan đến những niềm tin và tập tục khác như tục thờ bà, thờ cây, tục thờ đá, tục rước nước (biểu tượng tinh dịch) Tín ngưỡng phồn thực

có từ xa xưa, vẫn được duy trì, bảo tồn để lại nhiều ấn tượng trong đời sống văn hóa Việt Nam ngày nay Trên các hiện vật như trống đồng Đào Thịnh; lễ hội Đền Hùng, lễ hội ở làng La Cả; trong đời sống thường ngày (chày - cối, bát nhang trên bàn thờ, các trò chơi: ném còn, cướp cầu, đánh phết…) và cả trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam đều xuất phát và gắn liền với tư duy phồn thực:

+ Lang Liêu đang trằn trọc mãi không nghĩ ra món ăn cúng tiên vương, một hôm nằm mộng thấy thần hiện lên bảo lấy gạo nếp, làm bánh chưng, hoặc giã cho dẻo, nặn thành hình tròn tượng trưng cho trời, hoặc lấy lá gói thành hình vuông tượng trưng cho đất (Truyện bánh chưng) Bánh chưng hình trụ, dài mang tính chống đỡ, ban phát tượng trưng cho sinh thực khí nam, biểu tượng cho yếu tố dương, cho trời, Cha Bánh dày dẹt, hình vuông mang tính hứng nhận, chứa đựng, tượng trưng cho sinh thực khí nữ, biểu trưng cho yếu tố âm, cho Mặt đất, Mẹ Sự kết hợp này tạo nên sự hòa hợp âm dương, trời đất, mẹ cha làm nên sự sinh sôi cho muôn loài Bánh chưng - bánh dày nằm trong hệ thống biểu tượng về sinh thực khí như “Cây gậy chọc lỗ để gieo hạt, cái cày cày xuống lòng đất mẹ, chày và cối, bành chưng (gói hình trụ) và bánh chày (hình tròn), chiếc chày vôi cắm vào bình vôi, đĩa bông cắm vào bát cơm, quả trứng trên quan tài người chết…Mỗi biểu tượng này đều có những ý nghĩa riêng biệt, nhưng đều có chung triết lý phồn

thực” Ngày nay, trong dân gian vẫn lưu truyền câu thơ: Trúc Phê có hội bánh dày/ Bên Á há

miệng, bên này chày đâm Dấu hiệu gợi tình của câu ca dao này rất rõ khiến cho nó đậm sắc tính

dục

+ Đại nam nhất thống chí và VĐULT có nói đến Đền thờ thần Trống đồng, ở huyện An Định Hùng Vương đi đánh Chiêm Thành đóng quân ở núi Khả Lao, mơ thấy thần báo mộng bảo xin có cái trống đồng và dùi đồng giúp vua thắng trận Lúc ra trận thấy trên không văng vẳng tiếng trống đồng, quả nhiên vua được toàn thắng, bèn sắc phong làm Đồng Cổ Đại Vương Đời vua Thánh Tôn nhà Lí, khi còn làm thái tử vâng mạng đi đánh Chiêm Thành, đêm mơ thấy một người mặc áo nhung, tay cầm kiếm xưng là Thần núi Đồng Cổ xin theo để lập công Tới khi bình được giặc, liền lập miếu để thờ Việc thờ trống đồng ngoài ý nghĩa tôn thờ oai quyền quân vương, sức mạnh cộng đồng còn mang ý nghĩa tôn thờ tín ngưỡng phồn thực, cội nguồn của sinh sôi, phát triển Có thể nói “vai trò của tín ngưỡng phồn thực trong đời sống người Việt cổ lớn đến mức chiếc Trống đồng - biểu tượng sức mạnh, biểu tượng quyền lực…của người xưa…đồng thời cũng là biểu tượng toàn diện của tín ngưỡng phồn thực”

Trang 27

+ Trần Ngọc Thêm trong Cơ sở văn hóa Việt Nam đã có những lý giải về tín ngưỡng phồn thực của Trống đồng như: hình dáng trống đồng được phát triển từ cối giã gạo; cách đánh theo lối cầm chày dài mà đâm lên mặt trống là mô phỏng động tác giã gạo - động tác giao phối; trên tâm mặt trống là hình mặt trời với những tia sáng biểu trưng cho sinh thực khí nam và giữa các tia sáng là một hình lá có khe rãnh ở giữa biểu trưng cho sinh thực khí nữ, xung quanh mặt trống thường gắn các tượng cóc mang theo mưa cũng là một dạng biểu trưng cho tín ngưỡng phồn thực

+ Vật sùng bái phổ thông nhất trên điện thờ thần Civa là một cái cột đá tượng trưng cho Linga Tượng trưng cho Dương khí sáng tạo (Linga) thường đi kèm phối hợp với tượng nguyên khí Âm (Yoni) làm nền tảng cho hình tượng ở giữa nổi hiện cái Linga biểu hiện cho sự hôn phối

để sản xuất và bảo vệ cuộc sinh thành của vũ trụ Hình tượng này là nguyên mẫu của chùa Một Cột - được xây dựng xuất phát từ một giấc mộng của vua Lí Thánh Tông,theo ĐVSKTT, vua mộng thấy Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen, dẫn vua lên đài Có người cho là điềm gở chết yểu

Sư Thiền Tuệ khuyên vua cất chùa, dựng cột đá ở giữa hồ, xây đóa hoa sen có tượng Phật Quan

Âm ở trên, đúng như hình ảnh thấy trong mộng Vậy nên “chùa Một Cột là một công trình hợp sáng rất thần tình vì nó đã hóa trang Linh phù Lingam Yoni của Chiêm Thành thành hình tượng bông sen xuất hiện ở giữa đầm nước trên cái cuộng bằng đá đồ sộ”

+ Truyện Hậu Thổ phu nhân có chi tiết thần hiện lên trong mộng Lí Thánh Tông tự xưng là

“tinh đất”, nhưng điều đáng lưu tâm là tượng lúc ban đầu là “một đầu cây rất giống hình người, hình như có dấu sơn cũ” Bên cạnh đó, các danh hiệu phong tặng cho thần đất cho thấy nguyên một tập hợp linga - yoni: 1) “Hậu Thổ Thần Kì Nguyên Quân”, “Địa Kì Nguyên Quân” dịch là

bà chúa xứ, tên Chàm là Po Yan Ino Nưga 2) “Ứng Thiên Hóa Dục” (1313) đã chỉ nội dung tín ngưỡng phồn thực, chỉ thần đất mẹ, chứa đựng mầm sống sinh sôi nảy nở 3) “Nguyên Trung” (1288) “ý nghĩa của nó nằm trong sự “kín đáo”…là chỉ sự thẳng cứng, xuyên suốt của thần, chỉ hiện tượng vật chất của một bộ phận thờ cúng: cái Linga”

+ Chuyện Nam Hải long vương quân ghi lại một chi tiết trong con mắt của các Nho sĩ là

“dâm loàn” Ấy là việc vợ ông Nam Hải long vương hiện lên trong mộng của hai anh em họ Đặng nói lỡ cùng hỏa long giao cấu, sinh ra đứa con ấy, sợ Nam Hải Quân biết được nên báo mộng cho hai người Nhưng kết quả của cuộc tính giao bất chính đó lại sinh ra một vị phúc thần phù hộ cho việc tìm ngọc trai Việc phụng thờ cho thấy: “Thần linh Lí Trần dù đã được tập hợp thành hệ thống…dù mang dạng phúc thần của Nho giáo vẫn chứa đựng đầy tín ngưỡng phồn thực của dân chúng mà một nước nông nghiệp thấy có thể chia xẻ được và phải chia xẻ”

+ thơ Hồ Xuân Hương

a.2 Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên

Trang 28

Vì sao người VN có tín ngưỡng sùng bái tự nhiên? Với tự nhiên thì người VN tôn trọng những yếu tố nào?

- Do tính chất âm tính của văn hóa nông nghiệp

+ Thờ nữ thần cai quản các hiện tượng tự nhiên: Bà trời, bà Đất, Bà Nước

+ Thờ động vật, thực vật: chim, rắn, cá sấu, cây lúa, cây cau, cây dâu, quả bầu

Tư duy về đất trong văn hóa Việt Nam cũng bắt gặp những điểm giống với các nền văn hóa khác trên thế giới Đất vô cùng quý giá nên với người Việt “tấc đất tấc vàng”, người Việt gọi Đất

là Bà Đất, Mẹ Đất Khi có ảnh hưởng của Nho giáo vào thì có sự biến hóa cách gọi sang Thổ công, ông Địa Trong LNCQ và VĐULT đều có môtip mộng về Hậu thổ phu nhân (Hậu: Hoàng hậu, bà chúa; Thổ: đất) Văn hóa Hán dùng thuật ngữ Hậu Thổ đi đôi với Hoàng Thiên, có nghĩa Thổ là vợ mà Thiên là chồng theo quan niệm Thiên phụ - Địa mẫu Nhưng quan niệm tâm linh Việt Nam thì Hậu Thổ là Mẹ đất, là Thổ công Thần Đất là biểu tượng cho sức mạnh, ý chí cộng đồng dân tộc Hậu Thổ phu nhân hiện lên trong giấc mộng của Lý Thánh Tông xưng là “tinh đất” xin theo vua diệt giặc Chi tiết này phản ánh khi người đứng đầu cộng đồng, đại diện cho chính nghĩa chinh phạt giặc dã, bảo vệ cuộc sống hòa bình cho muôn dân thì luôn được sự phù

hộ độ trì phía sau của các lực lượng vô hình có sức mạnh to lớn Mặt khác, Thần Đất hiện hình là một người đàn xinh đẹp phản ánh nét tính ngưỡng văn hóa trọng nữ của dân tộc Việt

Trong cách nghĩ của người Việt, Thần đất được Thượng Đế giao cho công việc trông coi, cai quản một vùng, quyết định đến việc họa phúc, sinh hoạt của dân cư trong vùng Truyện họ Vũ xã Trung Hành, vị thần nhân hiện trong mơ của người tìm đất để mộ là thần đất, cai quản địa phương, giữ đất táng phát lộc cho người hiền đức Thần đất hay được gọi là Thổ Địa, thường được thờ cúng trong đền thờ Truyện chức phán sự đền Tản Viên, Viên thổ địa địa phương bị ma tên tướng giặc phương Bắc đến cướp đền Sau nhờ Tử Văn mới được lấy lại nơi thờ phụng Việc

Trang 29

kiện tụng tranh chấp nhau dưới địa phủ trong giấc mơ của Tử Văn phản ánh một tình trạng tín ngưỡng thờ phụng lúc bấy giờ là dân ta thờ cả dâm thần, tà thần và thần là tướng giặc thua trận

Có sự tranh chấp giữa loại thần này với thần bản địa

Trong ý nghĩa biểu tượng văn hóa, đá cũng thuộc về đất “đá cũng là một biểu tượng của Đất Mẹ” Trong Truyện Cao Lỗ, người hiện lên trong giấc mơ của Cao Biền là Cao Lỗ, một vị thần

đá Theo Sử kí của Đỗ Thiện đời Lí dẫn Giao Chỉ kí cho biết Cao Lỗ có “tục hiệu” là Đô Lỗ hoặc rõ hơn là Thần Đá (Thạch thần), “Thần bảo tự An Dương Vương là một thần đá và vương mất nước nhưng thần đá vẫn được thờ” Dấu vết thờ thần đá khác còn in đậm trong Truyện Thần Bạch Hạc (VĐULT), Lý Thường Minh (Quan Đô đốc Giao Châu) tạc tượng Hộ Quốc Thần, làm

lễ khấn vái xin nhập mộng để thấy thần Trong mơ, Lý Thường Minh làm trọng tài cho hai thần: một là Thổ lệnh trưởng (quan niệm Hán) và một vị là thần bản địa Thạch Khanh (anh Đá) để làm phúc thần vùng Bạch Hạc Thổ lệnh trưởng cũng là một vị thần Đất theo quan niệm nhà Hán thắng cuộc, được thờ cúng nhưng ông thần đá (thần đã bản địa) vẫn không suy chuyển

Tục thờ cúng các đống đá, nằm trong văn hóa thờ đá, có mặt trên toàn thế giới và phổ biến ở nước ta Ở Pháp, dưới dãy MontBlanc có đống đá Plan des Dames, ai đi qua cũng ném đá vào để cầu vị thần đèo ban phúc Tây Tạng có những Ihatho, nơi ở của thần núi, là một đống đá Người Chàm thờ thần Po Yan Dari thờ cúng những đống đá và những viên đá rời rạc Thờ đá gắn với tín ngưỡng phồn thực của cư dân nông nghiệp Những hình tượng Linga - Yoni thường gắn với hình tượng các đống đá, cột đá được thờ

Thờ đá còn gắn với việc thờ cây và cầu mưa Jean - Paul Roux, khi nghiên cứu những tín ngưỡng nhân gian vùng Altai đã đặt ý nghĩa tượng của đá đối lập với ý nghĩa tượng trưng của cây Đá “tượng trưng cho sự sống ở trạng thái tĩnh, cây tượng trưng cho sự sống ở dạng động” Trong ý nghĩa văn hóa, đá liên quan đến việc cầu mưa Điều này đã phản ánh trong hai quyển sách Pháp vũ tự thực lục bằng đồng ở đền Pháp Vũ (Thường Tín - Hà Đông) Vua nằm mơ thấy một người đàn ông cao lớn đầu đội mũ kết hoa đến bảo vua nên để thần lộ diện bản mục để truyền bá và thấy suốt ngàn năm Vua ra lệnh cho thợ cưa cái cây đã vớt được trước đó làm bốn khúc để tạc tượng Trong khúc thứ nhất thấy một viên đá Khi bốn bức tượng hoàn thành cũng là lúc nước đang có hạn lớn Vua ra lệnh truyền cầu mưa Bỗng nhiên mưa to trút xuống vì thế đặt tên cho bốn tượng: Pháp Vân Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện Hòn đá trong thân cây là con của Man Nương được đặt tên là Thạch Quang Phật Việc thần báo mộng cho vua dẫn đến việc thờ cúng, cầu mưa…phản ánh việc Phật giáo vào Việt Nam thời kỳ đầu có sự dung hợp với văn hóa bản địa, văn hóa thờ cây, đá: “Phật giáo Việt Nam hỗn hợp tín ngưỡng vật linh thờ cây, thờ đá” Việc đá có tác dụng cầu mưa không chỉ xuất hiện ở Việt Nam mà phổ biến trên thế giới Có

lý thuyết giải thích hiện tượng đó là do đá có một độ đồng cảm nào đó với mây và sấm sét, hoặc

là bởi vì nguồn gốc của chúng trên trời, hay gắn bó với tổ tiên xưa kia, hoặc là những hòn đá này

Trang 30

tìm được ở dưới nước có hình dạng giống con cá, con ếch, con rắn hoặc giống biểu hiện của một thủy cư nào đó Thần tích xã Phù Sa, huyện Đông An, tỉnh Hưng Yên viết về thành hoàng Ngô

Rí Mẹ ông mơ thấy vị thần nhân mặc áo xanh lục từ dưới mương lên…bảo gửi con trong vòng

13 năm, rồi ném đồng tử vào lòng Thị Loan Bà có mang sinh một con trai hình thể kỳ dị, trên mình có dấu vảy cá chép, biết là thủy tộc Sau khi Rí chết Thần báo cho Trang Vương biết: Ngô

Rí là đương cảnh thành hoàng hai thôn Đa Hoài, ông Đình bản huyện và quân các con mương từ đầu sông đến góc biển, nay xin phù hộ vua

Trong cội nguồn văn hóa đá cũng là nguồn gốc nảy sinh sự sống, là nơi chứa đựng linh hồn,

“sự sống ở trạng thái tĩnh”, sự ẩn mình chờ đợi để được phát triển, nảy sinh, phục sinh Một số nhân vật trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam được mộng báo có nguồn gốc xuất thân từ đá như Dương Giới trong mộng được Thánh Mẫu cho biết xuất thân từ đá (VNKPSL) Ông Nguyễn Chí Diệu xuất thân là tảng đá thiêng trên núi La Hán, cha ông mộng thấy có người đi từ núi La Hán xuống xin làm con mà sinh ra ông (Hòn đá trên núi La Hán) Tề Thiên Đại Thánh Tôn Ngộ Không (Tây du kí) cũng vốn sinh ra từ một hòn đá

Rải rác trong các dẫn chứng trên có thể thấy việc thờ Đất, Đá có liên quan trực tiếp đến thờ Cây: “Thờ cây thuộc thờ Đất, thờ Đá cũng thuộc thờ Đất” Tục ngữ thường có những câu như

“Thần cây Đa, ma cây Đề”, “Hòn đá kết thành con tinh”, “Hòn đất cất nên ông Bụt” để nói lên tính chất linh thiêng của đất, đá, cây Sự đồng nhất cây - đá có thể được hiểu trong quan niệm phồn thực cổ sơ mà nữ tính mang tính nổi bật, tồn tại quan niệm cho rằng đá cũng mang nữ tính, sinh sản, có tinh khí phụ nữ Mối quan hệ mật thiết này phải chăng làm nền xuất phát cho mối tình sử giữa Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc vốn xuất thân là một viên đá của Nữ Oa luyện đá

vá trời và cây Giáng Châu (Hồng lâu mộng)

Xuất phát từ tín ngưỡng thờ đất, cây, đá nên trong các tác phẩm lưu lại, hiện thân của các thần trong mộng ngoài đời thường là một cái cây, hoặc một hòn đá (mang hình người) Hiện thân của Hậu thổ phu nhân là “một cái cây, đầu rất giống người…đã thấy trong mộng” (Chuyện Hậu Thổ phu nhân ); của Tỳ Môn Sa Thiên Vương là “một cây to, cao khoảng mười trượng, cành lá sum sê, bên trên lại có mây lành bao phủ” (Đại sư Khuông Việt) Hiện thân Thần Thai Dương là một hòn đá, thần Kỳ thạch phu nhân là viên đá vuông to bằng tấm chiếu, sắc xanh trắng, mặt đá

có nét chạm thân người mặt thú, 20 tay và 4 chân (Đại Nam nhất thống chí phần Đền miếu)

Tín ngưỡng về nước:

Bên cạnh đất, quan niệm về nước cũng chiếm một vị trí quan trọng trong tâm linh Việt Nam Trong văn hóa thế giới nước tượng trưng cho cội nguồn sự sống, trung tâm tái sinh và phương tiện thanh tẩy Địa hình Việt Nam có nhiều ao ngòi, sông hồ lại tiếp giáp biển, hơn nữa lại là nước nông nghiệp gắn bó trực tiếp về nguồn nước vì thế tâm linh Việt Nam in đậm tín ngưỡng

về nước

Trang 31

Nước như là một phần của đất nước, có sinh khí vì thế là một lực lượng có sức mạnh hiển linh, giúp đỡ con người Thần sông nước giúp chống giặc ngoại xâm Vua Lý Thái Tổ (Chuyện

Lý Phục Man) đi tuần thổ đến sông Sở Bộ Đầu, rót ly rượu đổ xuống tràng giang khấn vái, hành động này là hành động cúng tế một vị thần sông nước (Việc rót ly rượu đổ xuống sông mà vái chứng tỏ vua biết rằng đang vái một thần sông) Sau đó thần hiển linh trong mộng của vua cho biết công lao của mình “Trấn thủ hai dải sơn hà Đỗ Động và Đường Lâm… Đánh quân Nịnh Trường trên đường biển vào, theo chính quyền thuộc địa thắng quân Đại Thực - Ba Tư ở cửa Thần Thạch (Thần Phù), phá quân Côn Lôn - Bồ Đà (các đảo phía Nam), giúp Cao Biền đánh Nam Chiếu, giúp Ngô Quyền đánh Nam Hán” Tất cả những sự kiện này đều là chuyện xảy ra trên đường thủy, liên quan đến sông nước Hai anh em Trương Hống - Trương Hát (Chuyện Trương Hống - Trương Hát) cũng là thần sông nước Qua câu chuyện báo mộng của họ cho vua biết Thượng đế phong cho hai anh em chức Thần hà long quân phó sứ Ngay tên của thần cũng

đã là sự mô tả tiếng nước “tiếng nước réo trên thác, trên sông, một đe dọa, một quyến rũ (mà cũng hàm chứa sự lôi cuốn nguy hiểm, đầy đủ quyền uy và hấp dẫn của siêu nhiên”

Sự linh thiêng của nước không chỉ phù hộ trong việc góp sức thắng giặc mà còn giúp dân trong cuộc sống sản xuất, liên quan đến các vấn đề khai thác các nguồn lợi sông biển và cầu mưa trong nông nghiệp Nam Hải long vương quân là con ngoài giá thú của vợ Nam Hải long vương

và Hỏa long vì thế mẹ thần hiện lên trong giấc mộng của hai người ngư phủ ý bảo đem lên thờ trên bờ Hai người ngư phủ khắc phiến đá tạc tượng, phụng sự như thần hiệu là Long Quân, sau con cháu nhà họ ấy tìm được rất nhiều ngọc châu Vua liền sai rước thần về thờ để bảo trợ cho việc tìm trai ngọc, sắc phong Lợi Tế Long vương (Chuyện Nam Hải long vương quân) Tên thần

đã chỉ gốc tích sông nước thuộc “Long” còn “Lợi Tế” chỉ ích lợi thần mang lại Kỳ Thạch phu nhân và Thai Dương phu nhân với hình tượng thực là một hòn đá ven bờ biển, hiện lên trong mộng một ngư dân cũng là một thần thuộc về sông biển phù hộ việc đánh bắt cá (Đại Nam nhất thống chí)

Nước gắn bó với sản xuất nông nghiệp nên những lúc nắng hạn, thường có việc cầu mưa Vấn đề này phản ánh trong các truyện như: Chuyện Hậu Thổ phu nhân, Chuyện Man Nương, Chuyện Thần Đồng Cổ, Chuyện Kỳ Thạch phu nhân, chuyện Nhị Trưng phu nhân…Những môtip giấc mơ trong các truyện kể trên cho thấy một mặt, các thần được lệnh làm mưa (Nhị Trưng phu nhân), mặt khác, các thần có quyền phép làm mưa nhờ sức mạnh của “ma thuật lây lan” (các thần có liên quan trực tiếp đến nước: con của Thủy thần hoặc có nguồn gốc xuất thân từ dưới nước lên hoặc mang các đặc điểm liên quan đến nước khác…) Thần tích xã Phù Sa, huyện Đông An, tỉnh Hưng Yên viết về thành hoàng Vua Rí Mẹ ông mơ thấy vị thần từ dưới mương lên ném đồng tử vào lòng Bà có mang sinh một con trai hình thể kỳ dị, trên mình có dấu vảy cá

Trang 32

chép, biết là thủy tộc Sau khi Rí chết Thần báo cho Trang Vương biết: Ngô Rí là thành hoàng thôn Đa Hoài, Ông Đình và quản các con mương từ đầu sông đến góc biển, nay xin phù hộ vua Nước (gắn với sóng, biển) là tượng trưng cho một sức mạnh đe dọa, đáng sợ Từ nỗi sợ ấy, con người thường có những biện pháp để xoa dịu, trấn an như thờ cúng, hiến tế (súc vật, của cải, người) Dấu vết này còn để lại trong Truyện ngôi đền thiêng ở cửa bể, thủy thần (Đô đốc Nam Hải) gây sóng gió, không cho thuyền đi qua, canh ba hiện lên trong mộng vua xin một người về làm vợ Lời cầu xin chứa nhiều lượng thông tin: Tự giới thiệu tên, chức danh là thần sông nước:

“Tôi là Đô đốc vùng Nam Hải đi làm quan ở nơi giang hồ”, hoàn cảnh: “hiện còn thiếu người nội trợ”, nêu hiện thực khách quan: “nghe nói bệ hạ cung tần rất nhiều”, “nay bỗng gặp nhau”, nêu

lý do gây sóng gió: “nổi cơn sóng mạnh để thay câu thơ “Hoa đường”, hứa hẹn: “mong có ngày báo đáp”, đe dọa: “Nếu bệ hạ chỉ làm thú vui riêng, thì tôi không thể bỏ qua được vậy” Bích Châu đã tình nguyện trở thành vật hiến tế để thuyền vua cùng ba quân vượt biển an toàn

Trong Việt Lam xuân thu, khi quân Lê Lợi tới thành cửa sông Hưng Nguyên, chỗ ấy có đền thờ thần (tục gọi là thần Quả) Nhà vua đêm chiêm bao thấy thần nhân nói với Nhà vua rằng xin một người vợ lẻ của vua và sẽ đánh được giặc Ngô, để gây nên nghiệp Đế Nhà vua giao ước với các quan văn, võ, y như lời ấy Nhà vua giao Ngọc Trần cho thần Phổ Hộ bắt lấy, chết ngay trước mắt Truyện Ông Dầu, bà Dầu, vua Lý đau mắt, được thần báo mộng chữa lành bằng cách xem người nào đến chỗ bến sông này, hỏi xem thích gì thì ban cho đầy đủ rồi quăng xuống sông

Cả ba chuyện này đều phản ánh quan niệm về phong thủy trấn yểm và việc hiến tế thần sông nước

bà ôm lấy bỏ vào mồm mà nuốt (Minh Đức - Chiêu Trung), mẹ Thiên Tích cuối canh ba mơ thấy một vị sao nhỏ rơi vào lòng rồi mang thai (Chuyện gã trà đồng giáng sinh); Thần Mộc

Trang 33

Trang (giúp vua Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn) được sinh ra do bà mẹ nằm ngủ thấy sao rơi vào miệng Mỗi vị sao trên trời được xem là sự hóa thân của con người trên thế gian Vì thế mỗi con người sinh ra hoặc mất đi gắn với sự chuyển thế, biến đổi của vì sao đó Một vị sao rụng có thể là một linh hồn ra đi nhưng cũng có thể hiểu là một linh hồn khác đang nhập thế gian Trong quan niệm xưa, mơ thấy sao - thụ thai là sự thụ thai thần kỳ, sự hóa thân của một thần linh xuống cõi trần

Trăng là một biểu tượng thuộc về trời, “mang tính chất đối lập với mặt trời, biểu tượng bản nguyên thụ động, nhưng giàu sức sinh sản của đêm, của sự ẩm ướt…nó là vật phản chiếu ánh sáng mặt trời” Với các nhà chiêm tinh học, trăng nằm giữa các chòm sao sản sinh ra con người, chứng tỏ các hồn sinh vật Trăng cũng là biểu tượng của chiêm mộng và vô thức Biểu tượng trực tiếp của trăng là ánh sáng của trời ban đêm nên nó tượng trưng cho vẻ đẹp, sự thần bí, chọc thủng bóng tối, chiếu rọi màn đêm Ta thấy xuất hiện nhiều môtip giấc mơ về trăng: người mẹ

mơ thấy cụ già ôm vầng trăng sáng đưa cho (Ngọc Thỏ, Đô Hồng); có giấc mơ bà mẹ gặp trăng, sao sa vào lòng (Đương cảnh thành hoàng Công Trang và Phi Nương); hoặc thấy mình nuốt mặt trăng (Linh lang đại vương thượng đẳng phúc thần)…

Trong cách suy nghĩ của nhiều dân tộc trên thế giới, mặt trời như là biểu tượng của thần linh (hiện thân của trời) Mặt trời có nhiều ý nghĩa: ban phát khả năng sinh sản và có khả năng giết chết, hủy hoại; biểu tượng của đế vương; đại diện cho sự chủ động, bản thể dương; của trí tuệ, siêu thức, biểu tượng của người cha…Mẹ của vua Vũ nhà Hán mộng thấy mặt trời chui vào bụng rồi sinh con, điềm báo cho người con sau này sẽ có sự nghiệp đế vương huy hoàng Trong văn học Việt Nam, mẹ của Huyền Quang Tôn Giả (Tổ thứ ba của dòng Trúc Lâm Yên Tử) mộng thấy một con khỉ già lớn, đội mũ triều thiên, mặc áo hoàng bào, cầm mặt trời đỏ ném vào lòng, sau đó có mang, khi sinh con mộng thấy ánh sáng khắp nhà Mặt trời tượng trưng cho Huyền Quang sẽ đem ánh sáng trí tuệ của Phật pháp lan tỏa khắp nơi

Môtip người mẹ kết hợp, gặp trăng, sao, mặt trời, thấy ánh sáng trong mộng bắt nguồn từ tư duy thần thoại, phản ánh sâu sắc thế giới quan cho rằng đấy là những điềm báo tốt lành, may mắn, đến con sẽ có một cuộc đời tươi sáng; công danh, sự nghiệp lẫy lừng, hiển hách Môtip này cũng nằm trong dụng ý nói đến nguồn gốc thần thánh của nhân vật Mặt khác, đây cũng là một cách giải thích về sự ra đời của con người bắt nguồn từ tự nhiên

Khắp nơi, không riêng gì Việt Nam, Trời là “biểu tượng của những uy lực tối cao đối với con người, dù thiện chí hay đáng sợ” Trong chữ Hán: Trời (Thiên) biểu thị cái mà con người phải đội lên đầu mình, là sự bao la, huyền bí không thể dò được, là nơi giữ những bí mật của số mệnh Với sự ảnh hưởng của Đạo giáo, trong văn hóa Việt Nam, hình thành một hệ thống thần tiên như Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu và các vị thần tiên khác Các vị thần tiên sống ở trên trời, quyết định đến cuộc sống của các cõi dưới địa phủ, âm phủ, thủy phủ Niềm tin này thể hiện rõ qua các

Trang 34

môtip giấc mơ Thông qua giấc mơ con người có thể lên trời, thấy được cuộc sống của các vị thần tiên

Tín ngưỡng về động vật và thực vật

Về mặt địa hình, nước ta có hệ thống núi, cao nguyên, thung lũng, đồng bằng và đảo đã kéo theo sự hình thành của hệ thống văn hóa núi, văn hóa đồng bằng và văn hóa biển Rừng, nước, đồng bằng là các môi trường văn hóa tiêu biểu của người Việt Do địa hình nhiều rừng núi nên địa bàn sinh sống của con người cũng là địa bàn hoạt động của các con vật Trong số đó, hổ là một trong những các con vật được xem là động vật thiêng Do tâm lí vừa kính cẩn vừa sợ hãi nên

hổ được gọi một cách kính cẩn là “chúa tể sơn lâm”, “ông ba mươi” Trong tâm thức cộng đồng

nó đầy sức mạnh, dũng mãnh, oai phong Tranh ngũ hổ gồm 5 con hổ tượng trưng cho sự cai quản 4 phương và trung tâm Hổ tượng trưng cho thế giới của sự sống và đại diện cho đẳng cấp chiến binh Có nhiều trường người mẹ nằm mộng thấy hổ rồi sinh con như thấy hổ từ trên trời lao xuống nằm bên cạnh (Ba vị thành hoàng Bảo, Lang, Biền), hoặc từ trên trời xuống chui vào miệng mình (Bốn vị đại vương: Sĩ, Chính, An, Huệ), hoặc thấy hổ vây xung quanh mình, cũng

có khi mơ thấy sơn tinh bạch hổ (Sứ quân Phạm Bạch Hổ) Đa số trong các giấc mơ, hổ thường xuất hiện thật đột ngột với các tư thế từ trên trời cao lao xuống, bỗng nhiên vọt tới, đột nhiên xuất hiện, hổ vây xung quanh phản ánh tư thế hành động, cách săn mồi của loài này Mặt khác, trong nhiều giấc mộng, người mẹ không chỉ thấy một mà nhiều con hổ vì thế, đứa con sinh ra không rõ nguồn gốc là con của ai điều này đã phản chiếu dấu vết văn hóa mẫu hệ với đặc điểm một người phụ nữ có thể có nhiều chồng Khi đứa trẻ sinh ra là con chung của bộ lạc mà không cần quan tâm người cha thực sự là ai

Người Việt có câu “Nhất điểu, nhì xà, tam quy, tứ tượng” đã phản ánh tín ngưỡng thờ các loại động vật của nền văn hóa lúa nước Hình ảnh những con vật trên ăn sâu vào tiềm thức văn hóa cộng đồng, trong sáng tác văn học Rồng, rắn xuất hiện nhiều trong tác phẩm chứng tỏ những hình tượng này đã chi phối mạnh mẽ đến đời sống sinh hoạt và tinh thần của người Việt

Cổ Do điều kiện thời tiết nắng lắm mưa nhiều, địa hình nước ta lại có nhiều sông ngòi, ao hồ, dân sống bằng nghề canh tác lúa nước nên nước là yếu tố chi phối đời sống tinh thần, vật chất của người dân Không những thế, do điều kiện khí hậu lắm nắng nhiều mưa, mật độ sông ngòi ao

hồ dày đặc, người Việt sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước và đánh bắt thủy sản vì thế nước

là một yếu tố quan trọng trong đời sống cư dân Nước trở thành thành tố văn hóa Người dân trong hoạt động sông nước, để chống chọi với loài thủy quái đã xăm lên mình hình con giao long (xem mình cũng thuộc về thủy tộc), lấy rồng làm vật tổ, xem mình là con rồng, cháu tiên Rắn, giao long (nguyên mẫu của rồng) là động vật vừa sống ở cạn vừa sống ở nước, có thân hình nhỏ dài như tia chớp là dấu hiệu của mưa dông, thân hình mềm mại như dòng nước chảy nên được đồng nhất với khái niệm nước Rồng là loài động vật được trừu tượng hóa từ hai loài rắn và cá

Trang 35

sấu - mang đầy đủ những nét của tư duy nông nghiệp (tổng hợp và sinh hoạt), là kết quả tổng hợp những đặc điểm của cá sấu (đầu, vây, chân) và con rắn (thân dài), sinh ra ở cạn, bay lên trên trời, miệng phun nước và phun lửa Rồng gắn với làm mưa trong sản xuất nông nghiệp phương Đông và là biểu tượng của vương quyền, điềm lành…Vì thế rồng, rắn gắn bó mật thiết với tư duy người Việt Môtip mộng thấy rồng, rắn, giao long mang đậm tín ngưỡng sùng bái vật tổ Rồng, rắn xuất hiện một số môtip về sự ra đời thần kỳ của nhân vật Người mẹ gián tiếp gặp rồng, rắn, giao long thông qua giấc mơ, cảm động mà mang thai Tuy nhiên cách thức gặp gỡ trong mơ mỗi truyện là một kiểu khác nhau Mẹ thành hoàng Phạm Nghi chiêm bao bắt được cái đầu rồng nổi trên mặt nước (Linh ứng Đại vương và Quản chiếu đại vương), mẹ thành hoàng Lý Tiến mơ thấy rồng vàng xuất hiện (Lý Tiến - Thành hoàng Thăng Long), hoàng hậu thứ ba của vua Lê Đại Hành chiêm bao thấy hai rồng từ trên trời xuống hóa thành hai đứa trẻ con, tranh nhau ôm mặt trời (Trung Tông hoàng đế), mẹ Đông Kỳ đại vương mơ thấy hai con rắn đen từ trên trời lao xuống (Đông Kỳ đại vương), Dương Ngọc Hoan mộng thấy được tặng một tấm đoạn vẽ đầu rồng sinh ra vương tử Trịnh Tông (HLNTC)

Cùng với Rồng, Chim là một trong hai vật tổ được người Việt sùng bái Những hình khắc trên trống đồng Đông Sơn về sinh hoạt đời thường và lễ nghi cho thấy chim có vị trí quan trọng như thế nào trong đời sống tinh thần người Việt cổ Dấu ấn này còn đọng lại trong nhiều truyện

cổ tích thường xuất hiện hình ảnh chim thần đưa nhân vật đến những không gian kì lạ, xa xôi Bên cạnh đó, trong ý nghĩa văn hóa về chim gắn với ý niệm linh hồn và những chuyến đi về vùng đất của những người chết, hoặc thần thánh thường giáng hạ xuống cõi trần qua hình hài nhỏ bé nhưng thanh thoát, nhẹ nhàng của một chú chim Trong VĐULT, Lí Hoẳng ban ngày thấy một chú chim bay vào lòng, sau đó mộng thấy một người tay cầm đao Thanh Long Yển Nguyệt, xưng là vị sao Vũ Khúc trên trời vâng mệnh Ngọc hoàng vời ông về trời Đêm đó, ông không ốm đau gì mà chết Như thế, sứ giả đưa Lí Hoẳng về trời hiện hình qua hình ảnh của một con chim xanh (Chuyện Lí Hoẳng)

Bên cạnh các giấc mộng về động vật thì trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam xuất hiện các môtip giấc mộng xuất hiện một số thực vật như hoa đào, hoa sen Trong Việt sử tiêu án, mẹ vua Lê Đại Hành khi có mang, mộng trong bụng nẩy hoa sen; theo Thánh đăng thực lục, vua Nhân Tông ban ngày mộng thấy ở trên rốn nở hoa sen vàng; truyện ĐHMK, mẹ Nguyên Sinh mộng nuốt đóa hoa sen trắng rồi sinh ra chàng, nhân đó đặt tên Kim Liên

Với địa hình sông nước, nhiều đầm phá, kênh lạch, khắp nơi trên đất nước ta đều thấy sự xuất hiện của hoa sen Hoa sen từ hiện thực cuộc sống đi vào văn hóa, văn học

Hoa sen là biểu tượng cho hình ảnh người quân tử sống giữa cõi tục mà vẫn giữa được cốt cách thanh cao, cũng là biểu tượng chung cho những tâm hồn cao đẹp đã đi vào thi ca, nhạc họa Trong văn học, mộng hoa sen thường liên quan đến giấc mơ Phật giáo và giấc mơ sinh con Hoa

Trang 36

sen, theo quan niệm Phật giáo, gắn với Thích Ca Mâu Ni: “là bản thể đức Phật, không bị môi trường bùn lầy của samsâra tác động Vật châu báu trong đóa sen (mani padme), là vũ trụ chứa đựng dharma (Pháp), là ảo ảnh hình thức, hay là mâyyâ, mà từ đó nhô lên Niết Bàn” Mộng hoa sen dự báo sự xuất hiện của nhân vật có ngoại hình đẹp và có phẩm chất, tài năng

ĐHMK ghi lại giấc mộng của hồn hoa đào Lan nương mộng thấy thần hoa đào báo mộng

Họ là hàng chục cô gái xưa kia phải làm kĩ bị đày xuống trần gian làm thần hoa đào Giấc mộng phần nào phản ánh tín ngưỡng vật linh về mộng hồn, cây cối mang linh hồn con người hoặc con người và cây cối đều là những thực thể sống tương đương nhau, kiếp này có thể làm cây, kiếp sau làm người…

Từ sự gắn bó mật thiết và lệ thuộc vào tự nhiên đã dẫn con người đến tín ngưỡng sùng bái Niềm phức cảm ấy chi phối đến đời sống tinh thần, văn hóa cộng đồng thể hiện rõ trong các cách

lí giải về sự ra đời của con người từ tự nhiên (đất, đá, trời, động - thực vật), về sự linh thiêng phù trợ của tự nhiên trong cuộc sống con người và những nghĩa vụ con người đối với tự nhiên như thờ cúng, hiến tế

a.3 Tín ngưỡng sùng bái con người

Quan niệm của người VN về linh hồn như thế nào?

- Trong con người có vật chất và tinh thần tinh thần trừu tượng khó nắm bắt, nên người xưa thần thánh hóa thành khái niệm linh hồn

Cơ sở nào hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên?

- Niềm tin bất diệt vào linh hồn - tin rằng ở nơi chín suối, ông bà tổ tiên vẫn thường xuyên đi

về thăm nom, phù hộ cho cháu con

Ngoài việc thờ cúng tổ tiên, người Việt còn có tục thờ cúng nào nữa?

- Tục thờ Thổ công, tục thờ thần Thành Hoàng, tục thờ vua Tổ - vua Hùng

Cụ thể:

- Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Trong quan niệm về con người, mỗi dân tộc đều có nhận thức, khuynh hướng chia thành hai phần vật chất và tinh thần Cái tinh thần trừu tượng khó nắm bắt được gọi là linh hồn Người Việt cho rằng đàn ông có 3 hồn 7 vía, đàn bà có 3 hồn 9 vía Điều này chịu ảnh hưởng của văn hóa nhà Hán Nhưng theo quan niệm người Việt chết hồn không biến thành quỷ như trong văn hoa nhà Hán mà biến thành Ma, tồn tại quen thuộc các thuật ngữ “làm ma”, “tang ma”, “đám ma” Tuy thuộc về thế giới khác, nhưng linh hồn vẫn tác động trực tiếp đến đời sống con người bằng gây họa hay tác phúc Đây là cơ sở của lòng tin vào linh hồn, vào hiện tượng âm phù hình thành nên tín ngưỡng thờ cúng vong hồn người chết - hình thức tín ngưỡng cổ xưa nhất của loài người

Trang 37

Hầu hết các dân tộc trên thế giới đều có quan niệm về linh hồn, nhưng không phải nước nào cũng có tín ngưỡng, tập tục thờ cúng tổ tiên Ở Việt Nam, thờ cúng tổ tiên đã trở thành một hình thức tín ngưỡng mang đặc trưng văn hóa riêng Từ nền kinh tế tiểu nông, mang tính tự cung tự cấp, người Việt chủ yếu sống theo làng xã và hạt nhân cơ bản là hộ gia đình - nhân tố gắn liền các thành viên trong gia đình Công lao cha mẹ, tổ tiên bằng trời bằng bể vì thế con cháu luôn có

ý thức đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, phụng dưỡng khi sống, thờ phụng khi chết Hầu hết các gia đình đều có bàn thờ tổ tiên Đây là hình thức thờ cúng bản địa mang tính sơ khai, mộc mạc nhất Bản chất của phong tục này vừa mang tính đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” vừa là niềm tin vào sự phù trợ của tổ tiên và con cháu

Biết ơn, hiếu kính tổ tiên cũng là một trong những nhân tố quan trọng để chọn người đứng đầu đất nước Vậy nên, vua cha (Truyện bánh chưng) triệu các con lại bảo ai cuối năm đem của ngon vật lạ đến cúng tiên vương, để tròn đạo hiếu, thì ta sẽ truyền ngôi Lang Liêu được thần nhân bày làm bánh chưng, bánh giày - bao hàm ngụ ý nhớ công ơn tổ tiên “bắt chước cảnh tượng trời đất chứa đựng muôn loài, ngụ ý công lao nuôi nấng của bố mẹ, thì cha mẹ có thể vui lòng, ngôi cao khả dĩ được truyền” Vì ý nghĩa bánh chưng tượng trưng cho cha, bánh giày tượng trưng cho mẹ, trong chứa nhân ngụ ý công lao sinh thành nuôi dưỡng nên nó trở thành một lễ vật không thể thiếu trong những dịp cúng lễ quan trọng

Ngoài lý do nam giới đóng góp sức lực lớn trong lao động sản xuất thì việc thờ phụng tổ tiên truyền qua các đời là lý do quan trọng dẫn đến tâm lý trọng nam khinh nữ: “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” Ai cũng mong có một đứa con trai để chăm lo hương hỏa tổ tiên ông bà Ở các truyện: Chị em đổi con, Ông Dương Bang Bảng, Truyện Hiến phó họ Nguyễn mượn con đều giống về môtip đánh tráo đứa con mình sinh ra với con nhà người khác, đến ngày giỗ gia tiên, người cha mộng thấy ma tổ tiên người khác đến bàn thờ nhà mình ăn cỗ, hưởng lễ, còn tổ tiên mình thì bị đứng ngoài Nội dung tác phẩm toát lên khát vọng có con trai để thờ cúng tổ tiên, nối dõi tông đường Ở những tác phẩm này thể hiện những nét văn hóa về thờ cúng tổ tiên: Người đứng ra làm chủ lễ tế là đàn ông, con trai Lễ cúng tế vào ngày giỗ (ngày mất) và dịp Tết Nguyên Đán Người ta tin rằng khi cúng lễ hồn ma tổ tiên sẽ về hưởng lễ cúng, sum họp với con cháu

- tín ngưỡng tôn sùng, thờ cúng thổ địa, thành hoàng làng

Trong việc thờ cúng ở các cộng đồng thôn xã đều lấy việc thờ phụng thành hoàng bản thổ làm quan trọng, “Thành hoàng là biểu hiện của lịch sử, phong tục” (Đào Duy Anh) Thành hoàng ở một thôn xã cũng giống như thổ công ở một nhà có nhiệm vụ cai quản, chống mọi ác thần, làm cho thôn xã được thịnh vượng Thành hoàng còn được gọi là Phúc Thần, chia làm ba hạng: Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần, Hạ đẳng thần Lịch sử Thành hoàng Việt Nam bắt đầu từ việc Lý Nguyên Gia mơ thấy Tô Lịch đến khuyên việc chăm dân (Chuyện Tô Lịch) Sau

đó ông cho xây La Thành, cho dựng đền và phong Tô Lịch làm thành hoàng làng Năm 866, Cao

Trang 38

Biền cho mở rộng Đại La và tiếp tục phong Tô Lịch làm Đô phủ thành hoàng thần quân Năm

1010, Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long phong Tô Lịch làm Quốc đô Thăng Long thành hoàng đạo vương, mộng thấy thần đến vái tạ (Chuyện Tô Lịch) Đến triều Lê 1422, Lê Nhân Tông cho lập đền thờ Đô đại thành hoàng Đến thời nhà Nguyễn cho dựng miếu thờ Đô thành hoàng tại Huế kết hợp thờ thành hoàng các thành trong cả nước Như thế, cho đến giữa thế kỷ XV có sự ra đời chính thức thành hoàng do nhà nước tôn vinh Ở chặng đầu là do ý đồ của giai cấp thống trị phương Bắc để trị dân về mặt tư tưởng Dưới các triều đại phong kiến Việt Nam thì thành hoàng cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện do Nhà nước quản lý Ở các triều đại phong kiến, phong thần

là hoạt động nhằm mục đích thâu tóm linh khí đất nước vào tay vương triều Việc triều đình yêu cầu các làng kê khai thần linh để phong sắc chứng tỏ các vị thần làng đã được người dân thờ tự tồn tại rất lâu trong làng từ trước

Trong tâm thức dân gian, thành hoàng là biểu tượng cho tinh thần, quyền lực tối cao, chi phối đời sống vật chất và tinh thần, có vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống tâm linh làng xã Tôn thờ thành hoàng là nhu cầu không thể thiếu của dân làng Đây là vị thần ban phúc, trừ họa, là nơi dân đến khấn vái, cầu xin, thề nguyền Thánh Lác (Lê Anh Vũ) trong truyện Đốt vàng mã thành tro được dân địa phương gồm 13, 14 thôn xã cùng tôn thờ Thần rất thiêng, phàm có việc cầu đảo, thề bồi đều ứng nghiệm cả Nhưng một hôm Thanh Nghị tiên sinh chứng kiến vụ ăn cắp và dẫn ra đền thần để thề nhưng thủ phạm không bị trừng trị vì thế trách thần Ngay hôm đó, ông bị sốt mơ được dẫn đến gặp thần Lê Anh Vũ, được giải thích rằng: “Đạo của quỷ thần, cũng kính vâng mệnh trời là phúc cho dân…gặp vụ việc tang vật nhỏ mọn…lẽ nào kết tội nặng mà giết chết…việc đốt vàng mã, đó là theo phép của các vua chúa thời trước vì kính mộ đạo Phật mà đặt

ra cho thỏa lòng dân chúng chứ đâu phải yêu sách đòi hỏi của thần”

Thành hoàng trong quan niệm dân gian có vai trò như Diêm vương, có quyền quyết định việc thưởng phạt, họa phúc Hà mỗ nằm mộng bị thành hoàng làng xã phạt vì tội lăng nhục người khác (Truyện mụ ác) Nguyễn Công Hân đốt đền Tuyên Nghĩa nằm mộng bị kiện ở đền Chiêu Trưng Đại vương (Truyện Nguyễn Công Hân ở Trường Bộc) Thành hoàng không chỉ coi việc dân trong vùng mà còn xét xử kiện tụng giữa người và thần

Miêu tả cụ thể bàn thờ tổ tiên và cách cúng giỗ người Việt

- Vài nét về bàn thờ tổ tiên người Việt

Tạm lấy những Bàn thờ Tổ Tiên phổ biến của những gia đình ít nhiều chịu ảnh hưởng của Đạo phật và tín ngưỡng dân gian phổ biến làm ví dụ Quan niệm chung nhất của người xưa và nhiều gia đình còn “nề nếp” hiện nay thường cho rằng tổ tiên là thần linh của chính dòng họ và gia đình đó, mà trong quan niệm chia vũ trụ làm ba tầng thì thần linh thường ở tầng trên, nơi thiêng liêng gắn với bầu trời, vì thế Bàn thờ cũng là một biểu tượng của bầu trời tinh khiết Về nguyên tắc nơi đây phải được thanh tịnh và mang tư cách nơi để thông tam giới, để con người

Trang 39

làm lễ thông linh Vì thế, người ta thường bày Ban thờ thích hợp với những yêu cầu đó Cụ thể

là, để biểu tượng cho bầu trời thì ở hai góc ngoài của Ban thờ phải có hai cây đèn hoặc nến để tượng trưng cho mặt trời (đặt phía bên trái ban thờ) và cho mặt trăng (bên phải ban thờ) Bát hương ở giữa để tượng cho tinh tú

Trong quá trình phát triển của tín ngưỡng thì sự hội nhập những yêu cầu tâm linh của con người vào Bàn thờ là lẽ tất yếu, nhất là theo ước vọng cầu phúc luôn thường trực của cư dân nông nghiệp nước ta Họ luôn mong có nguồn sinh khí của trời cha truyền xuống cho muôn loài sinh sôi, cho cây cối phát triển, cho mùa màng bội thu, nên thông thường trong bát hương bao giờ cũng có một trụ cắm hương vòng Trụ này mang tư cách trục vũ trụ, cái gạch nối của tầng trên với tầng dưới là con đường chuyển tải sinh khí (nên chỉ có thể chấp nhận là màu đỏ), nhờ đó

mà hạnh phúc tràn đầy, nên giữa thân cây hương bao giờ cũng có chữ Hỷ Nhiều gia đình giàu

có, hay ở nhiều Di tích đã nhìn nhận trục vũ trụ này dưới dạng một cây “thiên mệnh” nên đôi khi thay bằng một cành “trầm” hay “kỳ nam” khúc khuỷu

Trong nhận thức của người Việt cũng như nhiều cư dân trên thế giới xưa kia, người ta đã sớm nhận ra: Hình như có một thế lực siêu phàm nào đó, vô hình, có khả nang chi phối đến thế gian

và mọi kiếp đời Một yêu cầu tâm linh từ Cổ đại được đặt ra là làm thế nào tiếp cận với thế lực siêu hình này Người xưa không tìm thấy thế lực đó trên mặt đất và ở dưới mặt đất, nên đã có ý thức đẩy lên tầng trên

Song, con người không thể tự đi lên trời, chỉ tới khi tìm ra lửa và đưa vào sinh hoạt văn hóa người ta mới nhận ra rằng có lửa thì có khói, khói thường bao giờ cũng bay lên, vì thế mới nhờ khói để chuyển những ước vọng của mình lên các đấng thiêng liêng Cụ thể những người Châu Phi đen và rất nhiều cư dân khác, trong đó có cả người Việt ngày nay (Lễ hội Lồng Tồng – xuống đồng) thường đốt một đống lửa rất lớn rồi nhảy múa xung quanh (những cư dân thờ mặt trời thường múa tập thể, đi ngược chiều kim đồng hồ) Động tác của họ thường liên hệ tới yêu cầu sinh sôi phát triển, mà phần nào biểu hiện ra ở những động tác liên quan đến đôi vú, bụng và hông v.v

Con người đã dùng chính bản thân thông qua lửa, khói để gửi những hình ảnh lên thần linh như muốn nhắc nhở rằng: Hỡi các đấng siêu linh quyền năng vô lượng hãy theo gợi ý của chúng tôi đây mà ban phát cho trần gian nguồn của cải vô biên để con người tràn đầy hạnh phúc

Trên dòng trôi chảy của văn hóa, dần dần ở phương Đông, với sự kính trọng người ta đã hội vào đèn hương (hương có nghĩa là thơm) để dâng lên thần linh lòng sùng kính tối thượng của mình Từ đó chúng ta có thể hiểu rằng trong mối giao tiếp với thần linh và tổ tiên thì hương – lửa là điều không thể thiếu, mà hương nến bắt buộc phải tạo khói mới có khả năng thông linh Hiện nay do nhận thức vượt ra ngoài truyền thống và không gian tâm linh, người ta đã “đùa giỡn” với các đấng thiêng liêng bằng thứ hương nến điện Có thể coi hình thức này là sự suy lạc

Trang 40

của tín ngưỡng và vì đời hơn vì đạo Có nghĩa hương nến điện chủ yếu để trang trí nhiều hơn là

Phía sau Tam sơn (với một số Ban thờ của gia đình bình thường), đa số xếp một cái đỉnh ba chân (những đỉnh bốn chân thường là sản phẩm muộn), nắp đỉnh được thể hiện phổ biến hình một con lân trong tư thế nhìn ra Người xưa quan niệm rằng lân là hiện thân của sức mạnh tầng trên, của sự trong sáng và trí tuệ, nên nó có trách nhiệm kiểm soát tâm hồn kẻ hành hương (kiểm soát sự trong sáng của con cháu khi đứng trước Bàn thờ)

Đây là đỉnh trầm, nó chỉ thiêng nhờ chất liệu bằng đồng/đất nung và khói thơm Đỉnh phải được đặt một chân đưa ra phía trước, hai chân để phía sau, nhằm biểu tượng cho chính nhân quân tử Mỗi chân của đỉnh còn được coi là một con “quỳ”, linh vật có đầu giống hổ phù và chỉ

có một chân mà thôi Từ thời Khổng Tử đã đề cập đến linh vật này và cho rằng sự xuất hiện của

nó gắn liền với sự xuất hiện của thánh nhân (người tài giỏi, xuất thế cứu đời) Tinh thần này phù hợp với ước vọng truyền đời của người dân Việt, trong ý thức:

Phi trí bất hưng/ Phi thương bất phú/ Phi công bất hoạt/ Phi nông bất ổn

Ở một số gia đình có khả năng, thường đằng sau chiếc đỉnh có đặt một khám thờ được chạm trổ rất kỹ, khám có mái mui luyện hoặc mái chảy xuống phía sau, mặt trước tạo "cửa võng" theo lối "trướng rủ màn che", điểm xuyết những đề tài hoa, lá, rồng cùng các linh vật khác đã tạo thêm sự linh thiêng và vẻ đẹp uy nghi cho Bàn thờ Khám có cửa ở phía trước, hé mở vào ngày giỗ tết, trong lòng khám thường chỉ để một bài vị chung, hoặc bài vị ông tổ của dòng họ

Xưa kia, với các nhà thờ họ còn có nhiều bài vị của các tổ nối dòng được đặt ở hai bên, theo thứ tự: thế hệ lẻ ở bên trái, thế hệ chẵn ở bên phải Cũng có khi, tùy thuộc vào "công lao" mà người nữ đóng góp đối với dòng họ thì cũng được đặt thờ ở đây Chẳng hạn từng cặp vợ chồng thì (trong cách nhìn ra) chồng ở bên trái, vợ ở bên phải, còn những người phụ nữ hoàn tông nhân (trở lại họ mình) hoặc bà Cô thiêng thì chắc chắn để ở bên phải khám thờ

Ban thờ của người Việt còn chịu ảnh hưởng của Đạo phật và tín ngưỡng dân gian, vì thế ở hai bên của chiếc đỉnh, cũng thường được bày theo cách: "đông bình, tây quả" Có nghĩa là bên trái của đỉnh đồng thường chỉ đặt một chiếc bình không (độc bình) Những người theo phật giáo cho rằng tuy đây là một điểm nhấn về nghệ thuật ở trên Bàn thờ, song ý nghĩa phật triết còn cao

Ngày đăng: 03/03/2022, 16:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w