1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thu hoạch tư tưởng HCM

20 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 46,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chủ đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại và vận dụng trong phòng, chống đại dịch Covid19” Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ cách mạng xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc. Người là hiện thân của tinh hoa, khí phách của dân tộc Việt Nam, là biểu tượng sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Người đã để lại cho chúng ta một di sản tinh thần vô giá, một hệ thống tư tưởng về nhiều mặt, trong đó tư tưởng về đại đoàn kết, về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là tư tưởng nổi bật, có giá trị trường tồn đối với quá trình phát triển của dân tộc ta và của toàn nhân loại. Đây là tư tưởng xuyên suốt và nhất quán trong tư duy lý luận và trong hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh và đã trở thành chiến lược cách mạng của Đảng ta vận dụng trong suốt quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, là ngọn cờ tập hợp, đoàn kết toàn dân tộc vượt mọi khó khăn, gian khổ đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Trang 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh

tụ kính yêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ cách mạng xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế

và phong trào giải phóng dân tộc Người là hiện thân của tinh hoa, khí phách của dân tộc Việt Nam, là biểu tượng sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc Người

đã để lại cho chúng ta một di sản tinh thần vô giá, một hệ thống tư tưởng về nhiều mặt, trong đó tư tưởng về đại đoàn kết, về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là tư tưởng nổi bật, có giá trị trường tồn đối với quá trình phát triển của dân tộc ta và của toàn nhân loại Đây là tư tưởng xuyên suốt và nhất quán trong tư duy lý luận và trong hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh và đã trở thành chiến lược cách mạng của Đảng ta vận dụng trong suốt quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, là ngọn cờ tập hợp, đoàn kết toàn dân tộc vượt mọi khó khăn, gian khổ đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc

ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác

Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng sáng tạo tư tưởng về đại đoàn kết, về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, từng bước khẳng định vị thế, vai trò của nước ta trên trường quốc tế; đặc biệt phát huy có hiệu quả tư tưởng đại đoàn kết, kết hợp của dân tộc với sức mạnh của thời đại đã và đang mang lại những thành công, hiệu quả bước đầu và đặc biệt quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng, chống đại dịch Covid-19 đang ngày càng có những diễn biến phức tạp và khó lường

Vì vậy, học viên lựa chọn chủ đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại và vận dụng trong phòng, chống đại dịch Covid-19” làm chủ đề Tiểu luận kết thúc môn học

Trang 2

NỘI DUNG

1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết

Đại đoàn kết dân tộc là một giá trị tinh thần to lớn, một truyền thống quý báu của dân tộc ta, tinh thần cố kết cộng đồng, đoàn kết trong “trị thủy và làm thủy lợi”, trong đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược được hun đúc trong hàng nghàn lịch sử của dân tộc Đoàn kết đã trở thành một động lực to lớn, một triết

lý nhân sinh và hành động để dân tộc ta vượt qua bao biến cố, thăng trầm của thiên tai, địch họa, để tồn tại và phát triển bền vững Trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển truyền thống tốt đẹp của dân tộc, từ thực tiễn cách mạng Việt Nam và thực tiễn cách mạng thế giới đã sớm hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

về đại đoàn kết dân tộc, với những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ vị trí, vai trò của đại đoàn kết trong cách mạng Việt Nam

Đại đoàn kết là một nội dung nổi bật, xuyên suốt trong tư tưởng cũng như trong hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh là một nội dung cơ bản, nhất quán, xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa

Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh không phải là một biện pháp nhất thời,

mà là chiến lược tập hợp mọi lực lượng, nhằm huy động sức mạnh của tất cả các giai tầng trong xã hội trong cuộc đấu tranh với kẻ thù của dân tộc, của giai cấp

vì mục tiêu độc lập, tự do cho nhân dân Hồ Chí Minh khẳng định “Đoàn kết là lực lượng mạnh nhất”, “Đoàn kết là sức mạnh vô địch”…Tại Đại hội hợp nhất Mặt trận Việt Minh và Mặt trận Liên Việt năm 1951, Hồ Chí Minh khẳng định:

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công”

Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, trước những yêu cầu, nhiệm vụ khác nhau, có thể và cần thiết có sự điều chỉnh chính sách, phương pháp tập hợp lực lượng cho phù hợp với những đối tượng khác nhau, nhưng đại

Trang 3

đoàn kết luôn được nhận thức là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Hồ Chí Minh cho rằng, đại đoàn kết không đơn thuần là phương pháp tập hợp, tổ chức lực lượng yêu nước, cách mạng, mà cao hơn cả đó là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng cách mạng Người tuyên bố trước toàn dân tộc: Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam đại thể gồm trong 8 chữ: “ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC” Để đạt được mục đích đó, nhiệm vụ đầu tiên của Đảng cách mạng là tập hợp, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân ở trong nước, nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới, hình thành nên khối đại đoàn kết to lớn, mạnh mẽ Hồ Chí Minh nêu rõ: Đoàn kết là điểm mẹ Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt” Do vậy, đại đoàn kết là điểm xuất phát, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ đường lối, chủ trương của Đảng

Thứ hai, về lực lượng đại đoàn kết

Theo Hồ Chí Minh, lực lượng đại đoàn kết dân tộc bao gồm các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam, đồng bào các tôn giáo, các đảng phái, các ngành, các giới, các lứa tuổi…hợp thành khối đại đoàn kết dân tộc rộng rãi Người nêu rõ: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại

đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân là công nhân, nông dân và các tầng lớp

nhân dân lao động khác Đó là nền gốc của đại đoàn kết Nó cũng như cái nền

của nhà, cái gốc của cây Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác” Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, độc lập, dân chủ thì chúng ta đều thật thà đoàn kết với họ

Hồ Chí Minh chủ trương đoàn kết các dân tộc thành một khối thống nhất, không phân biệt miền núi hay miền xuôi, đồng bào đa số hay đồng bào thiểu số Đồng thời phải đoàn kết các lực lượng tôn giáo, gắn chặt lợi ích của từng tôn giáo với lợi ích của cộng đồng dân tộc Hồ Chí Minh nói: Nước có vinh thì đạo mới sáng, nước có độc lập thì tín ngưỡng mới được tự do Hồ Chí Minh nhận định, đoàn kết trong Đảng là hạt nhân để đoàn kết toàn dân tộc: Phải chăm lo

“giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”

Trang 4

Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là cơ sở để đoàn kết quốc tế Đoàn kết quốc tế để củng cố thêm đoàn kết dân tộc, để cùng nhau tiến bộ chống

kẻ thù chung và thực hiện các mục tiêu chung của thời đại Căn cứ vào tình hình thế giới lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh xác định lực lượng đại đoàn kết quốc tế bao gồm: Lực lượng các nước xã hội chủ nghĩa; lực lượng của phong trào cộng sản

và công nhân quốc tế; lực lượng của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc; lực lượng nhân dân yêu hòa bình, dân chủ, tiến bộ trên thế giới

Thứ ba, về hình thức tổ chức đại đoàn kết

Hình thức tổ chức đại đoàn kết dân tộc theo Hồ Chí Minh là đoàn kết trong Mặt trận dân tộc thống nhất Mặt trận là một liên minh chính trị - xã hội nhằm đoàn kết rộng rãi các tổ chức yêu nước vào một khối thống nhất, đấu tranh

vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội Mặt trận là phương tiện để thực hiện mục đích đoàn kết Người nói: “Mặt trận bao gồm tất cả những người yêu nước, không phân biệt khuynh hướng chính trị, tín ngưỡng, tôn giáo, giai cấp xã hội, nam nữ và tuổi tác”

Về xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất, Hồ Chí Minh yêu cầu:

Một là, Mặt trận phải lấy liên minh công - nông - trí làm nền tảng Liên minh công - nông - trí có vững, Mặt trận mới bền vững, lâu dài được Đây là yếu

tố cần Còn yếu tố đủ là: Mặt trận phải đoàn kết với các tầng lớp yêu nước khác

để mở rộng tổ chức, mở rộng khối đại đoàn kết

Hai là, khối đại đoàn kết trong Mặt trận chỉ có thể được củng cố và phát triển bền chặt khi được Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo Đảng lãnh đạo Mặt trận bằng việc đề ra đường lối, chính sách Mặt trận đúng đắn, phù hợp với từng thời kỳ, từng giai đoạn của cuộc cách mạng; bằng phương pháp tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục; thông qua tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên

Trong lịch sử đấu tranh cách mạng của mình, ở mỗi thời kỳ, Đảng tổ chức

và xây dựng Mặt trận với các tên gọi khác nhau, phù hợp với thực tiễn cách mạng: Hội phản đế đồng minh, Mặt trận Việt Minh, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam, Mặt trận Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Mặt trận Liên Việt), Mặt trận

Trang 5

tổ quốc Việt Nam…Mặt trận có vai trò hết sức quan trọng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa

Bên cạnh đó, để tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế, Hồ Chí Minh

đã xây dựng các hình thức đoàn kết quốc tế phù hợp với từng đối tượng nhằm đạt hiệu quả cao nhất Đối với các nước láng giềng, có cùng chung kẻ thù, chung nguyện vọng độc lập dân tộc, tự do cho mỗi dân tộc (Lào, Campuchia), Hồ Chí Minh chủ trương vận động thành lập Liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Miên -Lào trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Đối với các nước xã hội chủ nghĩa anh em (như Trung Quốc, Liên Xô, Cuba, Triều Tiên…), để tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ đối với cuộc chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc, vì hòa bình, chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ đạo xây dựng các tổ chức hữu nghị đoàn kết với nhân dân các nước, thông qua việc

ký kết các hiệp định hợp tác và viện trợ (Hội hữu nghị Việt - Trung, Hội hữu nghị Việt - Xô, Hội hữu nghị Việt Nam - Cuba ) Đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình, dân chủ, tiến bộ trên thế giới, Hồ Chí Minh chủ trương tăng cường vận động xây dựng Mặt trận đoàn kết vì hòa bình, dân chủ, tiến bộ giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước

Thứ tư, về nguyên tắc đại đoàn kết

Hồ Chí Minh chỉ ra bốn nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc:

Một là, đại đoàn kết phải được xây dựng trên cơ sở thống nhất giữa lợi ích của quốc gia dân tộc với quyền lợi cơ bản của các gia tầng trong xã hội Theo

Hồ Chí Minh, thực hiện đại đoàn kết dân tộc phải trên cơ sở nhận thức và giải quyết tốt mối quan hệ cốt lõi giữa dân tộc và giai cấp Hồ Chí Minh đã tìm ra mẫu số chung để đoàn kết dân tộc và giai cấp, đó là độc lập tự do của đất nước, hạnh phúc của nhân dân Người khẳng định: Dân tộc Việt Nam có quyền được hưởng tự do, độc lập Người cho rằng, nước được độc lập và dân không có tự

do, hạnh phúc thì độc lập cũng không có nghĩa gì Chân lý “không có gì quý hơn độc lập tự do” vừa là mục tiêu, động lực của toàn dân tộc Việt Nam, vừa là chìa khóa vạn năng, điểm hội tụ thắng lợi của chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh

Trang 6

Hai là, tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của nhân dân Kế thừa và nâng tầm tư duy chính trị truyền thống của cha ông: “Nước lấy dân làm gốc”; đồng thời thấm nhuần nguyên lý mác xít “Cách mạng là ngày hội của quần chúng”, Người khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”; “Gốc

có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” Hồ Chí Minh nêu lên vai trò của dân trong đại đoàn kết: Dân là gốc rễ, là nền tảng của đại đoàn kết Dân là chủ thể của đại đoàn kết Dân là nguồn sức mạnh vô tận, vô địch của khối đại đoàn kết Dân là chỗ dựa vững chắc của Đảng Cộng sản, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng

Ba là, đại đoàn kết một cách tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo; đoàn kết lâu dài, chặt chẽ Đại đoàn kết dân tộc theo Hồ Chí Minh là đại đoàn kết trên lập trường vô sản, theo ngọn cờ chủ nghĩa Mác - Lênin, đó là một tập hợp có tổ chức, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân, nền tảng khối liên minh công - nông Có như vậy, đoàn kết mới lâu dài, bền chặt, bền vững Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi

mà còn đoàn kết lâu dài Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà” Nền có vững nhà mới chắc chắn, gốc có tốt thì cây mới tươi

Bốn là, đại đoàn kết phải chân thành, thẳng thắn, thân ái, gắn với tự phê bình và phê bình Xuất phát từ tinh thần yêu nước, lòng tự tôn dân tộc và tín hướng thiện của con người Việt Nam, Hồ Chí Minh chủ trương xóa bỏ mọi thành kiến, tập hợp mọi lực lượng, lôi kéo họ về với dân tộc Người nói: “Cần phải xóa bỏ hết thành kiến, cần phải thật thà đoàn kết với nhau, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ, để cùng phục vụ nhân dân” Vì vậy, đoàn kết phải có lòng nhân ái, khoan dung Mặt khác, Hồ Chí Minh cho rằng, trong đoàn kết có đấu tranh, đấu tranh để củng cố đoàn kết Người nói “Đoàn kết thực sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học những cái tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái, vì nước, vì dân” Do đó, trong đoàn kết phải

Trang 7

thực hiện tự phê bình và phê bình để khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, phát huy những ưu điểm, củng cố nội bộ, củng cố tổ chức, tăng cường đoàn kết Tự phê bình và phê bình phải thường xuyên, chân thành, thẳng thắng, thân ái, phải có lý,

có tình

Theo Hồ Chí Minh, nguyên tắc đoàn kết quốc tế gồm:

Một là, đoàn kết phải được xây dựng trên cơ sở thống nhất giữa lợi ích quốc gia dân tộc với lợi ích quốc tế: Lợi ích của quốc gia dân tộc là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; lợi ích của quốc tế là độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ

xã hội, cùng phấn đấu vì hòa bình, ổn định và phát triển

Hai là, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm vào công việc nội bộ của nhau: Trong đoàn kết quốc tế, Hồ Chí Minh luôn nêu cao nguyên tắc độc lập tự chủ, tự lực tự cường, chủ trương tận lực phát huy sức mạnh dân tộc - sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, sức mạnh của người làm chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân…chỉ có trên cơ sở sức mạnh bên trong, chúng ta mới có thể tranh thủ và tận dụng được sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của lực lượng bên ngoài, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu cách mạng trong từng thời kỳ

Ba là, đại đoàn kết hữu nghị, hợp tác bình đẳng, đôi bên cùng có lợi: Hồ Chí Minh tuyên bố: “Bất kỳ nước nào thật thà muốn đưa tư bản đến kinh doanh

ở Việt nam, với mục đích làm lợi cho hai bên, thì Việt nam sẽ rất hoan nghênh Bất kỳ nước nào mong đưa tư bản đến để ràng buộc áp chế Việt Nam thì Việt Nam sẽ cương quyết cự tuyệt” Đây chính là nền móng cho phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay

Thứ năm, về phương pháp đại đoàn kết

Hồ Chí Minh chỉ rõ những phương pháp đại đoàn kết, gồm:

Một là, phương pháp tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục Đây

là phương pháp để thức tỉnh mọi người, để họ tự nguyện tự giác tham gia đoàn kết thành một khối Theo Hồ Chí Minh, nội dung tuyên truyền vừa phải đáp ứng những nguyện vọng, quyền lợi cơ bản của quần chúng, vừa đáp ứng yêu cầu thực tiễn cách mạng Đồng thời, Người chỉ rõ những nội dung tuyên truyền, vận

Trang 8

động phải sát hợp với từng đối tượng, từng cộng đồng xã hội, từng nước Hồ Chí Minh cho rằng, hiệu quả của phương pháp tuyên truyền còn tùy thuộc vào việc

sử dụng các hình thức tuyên truyền, vận động quần chúng phù hợp với từng đối tượng Hồ Chí Minh yêu cầu: Viết phải ngắn gọn, dễ hiểu, vừa trí thức, vừa bình dân, vừa sâu sắc, vừa giản dị; phải bằng ngôn ngữ thông thường gần gũi với mọi người dân Việt Nam Hồ Chí Minh sử dụng nhiều hình thức tuyên truyền, vận động quốc tế (tuyên truyền miệng, báo chí, phim ảnh…) Đồng thời còn sử dụng những lực lượng ở nước ngoài như nhà văn, nhà báo, báo chí, đài phát thanh các nước, báo chí của các tổ chức quốc tế, các nhà xấu bản, hãng phim ngoại quốc

để tuyên truyền, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cách mạng Việt Nam

Hai là, phương pháp tổ chức Theo Hồ Chí Minh, muốn xây dựng, củng

cố khối đại đoàn kết cần phải có phương pháp tổ chức khoa học Đó là phương pháp xây dựng, củng cố, phát triển hệ thống chính trị, bao gồm:

Đảng cộng sản là hạt nhân lãnh đạo khối đại đoàn kết, Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng phải đề ra được đường lối đại đoàn kết đúng đắn; Đảng phải đoàn kết, thống nhất cả trong tư tưởng lẫn hành động, từ trên xuống dưới; Đảng phải là một tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật, tự giác, thực hiện tốt các nguyên tắc sinh hoạt Đảng kiểu mới; đảng viên “là người đầy tớ thật trung thành với nhân dân”

Nhà nước là người tổ chức, quản lý, điều hành mọi hoạt động của đời sống xã hội, mỗi chủ trương, chính sách, việc làm của Nhà nước đều tác động trực tiếp đến cuộc sống, lợi ích, tâm tư, tình cảm của nhân dân Để Nhà nước đề

ra chính sách thực hiện đoàn kết đáp ứng nguyện vọng của nhân dân và phù hợp với thực tiễn, Hồ Chí Minh yêu cầu: Phải xây dựng Nhà nước thực sự là của dân, do dân, vì dân; phải không ngừng cải cách bộ máy hành chính và hoàn thiện hệ thống pháp luật Cán bộ công chức nhà nước phải tận tụy, trung thành phục vụ nhân dân, phải là “công bộc của dân”

Mặt trận và các đoàn thể quần chúng là sợi dây gắn kết Đảng với dân, uy tín và sức mạnh của Đảng một phần phụ thuộc vào chất lượng tổ chức và hiệu

Trang 9

quả hoạt động của các đoàn thể quần chúng Hồ Chí Minh yêu cầu Mặt trận và các đoàn thể quần chúng: Cương lĩnh đề ra phải thiết thực, ngắn gọn, rõ ràng; hình thức tổ chức phải phong phú, đa dạng, phù hợp với trình độ nhận thức của quần chúng; cán bộ óc phải nghĩ, chân đi, mắt thấy, tai nghe, miệng nói, tay làm; phải làm tốt công tác dân vận

Ba là, phương pháp xử lý và giải quyết các mối quan hệ Phương pháp đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh là phương pháp xử lý khoa học mối quan hệ, mối tương quan ba chiều: cách mạng - trung gian - phản cách mạng

Đối với lực lượng cách mạng: Khai thác, phát huy những điểm thống nhất, tương đồng; hạn chế, khắc phục tiến tới xóa bỏ dần những khác biệt về mục tiêu, lợi ích Sự đoàn kết, thống nhất của lực lượng cách mạng là điều kiện tiên quyết giúp cho việc thu hút, tập hợp lực lượng trung gian vào trận tuyến cách mạng, cô lập lực lượng thù địch

Đối với lực lượng trung gian: Xóa bỏ thành kiến, mặc cảm, khơi gợi, cổ

vũ ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước; chân thành hợp tác, trọng dụng những người có tài, có đức ra giúp dân, giúp nước

Đối với lực lượng phản cách mạng: Chủ động, kiên quyết tiêu diệt trên cơ

sở phân hóa cô lập chúng cao độ; chú ý khai thác mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù, lôi kéo những người có thể tranh thủ được; tạm hòa hoãn có nguyên tắc với những lực lượng, bộ phận có thể hòa hoãn được

Phương pháp xử lý mối quan hệ ba chiều này bao hàm sự kết hợp giữa chiến lược và sách lược, cứng rắn về nguyên tắc và mềm dẻo trong biện pháp, thực hiện phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”

Đối với các lực lượng cách mạng, các lực lượng dân chủ, hòa bình…trên thế giới, Hồ Chí Minh có phương pháp đoàn kết phù hợp đối với từng đối tượng

để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của giai cấp vô sản và nhân dân thế giới đối với cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng và xây dựng tình đoàn kết với các nước láng giềng, trên tinh thần “giúp bạn tức là giúp mình”, “vừa là đồng chí vừa là anh em”

Trang 10

2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

Tư tưởng về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là một nội dung lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh Tư tưởng đó được vận dụng và phát triển trong thực tiễn cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Nội dung của

tư tưởng này rất phong phú, sâu sắc về thời đại

Hồ Chí Minh luôn đề cao sức mạnh của lòng yêu nước và tinh thần dân tộc

và đánh giá cao sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc, coi đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, một nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Trên con đường bôn ba tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh nhận thấy: Muốn giải phóng dân tộc mình cần thiết phải đoàn kết với các dân tộc khác cùng chung cảnh ngộ Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Người đã bổ sung nhân tố tạo nên sức mạnh thời đại, đó là: Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin với linh hồn là phép biện chứng duy vật và lịch sử, phương pháp luận mác xít; sự phát triển lớn mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới; cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật ngày càng phát triển mạnh; phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các nước bị nô dịch và phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ở các nước tư bản

Từ nhận thức về sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, để có sức mạnh tổng hợp phục vụ cho sự nghiệp cách mạng, Hồ Chí Minh đã kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Theo Người, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại tức là kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc

tế vô sản trong sáng; là phải xây dựng được khối liên minh chiến đấu giữa giai cấp vô sản và nhân dân lao động ở thuộc địa với giai cấp vô sản và nhân dân lao động ở chính quốc, nhằm cùng một lúc tiến công chủ nghĩa đế quốc ở cả hai đầu; là phải biết huy động sức mạnh của các trào lưu cách mạng trên thế giới phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc

Để phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, Hồ Chí Minh yêu cầu các đảng cộng sản phải tiến hành có hiệu quả việc giáo dục chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động của mình

Ngày đăng: 28/02/2022, 08:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w